Trang

Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2026

Tiếp kiến chung, ngày 17.06.2026

Tiếp kiến chung, ngày 17.06.2026

Tiếp kiến chung, ngày 17.06.2026

Buổi Tiếp kiến chung sáng nay diễn ra vào lúc 10 giờ tại Quảng trường Thánh Phêrô, nơi Đức Thánh Cha Lêô XIV gặp gỡ các nhóm hành hương và tín hữu đến từ nước Ý và khắp nơi trên thế giới.

Trong bài huấn từ bằng tiếng Ý, Đức Thánh Cha tập trung bài giáo lý của ngài vào chuyến Tông du vừa qua tại Tây Ban Nha (Bài đọc: Ga 4:35.38).

Sau phần tóm lược bài giáo lý bằng các ngôn ngữ khác nhau, Đức Thánh Cha gửi lời chào đặc biệt đến các tín hữu hiện diện. Sau đó, ngài bày tỏ sự hài lòng về thỏa thuận đạt được giữa nước Cộng hòa Hồi giáo Iran và Hoa Kỳ, dự kiến sẽ được ký vào thứ Sáu, đồng thời mời gọi mọi người cầu nguyện cho cuộc chiến tại Ukraine chấm dứt.

Buổi Tiếp kiến chung kết thúc với kinh Lạy Cha và Phép lành Tòa thánh.

Bài Giáo lý của Đức Thánh Cha: chuyến Tông du tại Tây Ban Nha


Anh chị em thân mến, chào anh chị em và xin chào mừng!

Hôm nay, tôi muốn chia sẻ một vài suy tư về chuyến Tông du mà tôi đã thực hiện tuần trước đến Tây Ban Nha, với các chặng dừng chân tại Madrid, Barcelona, Đan viện Montserrat và quần đảo Canary.

Sau chuyến hành trình dài đến bốn quốc gia châu Phi, lần này tôi thấy được hòa mình vào một quốc gia châu Âu có truyền thống Công giáo lâu đời và hết sức phong phú. Và điều hiển nhiên là tại Tây Ban Nha hôm nay, một đất nước đã trải qua những thay đổi đáng kể về xã hội và văn hóa, Đức Giáo hoàng đã được đón tiếp ở khắp nơi với lòng nhiệt thành và sự sẵn sàng lắng nghe. Vì điều đó, tôi cảm tạ Thiên Chúa và cám ơn toàn thể người dân Tây Ban Nha, Nhà Vua và các nhà lãnh đạo chính quyền dân sự, các giám mục và các cộng đoàn Giáo hội.

Dân Thiên Chúa đã mang lại cho tôi niềm an ủi lớn lao qua việc bày tỏ đức tin và lòng mến mộ của họ trong niềm vui. Về phần mình, tôi đã củng cố đức tin cho các tín hữu, và với tư cách là Giám mục Rôma, tôi khích lệ họ vượt qua mọi hình thức chia rẽ và xung đột bằng cách luôn thúc đẩy sự hiệp thông, đối thoại và hiệp nhất trong đa dạng. Đó chính là sứ vụ của Đấng Kế vị Thánh Phêrô, một sự phục vụ được biểu lộ cách cụ thể qua các chuyến tông du, mỗi lần đều thích ứng với hoàn cảnh Giáo hội và xã hội của các quốc gia được viếng thăm.

Trong trường hợp của Tây Ban Nha, tôi vui mừng nhận thấy không biết bao nhiêu người thuộc mọi độ tuổi và trong mọi hoàn cảnh đã mong chờ chuyến viếng thăm của Đức Giáo hoàng: ở khắp nơi tôi đều gặp những đám đông đón tiếp tôi với sự nồng nhiệt rất lớn. Việc này không phải là điều đương nhiên, và rất đáng để chúng ta suy nghĩ. Dĩ nhiên, sự tham dự như vậy trước hết diễn tả đức tin của người dân Tây Ban Nha như tôi đã nói; đồng thời, tôi tin rằng điều đó còn bộc lộ một nhu cầu phổ biến là tìm kiếm sự hiệp nhất trên một nền tảng chân thực và sâu sắc, một nền tảng không theo hệ tư tưởng cũng không dựa trên những lợi ích cục bộ. Nền tảng ấy, xét cho cùng, chỉ có Đức Kitô mới có thể bảo đảm, và Tin Mừng, thông qua tiến trình “hội nhập văn hóa” cần thiết, có thể truyền tải vào đời sống của các dân tộc. Tin Mừng có thể làm được điều đó vì thông điệp của Tin Mừng đáp ứng trọn vẹn cả hai nhu cầu này: tìm kiếm chân lý và khát khao công lý.

Tại MadridBarcelona, chúng tôi đã quy tụ trong những nhà thờ chánh tòa nguy nga cũng như trong các sân vận động hiện đại. Chúng tôi đọc Kinh Mân côi tại Đan viện Montserrat. Chúng tôi cử hành phụng vụ tại Vương cung Thánh đường Sagrada Família, một biểu tượng hùng vĩ, một bản giao hưởng của đá và ánh sáng nói với mọi người về mầu nhiệm Kitô giáo. Cuộc gặp gỡ giữa sự cổ kính và hiện đại, giữa truyền thống Công giáo và văn hóa đương đại này đã giúp tôi trực tiếp cảm nhận đặc tính của châu Âu, sự giàu có vô giá của châu lục này như một thực tại sống động chứ không phải là điều thuộc về quá khứ. Đó là một di sản cần được gìn giữ cẩn trọng, để có thể được đầu tư vào thế giới toàn cầu hóa ngày nay với những thách đố trọng đại của nó: hòa bình, sinh thái toàn diện, phát triển công bằng và bền vững, và sự tôn trọng phẩm giá con người. Đó là những thách đố mà Công đồng Vatican II đã nhận thức rõ ràng, và Huấn quyền tiếp nối sau đó đã nhiều lần trở lại với những vấn đề ấy, cho đến Thông điệp gần đây của tôi Magnifica humanitas, nhằm bảo vệ nhân vị trong thời đại trí tuệ nhân tạo.

Qua nhiều cuộc gặp gỡ khác nhau, tôi nhận thấy nhu cầu được lắng nghe Tin Mừng của niềm hy vọng dành cho nhân loại hôm nay qua tiếng nói của Đức Giáo hoàng, một nhân loại đang bị thử thách nặng nề bởi những hậu quả tiêu cực của một mô hình phát triển lừa dối. Nhu cầu này, được diễn tả qua nhiều chứng từ mà tôi đã có cơ hội lắng nghe – những chứng từ có lúc rất xúc động, có lúc đầy tính xây dựng – tôi cũng nhận ra, và trên hết là nhận ra nơi khuôn mặt của những người bé nhỏ và nghèo khổ mà tôi đã gặp: một thiếu nhi đã đọc lá thư của em cho tôi tại giáo xứ; một số nạn nhân của những vụ lạm dụng đang xin được lắng nghe; các tù nhân đang chờ đợi tôi trong nhà giam; các bạn trẻ đầy lo âu và khát vọng; những người di dân trong các trung tâm tiếp nhận tại quần đảo Canary.

Chính tại đó, ở quần đảo Canary – chặng dừng chân cuối cùng trong hành trình của chúng tôi – mà tôi đã có được một cái nhìn toàn diện. Một mặt, nó được gợi mở từ chính vị trí địa lý của quần đảo này; và mặt khác, từ thực tế của Giáo hội địa phương đang đón tiếp một số lượng lớn người di cư cưỡng bức, chủ yếu đến từ châu Phi. Chúng ta biết rằng hiện tượng di cư rất phức tạp và đòi hỏi những kế hoạch hành động mang tính hệ thống và phối hợp. Tuy nhiên, cách lý giải này mở ra một góc nhìn khác, rộng lớn hơn: nó giúp chúng ta hiểu rằng chúng ta được mời gọi đọc lại Tin Mừng trong thế giới hôm nay, trao đổi với nhau những ân ban của các nền văn hóa, và đặc biệt là những hoa trái được sinh ra trong các nền văn hóa đó nhờ tính hiệu quả của sứ điệp Đức Kitô. Và một trong những hoa trái ấy chính là sự đối thoại giữa con người với con người và giữa các dân tộc với nhau, cuộc gặp gỡ trong tinh thần huynh đệ, giúp chúng ta khám phá và trân trọng những giá trị của nhau. Con đường này không dễ dàng; nó đòi hỏi thiện chí và sự trợ giúp của Thiên Chúa, nhưng đó là con đường dẫn đến nền văn minh tình thương.

Anh chị em thân mến, khẩu hiệu của Chuyến Tông du này là “Alzad la mirada”, “Hãy ngước mắt lên!” (x. Ga 4:35). Đây là những lời của Chúa Giêsu nói với các môn đệ đầu tiên, để dạy họ nhìn thấy nơi con người và các đám đông niềm khao khát sự sống, chân lý và sự viên mãn. Chúa lặp lại những lời ấy trước hết với tôi, và nhờ ân sủng của Người, tôi cũng đã cảm nghiệm được điều đó trong chuyến đi này. Hôm nay, tôi muốn chia sẻ lời mời gọi ấy với anh chị em: chúng ta hãy ngước mắt lên! Chúng ta hãy học nơi Chúa Giêsu cách nhìn tha nhân, nhìn con người và nhìn thế giới "bằng đôi mắt của Thiên Chúa", nghĩa là với tình yêu, sự tôn trọng và lòng trắc ẩn.

Sau cùng, tôi cảm ơn tất cả những anh chị em đã cầu nguyện cho sự thành công của Chuyến Tông du này, đặc biệt là các nữ đan sĩ chiêm niệm, những người mà tạ ơn Chúa, rất đông đảo tại Tây Ban Nha. Xin hãy tiếp tục cầu nguyện, để nhờ sự chuyển cầu của Đức Trinh nữ Maria, những hạt giống tôi đã gieo sinh hoa trái dồi dào. Cảm ơn anh chị em!

_________________

Lời kêu gọi của Đức Thánh Cha

Tôi đón nhận với sự hài lòng thỏa thuận đạt được giữa Cộng hòa Hồi giáo Iran và Hoa Kỳ, dự kiến sẽ được ký vào thứ Sáu, như một kết quả đầy khích lệ của cuộc đối thoại và đàm phán kiên trì. Tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với các quốc gia đã nỗ lực tạo điều kiện cho cuộc gặp gỡ giữa các bên và làm cho thỏa thuận này có thể đạt được. Tôi hy vọng rằng thỏa thuận này sẽ góp phần củng cố lòng tin lẫn nhau, an ninh và ổn định tại Trung Đông, bằng việc thúc đẩy những con đường đối thoại và hợp tác giữa các dân tộc.

Trong khi đó, những tin tức đau buồn vẫn tiếp tục xuất hiện liên quan đến cuộc chiến tại Ukraine, vốn đang tiếp tục leo thang: biết bao nạn nhân vô tội, các nhân viên cứu trợ bị sát hại, các nhà thờ và những di sản văn hóa bị lửa tàn phá. Tâm trí tôi hướng về những ai đang khóc thương những người thân yêu của họ, hướng về những người bị thương, và những ai, giữa bạo lực, vẫn tiếp tục phục vụ sự sống với lòng dũng cảm. Tôi mời gọi mọi người cầu nguyện cho cuộc chiến này chấm dứt. Chúng ta hãy xin Chúa mở ra những con đường đối thoại, dập tắt hận thù và làm cho một nền hòa bình công chính và lâu dài trở nên khả thi.

_________________


Lời chào bằng tiếng Anh

Tôi thân ái chào mừng tất cả các anh chị em hành hương và khách viếng thăm nói tiếng Anh đang hiện diện trong buổi Tiếp kiến hôm nay, đặc biệt là những anh chị em đến từ nước Anh, Cameroon, Đài Loan, Philippines và Hoa Kỳ. Khi kỳ nghỉ hè bắt đầu với nhiều người, mong rằng thời gian này trở thành cơ hội để đến gần Chúa hơn qua những giây phút cầu nguyện và nâng đỡ nhau bằng những việc bác ái quảng đại. Tôi khẩn cầu sự bình an và hiệp nhất của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, tuôn đổ xuống trên tất cả anh chị em và gia đình. Xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả anh chị em!


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 18/06/2026]


Sứ điệp video của Đức Thánh Cha nhân dịp "Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới lần thứ Mười của Áo", ngày 16.06.2026

Sứ điệp video của Đức Thánh Cha nhân dịp "Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới lần thứ Mười của Áo", ngày 16.06.2026

Sứ điệp video của Đức Thánh Cha nhân dịp "Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới lần thứ Mười của Áo", ngày 16.06.2026

*******

Sau đây là toàn văn Sứ điệp video Đức Thánh Cha Lêô XIV gửi tới các tham dự viên của Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới lần thứ mười của Áo, diễn ra hôm nay tại Cung điện Hofburg, Vienna:

Sứ điệp Video của Đức Thánh Cha



Tôi vui mừng gửi lời chào đến tất cả anh chị em đang tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới lần thứ mười của Áo. Phát triển bền vững, sinh thái học toàn diện và chăm sóc công trình tạo dựng đã và đang là những mối quan tâm trong nhiều thập niên qua. Giáo hội luôn ý thức rằng vấn đề sinh thái mang một chiều kích luân lý. Thật vậy, cuộc khủng hoảng môi trường "không phải là một vấn đề riêng biệt, nhưng đúng hơn là khía cạnh sinh thái của cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội đương đại" (Magnifica Humanitas, 43).

Trong những nỗ lực của anh chị em nhằm phản ứng trước cuộc khủng hoảng hiện nay, tôi khuyến khích anh chị em luôn giữ vững tầm nhìn trong bối cảnh rộng lớn này, đồng thời đề xuất với anh chị em ba chủ đề, dựa trên các nhân đức Kitô giáo là đức tin, đức cậy và đức mến, mà tôi tin rằng có thể hỗ trợ công việc của Hội nghị Thượng đỉnh của anh chị em.

Tôi xin bắt đầu với đức tin. Đối với một số người, đức tin dường như ít có đóng góp cho các vấn đề biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường; tuy nhiên, chiều kích tôn giáo trên thực tế lại là vô cùng cần thiết để giải quyết những vấn đề đó một cách thích đáng. Những ai tin rằng thế giới của chúng ta được Thiên Chúa tạo dựng và tự bản chất là tốt đẹp, đều được thôi thúc đảm nhận một trách nhiệm lớn lao hơn trong việc chăm sóc công trình tạo dựng, vì đó là đòi hỏi của đức tin. "Sống ơn gọi là người gìn giữ công trình của bàn tay Thiên Chúa là điều cốt lõi cho một đời sống nhân đức; đó không phải là một khía cạnh tùy chọn hay thứ yếu trong kinh nghiệm Kitô giáo của chúng ta" (Đức Giáo hoàng Phanxicô, Laudato Si’, 217). Hơn nữa, các tín hữu thuộc nhiều truyền thống khác nhau đều hiểu "công trình tạo dựng" như một món quà của Thiên Chúa. Tương tự như vậy, nhiều tôn giáo khẳng định rằng sự sống là thánh thiêng và vì thế phải được tôn trọng. Do đó, chúng ta có thể nói rằng đức tin tôn giáo củng cố khát vọng chung trong việc bảo vệ sự sống và chăm sóc thiên nhiên.

Quan điểm này nhấn mạnh những nền tảng đạo đức sâu xa mà tôi đã lưu ý trong Thông điệp Magnifica Humanitas vừa được ban hành gần đây, đó là phẩm giá bình đẳng của mọi con người và giá trị của những quyền căn bản của con người; cả hai yếu tố ấy chỉ có thể được bảo đảm cách thỏa đáng qua việc thực thi đúng đắn những nguyên tắc của công ích, đích đến phổ quát của của cải, nguyên tắc bổ trợ, tình liên đới và công bằng xã hội (x. Magnifica Humanitas, 51-81). Những nguyên tắc đó "phải được cân nhắc trong tính toàn thể của chúng, để thấy rõ chúng liên hệ và bổ túc cho nhau như thế nào" (sđd., 46). Những vấn đề thiết yếu đối với cá nhân và xã hội này được liên kết sâu sắc với cuộc khủng hoảng khí hậu, mà như tôi đã nói, là một biểu hiện – và là một biểu hiện mang tính quyết định – của cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội rộng lớn hơn. Thật vậy, nếu những vấn đề này không được giải quyết, thì sẽ không có giải pháp kỹ thuật nào nhằm bảo vệ môi trường có cơ hội đạt được mục tiêu mong muốn của mình. Trong viễn cảnh đó, chúng ta phải dành sự quan tâm đặc biệt đến những người nghèo nhất và người dễ bị tổn thương nhất trước sự suy thoái môi trường. Tôi khuyến khích anh chị em luôn đặt họ ở vị trí hàng đầu trong tâm trí khi đánh giá, hoạch định và triển khai các dự án tiềm năng.

Điều này đưa tôi đến chủ đề thứ hai: đức cậy. Do tính chất toàn cầu của những thách đố mà chúng ta đang phải đối diện, rõ ràng nhiều người đang cảm thấy lo ngại. Quả thật, ngày càng có nhiều nhận thức rằng hòa bình đang bị đe dọa bởi sự thiếu tôn trọng đối với công trình tạo dựng, bởi việc cướp bóc các tài nguyên thiên nhiên và bởi sự suy giảm dần chất lượng cuộc sống do biến đổi khí hậu. Những thách đố đó đòi hỏi sự hợp tác quốc tế, cùng với một chủ nghĩa đa phương gắn kết và có tầm nhìn xa, nhằm tìm ra những giải pháp hiệu quả.

Tuy nhiên, trong các cuộc thảo luận và thương thảo về những vấn đề này, nhiều nỗi sợ khác nhau nổi lên: sợ thay đổi hướng đi, sợ mất quyền lực và sợ những kết quả bất định. Chỉ khi vượt thắng được những nỗi sợ ấy, chúng ta mới có thể cùng nhau làm việc để tìm ra những giải pháp đúng đắn. Tôi nghĩ rằng chính ở đây, các nhà lãnh đạo và các cộng đồng tôn giáo có thể cống hiến một cái nhìn sâu sắc để hỗ trợ những nỗ lực xã hội và môi trường đầy tham vọng, bởi lẽ Kinh Thánh có rất nhiều mẫu gương về cách thức vượt qua nỗi sợ của con người bởi niềm hy vọng, mà xét cho cùng, đó là một ân ban từ chính Thiên Chúa.

Từ góc nhìn này, cho dù có những người bi quan hoặc hoài nghi, niềm hy vọng có thể trở thành một động lực mạnh mẽ. Về điểm đó, nó không những là điều đáng mong ước mà còn thực sự khả thi, khi những tiến bộ đạt được tại COP30 có thể được tiếp nối bằng một sự chuyển đổi công bằng hướng tới các xã hội nơi công ích được đặt cao hơn lợi nhuận, và các mô hình kinh tế được đặt nền tảng trên tình liên đới và phẩm giá con người. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi các quốc gia giàu có hơn phải hoàn thành nghĩa vụ của họ trong việc hỗ trợ tài chính cho các quốc gia nghèo hơn. Chúng ta cũng cần phát triển một khuôn khổ tài chính quốc tế mới lấy con người làm trung tâm, nhằm bảo đảm rằng tất cả các quốc gia, đặc biệt là những quốc gia nghèo nhất và dễ bị tổn thương nhất trước các thảm họa khí hậu, có thể đạt tới tiềm năng trọn vẹn của mình, với phẩm giá của các công dân được tôn trọng (x. Sứ điệp gửi Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi Khí hậu (COP30), ngày 7 tháng 11 năm 2025).

Sau cùng, tôi đi đến chủ đề đức mến. Tôi muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc vun trồng một nền văn hóa chăm sóc đích thực đối với môi trường của chúng ta, bao gồm điều mà Đức Giáo hoàng Phanxicô gọi là "tình yêu dân sự và chính trị" (x. Laudato Si’, 228-232). Tình yêu như thế là chìa khóa cho sự phát triển đích thực, bởi vì “để làm cho xã hội trở nên nhân văn hơn, xứng đáng với nhân vị hơn, thì tình yêu trong đời sống xã hội – chính trị, kinh tế và văn hóa – phải được trao cho một giá trị được đổi mới, trở thành chuẩn mực liên tục và cao nhất cho mọi hoạt động… Trong khuôn khổ đó, cùng với tầm quan trọng của những cử chỉ nhỏ bé thường ngày, tình yêu xã hội thúc bách chúng ta vạch ra những chiến lược lớn lao hơn nhằm ngăn chặn sự suy thoái môi trường và cổ võ một “nền văn hóa chăm sóc” lan tỏa trong toàn xã hội" (Laudato Si’, 231). Tôi hy vọng rằng những cuộc thảo luận của anh chị em sẽ thúc đẩy nền văn hóa chăm sóc này và từ đó góp phần xây dựng nền văn minh tình thương.

Các bạn thân mến, với những suy tư tập trung vào đức tin, đức cậy và đức mến này, tôi cầu nguyện cho Hội nghị Thượng đỉnh của các bạn sinh nhiều hoa trái trong việc thúc đẩy cuộc đối thoại vô cùng cần thiết nhằm tìm kiếm những giải pháp hiệu quả để bảo vệ món quà tuyệt diệu là công trình tạo dựng; đồng thời, tôi khẩn xin Thiên Chúa ban cho tất cả các bạn ơn khôn ngoan và sự bình an của Người.


[Nguồn: vatican.va]
[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 18/06/2026]


“Mỗi trẻ em là một giấc mơ của Thiên Chúa”: 5 khoảnh khắc cảm động nhất của Đức Thánh Cha Lêô XIV tại Tây Ban Nha

“Mỗi trẻ em là một giấc mơ của Thiên Chúa”: 5 khoảnh khắc cảm động nhất của Đức Thánh Cha Lêô XIV tại Tây Ban Nha

Cùng nhìn lại những khoảnh khắc xúc động nhất trong chuyến tông du của Đức Thánh Cha tại Tây Ban Nha, trong đó có hai em nhỏ đã làm tan chảy trái tim và tâm trí của mọi người trên khắp thế giới.

“Mỗi trẻ em là một giấc mơ của Thiên Chúa”: 5 khoảnh khắc cảm động nhất của Đức Thánh Cha Lêô XIV tại Tây Ban Nha

GIỮA BẦU TRỜI: Đức Giáo hoàng Lêô rạng rỡ nụ cười khi đến thăm buồng lái trong chuyến bay ngắn từ Madrid đến Barcelona trên chuyến bay của hãng Iberia Airlines ngày 9 tháng 6 năm 2026.


Alyssa Murphy

16 Tháng Sáu, 2026


Đức Giáo hoàng Lêô đã trở về Thành quốc Vatican sau chuyến tông du ngắn với lịch trình dày đặc tại Tây Ban Nha. Tuy nhiên, các tín hữu Công giáo vẫn tiếp tục nghiền ngẫm về nhiều khoảnh khắc đã lay động mọi trái tim trong chuyến đi sáu ngày của ngài, đặc biệt là những cuộc trò chuyện đầy cuốn hút của ngài với các thiếu nhi.

Dưới đây là năm khoảnh khắc đáng để chúng ta sống lại nhiều lần:

1. Bóng đá, triều đại giáo hoàng và sự nghèo khó: Đức Thánh Cha Lêô trả lời thư của một em nhỏ

“Cứ để trẻ em đến với Thầy,” Chúa Giêsu đã truyền dạy như thế trong các sách Tin Mừng. Một cậu bé 6 tuổi tên là Renzo Ponse Mendoza đã đón nhận lời mời ấy bằng cả tâm hồn, khi viết gửi Đức Thánh Cha Lêô XIV một lá thư đầy sự tò mò hồn nhiên và cả những thắc mắc sâu sắc, chân thành.

Những câu hỏi của Renzo trải dài từ bóng đá cho đến chi tiết không biết lúc nhỏ Đức Thánh Cha có từng muốn làm công việc hiện tại của ngài hay không, trước khi chạm đến các vấn đề nặng nề hơn đang làm bận tâm hồn non nớt của em: tại sao cha của em phải làm nhiều công việc như vậy và tại sao có quá nhiều người buộc phải sống ngoài đường phố.

Khi nói về hành trình dẫn đưa ngài đến vị trí nắm giữ chìa khóa của Thánh Phêrô, Đức Giáo hoàng Lêô thừa nhận rằng khi còn nhỏ, ngài chưa từng nghĩ đến ngôi giáo hoàng. Đức Thánh Cha giải thích: “Từ khi còn bé, cha đã cảm nhận được ước muốn hiến dâng cuộc đời mình cho Thiên Chúa”, đồng thời cho biết tiếng gọi này cuối cùng đã đưa ngài đến chức linh mục trong Dòng Thánh Augustinô.


Sau đó, Đức Thánh Cha hướng sự chú ý trở lại với cậu bé Renzo. “Điều này không chỉ đúng với cha. Mỗi trẻ em đều là một giấc mơ của Thiên Chúa – và con cũng vậy. Thiên Chúa mong muốn hạnh phúc cho tất cả mọi người và Người muốn chúng ta, từ tuổi thơ cho đến suốt cuộc đời, luôn có một tâm hồn như trẻ nhỏ.”

Thay vì tập trung vào những tham vọng lớn lao, Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng câu hỏi quan trọng nhất "là tự hỏi bản thân mình có muốn trở thành một người bạn của Chúa Giêsu hay không. Bởi vì tình bạn với Chúa Giêsu đem lại niềm vui cho chúng ta, giải thoát chúng ta và giúp chúng ta nhận ra, từng bước một, ơn gọi và con đường mà Thiên Chúa đã định cho mỗi người.”

Cuối cùng, khi nhẹ nhàng chạm đến những âu lo của Renzo về nghèo đói, Đức Thánh Cha Lêô hướng em đến cuộc đời của Đức Kitô. Ngài trấn an cậu bé rằng, bất kể những đau khổ mà chúng ta chứng kiến trong thế giới này, Thiên Chúa “không bao giờ bỏ rơi bất cứ người con nào của Người, vì Người đã chuẩn bị cho chúng ta một niềm vui vĩnh cửu, trong đó sẽ không còn buồn phiền hay đau khổ nữa”.



2. Vương cung thánh đường Sagrada Família và nhìn bằng con tim

Khi Đức Thánh Cha Lêô XIV đến làm phép Tháp Chúa Giêsu Kitô vừa được hoàn thành tại Vương cung thánh đường Sagrada Família ở Barcelona, người hướng dẫn ngài là cô bé Valentina Sánchez 13 tuổi. Valentina bị mù từ sơ sinh, đã làm Đức Thánh Cha và Hoàng gia Tây Ban Nha vô cùng xúc động trong phần thuyết minh với xúc giác. Vừa lướt các ngón tay trên mô hình của ngôi đại thánh đường, em đã hướng dẫn Đức Thánh Cha khám phá hình học phức tạp của Đấng Đáng Kính Kiến trúc sư Antoni Gaudí, giải thích chi tiết về các cửa sổ, các huy hiệu và cây thập giá khổng lồ trên đỉnh tháp.


Nghi thức làm phép đạt đến cao trào trong một sự kiện cung hiến trọng thể, khi kiệt tác kiến trúc bừng sáng trong màn trình diễn ánh sáng ngoạn mục, làm nổi bật các hình khối kiến trúc và phủ lên bầu trời đêm Barcelona ánh sáng rực rỡ muôn sắc. Đối với Valentina, người cùng chia sẻ với cha của cô bé – một cựu kỹ sư của vương cung thánh đường – ước mơ được “nhìn thấy” ngôi thánh đường hoàn thiện, đó là một khoảnh khắc vô cùng sâu sắc.

Được sự hỗ trợ của Tổ chức Người Khiếm thị Tây Ban Nha (ONCE), cô gái nghệ sĩ violin trẻ này đang học tập rất tốt trong một trường trung học truyền thống ở địa phương. Mặc dù chỉ có thể phân biệt được ánh sáng và bóng tối, em đã để lại cho Đức Thánh Cha một bức vẽ về ngôi thánh đường, cho ngài thấy chính xác cách em cảm nhận tầm nhìn về các ngọn tháp của kiến trúc sư Gaudí: không phải bằng đôi mắt, nhưng “bằng trái tim”.



3. Đạo diễn Antonio Banderas nói với Đức Lêô rằng ông đang chịu ‘sự mê hoặc của Thiên Chúa’

Trong Nhà thi đấu Movistar Arena ở Madrid, nam diễn viên Công giáo Antonio Banderas đã gặp Đức Thánh Cha Lêô XIV vào ngày 7 tháng 6 để cùng suy tư về sự giao thoa sâu sắc giữa đức tin và văn hóa đương đại. Banderas, người đạo diễn dàn diễn viên của vở nhạc kịch Godspell trong buổi canh thức giới trẻ quy mô khổng lồ với Đức Giáo hoàng vào tối hôm trước tại Quảng trường Lima, chia sẻ đầy nhiệt huyết về lòng đạo đức bình dân và các cuộc rước Tuần Thánh tại quê hương Málaga của ông, đã định hình sâu sắc cuộc đời, đức tin và tuổi thơ của ông như thế nào.

Nhìn thẳng vào Đức Thánh Cha, ông Banderas đưa ra một lời thổ lộ vừa táo bạo vừa thân tình: “Con là một nạn nhân của sức mê hoặc của Thiên Chúa.”

Trong bài phát biểu của mình, nam diễn viên lừng danh đã ca ngợi sức mạnh độc nhất, siêu việt của khả năng sáng tạo nơi con người nhằm bảo vệ phẩm giá cá nhân trong thời đại kỹ thuật số đang tăng tốc quá nhanh. Ông Banderas nhấn mạnh, “Trong một thế giới có những lúc bị đơn giản hóa quá mức, nghệ thuật giúp chúng ta tìm lại chiều sâu và linh hồn đang bị trí tuệ nhân tạo tìm cách đánh cắp.”


Lời của ông cộng hưởng tuyệt đẹp với lời cảnh báo khẩn thiết của Đức Thánh Cha gửi tới hàng ngàn bạn trẻ vào đêm hôm trước. Gác lại bài diễn văn đã chuẩn bị sẵn trong buổi canh thức, Đức Thánh Cha Lêô XIV khẩn khoản mời gọi đám đông hãy bảo vệ nhân tính của họ thoát khỏi sự giản lược của kỹ thuật số, ngài nói:

“Đừng để các thuật toán quyết định bạn là ai, bạn yêu ai, hay bạn phải sống như thế nào. Máy tính có thể tính toán các lựa chọn, nhưng chỉ trái tim con người mới có thể chọn hy sinh vì người khác. Hãy rời mắt khỏi màn hình, hãy nhìn vào mắt nhau và mạnh dạn xây dựng một tương lai được bén rễ trong tình yêu đích thực, hữu hình và cụ thể.”

Đức Thánh Cha cùng với nam diễn viên đã đưa ra một lời bảo vệ đầy sức mạnh cho linh hồn con người.


4. Khoảnh khắc trong buồng lái, chúng ta thấy lại cậu bé Robert Prevost

Ngày 9 tháng 6, phi công Juan Enrique của Không quân Tây Ban Nha đang thực hiện nhiệm vụ hộ tống trên bầu trời Madrid, bay hộ vệ song song với chiếc máy bay của hãng Iberia chở Đức Thánh Cha Lêô XIV từ Madrid đến Barcelona.

Chuyến bay đã trở thành một trải nghiệm khó quên khi Đức Thánh Cha trực tiếp bước vào buồng lái để chào phi hành đoàn. Khi được xem những bức ảnh về Enrique – một người cha và một tín hữu Công giáo đạo hạnh – Đức Thánh Cha rõ ràng bị cuốn hút bởi cảnh tượng chiếc tiêm kích đang lướt đi bên cạnh máy bay của mình. Với sự kinh ngạc hồn nhiên như một đứa trẻ, Đức Thánh Cha Lêô nghiêng người về phía trước, hào hứng vẫy tay qua cửa kính, và háo hức cầm lấy micro liên lạc để nói chuyện trực tiếp với viên phi công.

“Thật là một niềm vui và một ân phúc khi được gặp con,” giọng nói của Đức Thánh Cha vang lên qua hệ thống vô tuyến. “Cảm ơn con vì tất cả mọi việc. Đây là một niềm vinh dự lớn.”

Đối với Enrique, khi đang điều khiển máy bay vút cao trên bầu trời Tây Ban Nha trong xanh, nhiệm vụ kỹ thuật này ngay lập tức trở thành một khoảnh khắc ân sủng sâu sắc và rất riêng tư.


5. Những em bé được trao lên cho Đức Giáo hoàng Lêô

Thật sự là có quá nhiều khoảnh khắc không thể đếm xuể, nhưng sẽ rất thiếu sót nếu chúng ta không nhắc đến nhiều lần các ông bố và bà mẹ đã khéo léo nâng bổng đứa con nhỏ hoặc đứa trẻ sơ sinh của họ lên để Đức Thánh Cha ban phép lành. Và cho dù có người có thể cảm thấy lo lắng khi chứng kiến một em bé được nâng lên tầm cao đủ để chạm tới chiếc xe giáo hoàng, chính các bé dường như lại rất thích thú với điều đó; nhiều bé cười khúc khích và mỉm cười với Đức Giáo hoàng.

Một bức ảnh đầy xúc động, được ghi lại bởi nhiếp ảnh gia kỳ cựu Emilio Morenatti của hãng thông tấn The Associated Press, đã khơi dậy một cuộc tìm kiếm đầy yêu thương nhằm xác định cha mẹ của một cậu bé, được ghi lại trong khoảnh khắc trìu mến với vị Giáo hoàng người Mỹ trong thời gian ngài dừng chân tại Barcelona.

“Mỗi trẻ em là một giấc mơ của Thiên Chúa”: 5 khoảnh khắc cảm động nhất của Đức Thánh Cha Lêô XIV tại Tây Ban Nha

Một khoảnh khắc thinh lặng bên Đấng Kế vị Thánh Phêrô rõ ràng để lại dấu ấn lâu dài nơi các tín hữu, cả người trẻ lẫn người già. Thế nhưng, ngay cả khi ngắm những bức ảnh đẹp này được ghi lại giữa Đức Giáo hoàng và các em nhỏ, ước mong mỗi chúng ta cũng biết đem sự hân hoan và ý hướng thiêng liêng ấy vào cuộc sống của chính bản thân — dù chúng ta chỉ đang dõi theo hành trình của ngài từ xa.


[Nguồn: ncregister]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 18/06/2026]


Thứ Năm, 18 tháng 6, 2026

Sứ điệp của Đức Thánh Cha Lêô XIV nhân Ngày Thế giới Ông bà và Người Cao tuổi lần thứ Sáu, 15.06.2026

Sứ điệp của Đức Thánh Cha Lêô XIV nhân Ngày Thế giới Ông bà và Người Cao tuổi lần thứ Sáu, 15.06.2026

Sứ điệp của Đức Thánh Cha Lêô XIV nhân Ngày Thế giới Ông bà và Người Cao tuổi lần thứ Sáu, 15.06.2026

Sau đây là toàn văn Sứ điệp của Đức Thánh Cha Lêô XIV nhân Ngày Thế giới Ông bà và Người Cao tuổi lần thứ sáu, sẽ được cử hành vào Chúa nhật thứ tư của tháng Bảy – năm nay là ngày 26 tháng Bảy – với chủ đề: “Ta sẽ không bao giờ quên ngươi” (Is 49:15):


Sứ điệp của Đức Thánh Cha

Ta sẽ không bao giờ quên ngươi (Is 49:15)

Anh chị em thân mến,

Qua ngôn sứ Isaia, Chúa hứa rằng Người sẽ không bao giờ quên bất cứ ai trong chúng ta. Người bảo đảm với chúng ta rằng Người đã ghi khắc khuôn mặt chúng ta trong lòng bàn tay của Người (x. Is 49:16), và tình yêu của Người còn lớn lao hơn tình yêu của người mẹ dành cho con mình (x. Is 49:15). Vị ngôn sứ cho chúng ta thoáng thấy một cuộc đối thoại thân mật và mãnh liệt, trong đó Thiên Chúa ngỏ lời với từng người một cũng như với toàn thể dân Người bằng những lời thân thương. Ngày nay, chúng ta vẫn có thể đọc những lời ấy như đang nói với chính mỗi người chúng ta, và mỗi người đều có thể nghe thấy lời: “Ta sẽ không bao giờ quên ngươi” được nói trực tiếp với mình.

Đây là những lời đổ đầy niềm an ủi và hy vọng trong chúng ta. Đó là câu trả lời cho một cảm giác đau đớn đang dày vò tâm hồn: “Đức Chúa đã bỏ tôi, Chúa Thượng tôi đã quên tôi rồi” (Is 49:14). Trong Kinh Thánh, đặc biệt là trong các Thánh vịnh, biết bao lần lời cầu nguyện bật lên từ nỗi tuyệt vọng của những người cảm thấy cuộc đời mình chẳng còn được ai quan tâm và đang bị bỏ mặc. Đáng tiếc thay, cảm giác đau đớn vì bị lãng quên ấy lại là tình trạng chung của rất nhiều người, và trong số đó có không ít người cao tuổi.

Tình yêu của Thiên Chúa, một tình yêu không quên bất cứ ai, tự hiến như một hành vi công bình và là câu trả lời cho tình trạng vô danh mà đời sống con người quá thường bị chìm lấp trong đó. Đặc biệt, cuộc sống của nhiều người cao tuổi dường như bị bao phủ bởi một tấm màn làm mờ đi những đường nét trên khuôn mặt họ và che phủ họ trong sự lãng quên. Đây là điều xảy ra trong những ngôi nhà nơi sự cô đơn ngự trị, và cả trong các cơ sở chăm sóc, nơi tính độc nhất của mỗi người có nguy cơ bị giản lược thành một con số của giường bệnh hay một căn bệnh.

Việc cử hành Ngày Thế giới Ông bà và Người Cao tuổi là cơ hội để tái khám phá rằng Giáo hội được kêu gọi để trở nên người mẹ của mọi người, và ở bất cứ độ tuổi nào chúng ta cũng luôn có thể nhận ra mình là những người con của Thiên Chúa. Vì thế, ước mong ngày này trở thành nguồn cảm hứng cho mọi người, đặc biệt là người trẻ, để làm sống lại thói quen tốt đẹp là đến thăm ông bà của mình, những người cao tuổi trong gia đình, và thậm chí cả những người không có ai đến thăm. Hãy mang đến cho họ, qua sứ điệp này và qua chính sự hiện diện của anh chị em, sự gần gũi và tình cảm của Đức Giáo hoàng. Hãy làm cho những lời của vị ngôn sứ: “Nhưng Ta sẽ không bao giờ quên ngươi” trở thành hiện thực qua một cuộc gặp gỡ dịu dàng và yêu thương. “Trong một kỷ nguyên chuộng tốc độ và sự phân mảnh, con người vẫn khao khát đón nhận sự chăm sóc và nhìn nhận từ những tâm trí đầy quan tâm, những lời nói chan hòa và những bàn tay có khả năng trao tặng sự dịu dàng. Nền văn hóa kỹ thuật số làm nhân lên các kết nối và mang lại những cơ hội tương tác mới; tuy nhiên, trái tim con người vẫn giữ một nhu cầu không thể xóa bỏ về sự gần gũi đích thực” (Thông điệp, Magnifica Humanitas, 239).

Giáo hội thấu hiểu những đau khổ của các thành viên cao tuổi của mình; Giáo hội biết rất rõ rằng họ quá thường xuyên bị nhìn qua lăng kính của những định kiến và bị coi là một gánh nặng; Giáo hội ý thức rằng một nền kinh tế chạy theo lợi nhuận làm suy yếu các mối ràng buộc gia đình; Giáo hội biết rằng nhiều người cao tuổi bị bỏ lại phía sau bởi những người con buộc phải di cư, hoặc trong một số trường hợp, phải tham gia trong các cuộc chiến tranh. Vì tất cả những lý do này, Giáo hội vui mừng loan báo lời hứa của Chúa: “Nhưng Ta sẽ không bao giờ quên ngươi!”

Thật là niềm vui ở bất cứ độ tuổi nào, nhưng đặc biệt khi chúng ta không còn trẻ nữa, để khám phá ra rằng, như Đức Gioan Phaolô I từng nói, chúng ta là những người đón nhận “tình yêu bất diệt của Thiên Chúa. Chúng ta biết rằng Người luôn dõi mắt nhìn theo chúng ta, ngay cả khi dường như bóng tối đang bao phủ. Người là cha chúng ta; hơn thế nữa, Người là mẹ chúng ta” (Kinh Truyền Tin, ngày 10 tháng 9 năm 1978). Dù việc suy nghĩ như thế có thể không đến theo cách tự nhiên, nhưng sự thật là ngay trong tuổi già chúng ta vẫn luôn là con cái; vì thế, lời mời gọi trở về trong vòng tay của Thiên Chúa – Đấng có tình yêu vừa mang tính phụ tử vừa là mẫu tử – vẫn luôn có giá trị ở mọi độ tuổi.

Đối với nhiều người, việc khám phá ra sự dịu dàng của Thiên Chúa diễn ra trong tiến trình cuộc đời của họ, đôi khi ngay cả ở những giai đoạn cuối cùng. Thật vậy, không như trong quá khứ, ngày càng có nhiều người bước vào tuổi già mà chưa từng có một kinh nghiệm đức tin đích thực. Trong những trường hợp như vậy, tuổi già – bắt đầu với những câu hỏi trở nên cấp bách hơn trong giai đoạn này của cuộc đời – có thể trở thành thời điểm thích hợp để bắt đầu hoặc nối lại một đời sống thiêng liêng. Trên hành trình mới ấy, người ta có thể nhận ra rằng Thiên Chúa, như thánh Augustinô nói, “là người mẹ vì Người âu yếm chăm sóc, vì Người nuôi dưỡng, vì Người cho bú mớm, vì Người che chở” (Chú giải Thánh Vịnh 27, II, 18). Đó là nhận thức giúp chúng ta không cảm thấy xấu hổ trước sự mong manh đang xuất hiện nơi mình, đồng thời hiểu rằng chúng ta luôn cần đến nhau và cần được quan tâm và chăm sóc. Giờ đây, chúng ta hãy hướng về Thiên Chúa, Đấng đến gần chúng ta và là Đấng chúng ta học cách nhận biết qua sự dịu dàng của Người, với niềm tín thác của những người con trong lời cầu nguyện. Không bao giờ là quá muộn để bắt đầu hướng về Người. Đó có thể trở thành một món quà lớn lao cho tất cả mọi người.

Ông bà cao niên thân mến, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói về ông bà như một “dân tộc mới” (Tiếp kiến chung, ngày 23 tháng 2 năm 2022), bởi lẽ số lượng người cao tuổi chưa bao giờ đông đảo như thế trong lịch sử nhân loại. Vì thế, điều quan trọng hơn bao giờ hết là cùng với ông bà, với “dân tộc mới” này, suy tư về ơn gọi của chúng ta khi sự mong manh – người bạn đồng hành của con người ngay từ lúc chào đời – dường như đang chế ngự. Tôi muốn nói với ông bà rằng: đừng sợ sự mong manh! Chính sự yếu đuối ấy lại chứa đựng trong nó một tiềm năng mới soi sáng cả những giai đoạn khác của cuộc đời. Thật vậy, khi “chúng ta nhìn nhận sự mong manh của mình, trái tim chúng ta mở ra để nâng đỡ nhau và để khẩn cầu với Đấng có thể ban tặng điều mà không một quyền lực nhân loại nào có thể bảo đảm: sự hòa giải sâu sắc giữa các tâm hồn, và cùng với đó là nền hòa bình đích thực” (Gặp gỡ cộng đồng Algeria tại Vương cung Thánh đường Đức Mẹ Châu Phi, Alger, ngày 13 tháng 4 năm 2026).

Đây là cách chúng ta có thể sống tuổi già của mình như những Kitô hữu: vừa “mong manh” nhưng đồng thời lại "được kêu gọi”. Thật vậy, một người nam và một người nữ có thể được sinh lại một lần nữa trong tuổi già (x. Ga 3:4-6) và thốt lên cùng vị ngôn sứ: “Giả như các ngươi trở lại và ở yên, hẳn các ngươi đã được cứu thoát; giả như các ngươi bình tĩnh và tin tưởng, ắt các ngươi đã nên hùng mạnh” (Is 30:15). Sức mạnh này có thể trở thành lời kêu gọi không tìm đến những con đường của kiêu ngạo và quyền lực để bảo đảm sự chung sống của con người, nhưng là những con đường của hòa giải và hòa bình đích thực. Trong thời đại này, một thời đại bị ghi dấu nặng nề bởi bạo lực của chiến tranh và bất ổn xã hội, nhiều người tự hỏi thế giới mà con cháu họ lớn lên sẽ như thế nào. Các bạn thân mến, tôi kêu gọi các bạn hãy cùng tôi cầu nguyện tha thiết để hòa bình sớm đến với toàn thế giới.

Anh chị em cao tuổi thân mến, tôi cảm ơn anh chị em vì nâng đỡ tôi mỗi ngày bằng những lời cầu nguyện, đặc biệt khi anh chị em lần chuỗi Mân Côi. Tôi xin chân thành đáp lại với lòng biết ơn và gửi đến anh chị em lời nguyện này: xin Chúa luôn đổi mới chúng ta trong đức tin, đức cậy và đức mến – Người là Đấng không bao giờ quên chúng ta!

Vatican, ngày 15 tháng 6 năm 2026

LÊÔ PP. XIV


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 17/06/2026]


SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV NHÂN NGÀY THẾ GIỚI NGƯỜI NGHÈO LẦN THỨ MƯỜI

SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV NHÂN NGÀY THẾ GIỚI NGƯỜI NGHÈO LẦN THỨ MƯỜI


SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV NHÂN NGÀY THẾ GIỚI NGƯỜI NGHÈO LẦN THỨ MƯỜI

Chúa Nhật XXXIII Thường Niên, ngày 15 tháng 11 năm 2026

___________________________


Chúa là nơi ẩn náu của người nghèo (x. Tv 14:6)

1. Chúa là nơi ẩn náu của người nghèo (x. Tv 14:6). Những lời của Tác giả Thánh vịnh vạch ra cho chúng ta thấy con đường phía trước khi chuẩn bị cho Ngày Thế giới Người Nghèo lần thứ X. Một lần nữa, chúng ta cần trở về với Lời Chúa để tái khẳng định tầm quan trọng của người nghèo trong đời sống Giáo Hội. Những lời của Tác giả Thánh vịnh là chuẩn mực cho đời sống Kitô hữu vì chúng mặc khải dung nhan của Thiên Chúa và nhìn nhận sự nghèo khó của con người. Thật vậy, vào một thời điểm đầy bi kịch trong lịch sử — sự phá hủy Đền thờ Giêrusalem — dân chúng cảm thấy bị tước mất sự hiện diện của Thiên Chúa và trải qua cảnh khốn cùng chưa từng thấy cả về vật chất cũng như luân lý.

Qua mọi thế hệ, Lời này luôn xuất hiện với tất cả tính thời sự của nó. Ngay từ đầu, Lời đã cho thấy sự mâu thuẫn mà ngày nay chúng ta vẫn thường xuyên rơi vào. Thật vậy, nhận định đầu tiên là: “Kẻ ngu si tự nhủ: 'Làm chi có Chúa Trời!' Chúng đã ra hư đốn, làm những điều ghê tởm, chẳng có một ai làm điều thiện." (Tv 14:1). Lời này làm nổi bật sự tương phản giữa những người hành động khôn ngoan với những người, ngược lại, đi qua cuộc đời như thể không có điều gì vĩ đại hơn chính bản thân họ. Thật đáng buồn, chúng ta thấy rằng ngay cả ngày nay, sự bất công xã hội vẫn lan tràn, bắt nguồn từ sự hủ hóa ngạo mạn, vừa đáng lên án vừa mang tính phân biệt đối xử. Việc đánh mất ý thức về tính siêu việt trong đời sống hằng ngày không còn là việc phủ nhận trên lý thuyết về sự hiện diện của Thiên Chúa; trái lại, nó biểu lộ trong việc người ta không còn lưu tâm đến lòng nhân hậu và lòng thương xót của Người khi theo đuổi công lý cá nhân và xã hội.

Người nghèo là những người đầu tiên phải gánh chịu hậu quả, và không phải ngẫu nhiên mà số lượng họ đang gia tăng trong nhiều xã hội. Sự vắng bóng của Thiên Chúa không còn đặt con người bên cạnh nhau trong sự tôn trọng lẫn nhau, nhưng đặt người này lên trên người khác trong một mối tương quan thống trị và áp bức. Vì thế, một luận lý xúc phạm phẩm giá con người của sự lạm dụng và loại trừ được phơi bày rõ ràng; đó là luận lý đẩy con người ra bên lề và hạ nhục họ. Không chỉ các cá nhân mà cả những dân tộc cũng rơi vào tình cảnh ấy. Những lời của Thánh vịnh vẫn còn vang vọng chân thực: “Kẻ sống trên xương máu đồng bào Ta” (Tv 14:4).

2. Ngày nay, tiếng kêu đòi công lý của người nghèo bị dập tắt bởi vô số thủ đoạn ngày càng tinh vi, đến mức làm cho mọi nỗ lực lên tiếng đòi quyền lợi của họ trở nên vô vọng. Thế giới kỹ thuật số làm trầm trọng thêm những định kiến đối với họ và củng cố bức màn vô cảm bao phủ hoàn cảnh khốn cùng của họ. Người nghèo không còn lựa chọn nào khác ngoài việc kêu cầu lên cùng Thiên Chúa (x. Tv 34:7) và dâng lời than van của họ trước nhan Người, vững tin rằng họ sẽ được lắng nghe, bởi vì Thiên Chúa luôn trung tín và giàu lòng thương xót. Ngay cả ngày nay, những người bị áp bức, bị hạ nhục và không có khả năng tự vệ ngày càng xác tín rằng họ phải phó thác bản thân cho Thiên Chúa, với tràn đầy đức tin và hy vọng. Trong sự phó thác hoàn toàn ấy, ý thức về phẩm giá của chính mình lại nảy nở; họ nhận ra những người anh chị em để cùng chia sẻ những ước mơ của mình, và niềm hy vọng âm thầm trở thành hiện thực. Tìm chốn ẩn náu nơi Thiên Chúa nghĩa là tìm được sự bảo vệ đích thực và bền vững — điều mà những người quyền thế không thể bảo đảm và thường muốn khước từ.

Tuy nhiên, người nghèo lại có khả năng nhận ra điều thiết yếu hơn người khác, bởi họ sống bằng chính những điều thiết yếu. Giống như Đức Kitô hơn bất kỳ ai, họ nhận biết Thiên Chúa là nơi nương náu của mình, ngay cả khi hoàn cảnh dường như phủ nhận điều đó; và họ tràn đầy hy vọng vào công lý của Người, một công lý sẽ không trì hoãn. Trong màn đêm của tình trạng bỏ rơi và cô đơn, người nghèo “núp bóng Đấng Quyền Năng tuyệt đối” (x. Tv 91:1). Tất cả những ai sầu khổ, những ai chịu bất công và bị đối xử sai trái, những ai đang đau khổ và đau đớn, những ai cô đơn và không tìm thấy mục đích sống đều có thể tìm được nơi Chúa niềm an ủi và động lực mới.

3. Thiên Chúa là nơi ẩn náu của họ không đơn thuần là một lời hứa; điều đó đã trở thành hiện thực nơi con người của Đức Giêsu Kitô. Thiên Chúa cư ngụ giữa chúng ta qua mầu nhiệm Nhập Thể của Chúa Con, Đấng làm cho nơi nương náu mà chúng ta hằng mong đợi trở nên cụ thể và hữu hình. Chúa Giêsu Kitô thực sự là nơi ẩn náu của Thiên Chúa dành cho người nghèo. Nhờ sự vâng phục Chúa Cha, Người hạ mình xuống tận cùng, nơi có những người rốt hết trong số này hiện diện. Người đến với mọi người và ban cho mỗi người một nơi trú ẩn an toàn: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11:28). Nơi Đức Giêsu, Thiên Chúa không chỉ che chở nhưng còn chia sẻ thân phận nghèo khó của con người cho đến tận thập giá.

Người nghèo trong thời đại chúng ta là những người bị lãng quên và bị gạt ra bên lề: bị tước đoạt không chỉ tấm bánh ăn, mà cả tiếng nói và khuôn mặt. Ước mong họ gặp được Con Thiên Chúa, Đấng đến gần mọi người mà không bỏ quên bất cứ ai. Ước mong họ gặp được Người, trước hết nơi những người mang danh Kitô hữu. Trong Giáo Hội là Thân Thể của Người, chính Đức Giêsu trao ban bánh và tình bằng hữu; Người mang đến ánh sáng và mở ra chân trời hy vọng; Người gọi đích danh mỗi người và phục hồi phẩm giá cho tất cả. Đức Giêsu thành Nadarét là hồng ân Thiên Chúa ban cho người nghèo. Nơi Người, mọi lời hứa đều trở thành hiện thực. Với những ai thiếu nhà ở, việc làm, giáo dục, lương thực hay sức khỏe, một con đường mới được mở ra: chia sẻ như biểu hiện của Nước Thiên Chúa (x. Mt 5:3). Nỗi ám ảnh của những người tích lũy của cải cho riêng mình bị đối lại bởi sự kiên định của Thiên Chúa, qua chứng tá của những con người thật, mở rộng các tâm hồn và đón nhận tất cả vào trong tình yêu của Người.

4. Vì thế, trong Đức Kitô, chúng ta được mời gọi trở nên nghèo khó và trở thành nơi nương náu cho người nghèo. Cộng đoàn Kitô hữu không thể thờ ơ trước biết bao người hôm nay đang đứng ngoài cửa nhưng vẫn vô hình đối với những ai khép kín trong những bức tường của bản thân. Giáo Hội, tự bản chất, được mời gọi trở nên nghèo khó và là nơi ẩn náu cho người nghèo. Chúng ta đừng quên lời chú giải của thánh Augustinô về dụ ngôn người giàu có và anh Lazarô nghèo khổ: “Ngài giữ lại danh tính của người giàu cho riêng mình và nói cho chúng ta biết tên của người nghèo. Tên của người giàu luôn ở trên môi miệng mọi người, nhưng Thiên Chúa giữ lại cho riêng mình; tên người nghèo bị bỏ qua trong im lặng, nhưng Thiên Chúa đã tỏ lộ cho chúng ta biết. … Bạn sẽ chọn điều gì? Trở nên nghèo khó như Lazarô hay giàu có như người kia? Đừng để mình bị đánh lừa! Hãy nghe kết thúc của câu chuyện và nhận ra đâu là lựa chọn sai lầm” (Bài giảng 33A, 4).

Như tôi đã nhắc lại trong Tông huấn Dilexi Te: “Thiên Chúa dành sự ưu ái cho người nghèo: những lời hy vọng và giải phóng của Chúa trước hết được gửi đến họ. Vì thế, ngay cả trong sự nghèo khó hay yếu đuối của mình, không ai cảm thấy bị bỏ rơi. Và Giáo hội, nếu muốn trở thành Giáo hội của Đức Kitô, phải là một Giáo hội của các Mối phúc, một Giáo hội dành chỗ cho những người bé mọn và bước đi nghèo khó cùng với người nghèo, một nơi mà người nghèo có được vị trí ưu tiên” (số 21).

Một số câu hỏi tất yếu được đặt ra, và trong Ngày Thế giới Người nghèo lần thứ X này, chúng ta cần khẩn thiết cho phép những câu hỏi ấy vang vọng trong tâm trí và tâm hồn mình. Chúng ta có phải là dấu chỉ của một Thiên Chúa là nơi ẩn náu cho người nghèo không? Chúng ta có ý thức về sự nghèo khó của chính mình, và chúng ta có chọn nó thay vì sự giàu có bất chính không? Chúng ta có đến những nơi người nghèo đang sống, trải nghiệm tình trạng bị gạt ra bên lề của họ không? Chúng ta có lắng nghe những suy nghĩ và chia sẻ những hy vọng của họ không? Chúng ta có gọi tên họ với sự dịu dàng của Thiên Chúa không? Đức ái của chúng ta có khơi dậy và nâng đỡ trong họ niềm khát khao công lý và sự cứu chuộc không? Những câu hỏi này và nhiều câu hỏi khác đòi hỏi một cuộc xét mình nghiêm túc, để đánh giá xem chúng ta được kêu gọi phải làm nhiều hơn bao nhiêu nữa vì lợi ích của người nghèo và vì sự giải phóng của họ. Khi đó chúng ta sẽ thấy rằng chính người nghèo lại trở thành nơi ẩn náu cho những người khác. Kinh nghiệm nghèo khó làm cho họ đặc biệt nhạy bén với một tình liên đới được đổi mới trước những thách đố.

Thật vậy, tình yêu của Đức Kitô làm cho chúng ta được tham dự vào chính đời sống tình yêu của Thiên Chúa. Theo nghĩa này, người Kitô hữu được mời gọi không chỉ tìm nơi nương náu trong Thiên Chúa, mà còn trở thành nơi nương náu cho người khác trong Thiên Chúa, “không phân biệt giữa những người trợ giúp và những người được trợ giúp, giữa những người dường như trao tặng và những người dường như đón nhận, giữa những người nghèo khó và những người cảm thấy họ cống hiến thời gian, kỹ năng và sự giúp đỡ. Chúng ta là Giáo hội của Chúa, một Giáo hội của người nghèo, tất cả đều quý giá, tất cả đều là những cá nhân, mỗi người là một người mang theo Lời Thiên Chúa duy nhất. Mỗi người là một món quà cho người khác.” (Bài giảng, ngày 17 tháng 8 năm 2025).

5. Kỷ niệm tám trăm năm ngày qua đời của thánh Phanxicô Assisi thúc bách chúng ta nhớ lại việc ngài đã động lòng trắc ẩn thế nào trước những người ăn xin khi đến Rôma hành hương viếng mộ Thánh Tông đồ Phêrô. Để hiểu và cảm nhận nỗi đau khổ của họ, ngài đã cởi bỏ y phục của mình và đổi lấy bộ quần áo rách rưới của một người trong số họ, rồi ngồi xuống ăn xin và dành trọn ngày hôm ấy giữa những người nghèo với tâm hồn đầy niềm vui (x. Fonti Francescane, 1405–1406). Chúng ta mong muốn làm chứng rằng, ngay cả ngày nay, vẫn có thể sống cùng một niềm vui ấy bằng cách đặt mình vào hoàn cảnh của người nghèo và lắng nghe họ hơn là chỉ nói về họ. Những ai có Thiên Chúa là nơi ẩn náu của mình có được sự tự do để thực hiện những chọn lựa mang tính ngôn sứ, làm chứng rằng mọi sự đều có thể được tái hình dung từ gốc rễ, trong sự khiêm nhường và tình huynh đệ là những điều duy nhất có thể chữa lành một thế giới bị thương tổn bởi tính kiêu ngạo.

Tôi tin tưởng rằng Ngày Thế giới Người nghèo lần thứ X này sẽ là một bước tiến quan trọng trong việc tái khám phá khuôn mặt của biết bao anh chị em đang tìm chốn ẩn náu nơi Thiên Chúa và khao khát cảm thấy như đang ở nhà trong các cộng đoàn của chúng ta. Chúng ta hãy trung thành với Lời Chúa, Lời kêu gọi chúng ta hoán cải tâm hồn. Xin Đức Trinh nữ Maria chuyển cầu cho chúng ta, Mẹ là Đấng đã chiêm ngắm tình yêu của Thiên Chúa nơi thân xác bị đóng đinh của Con Mẹ, tình yêu làm cho kẻ đói nghèo được dư đầy và đuổi người giàu có trở về tay không (x. Lc 1:53).

Vatican, ngày 13 tháng 6 năm 2026, lễ nhớ Thánh Antôn Pađua.

LÊÔ PP. XIV


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 16/06/2026]


Kinh Truyền Tin ngày 14.06.2026. Đức Thánh Cha: “Nhìn bằng ánh mắt của Chúa Giêsu, ánh mắt biến đổi thực tại”

Đức Thánh Cha: “Nhìn bằng ánh mắt của Chúa Giêsu, ánh mắt biến đổi thực tại”

Huấn từ của Đức Thánh Cha trước giờ đọc kinh Truyền Tin

Kinh Truyền Tin ngày 14.06.2026. Đức Thánh Cha: “Nhìn bằng ánh mắt của Chúa Giêsu, ánh mắt biến đổi thực tại”


Vào lúc 12 giờ trưa hôm nay, Chúa nhật XI Thường niên, Đức Thánh Cha Lêô XIV xuất hiện tại cửa sổ phòng làm việc của ngài trong Điện Tông tòa Vatican để đọc kinh Truyền Tin cùng các tín hữu và khách hành hương quy tụ tại Quảng trường Thánh Phêrô.

Đức Thánh Cha suy niệm về bài Tin Mừng Chúa nhật liên quan đến sứ mạng của Giáo hội trong việc đem đức ái đến những nơi khốn cùng, đem hy vọng đến những nơi đau khổ, và đem niềm tin đến những nơi nghi nan.

Dưới đây là huấn từ của Đức Thánh Cha trước khi đọc kinh kính Đức Mẹ:


Huấn từ của Đức Thánh Cha


Anh chị em thân mến, chúc anh chị em Chúa nhật hạnh phúc!

Bài Tin Mừng hôm nay (Mt 9:36-10,8) trao cho chúng ta một món quà lớn, bởi vì bản văn này đưa tất cả những ai lắng nghe vào trong ánh nhìn của Chúa Giêsu. Đây là một trình thuật minh chứng cho sự chăm chú trong ánh mắt của Người, đồng thời cho chúng ta biết Người đang quan sát điều gì. Thật vậy, chúng ta đọc thấy rằng Đức Kitô, “thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng” (c. 36). Khi tự biến mình trở thành người anh em của chúng ta, Con Thiên Chúa nhìn vào con người, Người nhìn nhân loại: Người thấy sự áp bức đang đè nặng con người và bạo lực đang cướp đi sức lực của họ. Người thấy những vết thương của các cuộc chiến tranh và sự trống rỗng của chủ nghĩa tiêu thụ. Người thấy những khuôn mặt bị biến thành những chiếc mặt nạ, các gia đình bị tan vỡ bởi sự dữ, và những người trẻ bị lầm lạc bởi các lý tưởng giả tạo. Chúa Giêsu nhìn thấy và yêu thương. Người yêu thương và cùng đau khổ vì chúng ta, với chúng ta: lòng trắc ẩn của Người không chỉ diễn tả sự gần gũi huynh đệ, mà còn là một ý muốn cứu chuộc.

Thật vậy, Người thấu suốt tâm hồn chúng ta và chăm sóc nó; trước biết bao người như “bầy chiên không người chăn dắt” (c. 36), Đức Kitô tự hiến mình cho tất cả mọi người như vị Mục tử Nhân lành và, với tư cách là chủ mùa gặt, Người sai những người thợ gặt ra cánh đồng thế giới (x. c. 38). Công việc họ phải thực hiện là gì? Đó là đem niềm an ủi của Thiên Chúa đến cho những ai đau khổ; đem đức ái đến nơi khốn cùng, đem hy vọng đến nơi đau khổ, và niềm tin đến nơi có sự ngờ vực.

Tin Mừng nhắc đến tên của mười hai “người thợ” đầu tiên; họ là những môn đệ đã trở thành tông đồ, nghĩa là những nhà truyền giáo và những người rao giảng. Trong số đó có Simon gọi là Phêrô, người đứng đầu, và cả Giuđa Ítcariốt, người cuối cùng, để nhắc nhở chúng ta rằng người ta có thể theo Chúa Giêsu nhưng cũng có thể phản bội Người, nhưng Tin Mừng vẫn tiếp tục là lời sống động và chân thật cho mọi người. Tin Mừng vượt qua các thế kỷ vẫn luôn là một, luôn trẻ trung, mới mẻ và giải phóng: “Nước Trời đã đến gần” (Mt 10:7)! Vâng, Nước Trời đã đến gần vì nơi Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa trở thành người lân cận của mỗi người nam, người nữ, của mọi dân tộc và quốc gia. Khi Tin Mừng này được tuyên xưng và thực hành, sự dữ sẽ sụp đổ như một căn bệnh được chấm dứt (x. c. 8), như màn đêm nhường chỗ cho bình minh, như cái chết bị đánh bại bởi Đấng Phục sinh.

Như thế, ánh nhìn của Chúa Giêsu biến đổi thực tại: tràn đầy tình yêu, sáng kiến của Người làm phát sinh một dân mới là Hội thánh, được mời gọi tiếp tục sứ mạng của các Tông đồ: “Anh em đã được cho không thì cũng phải cho không như vậy” (c. 8). Đúng vậy, ân ban của Chúa Giêsu hoàn toàn nhưng không, bởi vì giá trị của nó vượt trên mọi thước đo: không thể nào là đáng được hưởng hay “mua” được ân ban đó. Ân sủng này là tên gọi tuyệt đẹp của lòng thương xót của Thiên Chúa, đến với chúng ta dù chúng ta ở bất cứ đâu, để dẫn đưa chúng ta về với Người. “Anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Mt 9:38).

Anh em thân mến, nhiệm vụ loan báo Tin Mừng được sinh ra từ ân ban của Thiên Chúa, hồng ân mà nơi Đức Kitô trở thành ơn tha thứ cho thế giới, trở thành sự phục vụ những người bé nhỏ và nghèo khó nhất, và trở thành sự dấn thân cho công lý. Chúng ta hãy xin sự trợ giúp của Đức Trinh nữ Maria, Đấng đầy ơn phúc, để chúng ta có thể đáp lại với niềm vui và lòng can đảm trước sứ mạng mà Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta.

_____________________________________________________


Sau kinh Truyền Tin

Anh chị em thân mến,

Trước hết, tôi xin dâng lên Chúa lòng tri ân vì chuyến Tông du mà Người đã cho phép tôi thực hiện đến Tây Ban Nha. Tôi xin cảm ơn người dân Tây Ban Nha đã đón tiếp tôi với lòng nhiệt thành và tận tâm; và cách riêng là Đức Vua. Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn trìu mến đến các giám mục, các cộng đoàn mà tôi đã đến thăm, và toàn thể Giáo hội tại Tây Ban Nha. Xin Thiên Chúa chúc phúc cho Tây Ban Nha!

Tôi cũng nhớ đến một số vị Chân Phước mới: các linh mục giáo phận Venceslao Drbola và Jan Bula, đến từ Moravia; cùng Jan Šwierc và tám bạn đồng hành, là các linh mục thuộc Dòng Salêdiêng Ba Lan. Tất cả các ngài đã được tôn phong Chân phước như những vị tử đạo, vì các ngài là nạn nhân của những cuộc bách hại bởi các chế độ độc tài vì lòng trung thành với Đức Kitô. Ngoài ra, hôm qua tại Mato Grosso, Brazil, Cha Nazareno Lanciotti, linh mục truyền giáo người Rôma cũng đã được tôn phong Chân phước; ngài cũng là một vị tử đạo, vì đã bảo vệ những người nghèo khổ nhất nhân danh Tin Mừng. Xin gương sáng và lời chuyển cầu của những chứng nhân dũng cảm này nâng đỡ sứ mạng của các linh mục và của toàn thể Giáo hội.

Tôi bảo đảm sự gần gũi của tôi với người dân Philippines đang đã bị ảnh hưởng bởi trận động đất mạnh xảy ra cách đây vài ngày. Tôi cầu nguyện cho những người đã qua đời và gia đình của họ, cho những người bị thương và cho tất cả những ai đang đau khổ vì tai ương này.

Và giờ đây, tôi gửi lời chào đến tất cả anh chị em, người Rôma và anh chị em hành hương đến từ nhiều quốc gia khác nhau!

Tôi chào các thành viên của Ủy ban Quốc tế về Đối thoại giữa Giáo hội các Môn đệ Chúa Kitô và Giáo hội Công giáo. Ước mong những suy tư của anh chị em giúp chúng ta ngày càng phát triển trong sự hiệp thông.

Tôi chào anh chị em hành hương đến từ Hoa Kỳ, đặc biệt là các tín hữu đến từ New Jersey và Trường Thánh Tâm Carrollton ở Miami, Florida. Cha chào các ứng viên lớp Thêm sức từ Bolgare, thuộc giáo phận Bergamo; cộng đoàn “Casa de Maria” (Nhà Đức Maria) — những người mà Đức Thánh Cha Phanxicô thường gọi là “giới trẻ của Đấng Vô Nhiễm” — và các nhóm giáo xứ Santa Maria delle Grazie và Santa Francesca Cabrini tại Rôma.

Tôi chúc tất cả anh chị em Chúa nhật hạnh phúc!


[Nguồn: exaudi]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 15/06/2026]


Thứ Hai, 15 tháng 6, 2026

Đại hội Công giáo lớn nhất khai mạc tại Vilnius – nơi khai sinh lòng sùng kính Lòng Chúa Thương xót

Đại hội Công giáo lớn nhất khai mạc tại Vilnius – nơi khai sinh lòng sùng kính Lòng Chúa Thương xót

Đại hội Công giáo lớn nhất khai mạc tại Vilnius – nơi khai sinh phong trào sùng kính Lòng Chúa Thương xót

Đại hội Tông đồ Thế giới về Lòng Thương xót (WACOM) lần thứ VI đã khai mạc tại Vilnius, quy tụ hàng ngàn tham dự viên đến từ 52 quốc gia tham dự một trong những sự kiện Công giáo quan trọng nhất của năm. Trong sáu ngày, thành phố nơi lòng sùng kính Lòng Thương xót của Chúa được khai sinh trở thành điểm gặp gỡ toàn cầu cho các cuộc đối thoại về lòng trắc ẩn, sự hòa giải và niềm hy vọng trong một thế giới ngày càng bị chia rẽ.

11 Tháng Sáu, 2026 17:55

ZENIT STAFF


Trong sáu ngày của tuần này, Vilnius trở thành điểm gặp gỡ của cộng đồng Công giáo toàn cầu khi hàng ngàn khách hành hương, các giáo sĩ, các nhà lãnh đạo cộng đoàn và du khách quy tụ về thủ đô của Lithuania để tham dự Đại hội Tông đồ Thế giới lần thứ 6 về Lòng Thương xót (WACOM).

Đại hội chính thức khai mạc vào ngày 7 tháng 6 và quy tụ hơn 5.000 tham dự viên đến từ 52 quốc gia, trở thành một trong những sự kiện Công giáo quốc tế quan trọng nhất được tổ chức trên thế giới trong năm nay.

Đại hội do Bộ Loan báo Tin Mừng của Tòa Thánh tổ chức, lần đầu tiên diễn ra tại Lithuania từ ngày 7 đến ngày 12 tháng 6 với chủ đề “Xây dựng Thành phố của Lòng Thương xót.”

Đại hội Công giáo lớn nhất khai mạc tại Vilnius – nơi khai sinh lòng sùng kính Lòng Chúa Thương xót

Vilnius được chọn làm địa điểm tổ chức vì đây là nơi khai sinh lòng sùng kính Lòng Thương xót của Chúa – một phong trào đã trở thành một trong những biểu hiện lan tỏa rộng rãi nhất của linh đạo Công giáo hiện đại. Ngày nay, linh ảnh hiện diện trong các nhà thờ Công giáo trên khắp thế giới, trong khi bức ảnh gốc vẫn được lưu giữ tại Đền thánh Lòng Chúa Thương xót ở khu Phố Cổ của Vilnius.

“Trong nhiều thập niên qua, hàng triệu người Công giáo trên khắp thế giới đã cầu nguyện trước ảnh Lòng Thương xót của Chúa mà không biết rằng câu chuyện này bắt đầu tại Vilnius. Đại hội này là một thời khắc lịch sử vì nó đưa cộng đồng Lòng Chúa Thương xót toàn cầu trở về chính thành phố nơi sứ điệp ấy lần đầu tiên được hình thành. Đây không chỉ là cơ hội để nhớ lại lịch sử, mà còn để suy tư về một sứ điệp vẫn còn nguyên tính thời sự: rằng lòng thương xót, được sống qua kinh nguyện, lời nói và những hành động cụ thể, có thể trở thành nền tảng cho niềm hy vọng và sự hiệp nhất,” Đức Tổng Giám mục Gintaras Grušas nói.

Ngày khai mạc bao gồm Thánh lễ tại Quảng trường Nhà thờ Chánh tòa Vilnius và rước kiệu Thánh Thể qua trung tâm thành phố, mở đầu cho chuỗi chương trình diễn ra tại các nhà thờ, các đan viện, bảo tàng và không gian công cộng trên khắp thành phố.

“Đại hội này quy tụ hơn 130 diễn giả đến từ Canada, Philippines, Ý và Ukraine; nhưng điều kết nối họ không phải là địa vị hay danh hiệu. Nhiều người trong đó đã trải qua những kinh nghiệm phi thường – từ nghiện ngập, bạo lực cho đến chiến tranh, mất mát và hoán cải cá nhân. Bên cạnh các nhà lãnh đạo Giáo hội và các tác giả nổi tiếng thế giới, khách tham dự sẽ được nghe các câu chuyện của những con người đã xây dựng lại cuộc đời mình và tìm thấy niềm hy vọng trong những hoàn cảnh khó khăn,” bà Inesa Čaikauskienė, Giám đốc Đại hội Tông đồ Thế giới về Lòng Thương xót Vilnius 2026, cho biết.

Chương trình WACOM diễn ra trong năm ngày trọn vẹn, với hơn 30 sự kiện mỗi buổi chiều trên khắp Vilnius và mở cửa cho tất cả mọi người, dù họ đến vì đức tin, văn hóa hay đơn giản là vì những cuộc đối thoại mang ý nghĩa sâu sắc. Các hoạt động buổi tối bao gồm chương trình hòa nhạc, bên cạnh là những cử hành phụng vụ và các giờ cầu nguyện hằng ngày được đan xen trong chương trình của đại hội.

Vượt ra ngoài chiều kích tôn giáo, cuộc gặp gỡ này còn đề cập đến một số thách đố cấp bách nhất mà các xã hội hiện đại đang phải đối diện: sự cô đơn, nghiện ngập, đổ vỡ gia đình, sức khỏe tâm thần, những tổn thương do chiến tranh và tình trạng bị gạt ra bên lề. Thông qua các buổi thảo luận, triển lãm và sự kiện cộng đồng, các diễn giả cùng khám phá cách thức để các cộng đồng có thể phản ứng trước những vấn đề này bằng tình liên đới và hành động cụ thể.

Các phiên thảo luận có sự đóng góp của những diễn giả cấp quốc tế, trong đó có ông John Pridmore, trước đây là một thành viên băng đảng đã trở thành diễn giả Công giáo, và ông Nicky Gumbel, mục sư Anh giáo kiêm người sáng lập Alpha. Trong số 30 bài thuyết trình mỗi ngày, các tham dự viên sẽ lắng nghe Đức Tổng Giám mục Grzegorz Ryś của Krakow, nhà truyền thông Công giáo Matt Fradd, bà Tetiana Stawnychy, Chủ tịch Caritas Ukraine, cũng như Đức Thượng phụ Đại kết Bartholomew I và Đại Thống lãnh của Dòng Hiệp sĩ Malta.

Vilnius đang kết hợp chương trình của đại hội với vai trò lâu đời của mình là một điểm đến hành hương. Với hơn 30 nhà thờ nằm trong khoảng cách có thể đi bộ trong khu Phố cổ được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới, thành phố cũng giới thiệu những tuyến hành hương gắn liền với truyền thống Lòng Thương xót của Chúa, trong đó có con đường hành hương Lòng Thương xót.

Trong khi hàng ngàn người tiếp tục đổ về trong suốt tuần lễ này, Vilnius đang khẳng định vị thế của mình không chỉ là một điểm hành hương lịch sử, mà còn là một điểm gặp gỡ đương đại cho các cuộc đối thoại toàn cầu về đức tin và đời sống cộng đồng.


[Nguồn: zenit]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 14/06/2026]


Vâng, ngay cả các giáo hoàng cũng bị trễ chuyến bay; nhớ lại sự cố khẩn cấp của Đức Gioan Phaolô II

Vâng, ngay cả các giáo hoàng cũng bị trễ chuyến bay; nhớ lại sự cố khẩn cấp của Đức Gioan Phaolô II

Vâng, ngay cả các giáo hoàng cũng bị trễ chuyến bay; nhớ lại sự cố khẩn cấp của Đức Gioan Phaolô II

Photo by Simone Risoluti / VATICAN MEDIA / AFP


Kathleen N. Hattrup

12/06/26


Cả thế giới đã dõi theo với sự thích thú khi dường như Tây Ban Nha quá yêu mến Đức Giáo hoàng Lêô đến mức không muốn để ngài rời đi sau bảy ngày nồng nhiệt và ấm áp. Nhưng việc này lại nhắc chúng ta về một sự kiện năm 1990 xảy ra với Đức Gioan Phaolô II.

Khi những nhân vật quan trọng hàng đầu thế giới bay khắp địa cầu, hiếm khi xảy ra các sự cố kỹ thuật. Thế nhưng, thỉnh thoảng chúng ta lại được nhắc nhớ rằng ngay cả các quốc vương, các nữ hoàng, tổng thống, thủ tướng – và vâng, ngay cả các giáo hoàng – cũng phải đối mặt với những bất tiện vốn là một phần trong cuộc sống của tất cả chúng ta.

Chiều nay, ngày 12 tháng 6, sau khi Đức Giáo hoàng Lêô lên máy bay để rời Tây Ban Nha, theo sau một nghi thức chào danh dự quân sự vô cùng trang trọng và lời tạm biệt nồng hậu từ một vị quốc vương với nụ cười rạng rỡ, cầu thang được chuyển đi và cửa máy bay đóng lại. Ngay cả thảm đỏ cũng đã được cuộn lại. Một số vị giáo sĩ cấp cao và các vị chức sắc vẫn đứng dõi theo. Vậy mà, máy bay vẫn nằm im trên đường băng, với quốc kỳ Tây Ban Nha và Vatican tung bay bên ngoài các cửa sổ buồng lái đang mở.

Bất ngờ, xe thang lại được đưa trở lại và nhà vua xuất hiện lần nữa... chuyện gì đang xảy ra vậy? Đức Vua Felipe VI bước lên chính chiếc cầu thang mà Đức Giáo hoàng đã đi lên chỉ vài phút trước đó; và người ta nhìn thấy Đức Thánh Cha trò chuyện với nhà Vua tại cửa máy bay... rồi cả hai cùng bước xuống thang, cười nói và rõ ràng là đang tận hưởng khoảnh khắc này.

Người ta nhớ lại việc Đức Thánh Cha Lêô từng nói về việc “thực hành sự hiện diện của Thiên Chúa”, và hình dung rằng ngài đón nhận toàn bộ sự việc không chỉ bằng sự hóm hỉnh mà còn bằng đức tin.

Đức Thánh Cha và Quốc vương đi vào bên trong sân bay; vài phút sau, Đức Hồng y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, xuất hiện và bước xuống máy bay, vừa đi vừa chỉnh lại phẩm phục hồng y của mình, trong khi các bình luận viên trên đài phát thanh đang phát trực tiếp bày tỏ rằng, cũng như mọi người khác, họ hoàn toàn không biết chuyện gì đang xảy ra... còn buổi phát sóng trực tiếp của Vatican vẫn tiếp tục chiếu hình ảnh một chiếc máy bay không hề di chuyển. Thông báo chính thức cho biết dự kiến chuyến bay sẽ chậm ít nhất 30 phút; đồng thời các thông báo cũng xác nhận sự có mặt của tổng giám đốc hãng hàng không Iberia, người dĩ nhiên đã gửi lời xin lỗi về sự cố. Dẫu vậy, như tất cả mọi người đều đồng ý, an toàn luôn là trên hết.

Ôi, đúng vậy, việc chuyến bay bị hoãn là một phần của cuộc sống, kể cả đối với các giáo hoàng.

Trong khi các ký giả Vatican kỳ cựu có mặt trên chuyến bay cố gắng chia sẻ các dòng tin ngắn, nhận định chung của họ khá giống nhau: chuyện này chắc chắn không thường xảy ra! Thật vậy, "chưa từng có tiền lệ" là cụm từ được sử dụng, ngoại trừ một ngoại lệ nhỏ.

Đức Gioan Phaolô II và một phép lạ tại Malta

Đền thánh quốc gia Ta' Pinu rộng lớn và tuyệt đẹp trên đảo Gozo của Malta là đền thánh quan trọng nhất trên quần đảo, là điểm đến của những người hành hương trong nước và quốc tế. Nhiều người trong số họ trở lại Ta’ Pinu để cảm tạ vì những ơn lành đã nhận được; các bảng tạ ơn phủ kín những bức tường của hai căn phòng cạnh gian cung thánh.

Tại đó, người ta có thể nhìn thấy một bảng tạ ơn từ một sự cố máy bay khác và liên quan đến một vị giáo hoàng khác.

Năm 1990, trong chuyến tông du đến Tanzania, Đức Phaolô II đã buộc phải hạ cánh khẩn cấp xuống Malta. Chỉ vài tháng trước đó, vào tháng 5 năm 1990, ngài là vị giáo hoàng đầu tiên viếng nhà nguyện tại Ta’ Pinu, nơi ngài đã chìm trong thinh lặng cầu nguyện trước linh ảnh này.

Bbốn tháng sau, vào tháng 9, do một sự cố kỹ thuật, chiếc máy bay chở giáo hoàng buộc phải hạ cánh khẩn cấp tại Malta. Một lần nữa, vị giáo hoàng người Ba Lan nhận thấy bàn tay che chở của Đức Trinh nữ Maria trong cuộc đời mình, tin rằng chính Đức Mẹ đã gìn giữ mọi người được an toàn.

Sau khi mọi việc được xử lý và sửa chữa xong, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tiếp tục thực hiện chuyến tông du lịch sử kéo dài năm ngày tại Tanzania.

Vâng, ngay cả các giáo hoàng cũng bị trễ chuyến bay; nhớ lại sự cố khẩn cấp của Đức Gioan Phaolô II

Bảng tạ ơn mô tả Đức Gioan Phaolô II và chiếc máy bay.

Dòng chữ ghi trên bảng tạ ơn bằng tiếng Malta viết rằng: “Ngày 1 tháng 9 năm 1990, khi máy bay của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II trên đường đến Tanzania gần đến Malta, máy bay gặp một sự cố nghiêm trọng và có nguy cơ bị rơi. Viên phi công đã kiểm soát được tình hình và hạ cánh an toàn xuống Malta. Sau khi cầu nguyện, Đức Giáo hoàng nói: ‘Đức Mẹ Ta’ Pinu đã cứu chúng ta.’”

Còn đối với Đức Giáo hoàng Lêô, vào thời điểm bài báo này được đăng, các nhân viên đang bốc dỡ các vali khỏi máy bay. Một chiếc máy bay mới đang được điều đến từ Madrid. Quốc vương, theo ghi nhận, vẫn ở lại sân bay. Và dự kiến Đức Thánh Cha vẫn sẽ trở về Vatican trong đêm nay... có lẽ vậy.

Cập nhật: Có một diễn biến mới. Các kế hoạch đang được triển khai để đưa Đức Giáo hoàng Lêô trở về Vatican bằng chuyên cơ quân sự riêng của Quốc vương. Tuy nhiên, như bất cứ ai từng phải chờ đợi nhiều giờ tại sân bay đều biết, thông tin luôn thay đổi và mọi việc có thể thay đổi bất cứ lúc nào. (Kể cả yếu tố thời tiết; xin lưu ý rằng chuyến bay đang khởi hành từ một hòn đảo!)

Cập nhật: Lúc 19:02 phút theo giờ Roma (6:02 phút tại quần đảo Canary), chuyên cơ của Quốc vương chở Đức Giáo hoàng đã bắt đầu lăn bánh để cất cánh, tức khoảng ba giờ sau thời điểm cất cánh dự kiến ban đầu. Đức ông Edgard, thư ký riêng của Đức Giáo hoàng, dường như đã lên máy bay cùng với hành lý của Cha (và của Đức Giáo hoàng). Nhà vua vẫn tiếp tục ở lại sân bay, bây giờ với nụ cười an lòng. Người ta chỉ có thể hình dung những hoa trái mà Thiên Chúa có thể làm nảy sinh từ những giờ phút bất ngờ kéo dài thêm tại Tây Ban Nha này.

Vâng, ngay cả các giáo hoàng cũng bị trễ chuyến bay; nhớ lại sự cố khẩn cấp của Đức Gioan Phaolô II

Đức Giáo hoàng Lêô lên chuyên cơ quân sự riêng của Quốc vương Felipe VI, với dòng chữ: “Vương quốc Tây Ban Nha”. STEFANO RELLANDINI | AFP

Cập nhật: 7 giờ 09 phút, máy bay cất cánh.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 13/06/2026]