Thứ Bảy, 13 tháng 6, 2026

Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV tại Tây Ban Nha (6–12 tháng 6 năm 2026) – Gặp gỡ các Tình nguyện viên tại Nhà triển lãm số 3 của Trung tâm IFEMA Madrid, ngày 09.06.2026

Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV tại Tây Ban Nha (6–12 tháng 6 năm 2026) – Gặp gỡ các Tình nguyện viên tại Nhà triển lãm số 3 của Trung tâm IFEMA Madrid, ngày 09.06.2026


Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV tại Tây Ban Nha (6–12 tháng 6 năm 2026) – Gặp gỡ các Tình nguyện viên tại Nhà triển lãm số 3 của Trung tâm IFEMA Madrid, ngày 09.06.2026

*******

Sáng nay lúc 10 giờ, sau khi dâng Lễ riêng, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã tạm biệt các nhân viên và ân nhân của Tòa Sứ thần Tòa Thánh tại Madrid, rồi di chuyển bằng xe đến Trung tâm IFEMA Madrid để gặp gỡ các tình nguyện viên.

Khi đến nơi, sau khi đi một vòng giữa các tín hữu bằng xe điện, ngài tiến vào Nhà triển lãm số 3 của Trung tâm IFEMA cùng với Đức Hồng y José Cobo Cano, Tổng Giám mục Chính tòa Madrid.

Sau bài thánh ca chào mừng, phần trình chiếu đoạn phim mang tựa đề “Đội quân thầm lặng”, chứng từ của một nữ tình nguyện viên là chị Mercedes Rodríguez Loeb, một tiết mục nhạc rap và chứng từ của một tình nguyện viên khác là anh Nuño Adam Castrillo, Đức Thánh Cha đã ngỏ lời với những người hiện diện.

Sau một tiết mục hòa tấu nhạc, buổi gặp gỡ kết thúc với những lời cảm ơn của Đức Hồng y Tổng Giám mục Madrid, nghi thức tặng quà, phép lành và bài thánh ca kết thúc.


Sau đó, Đức Thánh Cha di chuyển bằng xe đến Sân bay Quốc tế Adolfo Suárez Madrid-Barajas. Lúc 11 giờ 52 phút, ngài khởi hành trên chuyến bay A320 của hãng Iberia đi Barcelona.

Dự kiến máy bay chở Đức Thánh Cha sẽ hạ cánh tại Sân bay Quốc tế Josep Tarradellas Barcelona–El Prat lúc 12 giờ 30 phút.

Sau đây là bài diễn văn Đức Thánh Cha Lêô XIV ngỏ với những người tham dự cuộc gặp gỡ:


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Kính thưa Đức Hồng y José,
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Đây là sự kiện cuối cùng trong chương trình Tông du của tôi tại Madrid, nhưng tôi thực sự vui mừng vì được ở đây với chính anh chị em, những người tình nguyện. Từng người trong anh chị em – cũng như rất nhiều anh chị em khác không thể hiện diện ở đây sáng nay – đều xứng đáng nhận được một lời “cảm ơn” thật đặc biệt, bởi anh chị em đã cho đi thời gian, sự phục vụ của mình, và anh chị em đã làm điều đó vì tình yêu với Chúa, với Hội Thánh và với Đức Giáo hoàng. Tôi chân thành cảm ơn tất cả anh chị em!

Tôi cũng xin cảm ơn hai diễn giả đã chia sẻ chứng từ với chúng ta, cũng như những người đã thực hiện đoạn phim và tham gia vào tiết mục trình diễn âm nhạc.

Tôi được biết rằng ngay từ đầu, anh chị em đã nhiệt tình đáp lại lời mời gọi làm tình nguyện viên, và số lượng anh chị em đã vượt quá yêu cầu ban đầu chỉ trong vài ngày. Nhờ đó, các nhu cầu phục vụ đã được đáp ứng hơn mức mong đợi. Một số người trong anh chị em đã xin nghỉ phép; có người đã dành trọn thời gian trong suốt nhiều tháng. Mỗi người trong anh chị em đều cho đi những gì mình có thể: dâng cả tấm lòng, đôi tay, ý tưởng, tài năng và nụ cười của mình. Xin Thiên Chúa thưởng công cho anh chị em theo cách thức mà chỉ mình Người mới biết!

Tôi muốn chia sẻ với anh chị em một suy tư đơn sơ, có thể tóm lại như sau: Người Kitô hữu được mời gọi mang men vị tha vào thế giới.

Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh nắm men trong một dụ ngôn về Nước Trời, được Thánh sử Matthêu ghi lại: “Nước Trời cũng giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men” (Mt 13:33). Kinh nghiệm của anh chị em trong những ngày vừa qua, cũng như kinh nghiệm của biết bao anh chị em khác đang làm tình nguyện viên trong các trường hợp tương tự – chẳng hạn trong Năm Thánh năm ngoái – là một dấu chỉ của vương quốc đang đến nhờ vào một đặc tính cốt lõi: sự vị tha.

Sự vị tha giống như men làm cho các chiều kích nhân bản, luân lý và tinh thần của xã hội được phát triển; đồng thời cũng là yếu tố đặc trưng của “Thành đô Thiên Chúa”. Trong một thế giới luôn bị chi phối bởi luận lý của tính tư lợi và lợi nhuận, trong đó thuật ngữ “phát triển” thường bị thu hẹp duy nhất vào ý nghĩa kinh tế – tài chính, điều quan trọng là phải suy nghĩ và sống theo lối suy nghĩ chân thực hơn, một lối suy nghĩ dẫn đến sự phát triển toàn diện của con người. Đây chính là cách suy nghĩ mà chúng ta tìm thấy trong Tin Mừng, nói rằng: “Và nếu anh em làm ơn cho kẻ làm ơn cho mình, thì còn gì là ân với nghĩa? Ngay cả người tội lỗi cũng làm như thế. Nếu anh em cho vay mà hy vọng đòi lại được, thì còn gì là ân với nghĩa?” (Lc 6:33-34).

Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu Kitô đã đến để mang men Nước Trời vào thế gian. Người đã hòa trộn men ấy vào khối bột của nhân loại đau bệnh của chúng ta để chữa lành nó từ bên trong, bằng nước và máu từ hy tế của Người, cùng với lửa của Chúa Thánh Thần. Sau cái chết và sự phục sinh của Người, Chúa đã sai các môn đệ ra đi, với quyền năng của cùng một Thần Khí, để trở nên dấu chỉ và khí cụ của Vương quốc của Người, là vương quốc của tình yêu, công lý và hòa bình. Điều đó được thực hiện qua việc rao giảng, nhưng còn hơn thế nữa, qua một lối sống xứng hợp với Tin Mừng trong cách chúng ta suy nghĩ và cư xử. Một nét đặc trưng của lối sống này chính là sự quảng đại mà anh chị em đã thể hiện trong những ngày vừa qua tại Madrid này. Cảm ơn anh chị em! Có thể các số liệu thống kê sẽ không phản ánh điều đó, nhưng chúng ta biết rằng trong những ngày vừa qua, cũng nhờ có anh chị em, thành phố này đã phát triển, bởi vì nó đã trở nên gần với Nước Thiên Chúa hơn. Đó có phải là công trạng của riêng chúng ta không? Không! Tất cả đều là ân sủng của Người! Đó chính là bí quyết: tình yêu của Thiên Chúa, tình yêu làm chuyển động mặt trời và các vì sao, cũng làm rung động trái tim của những người đã gặp được “Chúa Giêsu, vì chính Người đã nói: ‘Cho thì có phúc hơn là nhận’” (Cv 20:35).

Anh chị em thân mến, chúng ta hãy tiếp tục bước đi trên con đường này, với lòng khiêm nhường và hiền hòa, không tự phụ, nhưng vững vàng trong đức tin và quảng đại trong phục vụ! Xin Đức Trinh nữ Maria ban cho anh chị em luôn trở thành men của Nước Trời ở mọi nơi. Cảm ơn anh chị em! Và hẹn gặp lại anh chị em tại Rôma!

Sau khi làm phép viên đá góc
Tặng Chén Thánh

Tôi cũng muốn để lại tại Madrid chiếc chén thánh này như một món quà dành cho toàn thể gia đình, như dấu chỉ của sự hiệp thông trong Giáo hội. Ước gì chúng ta không bao giờ quên những gì chúng ta cử hành trong việc tưởng niệm Đức Kitô, Đấng đã cứu độ chúng ta.

Phép lành Tòa Thánh

Cảm ơn anh chị em rất nhiều.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 11/06/2026]


Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Tây Ban Nha (06–12 tháng 6 năm 2026) – Kinh Mân Côi tại Đan viện Đức Mẹ Montserrat, 10.06.2026

Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Tây Ban Nha (06–12 tháng 6 năm 2026) – Kinh Mân Côi tại Đan viện Đức Mẹ Montserrat, 10.06.2026

Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Tây Ban Nha (06–12 tháng 6 năm 2026) – Kinh Mân Côi tại Đan viện Đức Mẹ Montserrat, 10.06.2026

*******

Kết thúc chuyến thăm Trung tâm Cải huấn Brians I, Đức Thánh Cha Lêô XIV di chuyển bằng xe hơi và sau đó bằng xe điện đến Đan viện Đức Mẹ Montserrat để tham dự giờ đọc Kinh Mân Côi.

Khi đến nơi, Đức Thánh Cha được Đức cha Xabier Gómez García của Giáo phận Sant Feliu de Llobregat và Đức Viện phụ Đan viện Montserrat, Cha Manel Gasch i Hurios, đón tiếp tại tiền sảnh phía trước Vương cung Thánh đường trong tiếng chuông ngân vang. Hiện diện tại đó cũng có khoảng một ngàn trẻ em.

Tại lối vào Vương cung Thánh đường, Đức Giáo hoàng hôn kính thánh giá và rảy nước thánh trên các tín hữu.

Sau đó, ngài tiến vào Nhà nguyện Thánh Thể để dành ít phút cầu nguyện, rồi tiến lên khu vực cung thánh.

Sau lời mở đầu ngắn của Đức Giám mục Sant Feliu de Llobregat và lời chào mừng của Đức Viện phụ, giờ Kinh Mân Côi đã được cử hành với sự tham dự của khoảng bảy ngàn tín hữu.

Sau lời nguyện kết thúc, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã đọc diễn từ của ngài.

Tiếp đó, sau phép lành, bài thánh ca Salve Regina và thánh ca kính Đức Maria Virolai, Đức Thánh Cha lui vào Nhà nguyện Đức Trinh Nữ để thinh lặng cầu nguyện trong giây lát; ngay sau đó, ngài xuất hiện tại ban công Đan viện để ngỏ lời chào ngắn với các tín hữu hiện diện tại quảng trường.

Vào lúc 13 giờ, Đức Thánh Cha dùng bữa trưa với cộng đoàn đan sĩ Biển Đức tại Montserrat, sau đó gặp riêng các thành viên của cộng đoàn và ký Sổ Lưu niệm.

Vào lúc 15 giờ 30, Đức Thánh Cha di chuyển bằng xe đến nhà thờ San Agustí để gặp gỡ các tổ chức bác ái và an sinh xã hội của giáo phận.

Sau đây là bài diễn từ của Đức Thánh Cha Lêô XIV tại Đan viện Đức Mẹ Montserrat sau giờ đọc Kinh Mân Côi, cùng những lời ngài ngỏ với các tín hữu hiện diện tại quảng trường:

______________________________


Huấn từ của Đức Thánh Cha

Tôi thân ái chào Đức cha Xavier Gómez García, Giám mục giáo phận; Cha Manel Gasch i Hurios, Viện phụ Montserrat; cùng các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ, chủng sinh và toàn thể anh chị em tín hữu đang tham dự cuộc hành hương này, đặc biệt là các thiếu nhi hiện diện với chúng ta hôm nay. Cảm ơn anh chị em đã đón tiếp chúng tôi và cảm ơn anh chị em đã hiện diện nơi đây.

Tôi vui mừng được đến dưới chân Đức Mẹ Montserrat để phó thác cho Mẹ sứ vụ Phêrô của tôi, với trọn niềm tín thác vào lời chuyển cầu từ mẫu của Mẹ, cũng như sứ mạng của Hội Thánh trong một thế giới đang khao khát công lý và hòa bình.

Tôi luôn lưu giữ ký ức thân thương về những năm tháng làm mục tử tại giáo xứ Santa María de Montserrat ở Trujillo, Peru. Đức Trinh Nữ Montserrat luôn đồng hành với tôi. Cảm ơn Catalunya vì đức tin của anh chị em.

Những bức tường của thánh điện này có thể kể lại cho chúng ta vô vàn câu chuyện về lòng sùng kính, lòng biết ơn và niềm hy vọng đã diễn ra quanh Đức Mẹ Montserrat suốt bao thế kỷ. Chúng cũng là chứng nhân cho máu đã đổ ra vì tình yêu đối với Chúa Giêsu Kitô.

Các bức tường ấy cũng là nơi gìn giữ những niềm vui và nỗi buồn, hạnh phúc và những giọt nước mắt của biết bao tín hữu, và đã lắng nghe những giọng hát thiên thần của ca đoàn thiếu nhi của trường hợp xướng cổ kính nhất châu Âu.

Khi vị tiền nhiệm của tôi, Đức Thánh Cha Phanxicô, dâng tặng Bông Hồng vàng lên linh ảnh tôn kính này vào năm 2023, ngài đã mời gọi chúng ta suy tư về việc suốt hàng trăm năm qua, các tín hữu — không phân biệt một ai — đã đến Thánh điện này để lần chuỗi Mân Côi, bởi vì Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, giữ vị trí trung tâm trong đời sống của mọi Kitô hữu. Cũng trong dịp đó, Ngài lưu ý rằng “trước nhan Mẹ, những tình cảm cao quý nhất của một con người sẽ được đánh thức”; thật vậy, Mẹ thúc bách chúng ta hoán cải sâu sắc, như Mẹ đã làm nơi Thánh Inhaxiô Loyola, đấng mà tại chính nơi đầy ý nghĩa này, sau một đêm thức cầu nguyện trước Đức Trinh Nữ, đã đặt sang một bên khí giới hiệp sĩ của mình — một khoảnh khắc đánh dấu sự khởi đầu của một đời sống mới trong việc phụng sự Chúa Giêsu Kitô.

Với cùng tâm tình thảo hiếu ấy, hôm nay tôi mời gọi anh chị em đón nhận lời mời gọi của Đức Maria: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2:5). Những lời được nói tại Cana miền Galilê, chứa đựng một định hướng đích thực cho đời sống Kitô hữu, bởi vì Đức Maria dẫn chúng ta đến với Chúa Kitô, dạy chúng ta lắng nghe tiếng Người, vâng phục lời Người và để cho Người biến đổi chúng ta. Ý muốn của Chúa Giêsu thật rõ ràng: “Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau” (Ga 15:17). Đó là tình yêu có thước đo và nguồn mạch nơi chính Người: “như Thầy đã yêu thương anh em” (c. 12). Vì thế, khi Đức Maria nói với chúng ta: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”, Mẹ đang mời gọi chúng ta mở rộng tâm hồn trước những giáo huấn của Tin Mừng.

Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta con đường của lòng thương xót, sự hòa giải, sự thật và hiền hòa. Đồng thời, Người cũng vạch trần loại bạo lực có thể ẩn khuất trong lời nói và thái độ của chúng ta: những lời chỉ trích hạ nhục người khác, những phán xét hủy hoại và sự hung hăng gây chia rẽ. Thứ bạo lực âm thầm ấy thường ngụy trang dưới dạng một lớp áo giáp mà chúng ta sử dụng để bảo vệ những vết thương, những nỗi sợ hãi và những đau khổ do bất công gây nên.

Chúng ta hãy chiêm ngắm Đức Mẹ Montserrat, Đấng đang chỉ cho chúng ta thấy Chúa Giêsu như một Hài Nhi mong manh trong lòng Mẹ; bởi lẽ nơi đây, cùng với Con của Mẹ, mời gọi chúng ta yêu thương nhau. Hôm nay, chúng ta hãy đặt dưới chân Mẹ những lớp áo giáp đã dần làm cho tâm hồn chúng ta trở nên chai đá.

Hài Nhi Giêsu mà Đức Maria bế trên tay không mặc áo giáp; và chính Người, sau này, khi trần trụi trên thập giá, sẽ hiến dâng trọn vẹn chính mình cho Chúa Cha để cứu độ chúng ta bằng sức mạnh phi vũ trang và giải giới của tình yêu.

Chúng ta hãy hướng mắt lên Đức Maria và khẩn cầu Mẹ giúp chúng ta trang bị cho mình duy nhất những khí giới của Thiên Chúa. Như thánh Phaolô Tông đồ khuyên nhủ: “Hãy đứng vững: lưng thắt đai là chân lý, mình mặc áo giáp là sự công chính, chân đi giày là lòng hăng say loan báo tin mừng bình an; hãy luôn cầm khiên mộc là đức tin, [...]. hãy đội mũ chiến là ơn cứu độ và cầm gươm của Thần Khí ban cho, tức là Lời Thiên Chúa” (x. Êp 6:11–17).

Hôm nay, với tư cách là những người hành hương tại Montserrat, chúng ta hãy bày tỏ ước nguyện chân thành là tái khẳng định việc phụng sự Thiên Chúa là Cha, Đấng mà Chúa Giêsu Kitô đã mặc khải cho chúng ta khi nói rằng: “Ai đón tiếp một em nhỏ như em này vì danh Thầy là đón tiếp chính Thầy; và ai đón tiếp Thầy thì không phải là đón tiếp Thầy, nhưng là đón tiếp Đấng đã sai Thầy” (Mc 9:37).

Chúng ta cũng hãy suy niệm về việc Đức Trinh nữ Maria nâng quả địa cầu trên tay phải của Mẹ, một dấu chỉ sự chăm sóc từ mẫu của Mẹ, vì toàn thể thế giới đều có chỗ trong trái tim Mẹ. Mẹ mời gọi chúng ta nhận biết nhau là anh chị em, để không ai bị loại trừ và sự hiệp thông luôn mạnh hơn mọi chia rẽ.

Chúng ta hãy cầu xin Đức Maria, Nữ vương Hòa bình, dạy chúng ta từ bỏ những lời nói gây tổn thương, những phán đoán vội vàng, những lời đàm tiếu và vu khống. Ước mong chúng ta biết trân quý và nuôi dưỡng tình yêu trong gia đình, giữa bạn hữu, tại nơi làm việc, trên các mạng xã hội, trong các cuộc tranh luận chính trị và trong các cộng đoàn Kitô hữu, để hận thù nhường chỗ cho hy vọng và hòa bình.

Xin Đức Maria, Mẹ Giáo hội, luôn dẫn dắt chúng ta đến với Chúa Giêsu. Tôi mời gọi anh chị em tôn vinh Mẹ bằng những lời mà anh chị em đã rất quen thuộc:

Với người Catalunya, Mẹ mãi mãi là Nữ Vương;
Với dân tộc Tây Ban Nha và toàn thế giới, xin dâng lên Mẹ trọn tình yêu của chúng con;
Xin Mẹ nói với chúng con rằng: “Các con là kho tàng của Mẹ,
Mẹ là Mẹ của các con, đừng sợ hãi.”

Amen.

________________________


Những lời ứng khẩu của Đức Thánh Cha từ ban công Đan viện Đức Mẹ Montserrat


Anh chị em thân mến, chào anh chị em.

Cảm ơn anh chị em đã hiện diện nơi đây. Cảm ơn anh chị em vì biểu lộ đức tin tuyệt đẹp này. Tất cả chúng ta được hiệp nhất như một gia đình duy nhất, được Mẹ Maria, Đức Trinh Nữ Montserrat, ôm ấp trong vòng tay.

Niềm vui, lòng nhiệt thành và cảm thức đức tin sâu xa mà chúng ta đang cảm nghiệm trong những ngày này: trước hết tại Madrid, giờ đây tại Barcelona và Catalunya, và sắp tới tại quần đảo Canary. Toàn thể Tây Ban Nha đang tràn đầy đức tin, tình yêu và khát vọng ngợi khen Thiên Chúa, tạ ơn Thiên Chúa và được hiệp nhất.

Cảm ơn Catalunya vì đã đón tiếp rất nhiều người đến từ các quốc gia khác; anh chị em đang cho chúng ta thấy cách quy tụ mọi người như một gia đình duy nhất.

Chân thành cảm ơn cộng đoàn đức tin và cộng đoàn các anh em chúng ta, các đan sĩ nơi đây, những người đón nhận và tiếp rước tất cả các khách hành hương đến cầu nguyện cùng Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa của chúng ta.

Cảm ơn từng người trong anh chị em hiện diện nơi đây sáng nay để nhắc nhở mọi người — tại Catalunya, tại Tây Ban Nha và trên khắp thế giới — rằng đức tin ban sự sống và đức tin đem lại niềm hy vọng.

Và chính Đức Maria, Đấng mà Chúa Giêsu từ trên thập giá đã trao ban cho chúng ta làm Mẹ; chính Đức Maria đang đồng hành với chúng ta, Đấng là biểu hiện của tình yêu từ mẫu sẽ luôn ở cùng chúng ta.

Phép lành.

Cảm ơn, cảm ơn tất cả anh chị em.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 11/06/2026]


Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Tây Ban Nha (6 – 12 tháng 6 năm 2026) – Gặp gỡ Hội đồng Giám mục Tây Ban Nha tại trụ sở của Hội đồng Giám mục, 08.06.2026

Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Tây Ban Nha (6 – 12 tháng 6 năm 2026) – Gặp gỡ Hội đồng Giám mục Tây Ban Nha tại trụ sở của Hội đồng Giám mục, 08.06.2026

Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Tây Ban Nha (6 – 12 tháng 6 năm 2026) – Gặp gỡ Hội đồng Giám mục Tây Ban Nha tại trụ sở của Hội đồng Giám mục, 08.06.2026

*******

Kết thúc cuộc gặp gỡ với các thành viên Quốc hội Tây Ban Nha, Đức Thánh Cha đã di chuyển bằng xe tới trụ sở Hội đồng Giám mục Tây Ban Nha, nơi diễn ra cuộc gặp gỡ với các giám mục của đất nước này.

Khi đến nơi, Đức Thánh Cha được đón tiếp bởi Đức Tổng Giám mục Luis Javier Argüello García, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Tây Ban Nha, Đức Hồng y José Cobo Cano, Tổng Giám mục Chính tòa Madrid, và Đức Giám mục Francisco César García Magán, Thư ký Hội đồng Giám mục. Khi tiến vào bên trong, ngài chào hỏi một số vị lãnh đạo Giáo hội và đi tới Hội trường Đại hội Toàn thể ở tầng một.

Sau lời chào mừng của Chủ tịch Hội đồng Giám mục Tây Ban Nha, Đức Thánh Cha đã đọc diễn văn của ngài.

Tiếp theo, sau nghi thức ký Sổ Lưu niệm, tặng quà và ban phép lành, Đức Thánh Cha đã đích thân chào từng giám mục tại văn phòng của Chủ tịch Hội đồng Giám mục Tây Ban Nha.

Cuối cùng, ngài xuống tầng trệt để khánh thành tấm bia kỷ niệm chuyến viếng thăm của ngài, rồi đến Phòng Báo chí của Hội đồng Giám mục để chụp ảnh lưu niệm với các nhân viên giáo dân.

Sau đó, Đức Thánh Cha di chuyển bằng xe đến Tòa Sứ thần Tòa Thánh, nơi ngài dùng bữa tối với các giám mục.

Sau đây là bài diễn văn của Đức Thánh Cha Lêô XIV trước những người hiện diện trong cuộc gặp gỡ:


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Các anh em Giám mục thân mến,

Thật là niềm vui lớn đối với tôi khi được ở cùng anh em trong ngày thứ ba của chuyến Tông du tại Tây Ban Nha. Sau khi chào thăm các vị đại diện chính trị đã đón tiếp tôi tại Quốc hội, giờ đây tôi muốn tận dụng thời gian này để cùng anh em làm mới lại sự hiệp thông của chúng ta, như Chúa Giêsu đã căn dặn các Tông đồ thực hiện (x. Mc 6:31). Tôi cảm ơn Đức Cha Luis Javier Argüello García vì những lời tốt đẹp của ngài trên cương vị Chủ tịch Hội đồng Giám mục và thay mặt tất cả anh em. Tôi hy vọng rằng những lời của tôi cũng sẽ góp phần vào cuộc đối thoại trong Chúa Thánh Thần, cuộc đối thoại đòi hỏi đón nhận tất cả những điều tốt lành mà Chúa nói với chúng ta qua những anh chị em của mình. Hành trình hiệp hành mà Giáo hội đang thực hiện là một tiến trình lắng nghe cách chăm chú. Khả năng nhận ra tiếng nói của Thiên Chúa vang lên qua cộng đoàn Giáo hội chính là một trong những giá trị nền tảng của hành trình này.

Hành trình của anh em là một cuộc đối thoại sinh hoa trái, mà với tư cách là một Giáo hội, anh em đang xây dựng theo nhiều cách khác nhau. Một ví dụ cụ thể là các hội nghị mà anh em đã tổ chức. Tôi muốn đặc biệt nhắc đến những hội nghị diễn ra vào các năm 2020 và 2025, vốn đã tạo nên ảnh hưởng đáng kể: “Dân Thiên Chúa lên đường” và “Tôi sống cho ai? Đại hội của những người được mời gọi thi hành sứ vụ”. Các chủ đề này đặt ra những câu hỏi cốt lõi: Làm thế nào chúng ta có thể đối diện với những thách đố của thời đại hôm nay? Và ai là người được mời gọi đảm nhận thách đố này?

Trong phần đóng góp của tôi cho suy tư này, tôi muốn đề xuất hình ảnh của một cuộc hành trình mà đích đến là Thiên Chúa, Đấng mà chúng ta hướng mắt nhìn lên. Đó là một cuộc hành trình duy nhất, bởi chúng ta không di chuyển về mặt thể lý, nhưng chúng ta ước mong để tâm hồn mình bay cao.

Một cám dỗ có thể xuất hiện khi lên đường là quá lưu luyến những gì mình bỏ lại phía sau — những nơi chốn, sự vật, lối sống — mà không mở lòng ra, trong sự vâng phục Thần Khí, trước sự mới mẻ của những gì chúng ta gặp gỡ. Cùng với cám dỗ ấy còn có cám dỗ về hành trang của chúng ta, bởi vì những lý do tương tự, chúng ta chất đầy những thứ vô ích và cuối cùng trở thành gánh nặng. Đồng thời, chúng ta cũng không được quên điều mà chúng ta học được từ những khó khăn của biết bao người di cư: một người cô độc, không có cội nguồn và không có nguồn lực, sẽ chịu đau khổ vô cùng và rất khó thiết lập những mối dây liên kết vững chắc tại nơi họ đến.

Vì thế, trong chặng đầu tiên của cuộc hành trình này, câu trả lời của chúng ta cho câu hỏi làm thế nào để đối diện với thách đố trước mắt là phải biết khôn ngoan kết hợp giữa tự do và can đảm, để có thể từ bỏ những cấu trúc không còn hữu ích, không đáp ứng nhu cầu của chúng ta, hoặc thậm chí làm chúng ta xa rời mục tiêu, đồng thời có đủ sức mạnh để trân trọng những gì giúp ích cho hành trình ấy. Làm sao chúng ta có thể không nhớ đến gia sản Kitô giáo đồ sộ trên miền đất của anh em, sức hút mãnh liệt mà sự phong phú này mang lại: qua vẻ đẹp của nó chạm đến cả những người không có đức tin; hay qua những mối dây thuộc về được dệt nên trong căn tính thiêng liêng ở mọi ngõ ngách của dân tộc yêu dấu này, và vẫn hiện diện ngay cả trong những thời điểm đức tin của họ bị lung lay? Chắc chắn đây là một thách đố rất lớn, và chúng ta được mời gọi đáp lại với lòng can đảm, để gia sản ấy có thể phát huy hết tiềm năng và sinh hoa trái tốt lành.

Một kho tàng khác mà chúng ta không được quên mang theo trong ba-lô của mình là của ăn đàng của người lữ hành. Bánh Lời Chúa và Bánh Thánh Thể còn cần thiết cho chúng ta hơn cả lương thực vật chất, bởi chúng mở ra cho chúng ta con đường cứu độ. Vấn đề không phải là làm sao để việc cử hành phụng vụ trở nên lôi cuốn nhiều hay ít; mà là việc cảm nhận rằng, nếu chúng ta là một phần của Người, thì sự vắng bóng của Người sẽ tạo nên trong chúng ta sự bồn chồn tương tự như cơn đói thể lý. Đời sống bí tích mang lại nhịp điệu cho cuộc sống chúng ta, như đứa trẻ nhận được nguồn nuôi dưỡng từ người mẹ, hay như một vận động viên biết lượng sức cần thiết để tiến về đích.

Một khó khăn lớn khác nảy sinh trên đường đi là việc giao tiếp với người khác. Bất kể là do khác biệt ngôn ngữ và văn hóa, do sự dè dặt trước những điều xa lạ, hay do những tranh cãi và hiểu lầm có thể xảy ra ngay cả giữa những người gần gũi với chúng ta, chúng ta đều cảm thấy bị giới hạn khi diễn tả bản thân hoặc thấu hiểu người đối diện. Chúng ta có thể áp dụng kinh nghiệm này vào việc loan báo Tin Mừng, vào việc đón tiếp tha nhân, vào khả năng trả lời những câu hỏi của thế giới xung quanh, hay vào nhu cầu thúc đẩy trách nhiệm chung giữa các thành viên cộng đoàn trong các hoạt động mục vụ của chúng ta. Trước đây chúng ta đã nói rằng cần phải bỏ lại phía sau tất cả mọi điều kìm hãm và cô lập chúng ta; ở đây nguyên tắc chỉ đạo là: gia sản của chúng ta phải trở thành công cụ và cơ hội để đối thoại với những người chúng ta gặp gỡ trên đường.

Như những gì xảy ra với các những người hành hương trên con đường Camino de Santiago, trong cuộc hành trình của mình, chúng ta nhìn thấy trước mắt những vùng bình nguyên xứ Castilla bao la và trơ trọi. Những cuộc gặp gỡ hiếm hoi của người hành hương với vài cụ già hoặc những người lao động ngoại quốc có thể trở thành một phép ẩn dụ cho nhiều hoàn cảnh xã hội mà đáng tiếc vẫn đang hiện diện trong một số thực tại Giáo hội của anh em. Đây không phải là lần đầu tiên Tây Ban Nha phải đối diện với tình trạng như vậy: trong quá khứ chẳng hạn, khi Giáo hội phải tái thiết sự hiện diện của mình trên những vùng đất bị thiêu rụi, đã xuất hiện những mô hình truyền giáo sau này được đưa sang châu Mỹ, và chúng có thể giúp ích cho chúng ta trong sứ mạng hôm nay.

Chúng ta cũng được mời gọi xây dựng một thực tại mới qua đối thoại đầy tôn trọng và việc sử dụng những ngôn ngữ mới, như vị “mufti thánh thiện” nổi tiếng của Granada là Tu sĩ Hernando de Talavera, và sau đó là Thánh Toribio de Mogrovejo tại châu Mỹ, một vị giám mục gương mẫu đã đến với tha nhân trong thời kỳ truyền giáo và tái tổ chức đời sống Giáo hội, và năm nay chúng ta đang cử hành kỷ niệm ba trăm năm ngày ngài được tuyên thánh. Mặc dù ngôn ngữ trong thời đại kỹ thuật số ngày nay đã khác, và các nền văn hóa tạo nên bức tranh khảm những thực tại của chúng ta — với những người di dân đến từ khắp nơi trên thế giới — cũng đã thay đổi, nhưng tinh thần ấy phải luôn được duy trì.

Những yếu tố cốt lõi của tinh thần đó là gì? Trước hết là khả năng truyền thông, khả năng nói với mọi thực tại hiện diện trên lãnh thổ của mình, biết hạ mình xuống không chỉ để hiểu mà còn để chia sẻ. Chỉ bằng cách quy tụ tất cả những điều thiện hảo tồn tại trong chính gia sản của chúng ta, với mỗi người góp phần của mình, chúng ta mới có thể xây dựng một thực tại mới trong đó đức tin có thể bén rễ sâu xa. Lẽ tất nhiên, để điều đó xảy ra, trước tiên chúng ta phải học ngôn ngữ của người khác, khởi xướng những tiến trình và dệt nên những mối liên kết nơi chúng ta có thể gieo hạt giống Nước Trời. Yếu tố thứ hai là lời mời gọi kiến tạo những thực tại tự bản thân có khả năng truyền đạt kinh nghiệm đức tin, có khả năng — như Thánh Toribio đã làm — mang kinh nghiệm của Granada đến châu Mỹ; nghĩa là biết mang theo trong hành trang những nguồn lực cho phép chúng ta đối diện cách cởi mở với những thách đố luôn mới của công cuộc loan báo Tin Mừng trong mọi hoàn cảnh.

Sau những đồng bằng hoang vắng ấy, chúng ta cũng sẽ gặp những thành phố lớn, nơi sự im lặng và khoảng cách không còn thuộc về không gian mà là về khoảng cách giữa con người với nhau. Những câu trả lời sẽ khác nhau, nhưng các tiến trình dẫn đến chúng vẫn tương tự nhau: lắng nghe, thấu hiểu, tôn trọng, quảng đại và cởi mở.

Người lữ khách thường khởi hành vào ban đêm, và bóng tối trên đường đi ban đầu thường làm họ sợ hãi. Bài Thánh thi Kinh Chiều “Đêm tối là thời gian của ơn cứu độ” nhắc nhở chúng ta rằng nếu chúng ta có những người bạn đồng hành tốt, những khó khăn của cuộc hành trình và nguy cơ lạc đường sẽ giảm bớt.

Chính Chúa là Đấng dẫn dắt chúng ta; Người là chủ của lịch sử và của từng câu chuyện cuộc đời chúng ta. Người quyết định nhịp bước. Chúng ta bước theo Người; đúng hơn, chúng ta bước đi với Người như những chi thể của cùng một thân thể. Mối dây liên kết sâu xa này đòi hỏi Giáo hội, trong thời đại của những sự phân cực và đối kháng ngày càng gay gắt, phải làm chứng cho sự hiệp nhất trong đa dạng: một sự hiệp thông có khả năng ôm trọn sự phong phú của các ân ban, các đặc sủng và những cảm thức mà Chúa Thánh Thần khơi dậy trong Dân Thiên Chúa. Hình ảnh của Đức Kitô được biểu lộ trong bức tranh khảm sống động của Giáo hội, nơi nhiều mảnh ghép, dù không hòa lẫn vào nhau, vẫn hội tụ để biểu lộ vẻ đẹp của một Chúa duy nhất.

Trong sứ vụ này, thừa tác vụ giám mục mang một ý nghĩa đặc biệt. Chúng ta được kêu gọi trở thành dấu chỉ hữu hình của sự hiệp thông: trước hết là hiệp thông với Đức Kitô, bằng việc yêu mến gìn giữ đức tin mà chúng ta đã lãnh nhận, trong sự vâng phục Lời Thiên Chúa và truyền thống sống động của Giáo hội. Thứ hai là hiệp thông với Đấng kế vị Thánh Phêrô và với Giáo hội hoàn vũ, với linh mục đoàn và chính cộng đoàn giáo phận, với đời sống thánh hiến, các phong trào, các hội đoàn và mọi đặc sủng đích thực mà Chúa Thánh Thần ban tặng vì ích chung. Sứ mạng của anh em kêu gọi anh em gìn giữ sự hiệp nhất, thúc đẩy đối thoại, chữa lành những chia rẽ và đồng hành với cuộc lữ hành của đoàn dân được trao phó cho anh em chăm sóc.

Sự hiệp thông được sống như thế cũng mang đến sức sống truyền giáo. Một Giáo hội có sự bình an nội tâm sẽ có thể nói cách tự do hơn với các anh chị em thuộc những hệ phái Kitô giáo khác và các tôn giáo khác, với những người không tin, với các nhà chức trách dân sự và với mọi người thiện chí đang làm việc vì công ích.

Lời mời gọi trở thành dấu chỉ của sự hiệp thông trong Đức Kitô — cùng nhau bước đi trong hiệp nhất và hướng tới người anh chị em mà chúng ta gặp gỡ — đặt chúng ta trước một thách đố khác đang chạm tới tâm hồn của rất nhiều người ngày nay: khó khăn trong việc đưa ra những cam kết dứt khoát và những quyết định sâu sắc cho cuộc đời. Đối với rất nhiều người trẻ — và không chỉ riêng họ — câu hỏi: “Tôi sống vì ai?” vang lên như một cuộc tìm kiếm chân thành về ý nghĩa, sự thuộc về và sự hiến thân. Trái tim con người không được lấp đầy bằng việc tích lũy những kinh nghiệm, cơ hội hay một cảm giác an toàn nhất thời; trái tim ấy chỉ được lấp đầy khi khám phá ra một tiếng gọi, khi hiểu rằng cuộc sống chỉ đạt tới sự viên mãn khi được cho đi.

Vì thế, mục vụ ơn gọi không thể bị giản lược thành việc chạy theo những con số đơn thuần. Nó phát sinh từ những cộng đoàn sống động, từ những linh mục hạnh phúc, từ những gia đình có khả năng làm chứng cho vẻ đẹp của lòng trung tín, từ một Giáo hội biết trình bày cách đơn sơ rằng việc bước theo Đức Kitô không làm nghèo đi cuộc sống nhưng làm cho cuộc sống được mở rộng hơn. Nơi nào Tin Mừng được sống trong niềm vui, tinh thần phục vụ và sự hiệp thông, thì tiếng gọi của Chúa cũng có thể một lần nữa được lắng nghe như một lời hứa ban sự sống.

Trước đây, chúng ta đã nhắc đến những hành trang nặng nề. Những người hành hương trên con đường Camino de Santiago hiểu rất rõ rằng chỉ nên mang theo những gì thật sự cần thiết trong ba lô. Như Đức Thánh Cha Phanxicô thường nói, trong bối cảnh mục vụ ơn gọi hiện nay, việc duy trì các cơ cấu không thể được đặt cao hơn lợi ích của chính ơn gọi. Các chủng sinh có quyền được hưởng nền đào tạo tốt nhất có thể, và về phần mình, Giáo hội cũng có quyền có được những linh mục được đào tạo cách kỹ lưỡng. Tiêu chuẩn để các chủng viện trở thành những ngôi nhà đào tạo thực sự là phải bảo đảm một kinh nghiệm đầy đủ về đời sống cộng đoàn; phải có những nhà đào tạo chuyên tâm cho việc nghiên cứu và giảng dạy, đồng thời có kinh nghiệm trong việc đồng hành thiêng liêng; và phải có các trung tâm đào tạo thần học bậc cao được trang bị những phương tiện cần thiết để hoàn thành sứ mạng của mình. Để đạt được điều đó, điều quan trọng không chỉ là hợp lực với nhau mà còn phải học cách làm việc với nhau trong việc giải quyết những thách đố này.

Trong lãnh vực này, những khó khăn có thể được nhìn như những cơ hội. Đôi khi chúng ta gặp khó khăn trong việc giải thích ơn gọi của giáo dân và sự hội nhập của họ vào hành trình đời sống mà chúng ta, với tư cách là Giáo hội, đang thực hiện. Mặt khác, chúng ta nhận thấy rằng trong nhiều thừa tác vụ trước đây do các tu sĩ đảm trách, nay các cộng tác viên giáo dân đang được mời gọi tiếp tục công việc ấy. Đó là một khó khăn mà chúng ta có thể biến thành cơ hội gặp gỡ, đối thoại và truyền thông. Bổn phận của chúng ta là phải bảo đảm rằng những giáo dân này nhận thức sự tham gia của họ trong việc phục vụ Giáo hội như một tiếng gọi đến từ Thiên Chúa để đảm nhận trách nhiệm của mình với tư cách là Kitô hữu, biết nội tâm hóa tinh thần đó và cảm nhận mình là một phần của sứ mạng mà Chúa đã trao phó cho các tu sĩ đã thiết lập nên công cuộc đó.

Như anh em có thể thấy, cuộc hành trình của chúng ta được cấu thành từ những cuộc gặp gỡ, và chúng ta cũng sẽ gặp những người đang trải qua những thời khắc tăm tối, những người kêu gọi chúng ta trở thành người Samari nhân hậu của họ. Một trong những cuộc gặp gỡ đau đớn nhất là với những người đã bị làm tổn thương bởi chính những người lẽ ra phải chăm sóc họ, kể cả các thành viên trong hàng giáo sĩ. Trước tai họa này, cộng đoàn Giáo hội được kêu gọi đáp lại bằng sự lắng nghe, sự thật, công lý, sự đền bù và một cam kết ngày càng kiên quyết hơn đối với công tác phòng ngừa cũng như việc xây dựng nền văn hóa chăm sóc. Mỗi người bị tổn thương phải có khả năng tìm được sự lắng nghe chân thành, sự đón tiếp, bảo vệ và những con đường chữa lành thực sự.

Cùng một luận lý này cũng được áp dụng cho những thách đố của một thế giới bị tục hóa. Nhiều người nam và nữ trong thời đại chúng ta không trực tiếp khước từ Thiên Chúa; họ thường mang trong lòng một cơn khát sâu xa về ý nghĩa, chân lý, sự thuộc về và niềm hy vọng, ngay cả khi họ không biết cách gọi tên nó. Giáo hội được kêu gọi nhận ra những khát vọng đó, lắng nghe chúng với lòng tôn trọng, và trao ban kho tàng đã được ủy thác cho mình — như Phêrô và Gioan đã làm với người bại liệt tại cửa đền thờ: Đức Giêsu Kitô, nhân danh Người mà một con người có thể đứng dậy và bước đi (x. Cv 3:1–10). Khi cộng tác với các tổ chức tôn giáo hoặc dân sự khác, cũng như khi cung cấp trợ giúp vật chất, giáo dục, hỗ trợ hay giúp phát triển con người, Giáo hội không bao giờ ngừng trao ban những gì là của riêng mình: tình yêu của Thiên Chúa được mặc khải nơi Đức Kitô. Sứ điệp ấy vẫn vang vọng trong xã hội, một xã hội không ngần ngại bày tỏ sự trân trọng đối với nhiều công cuộc này. Nhờ đó, mỗi cử chỉ bác ái Kitô giáo phát sinh từ Tin Mừng đều mang trong mình một lời hứa lớn lao hơn: khôi phục nơi con người niềm xác tín rằng họ được yêu thương.

Trên hành trình của mình, chúng ta đang đi qua vùng đất mà Thánh Gioan Phaolô II đã chọn để gọi là “Vùng đất của Đức Maria” (Bài giảng trong Cử hành Phụng vụ Lời Chúa và Nghi thức Thánh Mẫu Toàn quốc, Zaragoza, ngày 6 tháng 11 năm 1982, số 1). Nơi Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc, Mẹ của sự hiệp thông và niềm hy vọng, anh em có người bạn đồng hành đầu tiên trên hành trình và cũng là kho tàng lớn nhất của mình, vì Mẹ chỉ cho chúng ta thấy qua cuộc đời Mẹ cách đón nhận Lời Chúa và ghi nhớ trong lòng, cách đồng hành với các môn đệ trên hành trình này và cách duy trì sự hiện diện trong hành trình của Giáo hội. Tôi phó thác thừa tác vụ của anh em cho Mẹ, để Mẹ giúp anh em trở nên nắm men nhỏ bé, mà Tin Mừng nhắc đến, giữa lòng dân Chúa được trao phó cho mình. Nhỏ bé trong mắt thế gian, nhưng khi được kết hợp với Đức Kitô lại có khả năng làm dậy cả khối bột (x. Mt 13:33). Sức mạnh của Giáo hội không đến từ quy mô các nguồn lực của mình, nhưng từ sự thánh thiện của các con cái mình, từ sự hiệp thông của các mục tử và từ lòng trung thành khiêm nhường và kiên trì của những người cho phép Thánh Thần hướng dẫn họ.

Trên hành trình này, Thánh Gioan Avila, bổn mạng hàng giáo sĩ Tây Ban Nha, cũng đồng hành với anh em khi năm nay chúng ta kỷ niệm năm trăm năm ngày ngài được thụ phong linh mục. Thánh Phaolô VI đã mô tả ngài là “một vị thầy nhân hậu và khôn ngoan của đời sống thiêng liêng, một nhà canh tân gương mẫu của đời sống Giáo hội và các tập tục Kitô giáo”, đồng thời là “một linh mục đơn sơ” (Bài giảng trong Thánh lễ phong hiển thánh cho Chân phước Gioan Avila, ngày 31 tháng 5 năm 1970). Nơi vị Thánh Tiến sĩ Giáo hội này, Giáo hội nhận ra đời sống linh mục mà mỗi giám mục được kêu gọi gìn giữ và thúc đẩy trong chính linh mục đoàn của mình.

Hướng nhìn về ngài, tôi nhớ đến những người là bạn đồng hành gần gũi nhất của các giám mục trên hành trình này: những “linh mục đơn sơ”, theo nghĩa cao quý và chặt chẽ nhất của thuật ngữ này. Hành trình của chúng ta cùng với họ phải truyền tải tầm quan trọng của những điều cốt yếu: trở thành những linh mục yêu mến Đức Kitô, bén rễ sâu trong cầu nguyện, trung thành với Giáo hội, gần gũi với người dân và có khả năng kết hợp giáo lý vững chắc, lòng nhiệt thành tông đồ và đức ái mục vụ. Những linh mục tìm thấy nơi vị giám mục không chỉ là một thẩm quyền được công nhận, mà còn là một người cha luôn đồng hành với mình; và nơi các linh mục khác là những người anh em cùng chia sẻ những khó khăn và niềm vui của cuộc hành hương đầy các cuộc gặp gỡ này, trong đó tất cả chúng ta đều tìm kiếm Đức Kitô.

Chúng ta hãy kết thúc hành trình thiêng liêng này bằng một lời nguyện của vị Thánh Tiến sĩ, người nhắc nhở chúng ta rằng mọi sự canh tân trong giáo hội đều khởi đi từ một trái tim được trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô: “Lạy Chúa, nếu Chúa truyền cho con làm điều Chúa đã làm, xin ban cho con trái tim của Chúa” (Bài giảng 57:20). Ước gì đây cũng là lời khẩn cầu của chúng ta: Lạy Chúa, xin ban cho chúng con trái tim của Chúa, một trái tim biết hướng ánh mắt về Ngài, biết lên đường, biết lắng nghe, biết phân định, biết phục vụ, biết sửa lỗi trong đức ái, biết chăm sóc với lòng kiên nhẫn và biết loan báo với niềm vui. Vì Giáo hội đón nhận trái tim của Đức Kitô sẽ mang theo bên mình cột lửa dẫn đường, nâng đỡ, bảo vệ và an ủi mình — lương thực cần thiết để đối diện với mọi thách đố.

Xin Chúa chúc phúc cho anh em. Cảm ơn anh em.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 09/06/2026]


Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Tây Ban Nha (6 – 12 tháng 6 năm 2026) – Cuộc gặp gỡ “Xây dựng Mạng lưới với Thế giới Văn hóa, Kinh tế và Thể thao” tại “Movistar Arena”, Madrid, 07.06.2026

Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Tây Ban Nha (6 – 12 tháng 6 năm 2026) – Cuộc gặp gỡ “Xây dựng Mạng lưới với Thế giới Văn hóa, Kinh tế và Thể thao” tại “Movistar Arena”, Madrid, 07.06.2026

Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Tây Ban Nha (6 – 12 tháng 6 năm 2026) – Cuộc gặp gỡ “Xây dựng Mạng lưới với Thế giới Văn hóa, Kinh tế và Thể thao” tại “Movistar Arena”, Madrid, 07.06.2026

*******

Vào lúc 17 giờ 30 chiều nay, Đức Thánh Cha Lêô XIV rời Tòa Sứ thần Tòa Thánh và di chuyển bằng xe giáo hoàng đến Movistar Arena ở Madrid để tham dự cuộc gặp gỡ mang chủ đề “Xây dựng các mạng lưới với thế giới Văn hóa, Kinh tế và Thể thao”, với sự hiện diện của khoảng mười lăm nghìn người.

Khi đến nơi vào khoảng 18 giờ 00, Đức Thánh Cha được Đức Hồng y José Cobo Cano, Tổng Giám mục Chính tòa Madrid, đón tiếp. Trước khi tiến lên sân khấu, ngài đã đi bộ một vòng quanh các khán đài của nhà thi đấu để chào các tín hữu.

Sau bài thánh ca, Đức Hồng y Tổng Giám mục Madrid đã ngỏ lời chào mừng Đức Thánh Cha.

Tiếp đó là các bài phát biểu và chứng từ của nam diễn viên Antonio Banderas; ông José María Coello de Portugal, Viện trưởng Đại học Complutense; ông Antonio Garamendi, Chủ tịch Liên đoàn các Tổ chức Doanh nghiệp Tây Ban Nha (CEOE); ông Unai Sordo, Tổng Thư ký Công đoàn Comisiones Obreras; và bà Ángela López de Miguel, Chủ tịch Liên đoàn Doanh nghiệp nhỏ và vừa Tây Ban Nha (CEPYME), đại diện cho giới kinh tế và lao động; cuối cùng là hai vận động viên Carolina Marín và Teresa Perales. Xen kẽ các phần chứng từ là tiết mục nghệ thuật của nghệ sĩ Sara Baras.

Sau đó, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã đọc diễn văn của ngài.

Sau phần trình diễn âm nhạc và phép lành của Đức Thánh Cha, cuộc gặp gỡ kết thúc bằng một bài thánh ca bế mạc.

Kết thúc chương trình, Đức Lêô XIV rời sân khấu cùng với Đức Hồng y Tổng Giám mục Madrid và di chuyển bằng xe đến Tòa Tổng Giám mục, nơi ngài dùng bữa tối với Đức Hồng y Cobo Cano trước khi trở về Tòa Sứ thần Tòa Thánh.

Dưới đây là bài diễn văn của Đức Thánh Cha gửi tới những người hiện diện trong cuộc gặp gỡ:


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Thưa Đức Hồng y,
Các bạn thân mến,

Tôi rất vui được hiện diện cùng các bạn tại nơi đây, nơi không chỉ đón tiếp các sự kiện thể thao, nghệ thuật và văn hóa, mà còn là nơi của những cảm xúc sâu thẳm nhất của con người: niềm vui, sự ngưỡng mộ, lòng nhiệt huyết và niềm hy vọng, cũng như nỗi buồn và sự thất vọng.

Tại đất nước xinh đẹp này, thật không thể không khâm phục tinh thần sáng tạo xuyên suốt lịch sử và định hình nên bản sắc của nơi đây. Một vẻ đẹp được thể hiện rõ nơi các thành phố, trên các đường phố, các tượng đài, quảng trường và khu vườn, trong các trường đại học và nhà thờ, trong âm nhạc, hội họa, vũ điệu, cũng như nghệ thuật ẩm thực. Nơi đây, người ta còn cảm nhận được tinh thần của các thế hệ đã biến đổi cảnh quan và trao cho nó một đặc tính riêng; và điều đó cho chúng ta thấy, trong từng chi tiết, trí tuệ và ý chí kiên định đang ngự trị trong tinh thần con người.

Sau khi chiêm ngưỡng thật kỹ những kỳ công mà các thế hệ trước đã tạo nên, một câu hỏi tất yếu xuất hiện và thách đố tất cả chúng ta: chúng ta đang để lại di sản gì cho tương lai, và rộng hơn, chúng ta đang xây dựng một cộng đồng như thế nào?

Tôi đã chăm chú lắng nghe từng phần đóng góp của các diễn giả, và tôi đồng ý với các bạn. Quả thật, xã hội của chúng ta sở hữu một năng lực phi thường trong việc sản xuất, đổi mới và truyền thông; tuy nhiên, có vẻ như chúng ta vẫn cần học cách bảo vệ linh hồn của những gì mình tạo ra. Nếu không, chúng ta có nguy cơ trở thành những chuyên gia trong lĩnh vực truyền thông và những nhà sản xuất hiệu quả, nhưng lại không chắc chắn mình sản xuất vì lý do gì, nhằm mục đích nào, với ai và cho ai. Trong bối cảnh ấy, Giáo hội, với ý thức về cả những thành công lẫn sai lầm của mình trong dòng lịch sử, mong muốn được duy trì cuộc đối thoại với thế giới đương đại.

Khát vọng hướng tới điều thiện hảo, cái đẹp và chân lý được bén rễ sâu trong chính DNA của nhân loại. Chính trên nền tảng của khát vọng nhân bản sâu xa ấy cùng với kinh nghiệm tích lũy qua nhiều thế kỷ mà Giáo hội đề xuất những con đường dẫn tới một đời sống phẩm giá và công ích. Về điểm này, Thánh Phaolô VI từng khẳng định trước Liên Hợp Quốc rằng, bất kể người ta có quan điểm nào về Giáo hoàng Rôma, sứ mạng của ngài vẫn được mọi người biết rõ. Với tư cách là một “chuyên gia về con người”, Giáo hội không thể làm ngơ trước bất cứ điều gì thực sự thuộc về con người (x. Gaudium et Spes, số 1). Chính vì thế, “sự rộng mở đối với đối thoại là một phần thiết yếu trong ơn gọi của Giáo hội” (Magnifica Humanitas, số 2). Hôm nay chúng ta khẳng định rằng câu hỏi mang tính quyết định vẫn là: là một con người đích thực nghĩa là gì?

Với lòng khiêm tốn nhưng xác tín, Giáo hội chia sẻ điều mình đã khám phá được qua kinh nghiệm đức tin: rằng Đức Giêsu Kitô mang đến câu trả lời cho những câu hỏi lớn liên quan đến đời sống con người và sự viên mãn của đời sống ấy, cả trong thế giới này và cuối cùng là trong trong cõi vĩnh hằng. “Vì thế, con người luôn là ‘con đường của Hội Thánh’ và là trung tâm của mọi con đường đích thực cho sự phát triển con người toàn diện” (sđd., số 50). Do đó, Giáo hội không thể làm ngơ trước văn hóa, bởi nhờ văn hóa mà con người, với tư cách là con người, "là" con người trọn vẹn hơn (x. Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công giáo, số 554).

Chính vì từ “văn hóa” gợi nhắc đến “vun trồng”, như chính nguồn gốc từ nguyên chung của hai từ này cho thấy, nên chúng ta được mời gọi tự vấn bản thân rằng hôm nay chúng ta đang gieo trồng điều gì, điều gì đang thực sự đâm chồi nảy lộc và điều gì đang âm thầm héo úa trong xã hội chúng ta; chúng ta đang gìn giữ những giá trị nào và chúng ta đang để cho những giá trị nào lụi tàn. Đó là những câu hỏi sâu sắc và cần thiết, không thể bỏ qua.

Để trả lời những câu hỏi này, cần phải có một cuộc đối thoại xã hội mà chúng ta có thể ví như nghệ thuật xây dựng các mạng lưới, một nghệ thuật đòi hỏi sự gặp gỡ, lắng nghe, đối thoại và tôn trọng.

Trong mọi lãnh vực hoạt động khác nhau của con người, chúng ta phải lưu tâm đến ngôn ngữ mình sử dụng — dù là văn viết, lời nói hay hình ảnh trong không gian kỹ thuật số — bởi truyền thông không bao giờ là trung tính. Mọi hình thức diễn đạt đều cất tiếng nói và truyền tải một thông điệp; nó có thể làm tổn thương hoặc chữa lành, làm tan vỡ những mong chờ hoặc mở ra những chân trời mới, gieo rắc chia rẽ hoặc khơi dậy niềm hy vọng về khả năng cùng nhau xây dựng một điều gì đó thực sự nhân bản.

Vì thế, xây dựng các mạng lưới là một cuộc đối thoại giữa các định chế đặt phẩm giá con người ở vị trí trung tâm. Điều đó có nghĩa là, chẳng hạn, đại học không được tách rời thế giới lao động cũng như không được rời bỏ chân lý; doanh nghiệp không được xem người lao động chỉ là một yếu tố khác trong phương trình lợi ích của mình. Nghệ thuật không chỉ dành riêng cho giới tinh hoa; thể thao không được bị giản lược thành một màn trình diễn hay biến thành một ngành kinh doanh thuần túy; và tiến bộ công nghệ phải lưu tâm đến người già, người nghèo và những người không có tiếng nói.

Từ nhãn quan Kitô giáo, đóng góp của chúng ta cho cuộc đối thoại về sự sống nhìn nhận rằng rằng Đấng Tạo Hóa đã dệt nên con người bằng những sợi chỉ của tình yêu; bởi họ được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, mà Thiên Chúa là tình yêu (x. 1 Ga 4:8). Đây chính là nền tảng của phẩm giá bất khả xâm phạm của con người, và sự tôn trọng tuyệt đối phẩm giá ấy là cơ sở của mọi cuộc đối thoại.

Thứ hai, xây dựng các mạng lưới có nghĩa là cùng nhau sáng tạo. Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã khẳng định: “Đức tin là tình yêu, và vì thế sáng tạo nên thi ca và âm nhạc. Đức tin là niềm vui, vì thế nó tạo nên cái đẹp” (Bài Giáo lý, ngày 21 tháng 5 năm 2008). Tất cả chúng ta đều đã từng trải nghiệm một điều gì đó rất đẹp — đẹp đến mức làm biến đổi chúng ta từ bên trong: một bài hát, một bài thơ, một ngôi thánh đường tĩnh lặng, một giọng nói, một ánh mắt, hay thậm chí một trận bóng rổ được thưởng thức cùng bạn bè.

Vì thế, không có gì ngạc nhiên khi việc loan báo Tin Mừng và ý thức rằng tất cả chúng ta là anh chị em với nhau lại được diễn tả dưới hình thức của bài ca saeta trong Tuần Thánh hoặc qua thi ca thần bí. Sự diễn tả ấy cũng được tìm thấy trong thiên tài văn chương của những tác giả như Lope de Vega, Thánh Têrêsa Giêsu Avila, Thánh Gioan Thánh Giá, Calderón de la Barca, hay trong văn xuôi thanh thoát của Thánh Tôma Aquinô, người mà chúng ta đã được thừa hưởng những bài thánh thi tuyệt mỹ của lễ Mình và Máu Thánh Chúa Kitô mà hôm nay chúng ta đang cử hành. Tất cả những điều này cho thấy mối liên hệ giữa vật chất và tinh thần cấu thành nên chính cuộc sống của chúng ta.

Thứ ba, xây dựng các mạng lưới có nghĩa là phục vụ một cách vô vị lợi. Một cái nhìn khách quan cho thấy biết bao người nam nữ được thúc đẩy bởi đức tin đã xây dựng bệnh viện và trường học, khởi xướng các sáng kiến liên đới và nói bằng một ngôn ngữ mang lại phẩm giá cho con người. Vì thế, chúng ta nên thành thật tự hỏi rằng liệu thế giới — và đặc biệt là châu Âu — có thể hình thành bản sắc của mình nếu thiếu đi ảnh hưởng tinh thần đã thấm đẫm trong lịch sử của nó hay không. Đây không nhằm mục đích khiêu khích, nhưng là lời mời gọi suy xét xem liệu cõi vĩnh hằng — đã đi vào thời gian và không gian qua mầu nhiệm Nhập Thể của Đức Giêsu Kitô — còn có thể hòa hợp với đời sống thường ngày hay không.

Liệu có thể tin một cách nghiêm túc rằng châu Âu — mà chúng ta hết lòng yêu mến — sẽ vẫn như vậy nếu không có sự ảnh hưởng của đức tin? Tại sao chúng ta lại sợ hãi việc để cho cõi vĩnh hằng thấm nhập vào đời sống thường nhật? Tiếng gọi của các vị tiền nhiệm của tôi vẫn còn vang vọng: đừng sợ! Hãy mở rộng cửa cho Đức Kitô! Đức Giêsu Kitô không lấy đi điều gì nơi chúng ta nhưng ban tặng cho chúng ta mọi sự.

Tôi tự hỏi: ai là những người vẫn đang bị loại trừ bất kể những đức tính và năng lực của họ? Chúng ta không thể làm ngơ trước thực tế rằng tình cảnh của người nghèo là một tiếng kêu không ngừng, trong lịch sử của nhân loại, chất vấn cuộc sống của chúng ta, các xã hội của chúng ta, các hệ thống chính trị và kinh tế của chúng ta, và cả Giáo hội (x. Dilexi Te, số 9).

Quả thật, Đức Kitô khôi phục công ích trở lại đúng vị trí của nó như một trọng tài khôn ngoan, làm giảm bớt lòng tham của một số người và nuôi dưỡng niềm hy vọng cho những người khác, đồng thời mong muốn cứu độ tất cả mọi người.

Giáo hội này, “chuyên gia về con người”, dù đôi khi phải đi ngược dòng, vẫn quả quyết rằng “các cơ cấu kinh tế và thể chế chỉ công bằng khi chúng phục vụ sự phát triển toàn diện của con người và thúc đẩy sự tham gia có trách nhiệm của mọi người” (Magnifica Humanitas, số 34).

Sau cùng, tôi muốn hướng sự chú ý của các bạn đến một thế giới, như các bạn đều biết, không xa lạ đối với tôi: thế giới thể thao. Hãy nghĩ xem có bao nhiêu người trong chúng ta đã học được cách tôn trọng đối thủ trên sân thi đấu thay vì qua việc ngồi nghe một bài thuyết trình. Có bao nhiêu vận động viên dạy chúng ta biết chấp nhận thua mà không oán hận, chiến thắng mà không hạ nhục người khác, hoặc biết đứng dậy sau khi vấp ngã.

Thánh Gioan Phaolô II, vừa là một vận động viên vừa là một mục tử, đã từng nói: “Trong thời đại ngày nay, thật buồn khi nhiều hình thức bạo lực khác nhau — và do đó là lòng hận thù — đang có nguy cơ xé nát kết cấu của tình liên đới xã hội, các bạn [các vận động viên] góp phần của mình bằng cách cống hiến một tấm gương sáng ngời về sự gắn kết, hòa bình và hiệp nhất — nói ngắn gọn là nghệ thuật ‘biết cách ở bên nhau’” (Diễn văn trước các tham dự viên Giải Vô địch lướt ván nước châu Âu, châu Phi và Địa Trung Hải lần thứ 33, ngày 31 tháng 8 năm 1979). Những lời này thậm chí còn mang tính thời sự và cấp bách hơn cả khi chúng được nói ra lần đầu tiên.

Các bạn thân mến, tôi mời gọi các bạn hãy trở thành những nhân vật chính mới trong việc dệt nên những mạng lưới mới có khả năng hòa hợp mọi lãnh vực của đời sống. Hãy dệt nên một xã hội được đổi mới, nơi thời gian thấm đượm sự vĩnh hằng, nơi văn hóa gìn giữ ký ức và thúc đẩy đối thoại, nơi giáo dục cổ võ việc tìm kiếm chân lý bằng tinh thần phản biện, nơi nghệ thuật khơi dậy sự kinh ngạc và tạo nên những cảm xúc cao đẹp, nơi doanh nghiệp nhìn nhận phẩm giá con người và nơi lao động vẫn là nguồn mạch của niềm hy vọng.

Chúng ta hãy trở thành những nhân vật chính mới bằng cách lắng nghe lời khuyên của Thánh Phaolô: “Vui với người vui, khóc với người khóc. Hãy đồng tâm nhất trí với nhau, đừng tự cao tự đại, nhưng ham thích những gì hèn mọn. Anh em đừng cho mình là khôn ngoan, đừng lấy ác báo ác, hãy chú tâm vào những điều mọi người cho là tốt. Hãy làm tất cả những gì anh em có thể làm được, để sống hoà thuận với mọi người (Rm 12:15–18). Vì tất cả những điều này sẽ quyết định liệu trong tương lai, “nhân tính của chúng ta trong tất cả sự vĩ đại của nó” có tiếp tục tỏa sáng hay không. Chân thành cảm ơn các bạn.

Vậy, tất cả chúng ta hãy trở thành những người xây dựng cộng đồng mới này.

Chân thành cảm ơn các bạn và chúc những điều tốt đẹp nhất đến với mọi người.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 09/06/2026]


Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Tây Ban Nha (6–12 tháng 6 năm 2026) – Gặp gỡ các Nghị sĩ Quốc hội Tây Ban Nha tại “Palacio de las Cortes”, ngày 08.06.2026

Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Tây Ban Nha (6–12 tháng 6 năm 2026) – Gặp gỡ các Nghị sĩ Quốc hội Tây Ban Nha tại “Palacio de las Cortes”, ngày 08.06.2026

Chuyến Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Tây Ban Nha (6–12 tháng 6 năm 2026) – Gặp gỡ các Nghị sĩ Quốc hội Tây Ban Nha tại “Palacio de las Cortes”, ngày 08.06.2026

*******

Vào lúc 9 giờ 30 sáng nay, sau khi dâng Thánh lễ riêng, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã có cuộc gặp riêng với Thủ tướng Chính phủ Tây Ban Nha, ông Pedro Sánchez Pérez-Castejón.

Sau đó, Đức Thánh Cha rời Tòa Sứ thần Tòa Thánh vào lúc 10 giờ 15 và di chuyển bằng xe đến điện Palacio de las Cortes để gặp gỡ các Nghị sĩ Quốc hội Tây Ban Nha.

Khi đến nơi vào lúc 10 giờ 30, Đức Thánh Cha Lêô XIV được chào đón tại cửa chính bởi bà Francina Armengol, Chủ tịch Hạ viện, và ông Pedro Rollán Ojeda, Chủ tịch Thượng viện, cùng sáu nhà lãnh đạo khác.

Sau quốc ca Tây Ban Nha và quốc ca Thành quốc Vatican được cử lên, Chủ tịch Hạ viện và Chủ tịch Thượng viện đã tháp tùng Đức Thánh Cha đến Salón de Pasos Perdidos.

Tiếp đó, sau nghi thức chụp hình chính thức, Đức Thánh Cha ký vào sổ Lưu niệm và được tặng một bản sao sách Các Giờ kinh.

Sau đó, tại Salón de Plenos, sau lời chào mừng của Chủ tịch Hạ viện, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã đọc diễn văn của ngài.

Kết thúc cuộc gặp gỡ, Đức Thánh Cha di chuyển bằng xe đến trụ sở Hội đồng Giám mục Tây Ban Nha.

Sau đây là bài diễn văn Đức Thánh Cha gửi tới những người hiện diện trong cuộc gặp gỡ:


DIỄN VĂN CỦA ĐỨC THÁNH CHA


Thưa Ngài Thủ tướng,
Thưa Bà Chủ tịch Hạ viện,
Thưa Ngài Chủ tịch Thượng viện,
Thưa Ngài Chủ tịch Tòa án Hiến pháp,
Thưa Bà Chủ tịch Tòa án Tối cao và Hội đồng Tư pháp Tối cao,
Thưa Quý vị Dân biểu và Thượng nghị sĩ,

Thưa quý bà và quý ông,

Tôi xin cảm ơn Bà Chủ tịch vì những lời chào mừng nồng hậu, cũng như lời mời mà Tòa Thánh đã nhận được nhân chuyến viếng thăm đất nước này. Tôi cũng vô cùng cảm kích trước sự tiếp đón dành cho tôi tại Cung điện Quốc hội lịch sử này, một trung tâm nổi bật của đời sống thể chế, pháp lý và dân chủ của Vương quốc Tây Ban Nha. Tôi đến trước quý vị với tư cách là Giám mục Rôma và Mục tử của Giáo hội Công giáo, ý thức rằng sứ mạng được trao phó cho Đấng Kế vị Thánh Tông đồ Phêrô, như nguyên lý và nền tảng của sự hiệp nhất giữa các Giám mục và các tín hữu (x. Lumen Gentium, 23), đặt Tòa Thánh vào vị thế đặc biệt trong cuộc đối thoại với các dân tộc và các quốc gia.

Sự hiện diện của tôi giữa quý vị được hiểu như một cử chỉ gần gũi đối với Tây Ban Nha, trong khuôn khổ hợp tác hỗ tương, đồng thời là một thông điệp được trao gửi trong tinh thần phục vụ con người. Giáo hội “đồng hành cùng nhân loại”, chia sẻ những hy vọng và những vết thương của nhân loại, lắng nghe những câu hỏi của từng thời đại và để cho mình được chất vấn bởi “mọi điều liên quan đến đời sống của con người hôm nay”. Vì thế, khi Giáo hội đề cập đến bất kỳ điều gì liên quan đến đời sống công, Giáo hội thực hiện điều đó trong sự tôn trọng sứ mạng đặc thù của các thể chế và trách nhiệm chính đáng của những người đã đón nhận sự ủy thác lập pháp. Giáo hội nhìn nhận “tính tự trị của các thực tại trần thế” cũng như “sự phân biệt giữa cộng đồng Giáo hội và cộng đồng chính trị”; và chính từ nhận thức đó, Giáo hội cống hiến một suy tư phát sinh từ ước muốn phục vụ công ích và nhắc nhớ về những điều làm cho sự chung sống của con người trở nên thực sự nhân bản (x. Magnifica Humanitas, 18, 19, 22).

Trong nghị trường này, sự chung sống của xã hội được thể hiện dưới hình thức pháp luật. Tại đây, những khác biệt được lắng nghe, được sắp xếp, và khi có thể, được chuyển hóa thành những quyết định chung. Vì thế, vượt lên trên sự đa dạng chính đáng của các lập trường, mọi hoạt động lập pháp cuối cùng đều phải đối diện với một câu hỏi quyết định: quan niệm nào về con người đang truyền cảm hứng cho các đạo luật, và những đạo luật ấy đang xây dựng nên một mô hình xã hội như thế nào?

Về điểm này, Tây Ban Nha sở hữu một di sản vô cùng phong phú. Bản sắc địa lý và chính trị của quốc gia này được đan xen với một lịch sử trong đó đức tin và lý trí, nghệ thuật và pháp luật, truyền thống và tư tưởng đã gặp gỡ nhau theo cách hiệu quả. Trong các nhà thờ chánh tòa và các đại học, trong nền văn học bất hủ, trong các thiết chế pháp lý và trong chính tinh thần của người dân của đất nước, trường tồn một di sản đã định hình nên phương thức sống sự tự do, thực thi công lý và tổ chức đời sống cộng đồng.

Từ những trang sách vượt thời gian của tác phẩm Don Quixote, nơi văn hào Cervantes tuyên bố rằng “tự do… là một trong những món quà quý giá nhất mà trời cao đã ban tặng cho con người” (Don Quixote de la Mancha, II, 58), đến chiều sâu thiêng liêng của Thánh Têrêsa Ávila; từ truyền thống pháp lý vĩ đại của Tây Ban Nha đến những trăn trở siêu hình của Unamuno, người từng nhắc nhớ rằng con người “không cam chịu chết đi hoàn toàn” (The Tragic Sense of Life, I), Tây Ban Nha đã biết nhìn nhận con người không chỉ đơn thuần như một bánh răng trong trật tự xã hội, kinh tế hay chính trị. Quốc gia này đã công nhận con người là một thụ tạo mở ra trước chân lý, được ban cho sự tự do, và được thúc đẩy bởi cơn khát vĩnh cửu mà không một thực tại trần thế nào có thể thỏa mãn — nói cách ngắn gọn, đó là một con người mà phẩm giá luôn vượt trên mọi giá trị thực dụng và là đối tượng phục vụ của mọi hoạt động lập pháp.

Vì lý do đó, hôm nay khi nói về con người, suy tư này dĩ nhiên dẫn chúng ta đến Salamanca và tư tưởng đã trưởng thành tại đó. Sự hiện diện mang tính biểu tượng trong hội trường này của Vua Ferdinand và Hoàng hậu Isabella gợi lại thời điểm Tây Ban Nha phải đối diện với những trách nhiệm lịch sử mang tầm vóc hoàn vũ. Vài năm sau đó, với sự sáng suốt đặc biệt, Salamanca đã thực hiện công cuộc suy tư về đạo đức và pháp lý mà hoàn cảnh đòi hỏi. Tại đại học đó, cách đây năm thế kỷ, khi những thế giới mới và những tiềm năng bao la đang mở ra trong các mối tương quan giữa các dân tộc, một số bậc thầy đã hiểu rằng không thể viện dẫn lý trí để hợp thức hóa bất cứ hình thức quyền lực hay lợi ích riêng nào được cho là tiện lợi. Vì thế, họ đã đưa vào việc phân định lịch sử câu hỏi về giá trị không thể giản lược của mỗi con người cũng như về các giới hạn đạo đức của quyền lực. Phải thừa nhận rằng xã hội và ngay cả Giáo hội không phải lúc nào cũng sống đúng với những hiểu biết sâu sắc được tìm thấy trong truyền thống Kitô giáo của mình.

Tuy nhiên, câu hỏi đó đã mở ra một chân trời trí tuệ và đạo đức vượt lên trên khoảnh khắc lịch sử của nó. Trực giác về totus orbis — về một cộng đồng nhân loại rộng lớn hơn bất kỳ quyền lực riêng biệt nào — đã cho phép khẳng định sự hiện hữu của các mối ràng buộc pháp lý và đạo đức giữa các dân tộc. Từ Tây Ban Nha, những suy tư của trường Salamanca — đặc biệt là của Tu sĩ Francisco de Vitoria cùng với các tu sĩ Dòng Đa Minh và Dòng Tên — đã góp phần định hình một ý thức pháp lý và đạo đức có khả năng nhắc nhớ rằng quyền bính luôn đi kèm với trách nhiệm, và mọi con người đều phải được nhìn nhận như chủ thể của các quyền lợi và nghĩa vụ. Khát vọng đó vẫn tiếp tục vang vọng ngày hôm nay: rằng phẩm giá, công lý và công ích phải là thước đo cho các mối tương quan xã hội, cả ở cấp độ quốc gia lẫn quốc tế.

Đây là một trong những di sản vĩ đại của Tây Ban Nha: kết hợp giữa hành động lịch sử với sự sáng suốt của lý trí đạo đức. Đóng góp ấy, được khai sinh bên dòng sông Tormes, đã vượt ra khỏi các giảng đường và thư viện, và trở thành một phần của ý thức rộng lớn hơn, được cộng đồng quốc tế chia sẻ, vẫn đang tiếp tục tự hỏi làm cách nào để xây dựng hòa bình đặt nền tảng trong việc nhìn nhận con người chứ không phải trong việc áp đặt sức mạnh. Di sản đó cũng đang sống trong Quốc hội này, mỗi khi các nhà lập pháp tự hỏi làm cách nào để bảo đảm rằng điều có thể thực thi phải là điều công chính, điều hợp pháp phải thực sự mang tính nhân bản, và ý chí của đa số phải bảo vệ những thiện ích thuộc về tất cả mọi người, cũng như tôn trọng những gì mà không một đa số nào có thể vi phạm theo cách hợp pháp.

“Câu hỏi Salamanca” vẫn tiếp tục hướng dẫn công việc của những người phục vụ đời sống công. Ngày nay, những thế giới mới đang mở ra trước mắt chúng ta không còn được đánh dấu trên bản đồ địa lý; chúng mở ra trong công nghệ, kinh tế, y sinh học và không gian kỹ thuật số, nơi quyền lực của con người đang vươn tới những lãnh vực ngày càng nhạy cảm của đời sống cá nhân và xã hội.

Sự tiến bộ mang lại những tiềm năng đáng khâm phục, và ngày nay chúng ta nhìn thấy điều này cách đặc biệt qua sự phát triển của trí tuệ nhân tạo và những công nghệ mới. Như tôi đã nhắc đến trong thông điệp gần đây của tôi, công nghệ tự nó không mang tính trung lập, bởi vì nó mang khuôn mặt của những người thiết kế, tài trợ, điều hành và sử dụng nó (x. Magnifica Humanitas, 9); vì thế, trước những biến đổi của thời đại chúng ta, việc phân định cần phải tập trung vào vị trí của con người trong các quyết định của chúng ta, cũng như vào cách thức mà phẩm giá của lao động, tình liên đới, chính sách xã hội và công ích đang được giải quyết theo những phương thức mới hiện nay.

Việc phân định này bắt đầu từ một khẳng định nền tảng: mọi xã hội thực sự công bình đều được xây dựng trên sự nhìn nhận phẩm giá bất khả xâm phạm của con người. Phẩm giá ấy có trước mọi sự công nhận của Nhà nước và không bị lệ thuộc vào sự đồng thuận xã hội thường thay đổi hoặc vào ý muốn nhất thời của đa số tại bất kỳ thời điểm nào (x. Đức Bênêđictô XVI, Diễn văn tại Quốc hội Liên bang Đức, ngày 22 tháng 9 năm 2011). Nó thuộc về mỗi con người bởi chính sự hiện hữu của họ; và vì thế, nó phải hướng dẫn mọi hệ thống pháp luật thực định (positive legal system). Đức tin Kitô giáo công bố phẩm giá đó dựa trên nền tảng Mặc khải; lý trí con người có thể nhận biết nó như một đòi hỏi được ghi khắc trong chân lý về con người (x. sđd.). Khi sự xác tín này vẫn sống động, pháp luật trở thành sự bảo vệ dành cho mọi người và là sự bảo đảm chống lại việc áp đặt các lợi ích và chương trình hoạt động cục bộ.

Trên nền tảng này, hôm nay tôi cảm thấy có bổn phận nói một lời vừa ôn hòa vừa chắc chắn với những vị đang gánh vác trọng trách trong việc thiết lập trật tự pháp lý cho sự chung sống xã hội. Sự chung sống này có thể bị đe dọa bởi nền văn hóa vứt bỏ, như Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nhiều lần cảnh báo (x. Diễn văn trước Đại hội Toàn thể của Hàn lâm viện Giáo hoàng về Sự sống, 27 tháng 9 năm 2021). Theo nghĩa này, nếu sự sống không còn được nhìn nhận như một giá trị nền tảng, thì các xã hội của chúng ta sẽ có tương lai như thế nào? Một cộng đồng đẩy vào bóng tối những thai nhi chưa chào đời, người già, người bệnh, người đau khổ trong âm thầm, hoặc những người hoàn toàn lệ thuộc vào sự chăm sóc của người khác, có thể được gọi là hoàn toàn chính đáng không? Việc bảo vệ sự sống con người không phải là vấn đề thuộc đảng phái hay lợi ích tôn giáo; đó là một mục tiêu của nền văn minh. Mọi sự sống con người phải được công nhận và bảo vệ từ lúc thụ thai cho đến khi kết thúc tự nhiên, trong mọi hoàn cảnh sống. Khi xác tín này bị mờ nhạt, những người dễ bị tổn thương nhất sẽ là nạn nhân đầu tiên, và pháp luật mất đi ý nghĩa sâu xa nhất của nó: phục vụ và bảo vệ mỗi con người. Vì thế, sự vĩ đại về đạo đức của một quốc gia được biểu lộ trước hết qua khả năng đồng hành, bảo vệ và yêu thương những sự sống mong manh nhất.

Công ích, theo một nghĩa nào đó, là “biểu hiện xã hội của phẩm giá được nhìn nhận nơi mỗi con người” (Magnifica Humanitas, 59). Nó không đơn thuần bao hàm tổng số các lợi ích riêng lẻ, nhưng là “tổng hòa những điều kiện của đời sống xã hội cho phép các nhóm xã hội và từng thành viên của nó đạt tới sự viên mãn cho bản thân một cách tương đối trọn vẹn và dễ dàng hơn” (Gaudium et Spes, 26). Khi công ích không còn là chân trời chung, hoạt động công có nguy cơ bị phân mảnh thành những lợi ích cục bộ, không còn khả năng bảo vệ những gì thuộc về tất cả mọi người.

Trong bối cảnh này, gia đình — thực tại nhân bản nền tảng và là nền móng tự nhiên của cộng đồng — mang một tầm quan trọng đặc biệt. Trong gia đình, các thế hệ đan xen và một ký ức sống động được truyền lại, mang đến sự liên tục nội tại cho xã hội. Nơi nào gia đình được nâng đỡ, sự ổn định tinh thần và xã hội của các quốc gia cũng được củng cố. Gia đình sẽ luôn là ngôi trường đầu tiên của con người, nơi người ta học được, trước bất kỳ nơi nào khác, ngữ pháp căn bản của đời sống chung: đón nhận sự sống, chăm sóc người khác, tha thứ, phục vụ và thuộc về nhau.

Các cơ sở giáo dục cũng giữ một vai trò quyết định trong nhiệm vụ này. Chính tại đó, các thế hệ trẻ có thể học cách tìm kiếm và yêu mến chân lý, suy tư về ý nghĩa cuộc sống và phẩm giá của mỗi con người. Vì thế, nhiều bậc cha mẹ mong muốn con cái mình học cách tương quan với tha nhân, biết tư duy phản biện, và tiếp thu những giá trị vững chắc, đã đặt niềm hy vọng lớn lao vào các cơ sở này, xem đó là những đồng minh quý giá trong việc giáo dục con cái. Sự hợp tác đó phải luôn tôn trọng “quyền ưu tiên và không thể chuyển nhượng” của cha mẹ trong việc “lựa chọn loại hình giáo dục và đào tạo cho con cái mình, theo cách thức phù hợp với những xác tín về đạo đức, văn hóa và tôn giáo của họ” (x. Magnifica Humanitas, 143; x. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, điều 18.4).

Việc khẳng định phẩm giá con người không thể dừng lại ở mức trừu tượng khi có quá nhiều người đang bị buộc phải bỏ lại tất cả sau lưng để tìm kiếm hòa bình, an ninh và một tương lai. Thảm kịch di cư ngày nay cũng đang thách thức lương tâm của các quốc gia và nền tảng đạo đức của trật tự quốc tế. Không biết bao nhiêu người nam, nữ và trẻ em, vì những hoàn cảnh thường rất bi đát, bị buộc phải rời bỏ cộng đồng của mình, bỏ lại những người thân yêu, lịch sử và các mối dây gắn bó của họ. Thực tại này vượt ra ngoài mọi phân tích về nhân khẩu học hay kinh tế thuần túy: nó cấu thành một vấn đề đạo đức và pháp lý cách đặc biệt. Bất cứ nơi nào con người bị phân biệt đối xử vì nguồn gốc quốc gia, sắc tộc, tôn giáo hay ngôn ngữ, hoặc vì tình trạng kinh tế và xã hội của họ, thì nguyên tắc phổ quát về phẩm giá bình đẳng của con người đang bị vi phạm một cách nghiêm trọng.

Tình cảnh của người di cư và người tị nạn đòi hỏi một câu trả lời tập trung vào con người, giải quyết các nguyên nhân gốc rễ buộc họ phải ra đi, và vượt lên trên việc quản lý các dòng người di cư. Điều này làm nảy sinh hai yêu cầu về công bằng xã hội: mở ra những con đường an toàn và hợp pháp, sự đón nhận tôn trọng cùng những cơ hội hội nhập thực sự; đồng thời, thúc đẩy quyền được ở lại trên chính mảnh đất quê hương mình, nỗ lực bảo đảm rằng không ai phải rời bỏ nhà cửa chỉ vì vắng bóng hòa bình, an ninh hoặc những điều kiện sống xứng đáng, kể cả do những bất bình đẳng kinh tế và hệ quả của cuộc khủng hoảng khí hậu (x. Magnifica Humanitas, 81).

Trong những năm gần đây, các tuyến đường ngày càng trở nên nguy hiểm đã cho thấy cái giá phải trả vô cùng lớn của thực trạng này, vốn thường bị che giấu hoặc bị bỏ qua. Nhiều người đã trở thành con mồi cho những kẻ buôn người và đưa người lậu, những kẻ lợi dụng sự tuyệt vọng của họ. Cần phải tăng cường các biện pháp phòng ngừa, giải cứu và hỗ trợ các nạn nhân, đặc biệt trong khuôn khổ hợp tác khu vực và đa phương.

Không một quốc gia nào có thể tự mình đối diện với một thách thức có tầm mức lớn như vậy. Vì thế, cần phải có một phản ứng phối hợp, hỗ trợ và hiệu quả, một phản ứng có khả năng bảo đảm sự bảo vệ, tiếp đón và những cơ hội hội nhập thực sự cho người di cư. Khi phản ứng của các thể chế trở nên dễ tiếp cận, công bằng và có sự phối hợp, các biên giới sẽ không còn là những nơi bị bỏ mặc, nhưng có thể trở thành những không gian cho sự bảo vệ đầy trách nhiệm đối với phẩm giá con người.

Thưa quý bà và quý ông,

Thế giới đang trải qua một cuộc khủng hoảng sâu sắc về tinh thần và văn hóa, biểu hiện qua nhiều hình thức bạo lực, phân cực và mất lòng tin lẫn nhau. Trong bối cảnh đó, hòa bình nổi lên như một khát vọng chính trị, và hơn thế nữa, như một mệnh lệnh đạo đức đích thực. Hòa bình đòi hỏi một diễn ngôn công biết tôn trọng những người có suy nghĩ khác biệt, những thể chế tận tâm thúc đẩy đối thoại, một ký ức lịch sử biết tìm kiếm sự thật và hòa giải, cùng một đời sống xã hội có khả năng nuôi dưỡng tình bằng hữu công dân và sự tôn trọng lẫn nhau ngay giữa những bất đồng.

Trên phương diện quốc tế, hòa bình đòi hỏi lòng can đảm ngoại giao, trách nhiệm đạo đức và một tầm nhìn về tương lai đặt nền trên sự tôn trọng bản sắc của mỗi dân tộc cũng như trong nghĩa vụ của các nhà nước trong việc giải quyết các tranh chấp của họ thông qua những biện pháp hòa bình mà luật pháp quốc tế cung cấp. Sau cùng, mọi cuộc chiến tranh đều là một thất bại đau đớn của khả năng đàm phán, đồng thời cũng là thất bại của chính ý thức nhân loại chung vốn nhìn nhận những mối ràng buộc công lý giữa các quốc gia. Vũ khí có thể áp đặt một sự im lặng tạm thời, nhưng không bao giờ có thể xây dựng một nền hòa bình chân chính và lâu bền.

Vì thế, thật đáng lo ngại khi tại nhiều nơi trên thế giới — kể cả ở châu Âu — việc tái vũ trang một lần nữa đang được trình bày như một phản ứng gần như không thể tránh khỏi trước sự mong manh của tình hình quốc tế. Tuy nhiên, an ninh đích thực phát sinh từ công lý, từ đối thoại kiên trì, từ sự tôn trọng luật pháp quốc tế và từ một nền chính trị có khả năng đặt đời sống của các dân tộc cao hơn những lợi ích tìm được từ chiến tranh. Sự phát triển của các công nghệ mới và trí tuệ nhân tạo trong lãnh vực quân sự cũng đòi hỏi một sự giám sát đạo đức nghiêm ngặt, để các quyết định liên quan đến sự sống và cái chết không bao giờ bị giao phó cho các hệ thống tự động cũng như không bị tách rời khỏi trách nhiệm đạo đức của con người (x. Diễn văn tại Đại học La Sapienza, 14 tháng 5 năm 2026).

Cộng đồng quốc tế được kêu gọi tái khám phá giá trị không thể thiếu của đối thoại như một con đường kiên trì dẫn tới những thỏa thuận công bằng và bền vững, được thiết lập trên sự tôn trọng các hiệp ước, trên tính minh bạch của hành động ngoại giao và trên ý chí chân thành đặt ưu tiên hòa bình hơn sử dụng vũ lực. Từ đó nảy sinh niềm tin tưởng và hy vọng.

Như khẩu hiệu của Liên minh Châu Âu, In varietate concordia (Hiệp nhất trong đa dạng), nhắc nhở chúng ta, sự hiệp nhất đích thực không đồng hóa, mà đúng hơn là liên kết trong sự đa dạng, biến các nền văn hóa, những cảm thức và các truyền thống trở thành một cơ hội để làm phong phú lẫn nhau.

Tương tự như vậy, trong chính các xã hội, việc xây dựng một văn hóa hỗ tương là điều cấp thiết. Chủ nghĩa đa nguyên chính trị không được biến thành sự bài xích liên tục đối với đối thủ của mình. Trong một xã hội trưởng thành, ngay cả xung đột cũng có thể trở thành con đường dẫn đến hòa bình, khi những khác biệt được làm dịu đi nhờ sự lắng nghe và được định hướng tới việc nhìn nhận các nhu cầu, khát vọng và khả năng của tất cả mọi người.

Nhưng hòa bình không thuần túy là một thực tại chính trị hay thể chế. Hòa bình còn là hoa trái của lương tâm, nơi lòng oán hận, sự thờ ơ và hận thù nhường chỗ cho hòa giải. Vì lý do đó, hòa bình cũng được thiết lập và bảo vệ bằng ngôn ngữ. Lời nói có thể mở ra những con đường hoặc khép chúng lại; có thể soi sáng thực tại hoặc bóp méo thực tại đến mức làm cho sự gặp gỡ trở nên bất khả thi. Do đó, những người nắm giữ trách vụ công có nghĩa vụ đặc biệt phải thận trọng trong lời nói của mình nhằm giải giới ngôn từ (x. Sứ điệp Mùa Chay 2026, ngày 13 tháng 2 năm 2026). Sự cương quyết không đòi hỏi phải khinh miệt; bất đồng không kéo theo sự hạ nhục.

Từ sự tôn trọng tha nhân này cũng phát sinh nghĩa vụ phải bảo vệ không gian nơi những xác tín, lương tâm và tương quan của họ với Thiên Chúa được trưởng thành. Việc quan tâm đến chiều kích nội tâm này cho phép hiểu rõ hơn một vấn đề mang tính quyết định đối với mọi xã hội thực sự dân chủ: tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo, một quyền căn bản bảo vệ lãnh vực riêng tư sâu kín nhất của con người. Quyền tự do mà nhà nước đương đại được xây dựng trên đó, nếu là chân thực, sẽ nhìn nhận chiều kích tôn giáo của con người, tôn trọng và bảo vệ nó về mặt pháp lý; và bảo đảm rằng đức tin không phải là lý do khiến một người bị mất đi sự đóng góp của mình cho xã hội.

Không lẫn lộn lãnh vực pháp lý với lãnh vực đạo đức, nhưng cũng cần nhắc lại rằng tự do phải được hiểu trong tính toàn vẹn của nó. Tự do không đơn thuần có nghĩa là thoát khỏi sự ép buộc hay có nhiều sự lựa chọn; nó có nghĩa là có khả năng nhận biết điều thiện và cam kết với điều thiện một cách có trách nhiệm. Vì thế, mọi xã hội thực sự tự do cũng đòi hỏi phải có những giới hạn thích hợp đối với quyền lực công, để tự do của các cá nhân, cộng đồng và các hội đoàn không bị hạn chế cách bất hợp lý (x. Dignitatis Humanae, 1). Từ quan điểm này, tính tự trị chính đáng của trật tự trần thế không bao giờ xem mình là thù nghịch với tôn giáo. Đức tin không tìm cách áp đặt chính nó bằng những đặc quyền hay sự ép buộc; nhưng đức tin cũng không thể bị buộc phải im tiếng như thể nó không có liên hệ gì đến đời sống công.

Trong bối cảnh này, ấn tín bí tích của tòa giải tội giữ một tầm quan trọng đặc biệt đối với Giáo hội Công giáo. Nó là một phần của lãnh vực rộng lớn hơn của tự do tôn giáo, bảo đảm cho các cộng đồng tín ngưỡng một không gian riêng cho đời sống, tổ chức và kỷ luật nội bộ của họ (x. Hội nghị về An ninh và Hợp tác Châu Âu, Định ước Helsinki, 1 tháng 8 năm 1975, Nguyên tắc VII). Bảo vệ nó về mặt pháp lý, như được thực hiện theo cách tương tự trong một số ngành nghề, có nghĩa là gìn giữ một không gian thánh thiêng của tự do nội tâm, nơi người tín hữu có thể mở lòng linh hồn mình ra trước Thiên Chúa mà không lo sợ những áp lực bên ngoài, như các quy chuẩn quốc tế cũng công nhận (x. Tòa án Hình sự Quốc tế, Quy tắc Thủ tục và Chứng cứ, Quy tắc 73.3).

Thưa quý bà và quý ông,

Cho phép tôi dừng lại đôi chút để suy tư về một vài hình ảnh trang hoàng trong nghị trường này. Trong nghị trường này, ánh sáng tự nhiên tràn vào qua giếng trời trên đỉnh vòm của căn phòng. Ánh sáng từ trên cao đó nhắc nhở chúng ta rằng chính trị cũng phải biết nhìn nhận một quyền năng có trước và vượt trên chính nó.

Tương tự như thế, các bức họa ở phần trên của bức tường chính, mô tả việc đón nhận Tin Mừng và Mười Điều răn, nhắc nhở chúng ta về một điều cốt yếu. Không nhầm lẫn trật tự chính trị với trật tự tôn giáo, nhưng những biểu tượng này mời gọi chúng ta nhận ra rằng nền tự do hiện đại cũng đã được định hình bởi một tiến trình giáo dục lương tâm lâu dài, được ghi dấu sâu đậm bởi truyền thống Kitô giáo. Trong ngôi trường nội tâm ấy, con người đã học được rằng luật pháp phải phục vụ điều thiện, công lý phải đặt giới hạn cho sức mạnh, quyền lực cần có tính hợp pháp, người nghèo là thành phần trọn vẹn của cộng đồng, người ngoại kiều phải được đón nhận phù hợp với phẩm giá của họ, và sự sống con người không bao giờ được đối xử như một món hàng.

Một đạo luật không đạt tới sự vĩ đại thực sự của nó chỉ đơn thuần bằng việc đã được ban hành đúng hình thức; nó đạt được điều đó, ngoài việc có hiệu lực về mặt hình thức, khi nó có thể đứng vững trước phẩm giá của con người và vượt qua cuộc thử thách đó mà không phải hổ thẹn.

Vì thế, tôi mời gọi quý vị hãy nâng tầm nhìn của mình ra thế giới chung quanh, không phải để quay lưng với thực tại, nhưng để nhớ rằng mọi quyết định của các cơ quan công đều tác động đến những con người cụ thể, nhất là những người ít có quyền hạn nhất để làm cho tiếng nói của họ được lắng nghe. Sự rộng lớn trong tầm nhìn của một người chính là việc nhìn sâu hơn vào những gì thực sự đang bị tác động trong mỗi quyết định công. Đó là lý do vì sao, bên cạnh các giải pháp kỹ thuật và những cải cách pháp lý, một sự canh tân đạo đức cũng rất cần thiết.

Tây Ban Nha có nhiều điều để cống hiến cho hành trình này. Quốc gia này sở hữu một ngôn ngữ làm cầu nối giữa các châu lục; một truyền thống văn hóa, pháp lý và tinh thần đã thành công trong việc thúc đẩy cuộc đối thoại giữa đức tin và lý trí, giữa pháp luật và lương tâm, giữa sự hiệp nhất và tính đa dạng. Kinh nghiệm lịch sử đó cũng nhắc chúng ta nhớ về giá trị của sự hòa hợp và của nỗ lực kiên trì xây dựng một xã hội hòa bình và công chính.

Ước mong dân tộc cao quý này không bao giờ đánh mất cái nhìn về cội nguồn của mình, cũng như lòng can đảm để hướng về tương lai. Ước mong Tây Ban Nha tiếp tục là miền đất của sự gặp gỡ, của văn hóa, của tình liên đới và của niềm hy vọng. Ước mong đời sống công của quốc gia này luôn biết kết hợp sự kiên định trong xác tín với sự cao thượng trong đối thoại và sự vĩ đại trong phục vụ.

Xin Thiên Chúa ban hòa bình cho mọi dân tộc trên mặt đất, ban sự hòa hợp cho các gia đình và sự bình an cho các lương tâm. Xin cho những ngày tháng thịnh vượng, công lý và hòa bình bền vững ngự trị trên Vương quốc Tây Ban Nha, miền đất được ghi dấu bởi dấu chân tông đồ của Thánh Giacôbê và bởi sự hiện diện hiền mẫu của Đức Mẹ Cột. Xin chân thành cảm ơn quý vị.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 09/06/2026]