Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Tây Ban Nha (6 – 12 tháng 6 năm 2026) – Gặp gỡ Hội đồng Giám mục Tây Ban Nha tại trụ sở của Hội đồng Giám mục, 08.06.2026
*******
Kết thúc cuộc gặp gỡ với các thành viên Quốc hội Tây Ban Nha, Đức Thánh Cha đã di chuyển bằng xe tới trụ sở Hội đồng Giám mục Tây Ban Nha, nơi diễn ra cuộc gặp gỡ với các giám mục của đất nước này.
Khi đến nơi, Đức Thánh Cha được đón tiếp bởi Đức Tổng Giám mục Luis Javier Argüello García, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Tây Ban Nha, Đức Hồng y José Cobo Cano, Tổng Giám mục Chính tòa Madrid, và Đức Giám mục Francisco César García Magán, Thư ký Hội đồng Giám mục. Khi tiến vào bên trong, ngài chào hỏi một số vị lãnh đạo Giáo hội và đi tới Hội trường Đại hội Toàn thể ở tầng một.
Sau lời chào mừng của Chủ tịch Hội đồng Giám mục Tây Ban Nha, Đức Thánh Cha đã đọc diễn văn của ngài.
Tiếp theo, sau nghi thức ký Sổ Lưu niệm, tặng quà và ban phép lành, Đức Thánh Cha đã đích thân chào từng giám mục tại văn phòng của Chủ tịch Hội đồng Giám mục Tây Ban Nha.
Cuối cùng, ngài xuống tầng trệt để khánh thành tấm bia kỷ niệm chuyến viếng thăm của ngài, rồi đến Phòng Báo chí của Hội đồng Giám mục để chụp ảnh lưu niệm với các nhân viên giáo dân.
Sau đó, Đức Thánh Cha di chuyển bằng xe đến Tòa Sứ thần Tòa Thánh, nơi ngài dùng bữa tối với các giám mục.
Sau đây là bài diễn văn của Đức Thánh Cha Lêô XIV trước những người hiện diện trong cuộc gặp gỡ:
Diễn văn của Đức Thánh Cha
Các anh em Giám mục thân mến,
Thật là niềm vui lớn đối với tôi khi được ở cùng anh em trong ngày thứ ba của chuyến Tông du tại Tây Ban Nha. Sau khi chào thăm các vị đại diện chính trị đã đón tiếp tôi tại Quốc hội, giờ đây tôi muốn tận dụng thời gian này để cùng anh em làm mới lại sự hiệp thông của chúng ta, như Chúa Giêsu đã căn dặn các Tông đồ thực hiện (x. Mc 6:31). Tôi cảm ơn Đức Cha Luis Javier Argüello García vì những lời tốt đẹp của ngài trên cương vị Chủ tịch Hội đồng Giám mục và thay mặt tất cả anh em. Tôi hy vọng rằng những lời của tôi cũng sẽ góp phần vào cuộc đối thoại trong Chúa Thánh Thần, cuộc đối thoại đòi hỏi đón nhận tất cả những điều tốt lành mà Chúa nói với chúng ta qua những anh chị em của mình. Hành trình hiệp hành mà Giáo hội đang thực hiện là một tiến trình lắng nghe cách chăm chú. Khả năng nhận ra tiếng nói của Thiên Chúa vang lên qua cộng đoàn Giáo hội chính là một trong những giá trị nền tảng của hành trình này.
Hành trình của anh em là một cuộc đối thoại sinh hoa trái, mà với tư cách là một Giáo hội, anh em đang xây dựng theo nhiều cách khác nhau. Một ví dụ cụ thể là các hội nghị mà anh em đã tổ chức. Tôi muốn đặc biệt nhắc đến những hội nghị diễn ra vào các năm 2020 và 2025, vốn đã tạo nên ảnh hưởng đáng kể: “Dân Thiên Chúa lên đường” và “Tôi sống cho ai? Đại hội của những người được mời gọi thi hành sứ vụ”. Các chủ đề này đặt ra những câu hỏi cốt lõi: Làm thế nào chúng ta có thể đối diện với những thách đố của thời đại hôm nay? Và ai là người được mời gọi đảm nhận thách đố này?
Trong phần đóng góp của tôi cho suy tư này, tôi muốn đề xuất hình ảnh của một cuộc hành trình mà đích đến là Thiên Chúa, Đấng mà chúng ta hướng mắt nhìn lên. Đó là một cuộc hành trình duy nhất, bởi chúng ta không di chuyển về mặt thể lý, nhưng chúng ta ước mong để tâm hồn mình bay cao.
Một cám dỗ có thể xuất hiện khi lên đường là quá lưu luyến những gì mình bỏ lại phía sau — những nơi chốn, sự vật, lối sống — mà không mở lòng ra, trong sự vâng phục Thần Khí, trước sự mới mẻ của những gì chúng ta gặp gỡ. Cùng với cám dỗ ấy còn có cám dỗ về hành trang của chúng ta, bởi vì những lý do tương tự, chúng ta chất đầy những thứ vô ích và cuối cùng trở thành gánh nặng. Đồng thời, chúng ta cũng không được quên điều mà chúng ta học được từ những khó khăn của biết bao người di cư: một người cô độc, không có cội nguồn và không có nguồn lực, sẽ chịu đau khổ vô cùng và rất khó thiết lập những mối dây liên kết vững chắc tại nơi họ đến.
Vì thế, trong chặng đầu tiên của cuộc hành trình này, câu trả lời của chúng ta cho câu hỏi làm thế nào để đối diện với thách đố trước mắt là phải biết khôn ngoan kết hợp giữa tự do và can đảm, để có thể từ bỏ những cấu trúc không còn hữu ích, không đáp ứng nhu cầu của chúng ta, hoặc thậm chí làm chúng ta xa rời mục tiêu, đồng thời có đủ sức mạnh để trân trọng những gì giúp ích cho hành trình ấy. Làm sao chúng ta có thể không nhớ đến gia sản Kitô giáo đồ sộ trên miền đất của anh em, sức hút mãnh liệt mà sự phong phú này mang lại: qua vẻ đẹp của nó chạm đến cả những người không có đức tin; hay qua những mối dây thuộc về được dệt nên trong căn tính thiêng liêng ở mọi ngõ ngách của dân tộc yêu dấu này, và vẫn hiện diện ngay cả trong những thời điểm đức tin của họ bị lung lay? Chắc chắn đây là một thách đố rất lớn, và chúng ta được mời gọi đáp lại với lòng can đảm, để gia sản ấy có thể phát huy hết tiềm năng và sinh hoa trái tốt lành.
Một kho tàng khác mà chúng ta không được quên mang theo trong ba-lô của mình là của ăn đàng của người lữ hành. Bánh Lời Chúa và Bánh Thánh Thể còn cần thiết cho chúng ta hơn cả lương thực vật chất, bởi chúng mở ra cho chúng ta con đường cứu độ. Vấn đề không phải là làm sao để việc cử hành phụng vụ trở nên lôi cuốn nhiều hay ít; mà là việc cảm nhận rằng, nếu chúng ta là một phần của Người, thì sự vắng bóng của Người sẽ tạo nên trong chúng ta sự bồn chồn tương tự như cơn đói thể lý. Đời sống bí tích mang lại nhịp điệu cho cuộc sống chúng ta, như đứa trẻ nhận được nguồn nuôi dưỡng từ người mẹ, hay như một vận động viên biết lượng sức cần thiết để tiến về đích.
Một khó khăn lớn khác nảy sinh trên đường đi là việc giao tiếp với người khác. Bất kể là do khác biệt ngôn ngữ và văn hóa, do sự dè dặt trước những điều xa lạ, hay do những tranh cãi và hiểu lầm có thể xảy ra ngay cả giữa những người gần gũi với chúng ta, chúng ta đều cảm thấy bị giới hạn khi diễn tả bản thân hoặc thấu hiểu người đối diện. Chúng ta có thể áp dụng kinh nghiệm này vào việc loan báo Tin Mừng, vào việc đón tiếp tha nhân, vào khả năng trả lời những câu hỏi của thế giới xung quanh, hay vào nhu cầu thúc đẩy trách nhiệm chung giữa các thành viên cộng đoàn trong các hoạt động mục vụ của chúng ta. Trước đây chúng ta đã nói rằng cần phải bỏ lại phía sau tất cả mọi điều kìm hãm và cô lập chúng ta; ở đây nguyên tắc chỉ đạo là: gia sản của chúng ta phải trở thành công cụ và cơ hội để đối thoại với những người chúng ta gặp gỡ trên đường.
Như những gì xảy ra với các những người hành hương trên con đường Camino de Santiago, trong cuộc hành trình của mình, chúng ta nhìn thấy trước mắt những vùng bình nguyên xứ Castilla bao la và trơ trọi. Những cuộc gặp gỡ hiếm hoi của người hành hương với vài cụ già hoặc những người lao động ngoại quốc có thể trở thành một phép ẩn dụ cho nhiều hoàn cảnh xã hội mà đáng tiếc vẫn đang hiện diện trong một số thực tại Giáo hội của anh em. Đây không phải là lần đầu tiên Tây Ban Nha phải đối diện với tình trạng như vậy: trong quá khứ chẳng hạn, khi Giáo hội phải tái thiết sự hiện diện của mình trên những vùng đất bị thiêu rụi, đã xuất hiện những mô hình truyền giáo sau này được đưa sang châu Mỹ, và chúng có thể giúp ích cho chúng ta trong sứ mạng hôm nay.
Chúng ta cũng được mời gọi xây dựng một thực tại mới qua đối thoại đầy tôn trọng và việc sử dụng những ngôn ngữ mới, như vị “mufti thánh thiện” nổi tiếng của Granada là Tu sĩ Hernando de Talavera, và sau đó là Thánh Toribio de Mogrovejo tại châu Mỹ, một vị giám mục gương mẫu đã đến với tha nhân trong thời kỳ truyền giáo và tái tổ chức đời sống Giáo hội, và năm nay chúng ta đang cử hành kỷ niệm ba trăm năm ngày ngài được tuyên thánh. Mặc dù ngôn ngữ trong thời đại kỹ thuật số ngày nay đã khác, và các nền văn hóa tạo nên bức tranh khảm những thực tại của chúng ta — với những người di dân đến từ khắp nơi trên thế giới — cũng đã thay đổi, nhưng tinh thần ấy phải luôn được duy trì.
Những yếu tố cốt lõi của tinh thần đó là gì? Trước hết là khả năng truyền thông, khả năng nói với mọi thực tại hiện diện trên lãnh thổ của mình, biết hạ mình xuống không chỉ để hiểu mà còn để chia sẻ. Chỉ bằng cách quy tụ tất cả những điều thiện hảo tồn tại trong chính gia sản của chúng ta, với mỗi người góp phần của mình, chúng ta mới có thể xây dựng một thực tại mới trong đó đức tin có thể bén rễ sâu xa. Lẽ tất nhiên, để điều đó xảy ra, trước tiên chúng ta phải học ngôn ngữ của người khác, khởi xướng những tiến trình và dệt nên những mối liên kết nơi chúng ta có thể gieo hạt giống Nước Trời. Yếu tố thứ hai là lời mời gọi kiến tạo những thực tại tự bản thân có khả năng truyền đạt kinh nghiệm đức tin, có khả năng — như Thánh Toribio đã làm — mang kinh nghiệm của Granada đến châu Mỹ; nghĩa là biết mang theo trong hành trang những nguồn lực cho phép chúng ta đối diện cách cởi mở với những thách đố luôn mới của công cuộc loan báo Tin Mừng trong mọi hoàn cảnh.
Sau những đồng bằng hoang vắng ấy, chúng ta cũng sẽ gặp những thành phố lớn, nơi sự im lặng và khoảng cách không còn thuộc về không gian mà là về khoảng cách giữa con người với nhau. Những câu trả lời sẽ khác nhau, nhưng các tiến trình dẫn đến chúng vẫn tương tự nhau: lắng nghe, thấu hiểu, tôn trọng, quảng đại và cởi mở.
Người lữ khách thường khởi hành vào ban đêm, và bóng tối trên đường đi ban đầu thường làm họ sợ hãi. Bài Thánh thi Kinh Chiều “Đêm tối là thời gian của ơn cứu độ” nhắc nhở chúng ta rằng nếu chúng ta có những người bạn đồng hành tốt, những khó khăn của cuộc hành trình và nguy cơ lạc đường sẽ giảm bớt.
Chính Chúa là Đấng dẫn dắt chúng ta; Người là chủ của lịch sử và của từng câu chuyện cuộc đời chúng ta. Người quyết định nhịp bước. Chúng ta bước theo Người; đúng hơn, chúng ta bước đi với Người như những chi thể của cùng một thân thể. Mối dây liên kết sâu xa này đòi hỏi Giáo hội, trong thời đại của những sự phân cực và đối kháng ngày càng gay gắt, phải làm chứng cho sự hiệp nhất trong đa dạng: một sự hiệp thông có khả năng ôm trọn sự phong phú của các ân ban, các đặc sủng và những cảm thức mà Chúa Thánh Thần khơi dậy trong Dân Thiên Chúa. Hình ảnh của Đức Kitô được biểu lộ trong bức tranh khảm sống động của Giáo hội, nơi nhiều mảnh ghép, dù không hòa lẫn vào nhau, vẫn hội tụ để biểu lộ vẻ đẹp của một Chúa duy nhất.
Trong sứ vụ này, thừa tác vụ giám mục mang một ý nghĩa đặc biệt. Chúng ta được kêu gọi trở thành dấu chỉ hữu hình của sự hiệp thông: trước hết là hiệp thông với Đức Kitô, bằng việc yêu mến gìn giữ đức tin mà chúng ta đã lãnh nhận, trong sự vâng phục Lời Thiên Chúa và truyền thống sống động của Giáo hội. Thứ hai là hiệp thông với Đấng kế vị Thánh Phêrô và với Giáo hội hoàn vũ, với linh mục đoàn và chính cộng đoàn giáo phận, với đời sống thánh hiến, các phong trào, các hội đoàn và mọi đặc sủng đích thực mà Chúa Thánh Thần ban tặng vì ích chung. Sứ mạng của anh em kêu gọi anh em gìn giữ sự hiệp nhất, thúc đẩy đối thoại, chữa lành những chia rẽ và đồng hành với cuộc lữ hành của đoàn dân được trao phó cho anh em chăm sóc.
Sự hiệp thông được sống như thế cũng mang đến sức sống truyền giáo. Một Giáo hội có sự bình an nội tâm sẽ có thể nói cách tự do hơn với các anh chị em thuộc những hệ phái Kitô giáo khác và các tôn giáo khác, với những người không tin, với các nhà chức trách dân sự và với mọi người thiện chí đang làm việc vì công ích.
Lời mời gọi trở thành dấu chỉ của sự hiệp thông trong Đức Kitô — cùng nhau bước đi trong hiệp nhất và hướng tới người anh chị em mà chúng ta gặp gỡ — đặt chúng ta trước một thách đố khác đang chạm tới tâm hồn của rất nhiều người ngày nay: khó khăn trong việc đưa ra những cam kết dứt khoát và những quyết định sâu sắc cho cuộc đời. Đối với rất nhiều người trẻ — và không chỉ riêng họ — câu hỏi: “Tôi sống vì ai?” vang lên như một cuộc tìm kiếm chân thành về ý nghĩa, sự thuộc về và sự hiến thân. Trái tim con người không được lấp đầy bằng việc tích lũy những kinh nghiệm, cơ hội hay một cảm giác an toàn nhất thời; trái tim ấy chỉ được lấp đầy khi khám phá ra một tiếng gọi, khi hiểu rằng cuộc sống chỉ đạt tới sự viên mãn khi được cho đi.
Vì thế, mục vụ ơn gọi không thể bị giản lược thành việc chạy theo những con số đơn thuần. Nó phát sinh từ những cộng đoàn sống động, từ những linh mục hạnh phúc, từ những gia đình có khả năng làm chứng cho vẻ đẹp của lòng trung tín, từ một Giáo hội biết trình bày cách đơn sơ rằng việc bước theo Đức Kitô không làm nghèo đi cuộc sống nhưng làm cho cuộc sống được mở rộng hơn. Nơi nào Tin Mừng được sống trong niềm vui, tinh thần phục vụ và sự hiệp thông, thì tiếng gọi của Chúa cũng có thể một lần nữa được lắng nghe như một lời hứa ban sự sống.
Trước đây, chúng ta đã nhắc đến những hành trang nặng nề. Những người hành hương trên con đường Camino de Santiago hiểu rất rõ rằng chỉ nên mang theo những gì thật sự cần thiết trong ba lô. Như Đức Thánh Cha Phanxicô thường nói, trong bối cảnh mục vụ ơn gọi hiện nay, việc duy trì các cơ cấu không thể được đặt cao hơn lợi ích của chính ơn gọi. Các chủng sinh có quyền được hưởng nền đào tạo tốt nhất có thể, và về phần mình, Giáo hội cũng có quyền có được những linh mục được đào tạo cách kỹ lưỡng. Tiêu chuẩn để các chủng viện trở thành những ngôi nhà đào tạo thực sự là phải bảo đảm một kinh nghiệm đầy đủ về đời sống cộng đoàn; phải có những nhà đào tạo chuyên tâm cho việc nghiên cứu và giảng dạy, đồng thời có kinh nghiệm trong việc đồng hành thiêng liêng; và phải có các trung tâm đào tạo thần học bậc cao được trang bị những phương tiện cần thiết để hoàn thành sứ mạng của mình. Để đạt được điều đó, điều quan trọng không chỉ là hợp lực với nhau mà còn phải học cách làm việc với nhau trong việc giải quyết những thách đố này.
Trong lãnh vực này, những khó khăn có thể được nhìn như những cơ hội. Đôi khi chúng ta gặp khó khăn trong việc giải thích ơn gọi của giáo dân và sự hội nhập của họ vào hành trình đời sống mà chúng ta, với tư cách là Giáo hội, đang thực hiện. Mặt khác, chúng ta nhận thấy rằng trong nhiều thừa tác vụ trước đây do các tu sĩ đảm trách, nay các cộng tác viên giáo dân đang được mời gọi tiếp tục công việc ấy. Đó là một khó khăn mà chúng ta có thể biến thành cơ hội gặp gỡ, đối thoại và truyền thông. Bổn phận của chúng ta là phải bảo đảm rằng những giáo dân này nhận thức sự tham gia của họ trong việc phục vụ Giáo hội như một tiếng gọi đến từ Thiên Chúa để đảm nhận trách nhiệm của mình với tư cách là Kitô hữu, biết nội tâm hóa tinh thần đó và cảm nhận mình là một phần của sứ mạng mà Chúa đã trao phó cho các tu sĩ đã thiết lập nên công cuộc đó.
Như anh em có thể thấy, cuộc hành trình của chúng ta được cấu thành từ những cuộc gặp gỡ, và chúng ta cũng sẽ gặp những người đang trải qua những thời khắc tăm tối, những người kêu gọi chúng ta trở thành người Samari nhân hậu của họ. Một trong những cuộc gặp gỡ đau đớn nhất là với những người đã bị làm tổn thương bởi chính những người lẽ ra phải chăm sóc họ, kể cả các thành viên trong hàng giáo sĩ. Trước tai họa này, cộng đoàn Giáo hội được kêu gọi đáp lại bằng sự lắng nghe, sự thật, công lý, sự đền bù và một cam kết ngày càng kiên quyết hơn đối với công tác phòng ngừa cũng như việc xây dựng nền văn hóa chăm sóc. Mỗi người bị tổn thương phải có khả năng tìm được sự lắng nghe chân thành, sự đón tiếp, bảo vệ và những con đường chữa lành thực sự.
Cùng một luận lý này cũng được áp dụng cho những thách đố của một thế giới bị tục hóa. Nhiều người nam và nữ trong thời đại chúng ta không trực tiếp khước từ Thiên Chúa; họ thường mang trong lòng một cơn khát sâu xa về ý nghĩa, chân lý, sự thuộc về và niềm hy vọng, ngay cả khi họ không biết cách gọi tên nó. Giáo hội được kêu gọi nhận ra những khát vọng đó, lắng nghe chúng với lòng tôn trọng, và trao ban kho tàng đã được ủy thác cho mình — như Phêrô và Gioan đã làm với người bại liệt tại cửa đền thờ: Đức Giêsu Kitô, nhân danh Người mà một con người có thể đứng dậy và bước đi (x. Cv 3:1–10). Khi cộng tác với các tổ chức tôn giáo hoặc dân sự khác, cũng như khi cung cấp trợ giúp vật chất, giáo dục, hỗ trợ hay giúp phát triển con người, Giáo hội không bao giờ ngừng trao ban những gì là của riêng mình: tình yêu của Thiên Chúa được mặc khải nơi Đức Kitô. Sứ điệp ấy vẫn vang vọng trong xã hội, một xã hội không ngần ngại bày tỏ sự trân trọng đối với nhiều công cuộc này. Nhờ đó, mỗi cử chỉ bác ái Kitô giáo phát sinh từ Tin Mừng đều mang trong mình một lời hứa lớn lao hơn: khôi phục nơi con người niềm xác tín rằng họ được yêu thương.
Trên hành trình của mình, chúng ta đang đi qua vùng đất mà Thánh Gioan Phaolô II đã chọn để gọi là “Vùng đất của Đức Maria” (Bài giảng trong Cử hành Phụng vụ Lời Chúa và Nghi thức Thánh Mẫu Toàn quốc, Zaragoza, ngày 6 tháng 11 năm 1982, số 1). Nơi Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc, Mẹ của sự hiệp thông và niềm hy vọng, anh em có người bạn đồng hành đầu tiên trên hành trình và cũng là kho tàng lớn nhất của mình, vì Mẹ chỉ cho chúng ta thấy qua cuộc đời Mẹ cách đón nhận Lời Chúa và ghi nhớ trong lòng, cách đồng hành với các môn đệ trên hành trình này và cách duy trì sự hiện diện trong hành trình của Giáo hội. Tôi phó thác thừa tác vụ của anh em cho Mẹ, để Mẹ giúp anh em trở nên nắm men nhỏ bé, mà Tin Mừng nhắc đến, giữa lòng dân Chúa được trao phó cho mình. Nhỏ bé trong mắt thế gian, nhưng khi được kết hợp với Đức Kitô lại có khả năng làm dậy cả khối bột (x. Mt 13:33). Sức mạnh của Giáo hội không đến từ quy mô các nguồn lực của mình, nhưng từ sự thánh thiện của các con cái mình, từ sự hiệp thông của các mục tử và từ lòng trung thành khiêm nhường và kiên trì của những người cho phép Thánh Thần hướng dẫn họ.
Trên hành trình này, Thánh Gioan Avila, bổn mạng hàng giáo sĩ Tây Ban Nha, cũng đồng hành với anh em khi năm nay chúng ta kỷ niệm năm trăm năm ngày ngài được thụ phong linh mục. Thánh Phaolô VI đã mô tả ngài là “một vị thầy nhân hậu và khôn ngoan của đời sống thiêng liêng, một nhà canh tân gương mẫu của đời sống Giáo hội và các tập tục Kitô giáo”, đồng thời là “một linh mục đơn sơ” (Bài giảng trong Thánh lễ phong hiển thánh cho Chân phước Gioan Avila, ngày 31 tháng 5 năm 1970). Nơi vị Thánh Tiến sĩ Giáo hội này, Giáo hội nhận ra đời sống linh mục mà mỗi giám mục được kêu gọi gìn giữ và thúc đẩy trong chính linh mục đoàn của mình.
Hướng nhìn về ngài, tôi nhớ đến những người là bạn đồng hành gần gũi nhất của các giám mục trên hành trình này: những “linh mục đơn sơ”, theo nghĩa cao quý và chặt chẽ nhất của thuật ngữ này. Hành trình của chúng ta cùng với họ phải truyền tải tầm quan trọng của những điều cốt yếu: trở thành những linh mục yêu mến Đức Kitô, bén rễ sâu trong cầu nguyện, trung thành với Giáo hội, gần gũi với người dân và có khả năng kết hợp giáo lý vững chắc, lòng nhiệt thành tông đồ và đức ái mục vụ. Những linh mục tìm thấy nơi vị giám mục không chỉ là một thẩm quyền được công nhận, mà còn là một người cha luôn đồng hành với mình; và nơi các linh mục khác là những người anh em cùng chia sẻ những khó khăn và niềm vui của cuộc hành hương đầy các cuộc gặp gỡ này, trong đó tất cả chúng ta đều tìm kiếm Đức Kitô.
Chúng ta hãy kết thúc hành trình thiêng liêng này bằng một lời nguyện của vị Thánh Tiến sĩ, người nhắc nhở chúng ta rằng mọi sự canh tân trong giáo hội đều khởi đi từ một trái tim được trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô: “Lạy Chúa, nếu Chúa truyền cho con làm điều Chúa đã làm, xin ban cho con trái tim của Chúa” (Bài giảng 57:20). Ước gì đây cũng là lời khẩn cầu của chúng ta: Lạy Chúa, xin ban cho chúng con trái tim của Chúa, một trái tim biết hướng ánh mắt về Ngài, biết lên đường, biết lắng nghe, biết phân định, biết phục vụ, biết sửa lỗi trong đức ái, biết chăm sóc với lòng kiên nhẫn và biết loan báo với niềm vui. Vì Giáo hội đón nhận trái tim của Đức Kitô sẽ mang theo bên mình cột lửa dẫn đường, nâng đỡ, bảo vệ và an ủi mình — lương thực cần thiết để đối diện với mọi thách đố.
Xin Chúa chúc phúc cho anh em. Cảm ơn anh em.
[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 09/06/2026]