Trang

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2026

Đại hội Công giáo lớn nhất khai mạc tại Vilnius – nơi khai sinh lòng sùng kính Lòng Chúa Thương xót

Đại hội Công giáo lớn nhất khai mạc tại Vilnius – nơi khai sinh lòng sùng kính Lòng Chúa Thương xót

Đại hội Công giáo lớn nhất khai mạc tại Vilnius – nơi khai sinh phong trào sùng kính Lòng Chúa Thương xót

Đại hội Tông đồ Thế giới về Lòng Thương xót (WACOM) lần thứ VI đã khai mạc tại Vilnius, quy tụ hàng ngàn tham dự viên đến từ 52 quốc gia tham dự một trong những sự kiện Công giáo quan trọng nhất của năm. Trong sáu ngày, thành phố nơi lòng sùng kính Lòng Thương xót của Chúa được khai sinh trở thành điểm gặp gỡ toàn cầu cho các cuộc đối thoại về lòng trắc ẩn, sự hòa giải và niềm hy vọng trong một thế giới ngày càng bị chia rẽ.

11 Tháng Sáu, 2026 17:55

ZENIT STAFF


Trong sáu ngày của tuần này, Vilnius trở thành điểm gặp gỡ của cộng đồng Công giáo toàn cầu khi hàng ngàn khách hành hương, các giáo sĩ, các nhà lãnh đạo cộng đoàn và du khách quy tụ về thủ đô của Lithuania để tham dự Đại hội Tông đồ Thế giới lần thứ 6 về Lòng Thương xót (WACOM).

Đại hội chính thức khai mạc vào ngày 7 tháng 6 và quy tụ hơn 5.000 tham dự viên đến từ 52 quốc gia, trở thành một trong những sự kiện Công giáo quốc tế quan trọng nhất được tổ chức trên thế giới trong năm nay.

Đại hội do Bộ Loan báo Tin Mừng của Tòa Thánh tổ chức, lần đầu tiên diễn ra tại Lithuania từ ngày 7 đến ngày 12 tháng 6 với chủ đề “Xây dựng Thành phố của Lòng Thương xót.”

Đại hội Công giáo lớn nhất khai mạc tại Vilnius – nơi khai sinh lòng sùng kính Lòng Chúa Thương xót

Vilnius được chọn làm địa điểm tổ chức vì đây là nơi khai sinh lòng sùng kính Lòng Thương xót của Chúa – một phong trào đã trở thành một trong những biểu hiện lan tỏa rộng rãi nhất của linh đạo Công giáo hiện đại. Ngày nay, linh ảnh hiện diện trong các nhà thờ Công giáo trên khắp thế giới, trong khi bức ảnh gốc vẫn được lưu giữ tại Đền thánh Lòng Chúa Thương xót ở khu Phố Cổ của Vilnius.

“Trong nhiều thập niên qua, hàng triệu người Công giáo trên khắp thế giới đã cầu nguyện trước ảnh Lòng Thương xót của Chúa mà không biết rằng câu chuyện này bắt đầu tại Vilnius. Đại hội này là một thời khắc lịch sử vì nó đưa cộng đồng Lòng Chúa Thương xót toàn cầu trở về chính thành phố nơi sứ điệp ấy lần đầu tiên được hình thành. Đây không chỉ là cơ hội để nhớ lại lịch sử, mà còn để suy tư về một sứ điệp vẫn còn nguyên tính thời sự: rằng lòng thương xót, được sống qua kinh nguyện, lời nói và những hành động cụ thể, có thể trở thành nền tảng cho niềm hy vọng và sự hiệp nhất,” Đức Tổng Giám mục Gintaras Grušas nói.

Ngày khai mạc bao gồm Thánh lễ tại Quảng trường Nhà thờ Chánh tòa Vilnius và rước kiệu Thánh Thể qua trung tâm thành phố, mở đầu cho chuỗi chương trình diễn ra tại các nhà thờ, các đan viện, bảo tàng và không gian công cộng trên khắp thành phố.

“Đại hội này quy tụ hơn 130 diễn giả đến từ Canada, Philippines, Ý và Ukraine; nhưng điều kết nối họ không phải là địa vị hay danh hiệu. Nhiều người trong đó đã trải qua những kinh nghiệm phi thường – từ nghiện ngập, bạo lực cho đến chiến tranh, mất mát và hoán cải cá nhân. Bên cạnh các nhà lãnh đạo Giáo hội và các tác giả nổi tiếng thế giới, khách tham dự sẽ được nghe các câu chuyện của những con người đã xây dựng lại cuộc đời mình và tìm thấy niềm hy vọng trong những hoàn cảnh khó khăn,” bà Inesa Čaikauskienė, Giám đốc Đại hội Tông đồ Thế giới về Lòng Thương xót Vilnius 2026, cho biết.

Chương trình WACOM diễn ra trong năm ngày trọn vẹn, với hơn 30 sự kiện mỗi buổi chiều trên khắp Vilnius và mở cửa cho tất cả mọi người, dù họ đến vì đức tin, văn hóa hay đơn giản là vì những cuộc đối thoại mang ý nghĩa sâu sắc. Các hoạt động buổi tối bao gồm chương trình hòa nhạc, bên cạnh là những cử hành phụng vụ và các giờ cầu nguyện hằng ngày được đan xen trong chương trình của đại hội.

Vượt ra ngoài chiều kích tôn giáo, cuộc gặp gỡ này còn đề cập đến một số thách đố cấp bách nhất mà các xã hội hiện đại đang phải đối diện: sự cô đơn, nghiện ngập, đổ vỡ gia đình, sức khỏe tâm thần, những tổn thương do chiến tranh và tình trạng bị gạt ra bên lề. Thông qua các buổi thảo luận, triển lãm và sự kiện cộng đồng, các diễn giả cùng khám phá cách thức để các cộng đồng có thể phản ứng trước những vấn đề này bằng tình liên đới và hành động cụ thể.

Các phiên thảo luận có sự đóng góp của những diễn giả cấp quốc tế, trong đó có ông John Pridmore, trước đây là một thành viên băng đảng đã trở thành diễn giả Công giáo, và ông Nicky Gumbel, mục sư Anh giáo kiêm người sáng lập Alpha. Trong số 30 bài thuyết trình mỗi ngày, các tham dự viên sẽ lắng nghe Đức Tổng Giám mục Grzegorz Ryś của Krakow, nhà truyền thông Công giáo Matt Fradd, bà Tetiana Stawnychy, Chủ tịch Caritas Ukraine, cũng như Đức Thượng phụ Đại kết Bartholomew I và Đại Thống lãnh của Dòng Hiệp sĩ Malta.

Vilnius đang kết hợp chương trình của đại hội với vai trò lâu đời của mình là một điểm đến hành hương. Với hơn 30 nhà thờ nằm trong khoảng cách có thể đi bộ trong khu Phố cổ được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới, thành phố cũng giới thiệu những tuyến hành hương gắn liền với truyền thống Lòng Thương xót của Chúa, trong đó có con đường hành hương Lòng Thương xót.

Trong khi hàng ngàn người tiếp tục đổ về trong suốt tuần lễ này, Vilnius đang khẳng định vị thế của mình không chỉ là một điểm hành hương lịch sử, mà còn là một điểm gặp gỡ đương đại cho các cuộc đối thoại toàn cầu về đức tin và đời sống cộng đồng.


[Nguồn: zenit]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 14/06/2026]


Vâng, ngay cả các giáo hoàng cũng bị trễ chuyến bay; nhớ lại sự cố khẩn cấp của Đức Gioan Phaolô II

Vâng, ngay cả các giáo hoàng cũng bị trễ chuyến bay; nhớ lại sự cố khẩn cấp của Đức Gioan Phaolô II

Vâng, ngay cả các giáo hoàng cũng bị trễ chuyến bay; nhớ lại sự cố khẩn cấp của Đức Gioan Phaolô II

Photo by Simone Risoluti / VATICAN MEDIA / AFP


Kathleen N. Hattrup

12/06/26


Cả thế giới đã dõi theo với sự thích thú khi dường như Tây Ban Nha quá yêu mến Đức Giáo hoàng Lêô đến mức không muốn để ngài rời đi sau bảy ngày nồng nhiệt và ấm áp. Nhưng việc này lại nhắc chúng ta về một sự kiện năm 1990 xảy ra với Đức Gioan Phaolô II.

Khi những nhân vật quan trọng hàng đầu thế giới bay khắp địa cầu, hiếm khi xảy ra các sự cố kỹ thuật. Thế nhưng, thỉnh thoảng chúng ta lại được nhắc nhớ rằng ngay cả các quốc vương, các nữ hoàng, tổng thống, thủ tướng – và vâng, ngay cả các giáo hoàng – cũng phải đối mặt với những bất tiện vốn là một phần trong cuộc sống của tất cả chúng ta.

Chiều nay, ngày 12 tháng 6, sau khi Đức Giáo hoàng Lêô lên máy bay để rời Tây Ban Nha, theo sau một nghi thức chào danh dự quân sự vô cùng trang trọng và lời tạm biệt nồng hậu từ một vị quốc vương với nụ cười rạng rỡ, cầu thang được chuyển đi và cửa máy bay đóng lại. Ngay cả thảm đỏ cũng đã được cuộn lại. Một số vị giáo sĩ cấp cao và các vị chức sắc vẫn đứng dõi theo. Vậy mà, máy bay vẫn nằm im trên đường băng, với quốc kỳ Tây Ban Nha và Vatican tung bay bên ngoài các cửa sổ buồng lái đang mở.

Bất ngờ, xe thang lại được đưa trở lại và nhà vua xuất hiện lần nữa... chuyện gì đang xảy ra vậy? Đức Vua Felipe VI bước lên chính chiếc cầu thang mà Đức Giáo hoàng đã đi lên chỉ vài phút trước đó; và người ta nhìn thấy Đức Thánh Cha trò chuyện với nhà Vua tại cửa máy bay... rồi cả hai cùng bước xuống thang, cười nói và rõ ràng là đang tận hưởng khoảnh khắc này.

Người ta nhớ lại việc Đức Thánh Cha Lêô từng nói về việc “thực hành sự hiện diện của Thiên Chúa”, và hình dung rằng ngài đón nhận toàn bộ sự việc không chỉ bằng sự hóm hỉnh mà còn bằng đức tin.

Đức Thánh Cha và Quốc vương đi vào bên trong sân bay; vài phút sau, Đức Hồng y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, xuất hiện và bước xuống máy bay, vừa đi vừa chỉnh lại phẩm phục hồng y của mình, trong khi các bình luận viên trên đài phát thanh đang phát trực tiếp bày tỏ rằng, cũng như mọi người khác, họ hoàn toàn không biết chuyện gì đang xảy ra... còn buổi phát sóng trực tiếp của Vatican vẫn tiếp tục chiếu hình ảnh một chiếc máy bay không hề di chuyển. Thông báo chính thức cho biết dự kiến chuyến bay sẽ chậm ít nhất 30 phút; đồng thời các thông báo cũng xác nhận sự có mặt của tổng giám đốc hãng hàng không Iberia, người dĩ nhiên đã gửi lời xin lỗi về sự cố. Dẫu vậy, như tất cả mọi người đều đồng ý, an toàn luôn là trên hết.

Ôi, đúng vậy, việc chuyến bay bị hoãn là một phần của cuộc sống, kể cả đối với các giáo hoàng.

Trong khi các ký giả Vatican kỳ cựu có mặt trên chuyến bay cố gắng chia sẻ các dòng tin ngắn, nhận định chung của họ khá giống nhau: chuyện này chắc chắn không thường xảy ra! Thật vậy, "chưa từng có tiền lệ" là cụm từ được sử dụng, ngoại trừ một ngoại lệ nhỏ.

Đức Gioan Phaolô II và một phép lạ tại Malta

Đền thánh quốc gia Ta' Pinu rộng lớn và tuyệt đẹp trên đảo Gozo của Malta là đền thánh quan trọng nhất trên quần đảo, là điểm đến của những người hành hương trong nước và quốc tế. Nhiều người trong số họ trở lại Ta’ Pinu để cảm tạ vì những ơn lành đã nhận được; các bảng tạ ơn phủ kín những bức tường của hai căn phòng cạnh gian cung thánh.

Tại đó, người ta có thể nhìn thấy một bảng tạ ơn từ một sự cố máy bay khác và liên quan đến một vị giáo hoàng khác.

Năm 1990, trong chuyến tông du đến Tanzania, Đức Phaolô II đã buộc phải hạ cánh khẩn cấp xuống Malta. Chỉ vài tháng trước đó, vào tháng 5 năm 1990, ngài là vị giáo hoàng đầu tiên viếng nhà nguyện tại Ta’ Pinu, nơi ngài đã chìm trong thinh lặng cầu nguyện trước linh ảnh này.

Bbốn tháng sau, vào tháng 9, do một sự cố kỹ thuật, chiếc máy bay chở giáo hoàng buộc phải hạ cánh khẩn cấp tại Malta. Một lần nữa, vị giáo hoàng người Ba Lan nhận thấy bàn tay che chở của Đức Trinh nữ Maria trong cuộc đời mình, tin rằng chính Đức Mẹ đã gìn giữ mọi người được an toàn.

Sau khi mọi việc được xử lý và sửa chữa xong, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tiếp tục thực hiện chuyến tông du lịch sử kéo dài năm ngày tại Tanzania.

Vâng, ngay cả các giáo hoàng cũng bị trễ chuyến bay; nhớ lại sự cố khẩn cấp của Đức Gioan Phaolô II

Bảng tạ ơn mô tả Đức Gioan Phaolô II và chiếc máy bay.

Dòng chữ ghi trên bảng tạ ơn bằng tiếng Malta viết rằng: “Ngày 1 tháng 9 năm 1990, khi máy bay của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II trên đường đến Tanzania gần đến Malta, máy bay gặp một sự cố nghiêm trọng và có nguy cơ bị rơi. Viên phi công đã kiểm soát được tình hình và hạ cánh an toàn xuống Malta. Sau khi cầu nguyện, Đức Giáo hoàng nói: ‘Đức Mẹ Ta’ Pinu đã cứu chúng ta.’”

Còn đối với Đức Giáo hoàng Lêô, vào thời điểm bài báo này được đăng, các nhân viên đang bốc dỡ các vali khỏi máy bay. Một chiếc máy bay mới đang được điều đến từ Madrid. Quốc vương, theo ghi nhận, vẫn ở lại sân bay. Và dự kiến Đức Thánh Cha vẫn sẽ trở về Vatican trong đêm nay... có lẽ vậy.

Cập nhật: Có một diễn biến mới. Các kế hoạch đang được triển khai để đưa Đức Giáo hoàng Lêô trở về Vatican bằng chuyên cơ quân sự riêng của Quốc vương. Tuy nhiên, như bất cứ ai từng phải chờ đợi nhiều giờ tại sân bay đều biết, thông tin luôn thay đổi và mọi việc có thể thay đổi bất cứ lúc nào. (Kể cả yếu tố thời tiết; xin lưu ý rằng chuyến bay đang khởi hành từ một hòn đảo!)

Cập nhật: Lúc 19:02 phút theo giờ Roma (6:02 phút tại quần đảo Canary), chuyên cơ của Quốc vương chở Đức Giáo hoàng đã bắt đầu lăn bánh để cất cánh, tức khoảng ba giờ sau thời điểm cất cánh dự kiến ban đầu. Đức ông Edgard, thư ký riêng của Đức Giáo hoàng, dường như đã lên máy bay cùng với hành lý của Cha (và của Đức Giáo hoàng). Nhà vua vẫn tiếp tục ở lại sân bay, bây giờ với nụ cười an lòng. Người ta chỉ có thể hình dung những hoa trái mà Thiên Chúa có thể làm nảy sinh từ những giờ phút bất ngờ kéo dài thêm tại Tây Ban Nha này.

Vâng, ngay cả các giáo hoàng cũng bị trễ chuyến bay; nhớ lại sự cố khẩn cấp của Đức Gioan Phaolô II

Đức Giáo hoàng Lêô lên chuyên cơ quân sự riêng của Quốc vương Felipe VI, với dòng chữ: “Vương quốc Tây Ban Nha”. STEFANO RELLANDINI | AFP

Cập nhật: 7 giờ 09 phút, máy bay cất cánh.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 13/06/2026]


Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2026

Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Tây Ban Nha (6 – 12 tháng 6 năm 2026) – Gặp gỡ với các tổ chức hoạt động vì sự hội nhập của người di dân, 12.06.2026

Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Tây Ban Nha (6 – 12 tháng 6 năm 2026) – Gặp gỡ với các tổ chức hoạt động vì sự hội nhập của người di dân, 12.06.2026

Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Tây Ban Nha (6 – 12 tháng 6 năm 2026) – Gặp gỡ với các tổ chức hoạt động vì sự hội nhập của người di dân, 12.06.2026

*******

Cuộc gặp gỡ với các tổ chức hoạt động vì sự hội nhập của người di dân

Vào khoảng 10 giờ 30 theo giờ địa phương (11 giờ 30 tại Rôma), Đức Thánh Cha Lêô XIV rời Trung tâm Las Raíces và di chuyển bằng xe hơi đến Quảng trường Chúa Kitô (Plaza de Cristo) để gặp gỡ các tổ chức hoạt động vì sự hội nhập của người di dân, với sự hiện diện của khoảng bốn ngàn người.

Khi đến nơi, ngài được Đức Cha Eloy Alberto Santiago Santiago của Giáo phận San Cristóbal de La Laguna đón tiếp.

Sau một bài thánh ca, lời chào mừng của Đức Cha Tenerife, cùng những chứng từ của một linh mục người Venezuela và ba người di dân, Đức Thánh Cha đã ngỏ lời với những người hiện diện.

Kết thúc cuộc gặp gỡ, Đức Giáo hoàng đã đi giữa các tín hữu bằng xe điện sân golf, rồi trở về tòa giám mục. Trên đường đi, ngài chào thăm một số người đau bệnh, các đại diện của một số dòng tu và các tín hữu. Sau đó, khi đến tòa giám mục, Đức Thánh Cha Lêô XIV chào cộng đoàn Công giáo địa phương từ ban công.

Sau đây là bài diễn văn của Đức Thánh Cha tại Quảng trường Chúa Kitô:


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Anh chị em thân mến,

Tôi rất vui được chia sẻ giây phút này với anh chị em nơi đây, tại San Cristóbal de La Laguna, trụ sở của giáo phận. Tôi rất ấn tượng trước những gì đã được nói về thành phố này: một thành phố không có những bức tường, một thành phố rộng mở.

Có lẽ chi tiết này giúp chúng ta hiểu rằng những rào cản khó phá bỏ nhất không phải luôn được xây bằng đá. Đôi khi chúng nằm ngay trong thái độ của chúng ta, trong nỗi sợ hãi hoặc sự thờ ơ. Biển cả bao quanh những hòn đảo này mang đến cho chúng ta những câu chuyện mà không phải lúc nào chúng ta cũng biết cách lý giải: những câu chuyện về đau khổ, hy vọng và sự kiếm tìm. Trong một thành phố không có những bức tường, con tim cũng được kêu gọi rộng mở để đón nhận những người mang theo các câu chuyện đó. Vì thế, chúng ta cần học ngôn ngữ của sự gần gũi, một ngôn ngữ được hiểu bằng đôi bàn tay nhiều hơn bằng lời nói.

Chữ nổi Braille và những hình thức chữ viết xúc giác khác nhắc nhở chúng ta rằng lời nói cũng có thể được truyền tải qua sự đụng chạm. Tương tự như vậy, sự hội nhập đòi hỏi chúng ta phải học cách đọc theo một phương thức khác. Có những người với đôi mắt nhìn thấy nhưng không nhận ra; họ biến một khuôn mặt thành một con số, biến một câu chuyện thành một hồ sơ, và sự khác biệt thành một khoảng cách. Vì thế, Tin Mừng dạy chúng ta cách đọc thực tại sâu sắc hơn: một cách đọc phát xuất từ sự gần gũi, từ lòng kiên nhẫn và từ những đôi bàn tay có khả năng trợ giúp, đồng hành, hướng dẫn, giáo dục và mở ra những con đường.

Trong những nỗ lực nhằm hội nhập các anh chị em này của chúng ta — cũng như trong mọi công cuộc bác ái — Giáo hội học cách đọc thấy nơi cuộc sống cụ thể của những người đau khổ về thể xác hoặc tâm hồn một dấu chỉ sống động hướng về các Tin Mừng. Dấu chỉ ấy trở nên dễ đọc nhờ sự tiếp xúc và gần gũi khi chúng ta cảm nhận những vết thương của người khác. Như Thánh Tôma trước thân thể vinh hiển của Đấng Phục sinh, Giáo hội cũng học được rằng khi nhìn qua lăng kính đức tin, các vết thương có thể trở thành nơi của sự nhận biết. Nơi nào đau khổ của con người được chạm đến bằng tình yêu, nơi đó Đức Kitô khẳng định với chúng ta rằng Người hiện diện trong những người đói khát, người trần trụi, người đau yếu, người tù đày và người ngoại kiều (x. Mt 25:35–40). Từ đức tin nhận biết Đức Kitô hằng sống đó đã khơi nguồn cho việc phục vụ của Cha Darwin và biết bao người khác. Đức ái Kitô giáo tuôn trào từ tình yêu Thiên Chúa được tuôn đổ vào tâm hồn người tín hữu; vì thế, trước những người túng thiếu, đức tin trở nên cụ thể và tình yêu dành cho Đức Kitô được chuyển hóa thành hành động.

Từ xác tín này, sự hiện diện của chúng ta làm chứng cho sự thật rằng tình liên đới nảy sinh từ việc nhìn nhận phẩm giá con người và vượt lên trên mọi hành vi từ thiện hay cứu trợ thuần túy. Nó được kêu gọi trở thành một cam kết và mang hình thức của một tiến trình. Tiếp đón mở cánh cửa; hội nhập giúp người ta bước qua ngưỡng cửa ấy. Trợ giúp xức dầu làm dịu vết thương; và hội nhập tái thiết tương lai.

Hội nhập không có nghĩa là xóa bỏ lịch sử của những người mới đến hoặc đòi hỏi họ phải bỏ lại phía sau mọi điều thuộc về ký ức của họ. Hội nhập cũng không có nghĩa là tạo nên những thế giới song song, khép kín với nhau, nơi người ta sống cạnh nhau mà không thực sự gặp gỡ nhau. Hội nhập là một hành trình tương hỗ: những người mới đến học cách cư ngụ trên một vùng đất mới, và những người đón tiếp họ học cách mở rộng ngôi nhà của mình mà không làm lu mờ bản sắc của mình hay đóng cửa lòng trước cuộc gặp gỡ. Anh chị em di dân thân mến, một phần cao quý và cần thiết của hành trình này thuộc về anh chị em: hãy tin tưởng mở lòng với cộng đồng đón nhận mình, học ngôn ngữ của họ, tôn trọng luật pháp của họ, tìm hiểu các phong tục của họ, tham gia vào đời sống cộng đồng và trao tặng những ân huệ của mình với lòng biết ơn.

Mọi xã hội đón tiếp đều có những trách nhiệm đối với những người mới đến, và những người được đón nhận cũng khám phá ra rằng phẩm giá, vốn được nhìn nhận như một quyền, sẽ triển nở khi nó trở thành một bổn phận và một khát vọng chân thành cùng xây dựng với tha nhân. Nhờ đó, những người từng đến như người xa lạ có thể tìm lại các mối dây liên kết, tái lập lòng tin và cảm nhận mình là một phần sống động của cộng đồng. Đây là một hình thức quý giá của lòng thương xót.

Trên hết, chúng ta đang nói đến những con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, chứ không phải những phạm trù pháp lý hay những vấn đề cần được quản lý. Sau những hành trình gian nan và đôi khi phải trải qua nhiều lần thử sức — như trường hợp của Khalid — họ tìm kiếm một người có thể nói với họ bằng hành động hơn là bằng lời nói rằng: cuộc đời bạn không vô nghĩa; đau khổ của bạn không phải là vô hình; phẩm giá của bạn không bị cuốn trôi theo những dòng nước mà bạn đã vượt qua — như Mbacke đã chia sẻ với chúng ta. Tuy nhiên, họ cũng tìm kiếm điều gì đó hơn thế nữa: một cơ hội cụ thể để bắt đầu lại, để học tập, làm việc, phục vụ, tham gia và không mãi mãi bị giam hãm trong vai trò nạn nhân.

Về phương diện này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với những lời của Đức Cha Eloy, và qua đó, đối với chứng tá của một Giáo hội dù với nguồn lực hạn chế vẫn cố gắng “tiến bước cùng những người đang bước đi”. Cảm ơn Caritas giáo phận, Văn phòng Di dân giáo phận, các giáo xứ và rất nhiều tổ chức giáo hội cũng như dân sự, những tổ chức đã vượt ra ngoài việc cung cấp cứu trợ khẩn cấp mà còn hỗ trợ các tiến trình bảo vệ, thăng tiến và hội nhập. Cảm ơn anh chị em vì đã giúp những người từng được đồng hành có thể trở thành — như Thalia đã nhắc nhở chúng ta — những nhịp cầu cho người khác, trao lại tình yêu mà họ đã nhận được. Khi những người từng cần một bàn tay nâng đỡ bắt đầu dang rộng bàn tay của họ, thì đức ái đã nhận được sẽ biến đổi thành trách nhiệm được chia sẻ.

Đồng thời, chúng ta không thể quên rất nhiều người di dân đến từ châu Mỹ Latinh, Philippines và nhiều nơi khác trên thế giới, những người đã trở thành một phần sống động của cộng đồng. Qua đức tin, lao động và các ân ban của mình, họ góp phần đổi mới cộng đồng. Anh chị em cũng hãy để mình được phúc âm hóa bởi họ, vì chắc chắn họ mang theo những ân ban mà Đấng Quan Phòng muốn gửi đến cho anh chị em qua những người đang hội nhập. Họ nhắc nhở chúng ta rằng hội nhập có nghĩa là tạo không gian để mỗi người cảm nhận trách nhiệm chung. Nhờ đó, người xa lạ của ngày hôm qua có thể trở thành người anh chị em và người thân cận của ngày hôm nay.

Tôi cũng muốn xin các tín hữu Công giáo một điều khác nữa: đó là đừng để việc hội nhập bị thu hẹp thành một công việc xã hội, dù đó là điều cần thiết. Những người đến với các giáo xứ của chúng ta cần bánh ăn, nơi trú ngụ, sự hỗ trợ ngôn ngữ, việc làm và sự bảo vệ. Họ cũng cần tìm được một cộng đồng có khả năng giới thiệu cho họ những con đường để nhận biết Đức Giêsu Kitô qua chứng tá đời sống và lời nói, đồng thời luôn tôn trọng lương tâm và tự do của mỗi người. Loan báo Tin Mừng là chia sẻ kho tàng nâng đỡ hành động và niềm hy vọng của chúng ta với lòng tôn trọng và khiêm nhường. Một Giáo hội đón tiếp cũng là một Giáo hội loan báo, trao tặng Đức Kitô mà không áp đặt Người, đồng thời đón nhận Tin Mừng từ chính đôi tay của người nghèo.

Lương tâm con người, và hơn thế nữa là lương tâm Kitô giáo, không thể giữ thái độ thờ ơ trước những nghĩa trang giữa biển khơi này, trước những nạn nhân của các vụ đắm tàu và thiếu vắng cứu trợ. Mỗi mạng sống bị mất đi trên những tuyến đường đó là một thất bại của gia đình nhân loại. Tuy nhiên, còn có một vụ đắm tàu âm thầm khác xảy ra sau khi đến nơi: bị bỏ mặc đơn độc trong thành phố, không tiếng nói, không có các mối liên kết, không việc làm, không cảm giác an toàn, và bị phơi bày trước những kẻ lợi dụng sự dễ bị tổn thương của họ. Hội nhập có nghĩa là ngăn chặn vụ đắm tàu thứ hai đó. Nó có nghĩa là giúp những người đến trong tình trạng bị tổn thương không mãi bị kẹt trong nỗi đau của họ, nhưng có thể đứng dậy trên đôi chân của mình, nhận ra các ân ban của họ và cống hiến chúng cho cộng đồng.

Từ quảng trường này, tôi muốn gửi một thông điệp rõ ràng tới những người lợi dụng sự tuyệt vọng của người khác, đến những người tổ chức các con đường dẫn đến cái chết, buôn bán người, giữ giấy tờ, bóc lột người lao động, đe dọa phụ nữ, lừa dối các gia đình và biến đau khổ của người khác thành một việc kinh doanh. Hãy dừng lại. Hãy sám hối (x. Mc 1:15). Nước mắt và máu của những anh chị em này đang kêu thấu tới Thiên Chúa, và nỗi đau của họ đã chạm đến Người (x. St 4:10; Xh 3:7–9). Đồng tiền đoạt được từ sự mong manh của người nghèo sẽ không mang lại bình an, danh dự hay tương lai (x. Gr 22:13; G 5:1–6).

Vì mỗi mạng sống bị mất đi, mỗi gia đình bị lừa dối, mỗi thân xác bị áp bức, mỗi người phụ nữ bị đe dọa, mỗi người lao động bị bóc lột, các người sẽ phải ra trình diện trước công lý của Thiên Chúa (x. 2 Cr 5:10). Hãy bẻ gãy những xiềng xích đó và trả tự do cho những người mà các người đang kìm kẹp trong vòng nô lệ (x. Is 58:6). Hãy hoàn trả những gì đã chiếm đoạt và đền bù những tổn thất trong khả năng. Hãy sám hối khi vẫn còn thời gian, vì lòng thương xót của Thiên Chúa có thể chạm đến ngay cả người tội lỗi chai đá nhất, nhưng lòng thương xót ấy chỉ đi vào qua cửa hẹp của sự thật, công bình và sự hoán cải (x. Ed 33:11).

Anh chị em thân mến, sự sợ hãi, thờ ơ và bạo lực của những kẻ buôn bán mạng sống con người không được phép là tiếng nói cuối cùng. Tiếng nói đó thuộc về Đức Kitô, Đấng đồng hóa mình với người ngoại kiều, chạm đến những vết thương của nhân loại và kêu gọi chúng ta nhận ra Ngài nơi mỗi người anh chị em cần được đón tiếp, bảo vệ, nâng đỡ và hội nhập. Chúng ta hãy ngước nhìn lên Người mà không ngoảnh mặt trước những người đang đau khổ; hãy hướng nhìn lên Chúa để học biết nhìn anh chị em mình bằng chính ánh mắt của Người.

Gia đình Thánh Nadarét đã phải trốn sang Ai Cập để bảo vệ sự sống của Hài Nhi Giêsu (x. Mt 2:13–15), mãi mãi là mẫu gương và nơi nương náu cho mọi gia đình tị nạn, mọi người di dân và mọi người buộc phải rời bỏ quê hương vì sợ hãi, vì bách hại hoặc túng quẫn (x. Đức Piô XII, Tông hiến Exsul Familia). Xin các Đấng trong Thánh Gia nâng đỡ công cuộc phục vụ của anh chị em và làm cho miền đất này trở thành nơi mà mọi người nhận biết và đối xử với nhau như anh chị em. Xin Thiên Chúa chúc phúc cho anh chị em. Cảm ơn anh chị em.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 13/06/2026]


Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Tây Ban Nha (6 – 12 tháng 6 năm 2026) – Gặp gỡ những người di cư tại Trung tâm “Las Raíces”, 12.06.2026

Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Tây Ban Nha (6 – 12 tháng 6 năm 2026) – Gặp gỡ những người di cư tại Trung tâm “Las Raíces”, 12.06.2026

Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Tây Ban Nha (6 – 12 tháng 6 năm 2026) – Gặp gỡ những người di cư tại Trung tâm “Las Raíces”, 12.06.2026

*******

Gặp gỡ người di cư tại Trung tâm “Las Raíces”

Lúc 7 giờ 55 phút theo giờ địa phương (8 giờ 55 phút tại Rôma), Đức Thánh Cha Lêô XIV rời Tòa Giám mục ở Las Palmas và di chuyển bằng xe đến Căn cứ Không quân Gran Canaria-Gando, nơi ngài khởi hành lúc 8 giờ 56 phút để đến Santa Cruz de Tenerife, sau khi chào tạm biệt một số nhà lãnh đạo địa phương.

Máy bay chở Đức Thánh Cha hạ cánh tại Sân bay Quốc tế Tenerife Norte – Los Rodeos lúc 9 giờ 15 phút (10 giờ 15 phút tại Rôma).

Khi đến sân bay, Đức Thánh Cha được một số nhà chức trách địa phương đón tiếp.

Sau đó, lúc 9 giờ 40 phút (10 giờ 40 phút tại Rôma), Đức Thánh Cha di chuyển bằng xe đến trung tâm tiếp nhận Las Raíces.

Sau lời chào mừng của Đức cha Eloy Alberto Santiago Santiago, Giám mục giáo phận San Cristóbal de La Laguna, và của Bộ trưởng phụ trách Hội nhập, An ninh Xã hội và Di cư, cùng các chứng từ của hai người di cư, Đức Thánh Cha đã ngỏ lời chào đến những người hiện diện.

Tiếp đó, Đức Giáo hoàng thăm một khu lều và chào hỏi một số người di dân.

Kết thúc cuộc gặp gỡ, Đức Thánh Cha di chuyển bằng xe đến Plaza de Cristo để gặp gỡ các tổ chức đang hoạt động trong lĩnh vực hội nhập người di cư.

Sau đây là lời chào của Đức Giáo hoàng gửi tới những người hiện diện tại trung tâm tiếp nhận Las Raíces:


Lời chào của Đức Thánh Cha


Anh chị em thân mến,
Chào anh chị em!

Tôi xin cảm ơn ngài Bộ trưởng và Giám đốc Trung tâm vì những lời chào mừng thân tình của quý vị.

Hôm nay, trong Giáo hội, chúng ta cử hành Lễ trọng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu. Đối với người Kitô hữu, Trái tim Chúa Giêsu tượng trưng cho tình yêu thương xót và vô biên của Thiên Chúa dành cho mọi người. Trong bối cảnh này, đúng là sự quan phòng khi chúng ta có thể quy tụ nơi đây, gặp gỡ nhau, nhìn thấy nhau và trên hết là nhận ra rằng, bất kể chúng ta đến từ đâu, tình yêu của Thiên Chúa không biết đến biên giới, không phân biệt ai, được trao ban cho tất cả mọi người và quy tụ chúng ta trong sự hiệp nhất.

Khi nhìn vào những khuôn mặt và lắng nghe những câu chuyện của anh chị em, tôi cũng nghĩ đến trái tim của anh chị em — những trái tim bị tổn thương bởi biết bao khó khăn, nhưng đồng thời cũng được an ủi bởi tình yêu thương mà anh chị em nhận được từ những con tim rộng mở, quảng đại và đầy lòng thương xót. Trái Tim Đức Kitô đã chịu đau khổ và bị đâm thâu vì yêu, và Người cũng được an ủi bởi những con người đầy lòng trắc ẩn, những người đã làm vơi bớt nỗi đau của Ngài.

Chúa Giêsu đã giải thích tính phổ quát của tình yêu bằng một ví dụ về hành động phục vụ: một người xa lạ đến từ một thành khác và thuộc một tôn giáo khác đã động lòng thương một người bị trọng thương và ngược đãi (x. Lc 10:25–37). Được thúc đẩy bởi tình yêu Thiên Chúa, tình yêu thôi thúc chúng ta chữa lành các vết thương của tha nhân và thực thi bác ái đối với những người đau khổ, Thánh Peter Dòng Anh em và Thánh Joseph Anchieta đã nhổ neo từ chính quần đảo Canary này để loan báo Tin Mừng tại châu Mỹ, mở ra những chân trời truyền giáo mới. Các ngài cũng là những người di cư, những người đã dấn thân vào chốn xa lạ, mang theo hành trang quý giá nhất là đức tin, đức cậy và đức mến.

Tại những vùng đất xa lạ ấy, các vị thánh di dân và nhà truyền giáo này đã chia sẻ những gì các ngài có, đồng thời cũng đón nhận những điều mới mẻ được trao tặng cho mình. Tôi cũng mời gọi anh chị em chia sẻ những kho tàng nhân bản, những ước mơ và văn hóa mà anh chị em đã mang đến các những hòn đảo này, đồng thời mở lòng đón nhận những gì được trao cho mình. Chúng ta phải sống sự trao đổi này một cách có trách nhiệm, nghĩ đến các thế hệ tương lai mà chúng ta mong muốn để lại cho họ di sản của một nền văn minh tình yêu. Trong việc này, vấn đề di cư sẽ giữ một vai trò quan trọng, bởi vì nó “có thể trở thành cơ hội gặp gỡ và làm phong phú lẫn nhau giữa các dân tộc” (Thông điệp Magnifica Humanitas, số 81).

Anh chị em thân mến, theo một nghĩa nào đó, tất cả chúng ta đều là những người di cư, vì tất cả chúng ta đều là những người lữ hành đang tiến bước về quê hương trên trời. Chúng ta hãy góp phần làm cho cuộc hành trình này trở nên nhân bản hơn cho mọi người bằng cách đóng góp theo khả năng mình có thể. Về phương diện này, tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với sự cộng tác của chính quyền, các tổ chức khác nhau và đông đảo anh chị em thiện chí; nhờ sự hợp tác của họ mà hoạt động trợ giúp nhân đạo cụ thể được thực hiện, phục hồi niềm hy vọng và trả lại phẩm giá cho biết bao nhiêu người.

Tên gọi của trung tâm tiếp nhận này, Las Raíces, nghĩa là “những cội rễ”, đã kéo sự chú ý của tôi. Vị tiền nhiệm của tôi, Đức Thánh Cha Phanxicô, người hằng ao ước được ở bên anh chị em, rất thích sử dụng hình ảnh cội rễ để nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhớ về nguồn cội của chúng ta, duy trì sự hiệp nhất và tín thác nơi Chúa. “Những ai tín thác vào Đức Chúa thì ‘như cây trồng bên dòng nước, đâm rễ sâu vào mạch suối trong, mùa nóng có đến cũng chẳng sợ gì, lá trên cành vẫn cứ xanh tươi’ (Gr 17,8)” (Đức Giáo hoàng Phanxicô, Tông huấn Christus Vivit, số 133). Ước mong hình ảnh cội rễ này cũng giúp anh chị em bén rễ sâu trong Chúa (x. Cl 2:7), để không một cơn giông bão nào có thể kéo anh chị em rời xa sự hiện diện của Người, nguồn ban sức mạnh và sự sống.

Các bạn thân mến, tôi luôn khắc ghi anh chị em trong trái tim mình và sẽ nhớ đến anh chị em trong lời cầu nguyện. Xin Chúa chúc phúc cho anh chị em, cho gia đình và cho tất cả những ai đang làm điều thiện cho anh chị em. Và xin Đức Trinh nữ Maria Diễm phúc, Đấng An ủi Người Di cư, luôn đồng hành và trợ giúp anh chị em bằng sự che chở từ mẫu của Mẹ. Cảm ơn anh chị em thật nhiều.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 13/06/2026]


Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2026

Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV tại Tây Ban Nha (6–12 tháng 6 năm 2026) – Gặp gỡ các Tình nguyện viên tại Nhà triển lãm số 3 của Trung tâm IFEMA Madrid, ngày 09.06.2026

Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV tại Tây Ban Nha (6–12 tháng 6 năm 2026) – Gặp gỡ các Tình nguyện viên tại Nhà triển lãm số 3 của Trung tâm IFEMA Madrid, ngày 09.06.2026


Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV tại Tây Ban Nha (6–12 tháng 6 năm 2026) – Gặp gỡ các Tình nguyện viên tại Nhà triển lãm số 3 của Trung tâm IFEMA Madrid, ngày 09.06.2026

*******

Sáng nay lúc 10 giờ, sau khi dâng Lễ riêng, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã tạm biệt các nhân viên và ân nhân của Tòa Sứ thần Tòa Thánh tại Madrid, rồi di chuyển bằng xe đến Trung tâm IFEMA Madrid để gặp gỡ các tình nguyện viên.

Khi đến nơi, sau khi đi một vòng giữa các tín hữu bằng xe điện, ngài tiến vào Nhà triển lãm số 3 của Trung tâm IFEMA cùng với Đức Hồng y José Cobo Cano, Tổng Giám mục Chính tòa Madrid.

Sau bài thánh ca chào mừng, phần trình chiếu đoạn phim mang tựa đề “Đội quân thầm lặng”, chứng từ của một nữ tình nguyện viên là chị Mercedes Rodríguez Loeb, một tiết mục nhạc rap và chứng từ của một tình nguyện viên khác là anh Nuño Adam Castrillo, Đức Thánh Cha đã ngỏ lời với những người hiện diện.

Sau một tiết mục hòa tấu nhạc, buổi gặp gỡ kết thúc với những lời cảm ơn của Đức Hồng y Tổng Giám mục Madrid, nghi thức tặng quà, phép lành và bài thánh ca kết thúc.


Sau đó, Đức Thánh Cha di chuyển bằng xe đến Sân bay Quốc tế Adolfo Suárez Madrid-Barajas. Lúc 11 giờ 52 phút, ngài khởi hành trên chuyến bay A320 của hãng Iberia đi Barcelona.

Dự kiến máy bay chở Đức Thánh Cha sẽ hạ cánh tại Sân bay Quốc tế Josep Tarradellas Barcelona–El Prat lúc 12 giờ 30 phút.

Sau đây là bài diễn văn Đức Thánh Cha Lêô XIV ngỏ với những người tham dự cuộc gặp gỡ:


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Kính thưa Đức Hồng y José,
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Đây là sự kiện cuối cùng trong chương trình Tông du của tôi tại Madrid, nhưng tôi thực sự vui mừng vì được ở đây với chính anh chị em, những người tình nguyện. Từng người trong anh chị em – cũng như rất nhiều anh chị em khác không thể hiện diện ở đây sáng nay – đều xứng đáng nhận được một lời “cảm ơn” thật đặc biệt, bởi anh chị em đã cho đi thời gian, sự phục vụ của mình, và anh chị em đã làm điều đó vì tình yêu với Chúa, với Hội Thánh và với Đức Giáo hoàng. Tôi chân thành cảm ơn tất cả anh chị em!

Tôi cũng xin cảm ơn hai diễn giả đã chia sẻ chứng từ với chúng ta, cũng như những người đã thực hiện đoạn phim và tham gia vào tiết mục trình diễn âm nhạc.

Tôi được biết rằng ngay từ đầu, anh chị em đã nhiệt tình đáp lại lời mời gọi làm tình nguyện viên, và số lượng anh chị em đã vượt quá yêu cầu ban đầu chỉ trong vài ngày. Nhờ đó, các nhu cầu phục vụ đã được đáp ứng hơn mức mong đợi. Một số người trong anh chị em đã xin nghỉ phép; có người đã dành trọn thời gian trong suốt nhiều tháng. Mỗi người trong anh chị em đều cho đi những gì mình có thể: dâng cả tấm lòng, đôi tay, ý tưởng, tài năng và nụ cười của mình. Xin Thiên Chúa thưởng công cho anh chị em theo cách thức mà chỉ mình Người mới biết!

Tôi muốn chia sẻ với anh chị em một suy tư đơn sơ, có thể tóm lại như sau: Người Kitô hữu được mời gọi mang men vị tha vào thế giới.

Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh nắm men trong một dụ ngôn về Nước Trời, được Thánh sử Matthêu ghi lại: “Nước Trời cũng giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men” (Mt 13:33). Kinh nghiệm của anh chị em trong những ngày vừa qua, cũng như kinh nghiệm của biết bao anh chị em khác đang làm tình nguyện viên trong các trường hợp tương tự – chẳng hạn trong Năm Thánh năm ngoái – là một dấu chỉ của vương quốc đang đến nhờ vào một đặc tính cốt lõi: sự vị tha.

Sự vị tha giống như men làm cho các chiều kích nhân bản, luân lý và tinh thần của xã hội được phát triển; đồng thời cũng là yếu tố đặc trưng của “Thành đô Thiên Chúa”. Trong một thế giới luôn bị chi phối bởi luận lý của tính tư lợi và lợi nhuận, trong đó thuật ngữ “phát triển” thường bị thu hẹp duy nhất vào ý nghĩa kinh tế – tài chính, điều quan trọng là phải suy nghĩ và sống theo lối suy nghĩ chân thực hơn, một lối suy nghĩ dẫn đến sự phát triển toàn diện của con người. Đây chính là cách suy nghĩ mà chúng ta tìm thấy trong Tin Mừng, nói rằng: “Và nếu anh em làm ơn cho kẻ làm ơn cho mình, thì còn gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng làm như thế. Nếu anh em cho vay mà hy vọng đòi lại được, thì còn gì là ân với nghĩa?” (Lc 6:33-34).

Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu Kitô đã đến để mang men Nước Trời vào thế gian. Người đã hòa trộn men ấy vào khối bột của nhân loại đau bệnh của chúng ta để chữa lành nó từ bên trong, bằng nước và máu từ hy tế của Người, cùng với lửa của Chúa Thánh Thần. Sau cái chết và sự phục sinh của Người, Chúa đã sai các môn đệ ra đi, với quyền năng của cùng một Thần Khí, để trở nên dấu chỉ và khí cụ của Vương quốc của Người, là vương quốc của tình yêu, công lý và hòa bình. Điều đó được thực hiện qua việc rao giảng, nhưng còn hơn thế nữa, qua một lối sống xứng hợp với Tin Mừng trong cách chúng ta suy nghĩ và cư xử. Một nét đặc trưng của lối sống này chính là sự quảng đại mà anh chị em đã thể hiện trong những ngày vừa qua tại Madrid này. Cảm ơn anh chị em! Có thể các số liệu thống kê sẽ không phản ánh điều đó, nhưng chúng ta biết rằng trong những ngày vừa qua, cũng nhờ có anh chị em, thành phố này đã phát triển, bởi vì nó đã trở nên gần với Nước Thiên Chúa hơn. Đó có phải là công trạng của riêng chúng ta không? Không! Tất cả đều là ân sủng của Người! Đó chính là bí quyết: tình yêu của Thiên Chúa, tình yêu làm chuyển động mặt trời và các vì sao, cũng làm rung động trái tim của những người đã gặp được “Chúa Giêsu, vì chính Người đã nói: ‘Cho thì có phúc hơn là nhận’” (Cv 20:35).

Anh chị em thân mến, chúng ta hãy tiếp tục bước đi trên con đường này, với lòng khiêm nhường và hiền hòa, không tự phụ, nhưng vững vàng trong đức tin và quảng đại trong phục vụ! Xin Đức Trinh nữ Maria ban cho anh chị em luôn trở thành men của Nước Trời ở mọi nơi. Cảm ơn anh chị em! Và hẹn gặp lại anh chị em tại Rôma!

Sau khi làm phép viên đá góc
Tặng Chén Thánh

Tôi cũng muốn để lại tại Madrid chiếc chén thánh này như một món quà dành cho toàn thể gia đình, như dấu chỉ của sự hiệp thông trong Giáo hội. Ước gì chúng ta không bao giờ quên những gì chúng ta cử hành trong việc tưởng niệm Đức Kitô, Đấng đã cứu độ chúng ta.

Phép lành Tòa Thánh

Cảm ơn anh chị em rất nhiều.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 11/06/2026]


Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Tây Ban Nha (06–12 tháng 6 năm 2026) – Kinh Mân Côi tại Đan viện Đức Mẹ Montserrat, 10.06.2026

Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Tây Ban Nha (06–12 tháng 6 năm 2026) – Kinh Mân Côi tại Đan viện Đức Mẹ Montserrat, 10.06.2026

Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Tây Ban Nha (06–12 tháng 6 năm 2026) – Kinh Mân Côi tại Đan viện Đức Mẹ Montserrat, 10.06.2026

*******

Kết thúc chuyến thăm Trung tâm Cải huấn Brians I, Đức Thánh Cha Lêô XIV di chuyển bằng xe hơi và sau đó bằng xe điện đến Đan viện Đức Mẹ Montserrat để tham dự giờ đọc Kinh Mân Côi.

Khi đến nơi, Đức Thánh Cha được Đức cha Xabier Gómez García của Giáo phận Sant Feliu de Llobregat và Đức Viện phụ Đan viện Montserrat, Cha Manel Gasch i Hurios, đón tiếp tại tiền sảnh phía trước Vương cung Thánh đường trong tiếng chuông ngân vang. Hiện diện tại đó cũng có khoảng một ngàn trẻ em.

Tại lối vào Vương cung Thánh đường, Đức Giáo hoàng hôn kính thánh giá và rảy nước thánh trên các tín hữu.

Sau đó, ngài tiến vào Nhà nguyện Thánh Thể để dành ít phút cầu nguyện, rồi tiến lên khu vực cung thánh.

Sau lời mở đầu ngắn của Đức Giám mục Sant Feliu de Llobregat và lời chào mừng của Đức Viện phụ, giờ Kinh Mân Côi đã được cử hành với sự tham dự của khoảng bảy ngàn tín hữu.

Sau lời nguyện kết thúc, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã đọc diễn từ của ngài.

Tiếp đó, sau phép lành, bài thánh ca Salve Regina và thánh ca kính Đức Maria Virolai, Đức Thánh Cha lui vào Nhà nguyện Đức Trinh Nữ để thinh lặng cầu nguyện trong giây lát; ngay sau đó, ngài xuất hiện tại ban công Đan viện để ngỏ lời chào ngắn với các tín hữu hiện diện tại quảng trường.

Vào lúc 13 giờ, Đức Thánh Cha dùng bữa trưa với cộng đoàn đan sĩ Biển Đức tại Montserrat, sau đó gặp riêng các thành viên của cộng đoàn và ký Sổ Lưu niệm.

Vào lúc 15 giờ 30, Đức Thánh Cha di chuyển bằng xe đến nhà thờ San Agustí để gặp gỡ các tổ chức bác ái và an sinh xã hội của giáo phận.

Sau đây là bài diễn từ của Đức Thánh Cha Lêô XIV tại Đan viện Đức Mẹ Montserrat sau giờ đọc Kinh Mân Côi, cùng những lời ngài ngỏ với các tín hữu hiện diện tại quảng trường:

______________________________


Huấn từ của Đức Thánh Cha

Tôi thân ái chào Đức cha Xavier Gómez García, Giám mục giáo phận; Cha Manel Gasch i Hurios, Viện phụ Montserrat; cùng các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ, chủng sinh và toàn thể anh chị em tín hữu đang tham dự cuộc hành hương này, đặc biệt là các thiếu nhi hiện diện với chúng ta hôm nay. Cảm ơn anh chị em đã đón tiếp chúng tôi và cảm ơn anh chị em đã hiện diện nơi đây.

Tôi vui mừng được đến dưới chân Đức Mẹ Montserrat để phó thác cho Mẹ sứ vụ Phêrô của tôi, với trọn niềm tín thác vào lời chuyển cầu từ mẫu của Mẹ, cũng như sứ mạng của Hội Thánh trong một thế giới đang khao khát công lý và hòa bình.

Tôi luôn lưu giữ ký ức thân thương về những năm tháng làm mục tử tại giáo xứ Santa María de Montserrat ở Trujillo, Peru. Đức Trinh Nữ Montserrat luôn đồng hành với tôi. Cảm ơn Catalunya vì đức tin của anh chị em.

Những bức tường của thánh điện này có thể kể lại cho chúng ta vô vàn câu chuyện về lòng sùng kính, lòng biết ơn và niềm hy vọng đã diễn ra quanh Đức Mẹ Montserrat suốt bao thế kỷ. Chúng cũng là chứng nhân cho máu đã đổ ra vì tình yêu đối với Chúa Giêsu Kitô.

Các bức tường ấy cũng là nơi gìn giữ những niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và những giọt nước mắt của biết bao tín hữu, và đã lắng nghe những giọng hát thiên thần của ca đoàn thiếu nhi của trường hợp xướng cổ kính nhất châu Âu.

Khi vị tiền nhiệm của tôi, Đức Thánh Cha Phanxicô, dâng tặng Bông Hồng vàng lên linh ảnh tôn kính này vào năm 2023, ngài đã mời gọi chúng ta suy tư về việc suốt hàng trăm năm qua, các tín hữu — không phân biệt một ai — đã đến Thánh điện này để lần chuỗi Mân Côi, bởi vì Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, giữ vị trí trung tâm trong đời sống của mọi Kitô hữu. Cũng trong dịp đó, Ngài lưu ý rằng “trước nhan Mẹ, những tình cảm cao quý nhất của một con người sẽ được đánh thức”; thật vậy, Mẹ thúc bách chúng ta hoán cải sâu sắc, như Mẹ đã làm nơi Thánh Inhaxiô Loyola, đấng mà tại chính nơi đầy ý nghĩa này, sau một đêm thức cầu nguyện trước Đức Trinh Nữ, đã đặt sang một bên khí giới hiệp sĩ của mình — một khoảnh khắc đánh dấu sự khởi đầu của một đời sống mới trong việc phụng sự Chúa Giêsu Kitô.

Với cùng tâm tình thảo hiếu ấy, hôm nay tôi mời gọi anh chị em đón nhận lời mời gọi của Đức Maria: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2:5). Những lời được nói tại Cana miền Galilê, chứa đựng một định hướng đích thực cho đời sống Kitô hữu, bởi vì Đức Maria dẫn chúng ta đến với Chúa Kitô, dạy chúng ta lắng nghe tiếng Người, vâng phục lời Người và để cho Người biến đổi chúng ta. Ý muốn của Chúa Giêsu thật rõ ràng: “Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau” (Ga 15:17). Đó là tình yêu có thước đo và nguồn mạch nơi chính Người: “như Thầy đã yêu thương anh em” (c. 12). Vì thế, khi Đức Maria nói với chúng ta: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”, Mẹ đang mời gọi chúng ta mở rộng tâm hồn trước những giáo huấn của Tin Mừng.

Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta con đường của lòng thương xót, sự hòa giải, sự thật và hiền hòa. Đồng thời, Người cũng vạch trần loại bạo lực có thể ẩn khuất trong lời nói và thái độ của chúng ta: những lời chỉ trích hạ nhục người khác, những phán xét hủy hoại và sự hung hăng gây chia rẽ. Thứ bạo lực âm thầm ấy thường ngụy trang dưới dạng một lớp áo giáp mà chúng ta sử dụng để bảo vệ những vết thương, những nỗi sợ hãi và những đau khổ do bất công gây nên.

Chúng ta hãy chiêm ngắm Đức Mẹ Montserrat, Đấng đang chỉ cho chúng ta thấy Chúa Giêsu như một Hài Nhi mong manh trong lòng Mẹ; bởi lẽ nơi đây, cùng với Con của Mẹ, mời gọi chúng ta yêu thương nhau. Hôm nay, chúng ta hãy đặt dưới chân Mẹ những lớp áo giáp đã dần làm cho tâm hồn chúng ta trở nên chai đá.

Hài Nhi Giêsu mà Đức Maria bế trên tay không mặc áo giáp; và chính Người, sau này, khi trần trụi trên thập giá, sẽ hiến dâng trọn vẹn chính mình cho Chúa Cha để cứu độ chúng ta bằng sức mạnh phi vũ trang và giải giới của tình yêu.

Chúng ta hãy hướng mắt lên Đức Maria và khẩn cầu Mẹ giúp chúng ta trang bị cho mình duy nhất những khí giới của Thiên Chúa. Như thánh Phaolô Tông đồ khuyên nhủ: “Hãy đứng vững: lưng thắt đai là chân lý, mình mặc áo giáp là sự công chính, chân đi giày là lòng hăng say loan báo tin mừng bình an; hãy luôn cầm khiên mộc là đức tin, [...]. hãy đội mũ chiến là ơn cứu độ và cầm gươm của Thần Khí ban cho, tức là Lời Thiên Chúa” (x. Êp 6:11–17).

Hôm nay, với tư cách là những người hành hương tại Montserrat, chúng ta hãy bày tỏ ước nguyện chân thành là tái khẳng định việc phụng sự Thiên Chúa là Cha, Đấng mà Chúa Giêsu Kitô đã mặc khải cho chúng ta khi nói rằng: “Ai đón tiếp một em nhỏ như em này vì danh Thầy là đón tiếp chính Thầy; và ai đón tiếp Thầy thì không phải là đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy” (Mc 9:37).

Chúng ta cũng hãy suy niệm về việc Đức Trinh nữ Maria nâng quả địa cầu trên tay phải của Mẹ, một dấu chỉ sự chăm sóc từ mẫu của Mẹ, vì toàn thể thế giới đều có chỗ trong trái tim Mẹ. Mẹ mời gọi chúng ta nhận biết nhau là anh chị em, để không ai bị loại trừ và sự hiệp thông luôn mạnh hơn mọi chia rẽ.

Chúng ta hãy cầu xin Đức Maria, Nữ vương Hòa bình, dạy chúng ta từ bỏ những lời nói gây tổn thương, những phán đoán vội vàng, những lời đàm tiếu và vu khống. Ước mong chúng ta biết trân quý và nuôi dưỡng tình yêu trong gia đình, giữa bạn hữu, tại nơi làm việc, trên các mạng xã hội, trong các cuộc tranh luận chính trị và trong các cộng đoàn Kitô hữu, để hận thù nhường chỗ cho hy vọng và hòa bình.

Xin Đức Maria, Mẹ Giáo hội, luôn dẫn dắt chúng ta đến với Chúa Giêsu. Tôi mời gọi anh chị em tôn vinh Mẹ bằng những lời mà anh chị em đã rất quen thuộc:

Với người Catalunya, Mẹ mãi mãi là Nữ Vương;
Với dân tộc Tây Ban Nha và toàn thế giới, xin dâng lên Mẹ trọn tình yêu của chúng con;
Xin Mẹ nói với chúng con rằng: “Các con là kho tàng của Mẹ,
Mẹ là Mẹ của các con, đừng sợ hãi.”

Amen.

________________________


Những lời ứng khẩu của Đức Thánh Cha từ ban công Đan viện Đức Mẹ Montserrat


Anh chị em thân mến, chào anh chị em.

Cảm ơn anh chị em đã hiện diện nơi đây. Cảm ơn anh chị em vì biểu lộ đức tin tuyệt đẹp này. Tất cả chúng ta được hiệp nhất như một gia đình duy nhất, được Mẹ Maria, Đức Trinh Nữ Montserrat, ôm ấp trong vòng tay.

Niềm vui, lòng nhiệt thành và cảm thức đức tin sâu xa mà chúng ta đang cảm nghiệm trong những ngày này: trước hết tại Madrid, giờ đây tại Barcelona và Catalunya, và sắp tới tại quần đảo Canary. Toàn thể Tây Ban Nha đang tràn đầy đức tin, tình yêu và khát vọng ngợi khen Thiên Chúa, tạ ơn Thiên Chúa và được hiệp nhất.

Cảm ơn Catalunya vì đã đón tiếp rất nhiều người đến từ các quốc gia khác; anh chị em đang cho chúng ta thấy cách quy tụ mọi người như một gia đình duy nhất.

Chân thành cảm ơn cộng đoàn đức tin và cộng đoàn các anh em chúng ta, các đan sĩ nơi đây, những người đón nhận và tiếp rước tất cả các khách hành hương đến cầu nguyện cùng Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa của chúng ta.

Cảm ơn từng người trong anh chị em hiện diện nơi đây sáng nay để nhắc nhở mọi người — tại Catalunya, tại Tây Ban Nha và trên khắp thế giới — rằng đức tin ban sự sống và đức tin đem lại niềm hy vọng.

Và chính Đức Maria, Đấng mà Chúa Giêsu từ trên thập giá đã trao ban cho chúng ta làm Mẹ; chính Đức Maria đang đồng hành với chúng ta, Đấng là biểu hiện của tình yêu từ mẫu sẽ luôn ở cùng chúng ta.

Phép lành.

Cảm ơn, cảm ơn tất cả anh chị em.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 11/06/2026]


Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Tây Ban Nha (6 – 12 tháng 6 năm 2026) – Gặp gỡ Hội đồng Giám mục Tây Ban Nha tại trụ sở của Hội đồng Giám mục, 08.06.2026

Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Tây Ban Nha (6 – 12 tháng 6 năm 2026) – Gặp gỡ Hội đồng Giám mục Tây Ban Nha tại trụ sở của Hội đồng Giám mục, 08.06.2026

Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Tây Ban Nha (6 – 12 tháng 6 năm 2026) – Gặp gỡ Hội đồng Giám mục Tây Ban Nha tại trụ sở của Hội đồng Giám mục, 08.06.2026

*******

Kết thúc cuộc gặp gỡ với các thành viên Quốc hội Tây Ban Nha, Đức Thánh Cha đã di chuyển bằng xe tới trụ sở Hội đồng Giám mục Tây Ban Nha, nơi diễn ra cuộc gặp gỡ với các giám mục của đất nước này.

Khi đến nơi, Đức Thánh Cha được đón tiếp bởi Đức Tổng Giám mục Luis Javier Argüello García, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Tây Ban Nha, Đức Hồng y José Cobo Cano, Tổng Giám mục Chính tòa Madrid, và Đức Giám mục Francisco César García Magán, Thư ký Hội đồng Giám mục. Khi tiến vào bên trong, ngài chào hỏi một số vị lãnh đạo Giáo hội và đi tới Hội trường Đại hội Toàn thể ở tầng một.

Sau lời chào mừng của Chủ tịch Hội đồng Giám mục Tây Ban Nha, Đức Thánh Cha đã đọc diễn văn của ngài.

Tiếp theo, sau nghi thức ký Sổ Lưu niệm, tặng quà và ban phép lành, Đức Thánh Cha đã đích thân chào từng giám mục tại văn phòng của Chủ tịch Hội đồng Giám mục Tây Ban Nha.

Cuối cùng, ngài xuống tầng trệt để khánh thành tấm bia kỷ niệm chuyến viếng thăm của ngài, rồi đến Phòng Báo chí của Hội đồng Giám mục để chụp ảnh lưu niệm với các nhân viên giáo dân.

Sau đó, Đức Thánh Cha di chuyển bằng xe đến Tòa Sứ thần Tòa Thánh, nơi ngài dùng bữa tối với các giám mục.

Sau đây là bài diễn văn của Đức Thánh Cha Lêô XIV trước những người hiện diện trong cuộc gặp gỡ:


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Các anh em Giám mục thân mến,

Thật là niềm vui lớn đối với tôi khi được ở cùng anh em trong ngày thứ ba của chuyến Tông du tại Tây Ban Nha. Sau khi chào thăm các vị đại diện chính trị đã đón tiếp tôi tại Quốc hội, giờ đây tôi muốn tận dụng thời gian này để cùng anh em làm mới lại sự hiệp thông của chúng ta, như Chúa Giêsu đã căn dặn các Tông đồ thực hiện (x. Mc 6:31). Tôi cảm ơn Đức Cha Luis Javier Argüello García vì những lời tốt đẹp của ngài trên cương vị Chủ tịch Hội đồng Giám mục và thay mặt tất cả anh em. Tôi hy vọng rằng những lời của tôi cũng sẽ góp phần vào cuộc đối thoại trong Chúa Thánh Thần, cuộc đối thoại đòi hỏi đón nhận tất cả những điều tốt lành mà Chúa nói với chúng ta qua những anh chị em của mình. Hành trình hiệp hành mà Giáo hội đang thực hiện là một tiến trình lắng nghe cách chăm chú. Khả năng nhận ra tiếng nói của Thiên Chúa vang lên qua cộng đoàn Giáo hội chính là một trong những giá trị nền tảng của hành trình này.

Hành trình của anh em là một cuộc đối thoại sinh hoa trái, mà với tư cách là một Giáo hội, anh em đang xây dựng theo nhiều cách khác nhau. Một ví dụ cụ thể là các hội nghị mà anh em đã tổ chức. Tôi muốn đặc biệt nhắc đến những hội nghị diễn ra vào các năm 2020 và 2025, vốn đã tạo nên ảnh hưởng đáng kể: “Dân Thiên Chúa lên đường” và “Tôi sống cho ai? Đại hội của những người được mời gọi thi hành sứ vụ”. Các chủ đề này đặt ra những câu hỏi cốt lõi: Làm thế nào chúng ta có thể đối diện với những thách đố của thời đại hôm nay? Và ai là người được mời gọi đảm nhận thách đố này?

Trong phần đóng góp của tôi cho suy tư này, tôi muốn đề xuất hình ảnh của một cuộc hành trình mà đích đến là Thiên Chúa, Đấng mà chúng ta hướng mắt nhìn lên. Đó là một cuộc hành trình duy nhất, bởi chúng ta không di chuyển về mặt thể lý, nhưng chúng ta ước mong để tâm hồn mình bay cao.

Một cám dỗ có thể xuất hiện khi lên đường là quá lưu luyến những gì mình bỏ lại phía sau — những nơi chốn, sự vật, lối sống — mà không mở lòng ra, trong sự vâng phục Thần Khí, trước sự mới mẻ của những gì chúng ta gặp gỡ. Cùng với cám dỗ ấy còn có cám dỗ về hành trang của chúng ta, bởi vì những lý do tương tự, chúng ta chất đầy những thứ vô ích và cuối cùng trở thành gánh nặng. Đồng thời, chúng ta cũng không được quên điều mà chúng ta học được từ những khó khăn của biết bao người di cư: một người cô độc, không có cội nguồn và không có nguồn lực, sẽ chịu đau khổ vô cùng và rất khó thiết lập những mối dây liên kết vững chắc tại nơi họ đến.

Vì thế, trong chặng đầu tiên của cuộc hành trình này, câu trả lời của chúng ta cho câu hỏi làm thế nào để đối diện với thách đố trước mắt là phải biết khôn ngoan kết hợp giữa tự do và can đảm, để có thể từ bỏ những cấu trúc không còn hữu ích, không đáp ứng nhu cầu của chúng ta, hoặc thậm chí làm chúng ta xa rời mục tiêu, đồng thời có đủ sức mạnh để trân trọng những gì giúp ích cho hành trình ấy. Làm sao chúng ta có thể không nhớ đến gia sản Kitô giáo đồ sộ trên miền đất của anh em, sức hút mãnh liệt mà sự phong phú này mang lại: qua vẻ đẹp của nó chạm đến cả những người không có đức tin; hay qua những mối dây thuộc về được dệt nên trong căn tính thiêng liêng ở mọi ngõ ngách của dân tộc yêu dấu này, và vẫn hiện diện ngay cả trong những thời điểm đức tin của họ bị lung lay? Chắc chắn đây là một thách đố rất lớn, và chúng ta được mời gọi đáp lại với lòng can đảm, để gia sản ấy có thể phát huy hết tiềm năng và sinh hoa trái tốt lành.

Một kho tàng khác mà chúng ta không được quên mang theo trong ba-lô của mình là của ăn đàng của người lữ hành. Bánh Lời Chúa và Bánh Thánh Thể còn cần thiết cho chúng ta hơn cả lương thực vật chất, bởi chúng mở ra cho chúng ta con đường cứu độ. Vấn đề không phải là làm sao để việc cử hành phụng vụ trở nên lôi cuốn nhiều hay ít; mà là việc cảm nhận rằng, nếu chúng ta là một phần của Người, thì sự vắng bóng của Người sẽ tạo nên trong chúng ta sự bồn chồn tương tự như cơn đói thể lý. Đời sống bí tích mang lại nhịp điệu cho cuộc sống chúng ta, như đứa trẻ nhận được nguồn nuôi dưỡng từ người mẹ, hay như một vận động viên biết lượng sức cần thiết để tiến về đích.

Một khó khăn lớn khác nảy sinh trên đường đi là việc giao tiếp với người khác. Bất kể là do khác biệt ngôn ngữ và văn hóa, do sự dè dặt trước những điều xa lạ, hay do những tranh cãi và hiểu lầm có thể xảy ra ngay cả giữa những người gần gũi với chúng ta, chúng ta đều cảm thấy bị giới hạn khi diễn tả bản thân hoặc thấu hiểu người đối diện. Chúng ta có thể áp dụng kinh nghiệm này vào việc loan báo Tin Mừng, vào việc đón tiếp tha nhân, vào khả năng trả lời những câu hỏi của thế giới xung quanh, hay vào nhu cầu thúc đẩy trách nhiệm chung giữa các thành viên cộng đoàn trong các hoạt động mục vụ của chúng ta. Trước đây chúng ta đã nói rằng cần phải bỏ lại phía sau tất cả mọi điều kìm hãm và cô lập chúng ta; ở đây nguyên tắc chỉ đạo là: gia sản của chúng ta phải trở thành công cụ và cơ hội để đối thoại với những người chúng ta gặp gỡ trên đường.

Như những gì xảy ra với các những người hành hương trên con đường Camino de Santiago, trong cuộc hành trình của mình, chúng ta nhìn thấy trước mắt những vùng bình nguyên xứ Castilla bao la và trơ trọi. Những cuộc gặp gỡ hiếm hoi của người hành hương với vài cụ già hoặc những người lao động ngoại quốc có thể trở thành một phép ẩn dụ cho nhiều hoàn cảnh xã hội mà đáng tiếc vẫn đang hiện diện trong một số thực tại Giáo hội của anh em. Đây không phải là lần đầu tiên Tây Ban Nha phải đối diện với tình trạng như vậy: trong quá khứ chẳng hạn, khi Giáo hội phải tái thiết sự hiện diện của mình trên những vùng đất bị thiêu rụi, đã xuất hiện những mô hình truyền giáo sau này được đưa sang châu Mỹ, và chúng có thể giúp ích cho chúng ta trong sứ mạng hôm nay.

Chúng ta cũng được mời gọi xây dựng một thực tại mới qua đối thoại đầy tôn trọng và việc sử dụng những ngôn ngữ mới, như vị “mufti thánh thiện” nổi tiếng của Granada là Tu sĩ Hernando de Talavera, và sau đó là Thánh Toribio de Mogrovejo tại châu Mỹ, một vị giám mục gương mẫu đã đến với tha nhân trong thời kỳ truyền giáo và tái tổ chức đời sống Giáo hội, và năm nay chúng ta đang cử hành kỷ niệm ba trăm năm ngày ngài được tuyên thánh. Mặc dù ngôn ngữ trong thời đại kỹ thuật số ngày nay đã khác, và các nền văn hóa tạo nên bức tranh khảm những thực tại của chúng ta — với những người di dân đến từ khắp nơi trên thế giới — cũng đã thay đổi, nhưng tinh thần ấy phải luôn được duy trì.

Những yếu tố cốt lõi của tinh thần đó là gì? Trước hết là khả năng truyền thông, khả năng nói với mọi thực tại hiện diện trên lãnh thổ của mình, biết hạ mình xuống không chỉ để hiểu mà còn để chia sẻ. Chỉ bằng cách quy tụ tất cả những điều thiện hảo tồn tại trong chính gia sản của chúng ta, với mỗi người góp phần của mình, chúng ta mới có thể xây dựng một thực tại mới trong đó đức tin có thể bén rễ sâu xa. Lẽ tất nhiên, để điều đó xảy ra, trước tiên chúng ta phải học ngôn ngữ của người khác, khởi xướng những tiến trình và dệt nên những mối liên kết nơi chúng ta có thể gieo hạt giống Nước Trời. Yếu tố thứ hai là lời mời gọi kiến tạo những thực tại tự bản thân có khả năng truyền đạt kinh nghiệm đức tin, có khả năng — như Thánh Toribio đã làm — mang kinh nghiệm của Granada đến châu Mỹ; nghĩa là biết mang theo trong hành trang những nguồn lực cho phép chúng ta đối diện cách cởi mở với những thách đố luôn mới của công cuộc loan báo Tin Mừng trong mọi hoàn cảnh.

Sau những đồng bằng hoang vắng ấy, chúng ta cũng sẽ gặp những thành phố lớn, nơi sự im lặng và khoảng cách không còn thuộc về không gian mà là về khoảng cách giữa con người với nhau. Những câu trả lời sẽ khác nhau, nhưng các tiến trình dẫn đến chúng vẫn tương tự nhau: lắng nghe, thấu hiểu, tôn trọng, quảng đại và cởi mở.

Người lữ khách thường khởi hành vào ban đêm, và bóng tối trên đường đi ban đầu thường làm họ sợ hãi. Bài Thánh thi Kinh Chiều “Đêm tối là thời gian của ơn cứu độ” nhắc nhở chúng ta rằng nếu chúng ta có những người bạn đồng hành tốt, những khó khăn của cuộc hành trình và nguy cơ lạc đường sẽ giảm bớt.

Chính Chúa là Đấng dẫn dắt chúng ta; Người là chủ của lịch sử và của từng câu chuyện cuộc đời chúng ta. Người quyết định nhịp bước. Chúng ta bước theo Người; đúng hơn, chúng ta bước đi với Người như những chi thể của cùng một thân thể. Mối dây liên kết sâu xa này đòi hỏi Giáo hội, trong thời đại của những sự phân cực và đối kháng ngày càng gay gắt, phải làm chứng cho sự hiệp nhất trong đa dạng: một sự hiệp thông có khả năng ôm trọn sự phong phú của các ân ban, các đặc sủng và những cảm thức mà Chúa Thánh Thần khơi dậy trong Dân Thiên Chúa. Hình ảnh của Đức Kitô được biểu lộ trong bức tranh khảm sống động của Giáo hội, nơi nhiều mảnh ghép, dù không hòa lẫn vào nhau, vẫn hội tụ để biểu lộ vẻ đẹp của một Chúa duy nhất.

Trong sứ vụ này, thừa tác vụ giám mục mang một ý nghĩa đặc biệt. Chúng ta được kêu gọi trở thành dấu chỉ hữu hình của sự hiệp thông: trước hết là hiệp thông với Đức Kitô, bằng việc yêu mến gìn giữ đức tin mà chúng ta đã lãnh nhận, trong sự vâng phục Lời Thiên Chúa và truyền thống sống động của Giáo hội. Thứ hai là hiệp thông với Đấng kế vị Thánh Phêrô và với Giáo hội hoàn vũ, với linh mục đoàn và chính cộng đoàn giáo phận, với đời sống thánh hiến, các phong trào, các hội đoàn và mọi đặc sủng đích thực mà Chúa Thánh Thần ban tặng vì ích chung. Sứ mạng của anh em kêu gọi anh em gìn giữ sự hiệp nhất, thúc đẩy đối thoại, chữa lành những chia rẽ và đồng hành với cuộc lữ hành của đoàn dân được trao phó cho anh em chăm sóc.

Sự hiệp thông được sống như thế cũng mang đến sức sống truyền giáo. Một Giáo hội có sự bình an nội tâm sẽ có thể nói cách tự do hơn với các anh chị em thuộc những hệ phái Kitô giáo khác và các tôn giáo khác, với những người không tin, với các nhà chức trách dân sự và với mọi người thiện chí đang làm việc vì công ích.

Lời mời gọi trở thành dấu chỉ của sự hiệp thông trong Đức Kitô — cùng nhau bước đi trong hiệp nhất và hướng tới người anh chị em mà chúng ta gặp gỡ — đặt chúng ta trước một thách đố khác đang chạm tới tâm hồn của rất nhiều người ngày nay: khó khăn trong việc đưa ra những cam kết dứt khoát và những quyết định sâu sắc cho cuộc đời. Đối với rất nhiều người trẻ — và không chỉ riêng họ — câu hỏi: “Tôi sống vì ai?” vang lên như một cuộc tìm kiếm chân thành về ý nghĩa, sự thuộc về và sự hiến thân. Trái tim con người không được lấp đầy bằng việc tích lũy những kinh nghiệm, cơ hội hay một cảm giác an toàn nhất thời; trái tim ấy chỉ được lấp đầy khi khám phá ra một tiếng gọi, khi hiểu rằng cuộc sống chỉ đạt tới sự viên mãn khi được cho đi.

Vì thế, mục vụ ơn gọi không thể bị giản lược thành việc chạy theo những con số đơn thuần. Nó phát sinh từ những cộng đoàn sống động, từ những linh mục hạnh phúc, từ những gia đình có khả năng làm chứng cho vẻ đẹp của lòng trung tín, từ một Giáo hội biết trình bày cách đơn sơ rằng việc bước theo Đức Kitô không làm nghèo đi cuộc sống nhưng làm cho cuộc sống được mở rộng hơn. Nơi nào Tin Mừng được sống trong niềm vui, tinh thần phục vụ và sự hiệp thông, thì tiếng gọi của Chúa cũng có thể một lần nữa được lắng nghe như một lời hứa ban sự sống.

Trước đây, chúng ta đã nhắc đến những hành trang nặng nề. Những người hành hương trên con đường Camino de Santiago hiểu rất rõ rằng chỉ nên mang theo những gì thật sự cần thiết trong ba lô. Như Đức Thánh Cha Phanxicô thường nói, trong bối cảnh mục vụ ơn gọi hiện nay, việc duy trì các cơ cấu không thể được đặt cao hơn lợi ích của chính ơn gọi. Các chủng sinh có quyền được hưởng nền đào tạo tốt nhất có thể, và về phần mình, Giáo hội cũng có quyền có được những linh mục được đào tạo cách kỹ lưỡng. Tiêu chuẩn để các chủng viện trở thành những ngôi nhà đào tạo thực sự là phải bảo đảm một kinh nghiệm đầy đủ về đời sống cộng đoàn; phải có những nhà đào tạo chuyên tâm cho việc nghiên cứu và giảng dạy, đồng thời có kinh nghiệm trong việc đồng hành thiêng liêng; và phải có các trung tâm đào tạo thần học bậc cao được trang bị những phương tiện cần thiết để hoàn thành sứ mạng của mình. Để đạt được điều đó, điều quan trọng không chỉ là hợp lực với nhau mà còn phải học cách làm việc với nhau trong việc giải quyết những thách đố này.

Trong lãnh vực này, những khó khăn có thể được nhìn như những cơ hội. Đôi khi chúng ta gặp khó khăn trong việc giải thích ơn gọi của giáo dân và sự hội nhập của họ vào hành trình đời sống mà chúng ta, với tư cách là Giáo hội, đang thực hiện. Mặt khác, chúng ta nhận thấy rằng trong nhiều thừa tác vụ trước đây do các tu sĩ đảm trách, nay các cộng tác viên giáo dân đang được mời gọi tiếp tục công việc ấy. Đó là một khó khăn mà chúng ta có thể biến thành cơ hội gặp gỡ, đối thoại và truyền thông. Bổn phận của chúng ta là phải bảo đảm rằng những giáo dân này nhận thức sự tham gia của họ trong việc phục vụ Giáo hội như một tiếng gọi đến từ Thiên Chúa để đảm nhận trách nhiệm của mình với tư cách là Kitô hữu, biết nội tâm hóa tinh thần đó và cảm nhận mình là một phần của sứ mạng mà Chúa đã trao phó cho các tu sĩ đã thiết lập nên công cuộc đó.

Như anh em có thể thấy, cuộc hành trình của chúng ta được cấu thành từ những cuộc gặp gỡ, và chúng ta cũng sẽ gặp những người đang trải qua những thời khắc tăm tối, những người kêu gọi chúng ta trở thành người Samari nhân hậu của họ. Một trong những cuộc gặp gỡ đau đớn nhất là với những người đã bị làm tổn thương bởi chính những người lẽ ra phải chăm sóc họ, kể cả các thành viên trong hàng giáo sĩ. Trước tai họa này, cộng đoàn Giáo hội được kêu gọi đáp lại bằng sự lắng nghe, sự thật, công lý, sự đền bù và một cam kết ngày càng kiên quyết hơn đối với công tác phòng ngừa cũng như việc xây dựng nền văn hóa chăm sóc. Mỗi người bị tổn thương phải có khả năng tìm được sự lắng nghe chân thành, sự đón tiếp, bảo vệ và những con đường chữa lành thực sự.

Cùng một luận lý này cũng được áp dụng cho những thách đố của một thế giới bị tục hóa. Nhiều người nam và nữ trong thời đại chúng ta không trực tiếp khước từ Thiên Chúa; họ thường mang trong lòng một cơn khát sâu xa về ý nghĩa, chân lý, sự thuộc về và niềm hy vọng, ngay cả khi họ không biết cách gọi tên nó. Giáo hội được kêu gọi nhận ra những khát vọng đó, lắng nghe chúng với lòng tôn trọng, và trao ban kho tàng đã được ủy thác cho mình — như Phêrô và Gioan đã làm với người bại liệt tại cửa đền thờ: Đức Giêsu Kitô, nhân danh Người mà một con người có thể đứng dậy và bước đi (x. Cv 3:1–10). Khi cộng tác với các tổ chức tôn giáo hoặc dân sự khác, cũng như khi cung cấp trợ giúp vật chất, giáo dục, hỗ trợ hay giúp phát triển con người, Giáo hội không bao giờ ngừng trao ban những gì là của riêng mình: tình yêu của Thiên Chúa được mặc khải nơi Đức Kitô. Sứ điệp ấy vẫn vang vọng trong xã hội, một xã hội không ngần ngại bày tỏ sự trân trọng đối với nhiều công cuộc này. Nhờ đó, mỗi cử chỉ bác ái Kitô giáo phát sinh từ Tin Mừng đều mang trong mình một lời hứa lớn lao hơn: khôi phục nơi con người niềm xác tín rằng họ được yêu thương.

Trên hành trình của mình, chúng ta đang đi qua vùng đất mà Thánh Gioan Phaolô II đã chọn để gọi là “Vùng đất của Đức Maria” (Bài giảng trong Cử hành Phụng vụ Lời Chúa và Nghi thức Thánh Mẫu Toàn quốc, Zaragoza, ngày 6 tháng 11 năm 1982, số 1). Nơi Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc, Mẹ của sự hiệp thông và niềm hy vọng, anh em có người bạn đồng hành đầu tiên trên hành trình và cũng là kho tàng lớn nhất của mình, vì Mẹ chỉ cho chúng ta thấy qua cuộc đời Mẹ cách đón nhận Lời Chúa và ghi nhớ trong lòng, cách đồng hành với các môn đệ trên hành trình này và cách duy trì sự hiện diện trong hành trình của Giáo hội. Tôi phó thác thừa tác vụ của anh em cho Mẹ, để Mẹ giúp anh em trở nên nắm men nhỏ bé, mà Tin Mừng nhắc đến, giữa lòng dân Chúa được trao phó cho mình. Nhỏ bé trong mắt thế gian, nhưng khi được kết hợp với Đức Kitô lại có khả năng làm dậy cả khối bột (x. Mt 13:33). Sức mạnh của Giáo hội không đến từ quy mô các nguồn lực của mình, nhưng từ sự thánh thiện của các con cái mình, từ sự hiệp thông của các mục tử và từ lòng trung thành khiêm nhường và kiên trì của những người cho phép Thánh Thần hướng dẫn họ.

Trên hành trình này, Thánh Gioan Avila, bổn mạng hàng giáo sĩ Tây Ban Nha, cũng đồng hành với anh em khi năm nay chúng ta kỷ niệm năm trăm năm ngày ngài được thụ phong linh mục. Thánh Phaolô VI đã mô tả ngài là “một vị thầy nhân hậu và khôn ngoan của đời sống thiêng liêng, một nhà canh tân gương mẫu của đời sống Giáo hội và các tập tục Kitô giáo”, đồng thời là “một linh mục đơn sơ” (Bài giảng trong Thánh lễ phong hiển thánh cho Chân phước Gioan Avila, ngày 31 tháng 5 năm 1970). Nơi vị Thánh Tiến sĩ Giáo hội này, Giáo hội nhận ra đời sống linh mục mà mỗi giám mục được kêu gọi gìn giữ và thúc đẩy trong chính linh mục đoàn của mình.

Hướng nhìn về ngài, tôi nhớ đến những người là bạn đồng hành gần gũi nhất của các giám mục trên hành trình này: những “linh mục đơn sơ”, theo nghĩa cao quý và chặt chẽ nhất của thuật ngữ này. Hành trình của chúng ta cùng với họ phải truyền tải tầm quan trọng của những điều cốt yếu: trở thành những linh mục yêu mến Đức Kitô, bén rễ sâu trong cầu nguyện, trung thành với Giáo hội, gần gũi với người dân và có khả năng kết hợp giáo lý vững chắc, lòng nhiệt thành tông đồ và đức ái mục vụ. Những linh mục tìm thấy nơi vị giám mục không chỉ là một thẩm quyền được công nhận, mà còn là một người cha luôn đồng hành với mình; và nơi các linh mục khác là những người anh em cùng chia sẻ những khó khăn và niềm vui của cuộc hành hương đầy các cuộc gặp gỡ này, trong đó tất cả chúng ta đều tìm kiếm Đức Kitô.

Chúng ta hãy kết thúc hành trình thiêng liêng này bằng một lời nguyện của vị Thánh Tiến sĩ, người nhắc nhở chúng ta rằng mọi sự canh tân trong giáo hội đều khởi đi từ một trái tim được trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô: “Lạy Chúa, nếu Chúa truyền cho con làm điều Chúa đã làm, xin ban cho con trái tim của Chúa” (Bài giảng 57:20). Ước gì đây cũng là lời khẩn cầu của chúng ta: Lạy Chúa, xin ban cho chúng con trái tim của Chúa, một trái tim biết hướng ánh mắt về Ngài, biết lên đường, biết lắng nghe, biết phân định, biết phục vụ, biết sửa lỗi trong đức ái, biết chăm sóc với lòng kiên nhẫn và biết loan báo với niềm vui. Vì Giáo hội đón nhận trái tim của Đức Kitô sẽ mang theo bên mình cột lửa dẫn đường, nâng đỡ, bảo vệ và an ủi mình — lương thực cần thiết để đối diện với mọi thách đố.

Xin Chúa chúc phúc cho anh em. Cảm ơn anh em.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 09/06/2026]