Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2026

Tiếp kiến các Giám mục là bạn hữu của Phong trào Focolare, 09.09.2026

Tiếp kiến các Giám mục là bạn hữu của Phong trào Focolare, 09.09.2026

Tiếp kiến các Giám mục là bạn hữu của Phong trào Focolare, 09.09.2026

*******

Sáng nay, tại Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã tiếp kiến một nhóm các Giám mục là bạn hữu của Phong trào Focolare.

Sau đây là bài diễn văn của Đức Thánh Cha trước những người hiện diện trong cuộc gặp gỡ:

Diễn văn của Đức Thánh Cha

Nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần.
Bình an ở cùng anh em!

Chào tất cả anh em và chào mừng!

Tôi thân ái chào đón anh em, những người bạn của Phong trào Focolare, đang quy tụ để tham dự cuộc gặp gỡ thiêng liêng của anh em. Tôi cảm ơn anh em về chuyến viếng thăm hôm nay, một biểu lộ cho tình huynh đệ giám mục đoàn, và tôi cảm ơn vì những lời cầu nguyện liên lỉ của anh em. Tôi rất vui mừng được nhìn thấy đông đảo anh em, đến từ nhiều quốc gia, nền tảng và hoàn cảnh xã hội khác nhau, cùng quy tụ trong một tinh thần dưới mái nhà của Công trình của Đức Maria. Những lời đầy an ủi của Chúa chúng ta hiện lên trong trí tôi: “Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy giữa họ” (Mt 18:20).

Thật vậy, chủ đề được chọn cho đại hội của anh em, “làm chứng cho sự hiệp nhất”, là một trong những yếu tố cốt lõi của phong trào do chị Chiara Lubich sáng lập, và cũng là điều gần gũi với tâm hồn tôi. Trong một thời đại đáng buồn bị đánh dấu bởi sự phân cực ngày càng tăng, Chúa chúng ta đã ban cho chị khả năng làm chứng cho cả ý nghĩa lẫn việc phục vụ sự hiệp nhất, qua đó chị trở thành một dấu chỉ cho thế hệ của chị cũng như cho các thế hệ tương lai (x. Đức Thánh Cha Phanxicô, Diễn văn với các Giám mục là bạn hữu của Phong trào Focolare, ngày 25 tháng 9 năm 2021).

Nếu đó là sứ mạng của chị Chiara cách đây bốn mươi năm, thì hôm nay sứ mạng ấy lại càng cấp thiết hơn đối với chúng ta. Tôi nghĩ đến những hoàn cảnh xã hội khó khăn, những bối cảnh, những chia rẽ mà một số anh em, những người anh em của tôi, đang phải chịu đựng tại quốc gia của họ, những hoàn cảnh như thành kiến, phân biệt chủng tộc, bất khoan dung tôn giáo, thậm chí cả bạo lực.

Tôi cũng nghĩ đến tình hình ở phương Tây, nơi ngày nay đang bị ghi dấu bởi những hệ quả của chủ nghĩa cá nhân, nơi những mạng lưới gia đình, tình bạn và cộng đồng vốn từng ổn định đang nhường chỗ cho sự phân mảnh ngày càng lớn, và nơi tự do ngày càng được trình bày như sự tự chủ tuyệt đối – tức là khả năng tìm kiếm hạnh phúc mà không bị ràng buộc bởi bất kỳ giới hạn luân lý, tự nhiên, hay thậm chí nhân bản nào (x. Thông điệp Magnifica Humanitas, 118).

Thế nhưng chúng ta lại chứng kiến một nghịch lý. Dù tự do cá nhân được đề cao hết mực, con người ngày nay lại thường cảm thấy ít tự do hơn trong việc sống đúng với bản thể chân thực của mình hoặc theo đuổi những lý tưởng cao đẹp nhất, xuất phát từ nỗi sợ hãi bị phán xét hoặc không hòa nhập được. Hơn nữa, sự mất đi khả năng rộng mở với tha nhân này, vốn làm trầm trọng thêm cảm thức chia rẽ, cuối cùng tước mất khỏi chúng ta niềm hạnh phúc mà chúng ta được tạo dựng để hướng tới, bởi vì chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi, Đấng tự bản chất là sự hiệp thông giữa các ngôi vị – Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Khi mặc khải trái tim của Chúa Cha, Đức Kitô cho chúng ta thấy ý nghĩa sâu xa nhất của cuộc sống, của các mối tương quan của chúng ta, và con đường dẫn đến hạnh phúc. Nhờ ân sủng của Thánh Thần, chúng ta đã trở nên con cái của Thiên Chúa, được thông phần vào sự sống thần linh, và từ sự hiệp thông với Thiên Chúa tuôn trào sự hiệp thông của chúng ta với nhau như những anh chị em trong Đức Kitô. Đây chính là Giáo hội, một mầu nhiệm hiệp thông (x. Bộ Giáo lý Đức tin, Communionis Notio, 3), dấu chỉ và men của sự hiệp nhất cho thế giới chúng ta.

Là những người được thừa hưởng di sản thiêng liêng của chị Chiara Lubich, và là những thừa tác viên của Giáo hội Đức Kitô trong một thế giới bị phân mảnh, anh em được mời gọi làm chứng cho sự hiệp nhất mà gia đình nhân loại hằng mong đợi. Câu trả lời cho những chia rẽ đáng buồn đang làm khổ thế giới chúng ta không nằm ở việc thành lập thêm các ủy ban hay khởi xướng thêm các dự án, nhưng ở việc trở về với nguồn mạch sự hiệp nhất của chúng ta nơi Chúa Ba Ngôi. Quả thật, chúng ta phải trở thành những người chiêm niệm!

Với những suy tư ấy, tôi khuyến khích anh em tận dụng những ngày ở bên nhau này để sống tình huynh đệ, một tình huynh đệ nhắc nhớ và củng cố mối tương quan huynh đệ của chúng ta trong Đức Kitô. Đây là những ngày của ân sủng, được ở bên những người anh em của mình trong hàng giám mục. Chúng ta biết điều đó mang lại ích lợi cho chúng ta biết bao. Vì thế, tôi vui mừng vì anh em đã tìm thấy nơi Công trình của Đức Maria sự nâng đỡ thiêng liêng này. Ước mong nó cũng giúp anh em sống sự hiệp thông và tình huynh đệ trong các Hội đồng Giám mục của anh em.

Trên hết, tôi hy vọng anh em sẽ nắm lấy cơ hội này để nuôi dưỡng đời sống nội tâm: bằng việc cầu nguyện cách quảng đại và kiên trì trước Chúa nơi Nhà Tạm, bằng việc bình tâm và chăm chú cử hành Kinh Nhật Tụng và Thánh lễ, và sau cùng, bằng việc thường xuyên chiêm niệm sự hiện diện của các Ngôi vị Thiên Chúa Ba Ngôi trong sâu thẳm hữu thể của chúng ta. Bằng cách đó, anh em sẽ trở thành những nhân chứng cho nhau và cho những người anh em phục vụ về sự hiệp nhất để xây dựng một nền hòa bình lâu bền.

Để kết thúc, tôi phó thác anh em và Công trình của Đức Maria cho sự chuyển cầu đầy yêu thương của Đức Mẹ, Mẹ Giáo hội, và tôi ban Phép lành Tòa Thánh cho tất cả anh em, như bảo chứng của niềm vui và bình an trong Đức Kitô, Chúa chúng ta. Cảm ơn anh em.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 11/09/2026]



Vị giám mục hàng đầu châu Âu nói với Crux Now: sự sợ hãi người nhập cư cho thấy cuộc khủng hoảng bản sắc của châu Âu

Vị giám mục hàng đầu châu Âu nói với Crux Now: sự sợ hãi người nhập cư cho thấy cuộc khủng hoảng bản sắc của châu Âu

Fionn Shiner
Ngày 10 tháng 9 năm 2026

Vị giám mục hàng đầu châu Âu nói với Crux Now: sự sợ hãi người nhập cư cho thấy cuộc khủng hoảng bản sắc của châu Âu


Chủ tịch các Hội đồng Giám mục Liên minh châu Âu (EU) cho biết sự gia tăng nỗi sợ hãi và thái độ thù địch đối với người nhập cư là dấu hiệu cho thấy châu Âu đã đánh mất ý thức về những giá trị mà mình đại diện.

Trong bối cảnh việc trợ tử đang lan rộng trên khắp châu lục và niềm tin vào Thiên Chúa tiếp tục giảm sút, Đức cha Mariano Crociata, Giám mục giáo phận Latina-Terracina-Sezze-Priverno của Ý, Chủ tịch Ủy ban các Hội đồng Giám mục Liên minh châu Âu (COMECE), đã trao đổi với Crux Now trong một cuộc phỏng vấn đề cập đến nhiều vấn đề.

Ngài cho rằng châu Âu đang đứng trước nguy cơ đánh mất các giá trị của mình, không phải do di dân, mà do chính các công dân của lục địa này.

Ngài nói, “Những người thuộc các nền văn hóa và tôn giáo khác nhau cần được đón nhận và hội nhập vào một môi trường và bối cảnh xã hội, nơi họ có thể học cách sống chung trong sự tôn trọng lẫn nhau."

Đức cha Crociata nói thêm: “Tuy nhiên, nếu chính chúng ta không biết mình là ai, bỏ qua căn tính của mình và không bảo vệ những gì thực sự quan trọng cũng như những gì mang lại ý nghĩa cho đời sống công dân chung của chúng ta, thì chẳng cần người khác phải lấy đi những giá trị làm nền tảng của chúng ta, bởi chính chúng ta sẽ tự từ bỏ chúng.”

Đức cha Crociata nhấn mạnh các giá trị cốt lõi của châu Âu cần được bảo vệ bao gồm “ý thức về nhân phẩm của mỗi con người” vốn tạo nên “nền tảng của sự chung sống văn minh”, cùng với “tự do, bình đẳng và liên đới, cũng như dân chủ và pháp quyền.”

Ngài nói ngài tin tưởng rằng “những thay đổi sâu xa và mang tính quyết định nhất đang diễn ra trong các xã hội phương Tây của chúng ta không phải là do sự hiện diện của những người nhập cư và người nước ngoài mang đến.”

Thay vào đó, Đức cha Crociata lập luận rằng “điều sẽ định hình cách sâu sắc nhất các xã hội của chúng ta là cách thức chính chúng ta đã chọn và vẫn tiếp tục chọn lối sống của mình, cách chúng ta chung sống với nhau và tương lai mà chúng ta mong muốn xây dựng.”

“Nỗi sợ người khác là dấu hiệu của sự yếu đuối nơi chính chúng ta,” ngài nói.

Đức cha Crociata nói với Crux Now sau khi các quy định mới của EU về người di cư được thông qua trong mùa hè, trong đó có việc kéo dài thời gian tạm giữ di dân và đẩy nhanh tiến trình trục xuất.

Khi đó, Đức cha Crociata đã chỉ trích luật này và nhắc lại mối quan ngại của ngài về “cách thức những di dân và người tị nạn có thể bị đối xử, việc thiếu tôn trọng phẩm giá của họ khi đến nơi, cũng như những trường hợp đẩy trả và di chuyển mang tính chất trục xuất.

“Chúng tôi đã nói điều này nhiều lần trong suốt những năm qua, nhưng chúng tôi sẽ không bao giờ mệt mỏi phải nhắc lại: chúng ta đang nói về con người, chứ không phải những con số,” ngài nói, đồng thời thêm rằng “cần có sự phân định và đánh giá cẩn trọng về hoàn cảnh của những người đến.”

Dưới đây là toàn văn cuộc phỏng vấn của Crux Now với Đức cha Mariano Crociata…


Crux Now: Trong tuyên bố của Đức cha sau khi các quy định mới của EU được công bố, Đức cha nói về việc tôn trọng các giá trị nền tảng của châu Âu. Đó là những giá trị nào? Tại sao chúng quan trọng?

ĐGM Mariano Crociata: Các giá trị nền tảng của Liên minh châu Âu sở dĩ mang tính chất như vậy không chỉ vì chúng đã được tuyên bố và chia sẻ bởi thế hệ đã khai sinh ra Cộng đồng châu Âu, mà còn vì chúng được công nhận và hệ thống hóa thành luật trong các văn kiện được thông qua và phê chuẩn bởi các quốc gia thành viên EU ngày nay, cụ thể là Hiệp ước về Liên minh Châu Âu và Hiến chương về các Quyền Cơ bản của Liên minh Châu Âu.

Những giá trị này nói đến phẩm giá con người, tự do, bình đẳng và liên đới, cũng như nền dân chủ và pháp quyền.

Ý thức về phẩm giá của mỗi con người và sự tôn trọng phẩm giá ấy là nền tảng của sự chung sống văn minh; lãng quên những điều này, hoặc tệ hơn nữa, khinh miệt chúng, chắc chắn sẽ dẫn đến sự suy thoái và tình trạng phi nhân hóa.

Mọi thất bại trong việc tôn trọng một con người khác, sớm hay muộn, sẽ quay trở lại tác động đến chính những người đã thực hiện hành vi ấy.


Đức cha sẽ nói gì với những nhà phê bình cho rằng các giá trị của châu Âu cũng đang bị đe dọa bởi sự gia tăng số những người đến từ các nền văn hóa có thể không chia sẻ chung các giá trị đó?

Trước hết, các giá trị này có thể bị đe dọa bởi chính các công dân. Nếu họ thực sự tin vào những giá trị đó, họ sẽ làm những gì cần thiết để bảo vệ và đảm bảo chúng tiếp tục được gìn giữ cách vững chắc.

Những người có nguồn gốc văn hóa và tôn giáo khác nhau cần được đón nhận và hội nhập vào một môi trường và bối cảnh xã hội, nơi họ có thể học cách sống chung trong sự tôn trọng lẫn nhau.

Tuy nhiên, nếu chính chúng ta không biết mình là ai, bỏ qua căn tính của mình và không bảo vệ những gì thực sự quan trọng cũng như những gì mang lại ý nghĩa cho đời sống công dân chung của chúng ta, thì chẳng cần người khác phải lấy đi những giá trị làm nền tảng của chúng ta, bởi chính chúng ta sẽ tự từ bỏ chúng.

Ngược lại, nếu những giá trị này vẫn bén rễ vững chắc bên trong và giữa chúng ta, thì việc chung sống với những người thuộc các nền văn hóa và tôn giáo khác nhau sẽ chỉ đặt những giá trị ấy vào thử thách, cũng như khả năng đối thoại và sự tôn trọng mà chúng ta có thể thiết lập với mọi người và dành cho mọi người.


Cụ thể điều gì trong các quy định mới của EU khiến Đức cha lo ngại?

Điều đáng quan ngại là cách thức những di dân và người tị nạn có thể bị đối xử, việc thiếu tôn trọng phẩm giá của họ khi đến nơi, cũng như những trường hợp đẩy trả và di chuyển mang tính chất trục xuất.

Chúng tôi đã nói điều này nhiều lần trong suốt những năm qua, nhưng chúng tôi sẽ không bao giờ mệt mỏi khi nhắc lại: chúng ta đang nói về con người, chứ không phải những con số.

Chắc chắn cần có sự phân định và đánh giá cẩn trọng về hoàn cảnh của những người đến. Cũng đúng là không thể tổ chức việc tiếp nhận nếu không có các tiêu chí, cũng như không tính đến khả năng và điều kiện của các quốc gia tiếp nhận. Đó chính là lý do tại sao điều đang được đặt ra là khả năng của chúng ta trong việc quản lý vấn đề di cư một cách tổng thể.

Sự chần chừ, bất an và sợ hãi vốn là đặc trưng trong chính sách của các quốc gia chúng ta đối với người di dân cuối cùng đã quay ngược chống lại chính chúng ta, bởi vì chúng ta đã tự tước đi cơ hội phát triển một phương cách tiếp cận có tính phối hợp, xuyên quốc gia, đủ khả năng ngăn chặn dòng người ồ ạt và hỗn loạn, đã và đang bị những kẻ buôn người vô lương tâm lợi dụng.

Chúng ta phải bắt đầu từ tiền đề rằng chúng ta cần phải đối diện với hiện tượng mang tính thời đại này. Ý tưởng cho rằng chúng ta có thể đơn giản ngăn chặn nó bằng cách đóng cửa các biên giới là một ảo tưởng, chỉ dẫn đến việc lãng phí thời gian và nguồn lực.

Các quốc gia xuất xứ cũng phải gánh vác những nghĩa vụ đối với chính công dân của họ, những người đang chạy trốn khỏi các hoàn cảnh không phù hợp với phẩm giá con người của họ.

Và những quốc gia quá cảnh cũng phải tránh việc công cụ hóa người di cư và những tình huống vi phạm các quyền cơ bản nhất của họ.


Giáo hội công nhận cả quyền di cư lẫn quyền của các quốc gia trong việc quản lý biên giới của họ. Nếu hai quyền này xung đột, các chính phủ nên cân nhắc hài hòa những quyền ấy như thế nào?

Trước hết, tôi muốn nhấn mạnh rằng quyền đầu tiên của mỗi người là được sống trong phẩm giá và an toàn tại chính quê hương của mình. Khi điều này không xảy ra, con người có quyền tìm kiếm những nơi mà họ có thể có được cả hai điều đó.

Từ xưa đến nay, và ngày nay còn hơn thế nữa, sự dịch chuyển luôn là một đặc tính của thân phận con người.

Trong thời đại khi con người vượt qua mọi ranh giới có thể có, không chỉ trong tâm trí mà còn thông qua truyền thông dưới mọi hình thức vô hạn của nó, mỗi quốc gia hoặc nhóm quốc gia có thể thực thi quyền quản lý biên giới của họ không chỉ bằng việc thi hành luật pháp hiện hành, mà còn bằng cách xác lập các thỏa thuận và thiết lập quan hệ với những quốc gia nơi người di cư xuất phát hoặc với các quốc gia quá cảnh.

Chẳng hạn, một thực hành tốt là thiết lập những con đường đến nơi an toàn và hợp pháp. Bằng cách này, sự tôn trọng con người có thể được dung hòa với sự tôn trọng biên giới cũng như việc duy trì trật tự và sự gắn kết xã hội.

Tính hợp pháp và đối thoại thể chế phải không ngừng tìm kiếm và xác định điểm cân bằng giữa hai loại quyền này.


Sau cuộc khủng hoảng Ceuta, các giám mục Tây Ban Nha cảnh báo rằng người di cư có thể bị sử dụng như những quân cờ trong trò chơi địa chính trị rộng lớn hơn. Các chính phủ châu Âu nên ứng phó với điều này như thế nào?

Điểm then chốt được làm nổi bật bởi tình huống này chính là việc sử dụng con người, đối xử với họ như những công cụ và thậm chí đặt sự sống còn của họ vào tình trạng nguy hiểm vì những mục đích chính trị hoặc chiến lược.

Khi điều này thực sự xảy ra, đánh giá về mặt đạo đức chỉ có thể là bác bỏ và lên án.

Chúng ta phải dứt khoát về điểm này. Điều đang bị đe dọa ngày nay chính là sự hiểu biết về mặt luân lý của những nguyên tắc căn bản làm nền tảng cho đời sống chung của chúng ta, thậm chí từ trước khi Liên minh châu Âu được thành lập.

Không bao giờ có thể giản lược một con người thành một phương tiện hay một vật thể để sử dụng cho những mục đích khác.

Mức độ căng thẳng và hỗn loạn về chính trị và quân sự mà chúng ta đang chứng kiến ngày nay khiến chúng ta có nguy cơ nhắm mắt làm ngơ trước những hành vi không thể chấp nhận được, hoặc thậm chí rơi vào cám dỗ biện minh cho điều không thể biện minh.


Đức Giáo hoàng Phanxicô thường nói về “văn hóa vứt bỏ” góp phần tạo nên thái độ thờ ơ trước hoàn cảnh khốn cùng của người nhập cư. Giáo hội có thể giúp chuyển biến một văn hóa từ não trạng này sang một văn hóa nhìn nhận phẩm giá vốn có của mỗi con người như thế nào?

Trong lĩnh vực này, tôi tin rằng Giáo hội đã và đang làm nhiều điều từ những góc độ khác nhau.

Khó khăn nằm ở chính lối tư duy không xuất phát từ các tác nhân văn hóa cụ thể, mà đúng hơn là từ một lối sống lan rộng cách tự phát, thông qua một dạng vận động xã hội mang tính phân tử.

Chúng ta phải tiếp tục đóng góp phần của mình, với sự tin tưởng và quyết tâm, đồng thời bảo đảm rằng những não trạng và thực hành hợp thức hóa việc loại trừ và vứt bỏ con người một cách bất công không bén rễ giữa chúng ta, với tư cách là những người tín hữu và trong các cộng đoàn giáo hội của chúng ta.


Dường như nỗi sợ hãi về vấn đề di cư là một yếu tố then chốt đứng sau sự phát triển của nhiều phong trào dân túy mới ở châu Âu. Đức Cha sẽ nói gì với một người cho biết họ cảm thấy sợ hãi trước sự thay đổi nhanh chóng mà tình trạng di cư đã mang đến cho cộng đồng địa phương của họ?

Tôi tin rằng những biến chuyển sâu sắc và mang tính quyết định nhất đang diễn ra trong các xã hội phương Tây của chúng ta không phải do sự hiện diện của người nhập cư và người nước ngoài mang đến.

Chắc chắn họ sẽ có tác động trong thời gian dài, nhưng điều sẽ định hình sâu sắc nhất các xã hội của chúng ta là cách thức chính chúng ta đã chọn và vẫn đang tiếp tục chọn là lối sống của mình, cách chúng ta chung sống với nhau và tương lai mà chúng ta mong muốn xây dựng.

Nỗi sợ người khác là dấu hiệu của sự yếu đuối nơi chính chúng ta.

Chúng ta cần hy vọng rằng những biến đổi sâu sắc hiện đang diễn ra, trong đó di cư chỉ là một khía cạnh, sẽ đưa tất cả chúng ta đến một sự suy tư nghiêm túc và một tái khám phá đích thực về điều làm cho cuộc sống của chúng ta và các cộng đồng công dân châu Âu của chúng ta trở nên có giá trị.


[Nguồn: cruxnow]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 11/09/2026]


Thứ Bảy, 12 tháng 9, 2026

Buổi tiếp kiến của Đức Thánh Cha với các tân Giám mục tham dự khóa đào tạo “Các Giám mục, những người phục vụ sự hiệp thông trong Giáo hội và trong thế giới hôm nay”, 10.09.2026

Buổi tiếp kiến của Đức Thánh Cha với các tân Giám mục tham dự khóa đào tạo “Các Giám mục, những người phục vụ sự hiệp thông trong Giáo hội và trong thế giới hôm nay”, 10.09.2026

Buổi tiếp kiến của Đức Thánh Cha với các tân Giám mục tham dự khóa đào tạo “Các Giám mục, những người phục vụ sự hiệp thông trong Giáo hội và trong thế giới hôm nay”, 10.09.2026

*******

Sáng nay, tại Hội trường Thượng Hội đồng, Đức Thánh Cha tiếp kiến các tham dự viên khóa đào tạo dành cho các tân giám mục với chủ đề Các Giám mục, những người phục vụ sự hiệp thông trong Giáo hội và trong thế giới hôm nay.

Sau đây là diễn văn của Đức Giáo hoàng gửi đến các vị hiện diện tại buổi gặp gỡ:


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Anh em thân mến, xin chào mừng anh em!

Tôi rất vui mừng được gặp anh em khi kết thúc những ngày đào tạo dành cho các tân giám mục, và tôi xin cảm ơn Bộ Giám mục, Bộ các Giáo hội Đông phương và Bộ Loan báo Tin Mừng – Phân bộ Loan báo Tin Mừng lần đầu và các Giáo hội Địa phương mới đã chuẩn bị cho khóa học này.

Anh em đã có một kinh nghiệm đặc biệt về tình huynh đệ: cùng nhau lắng nghe, cầu nguyện, cử hành Thánh Thể và chia sẻ những hy vọng, những ước mơ mà anh em mang trong lòng dành cho các Giáo hội mà Chúa vừa trao phó cho sự chăm sóc mục vụ của anh em. Tất cả những điều ấy sẽ giúp anh em ghi nhớ một điều rất đơn sơ và quý giá: không một Giám mục nào bước đi một mình.

Các bạn rất thân mến, hãy biết rằng anh em luôn ở trong lời cầu nguyện của tôi, và cùng với anh em là các Giáo hội của anh em: các linh mục, phó tế, những người nam nữ sống đời thánh hiến, các chủng sinh, các gia đình, giới trẻ, người cao niên, người nghèo, những người đau khổ và những người vẫn đang chờ đợi được gặp gỡ niềm vui của Tin Mừng. Mọi người đều phải tìm được một chỗ trong trái tim của vị Giám mục, bởi vì tất cả mọi người đã có một chỗ trong trái tim của Đức Kitô. Vì lý do này, giờ đây tôi muốn chia sẻ với anh em một vài suy tư về chủ đề: “Các Giám mục, những người phục vụ sự hiệp thông trong Giáo hội và trong thế giới hôm nay”.

Trước hết, hãy ở lại với Chúa Giêsu. Trong số rất nhiều điều anh em sẽ được kêu gọi thực hiện trong vai trò là Giám mục, đây là điều quan trọng nhất. Chúng ta là những Giám mục, nhưng trước hết và trên hết, chúng ta là những người môn đệ. Để nói về Người, chúng ta cần phải ở với Người; muốn dẫn dắt dân Người, chúng ta phải cho phép bản thân được Người hướng dẫn mỗi ngày. Người “đã lập Nhóm Mười Hai”, những người mà Người gọi là các tông đồ, “để các ông ở với Người, và để Người sai các ông đi rao giảng” (Mc 3:14). Đây là trật tự của Tin Mừng: ở với Người và nhờ Người, được sai đi. Chúng ta đừng bao giờ quên điều này. Vì thế, hãy luôn trân trọng thời gian dành cho Chúa: Bí tích Thánh Thể, Lời Chúa, cầu nguyện và những giây phút anh em có thể hiện diện trước mặt Người với tâm hồn đơn sơ của một môn đệ biết để cho Chúa yêu thương mình. Thừa tác vụ của chúng ta khởi đi từ đó. Và khi tâm hồn luôn gần bên Người, sự phục vụ của chúng ta cũng trở nên bình an hơn, tự do hơn và sinh nhiều hoa trái hơn.

Khía cạnh thứ hai: hãy có trái tim của Chúa Giêsu, vị Mục Tử Nhân Lành, một trái tim hoàn toàn tận hiến cho Chúa Cha, và chính vì thế, hoàn toàn trao tặng cho anh chị em mình. Chúa Giêsu nói: “Tôi chính là mục tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10:11). Đó là khuôn mẫu của chúng ta. Giám mục là người học cách yêu thương đoàn dân của mình mỗi ngày nhiều hơn: biết những niềm vui và nỗi buồn của họ, chia sẻ những ước mơ của họ, vui mừng khi thấy các cộng đoàn của họ lớn mạnh. Anh em sẽ truyền chức linh mục và phó tế; anh em sẽ gặp những người trẻ tràn đầy nhiệt huyết; anh em sẽ chứng kiến lòng quảng đại âm thầm của biết bao tu sĩ nam nữ, các nhà truyền giáo, các giáo lý viên và các gia đình; và anh em sẽ ngày càng khám phá ra Dân Thiên Chúa thật đẹp biết bao. Hãy yêu mến đoàn dân mà Chúa đã trao phó cho anh em. Hãy học biết tên của họ, lắng nghe những câu chuyện của họ, đến thăm nhà họ bất cứ khi nào có thể, và cầu nguyện với họ. Đặc biệt tại các Giáo hội trẻ, rất thường khi chính sự hiện diện của vị Giám mục đã nói lên rất nhiều, ngay cả trước khi ngài cất lời. Một chuyến viếng thăm, một phép lành, thời gian dành cho một linh mục, lắng nghe một gia đình, một cuộc trò chuyện với một người trẻ: đó là những cử chỉ nhỏ bé, nhưng có thể đọng lại trong lòng một người suốt cuộc đời.

Một đặc tính khác của Giám mục là điều mà truyền thống gọi là sollicitudo pastoralis, tức là sự chăm sóc mục vụ. Điều đó không đơn thuần có nghĩa là gánh vác nhiều trách nhiệm. Nó là một điều sâu sắc hơn: mang đoàn dân của mình trong trái tim. Thánh Phaolô gọi mối bận tâm của ngài đối với tất cả các Giáo hội là “nỗi ray rứt hằng ngày” của ngài (x. 2 Cr 11:28). Như thế, Giáo hội nơi anh em được sai đến ngày càng trở thành một phần cuộc sống của anh em, gần như một phần của chính anh em. Đây chính là bản chất của tình phụ tử giám mục: có một trái tim quảng đại, đủ rộng để có chỗ cho tất cả mọi người, mang những người con của mình trong chính lòng mình và hằng ngày dâng họ lên Chúa trong lời cầu nguyện. Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nhắc lại rằng “sự gần gũi là một trong những đặc tính của Thiên Chúa đối với dân Người” (Bài giảng nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Thánh Gioan Phaolô II, 18 tháng 5 năm 2020). Và chính khi nói với các Giám mục tham dự khóa đào tạo vào ngày 12 tháng 9 năm 2019, ngài đã nói: “Chúng ta tồn tại để làm cho sự gần gũi này trở nên hữu hình”. Những lời thật quý giá đối với chúng ta! Ước mong qua sự hiện diện của chúng ta, mọi người có thể cảm nhận được phần nào sự dịu dàng và tình phụ tử của Thiên Chúa! Và điều này áp dụng cách đặc biệt đối với các linh mục.

Anh em thân mến, về phương diện này, tôi thúc giục anh em hãy yêu mến các linh mục của anh em. Ước mong họ tìm thấy một người cha và một người anh em nơi mỗi người trong anh em. Hãy lắng nghe họ, khích lệ họ, cầu nguyện cho họ, vui mừng trước những điều tốt đẹp họ thực hiện, và đồng hành với họ bằng sự tin tưởng trong thừa tác vụ của họ. Hãy đặc biệt quan tâm đến những vị cao tuổi và đau yếu. Hãy làm cho họ ý thức rằng họ rất quý giá, rằng Giáo hội biết ơn họ và rằng Giám mục không quên họ. Đôi khi, chỉ một cuộc điện thoại, một chuyến thăm hoặc một lời nói ân cần từ anh em là đủ.

Một nét đặc trưng khác trong thừa tác vụ của chúng ta mà tôi muốn nhắc nhở anh em, theo cách diễn tả rất đẹp của Thánh Augustinô, đó là trở thành một “amoris officium” (In Iohannis Evangelium, 123, 5): một sự phục vụ của tình yêu. Việc rao giảng của chúng ta là một hành vi yêu thương, cũng như việc lắng nghe, cầu nguyện, phân định, thời gian chúng ta dành cho mọi người, và chính sự hiện diện của chúng ta. Đó chính là đức ái mục vụ, điều cho phép Đức Kitô, vị Mục Tử, tiếp cận đoàn dân Người yêu thương thông qua con người khiêm nhường của chúng ta.

Chúng ta đang sống trong một thời đại thay đổi nhanh chóng. Những tiến bộ trong công nghệ truyền thông và trí tuệ nhân tạo đã mở ra những khả năng mà chỉ vài năm trước đây, chúng ta thậm chí chưa từng hình dung tới. Nhưng chắc chắn chúng không thể giải thoát nhân loại khỏi tội lỗi và những hậu quả của tội: điều này được chứng minh một cách bi thảm qua những cuộc khủng hoảng mà nhân loại hiện đang trải qua. Trong một bối cảnh phức tạp, và ở một số khía cạnh đầy bất an như hiện tại, Giáo hội đã cử hành Năm Thánh Hy Vọng vào năm ngoái. Có phải đó là vì Giáo hội sống tách biệt khỏi thế giới? Hoàn toàn ngược lại, đó là vì Giáo hội được Đức Kitô, Đấng đã chết và sống lại, sai đi để loan báo Tin Mừng cứu độ cho tất cả mọi người. Và các Giám mục chúng ta là những người đầu tiên nhận lãnh sứ mạng này. Với Thông điệp Magnifica humanitas, tôi tin rằng tôi đã trao gửi, trước hết cho các Mục tử của các Giáo hội, một tầm nhìn và một phương pháp để đối diện với thách đố lớn lao là bảo vệ nhân loại trong thời đại trí tuệ nhân tạo. Tôi khuyến khích anh em thúc đẩy những tiến trình suy tư và đối thoại trong các giáo phận của mình, đào tạo và hỗ trợ những người muốn dấn thân phục vụ cho nền văn minh tình thương.

Nhiều người trong anh em đến từ các Giáo hội trẻ. Anh em biết rõ vẻ đẹp cũng như những nhọc nhằn của sứ mạng truyền giáo, của một Giáo hội có lẽ sở hữu rất ít, nhưng lại rất giàu đức tin lớn lao. Vì lý do này, tôi mời gọi anh em gìn giữ một trái tim truyền giáo. Đó là một món quà quý giá mà Chúa đã đặt vào tay anh em và có thể trở nên lớn lao hơn nữa trong thừa tác vụ giám mục của anh em. Vị Giám mục truyền giáo có một trái tim rộng mở với tất cả mọi người: không chỉ với những ai đến tham dự các nhà thờ giáo xứ của anh em, mà cả các Kitô hữu thuộc những hệ phái khác, các tín đồ thuộc những tôn giáo khác, những người không tuyên xưng bất kỳ niềm tin nào, tất cả những người nam nữ thiện chí. Ngài lắng nghe và tôn trọng tất cả họ, ngài đến gần tất cả họ, và biết nhận ra điều thiện hảo trong tâm hồn mỗi người.

Thánh Augustinô, khi nói về đoàn dân của ngài, đã nói: “Vobis enim sum episcopus, vobiscum sum christianus”, “vì anh chị em… tôi là một Giám mục, cùng với anh chị em tôi là một Kitô hữu” (Bài giảng 340, 1). Chúng ta hãy bước đi cùng với đoàn dân của mình: hãy cầu nguyện với họ, lắng nghe Lời Chúa cùng với họ, cử hành Thánh Thể cùng với họ. Chúng ta hãy cùng với họ tìm kiếm dung nhan của Chúa mỗi ngày.

Anh em thân mến, khi trở về với các Giáo hội của mình, hãy mang theo sự xác tín này: Chúa, Đấng đã kêu gọi anh em, là Đấng trung tín. Người sẽ đi trước anh em trên con đường, đồng hành với anh em trong hành trình, và nhờ ân ban của Chúa Thánh Thần, soi sáng cho anh em mỗi ngày. Và xin Đức Maria, Mẹ Giáo hội, luôn gìn giữ anh em và đoàn dân được trao phó cho sự chăm sóc mục vụ của anh em.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 11/09/2026]


TUYÊN PHONG CHÂN PHƯỚC ĐỨC CHA FULTON SHEEN/II – Vượt ngoài những khuôn sáo. Các bài học về “truyền thông” của Đức cha Fulton Sheen

TUYÊN PHONG CHÂN PHƯỚC ĐỨC CHA FULTON SHEEN/II – Vượt ngoài những khuôn sáo. Các bài học về “truyền thông” của Đức cha Fulton Sheen

Thứ Hai, ngày 7 tháng 9 năm 2026
Marie-Lucile Kubacki


TUYÊN PHONG CHÂN PHƯỚC ĐỨC CHA FULTON SHEEN/II – Vượt ngoài những khuôn sáo. Các bài học về “truyền thông” của Đức cha Fulton Sheen


New York (Hãng tin Fides) - Vị Chân phước tương lai không chinh phục nước Mỹ chỉ nhờ sự phát triển của truyền hình. Sức hút của ngài đến từ việc kết hợp giữa nền tảng thần học vững chắc, ngôn từ chạm đến đời sống thường nhật, và sự quan tâm đến những trăn trở thực tế của lượng khán giả đông đảo.

Khi Đức cha Fulton J. Sheen lần đầu xuất hiện trên truyền hình vào ngày 12 tháng 2 năm 1952, phương tiện truyền thông mới này khi ấy đang bước vào các gia đình Mỹ và tái định hình những thói quen, nếp sinh hoạt của họ. Chương trình của ngài, với tên gọi đầy ý nghĩa “Cuộc sống đáng sống” (Life Is Worth Living), được xếp vào khung giờ cạnh tranh gay gắt, đối đầu với các chương trình giải trí do Milton Berle và Frank Sinatra chủ trì.

Thoạt nhìn, cuộc cạnh tranh dường như hoàn toàn lệch cán cân: không có chương trình tạp kỹ, không có dàn dựng sân khấu ngoạn mục, không có dàn khách mời đình đám. Chỉ có một vị giám mục, một cái bàn, vài quyển sách, một tượng Đức Trinh Nữ và Chúa Hài Đồng, và đôi khi là một bảng đen. Một sự giản dị đến mức gần như thách thức.

Thế nhưng, như nhà viết tiểu sử Thomas Reeves đã tái hiện trong quyển America's Bishop: The Life and Times of Fulton J. Sheen, chỉ trong vòng vài tuần, chương trình đã trở thành một hiện tượng quốc gia. Mạng lưới truyền hình DuMont nhận được hàng ngàn lá thư mỗi tuần; lượng người đăng ký tham dự các buổi ghi hình vượt quá số ghế có sẵn; chương trình nhanh chóng lan rộng sang các kênh phát sóng mới. Năm 1952, Đức cha Sheen đã đoạt giải Emmy cho nhân vật truyền hình xuất sắc, vượt qua các ngôi sao đã thành danh của ngành công nghiệp giải trí Mỹ. Trong diễn văn nhận giải, ngài hóm hỉnh phát biểu: "Tôi xin cảm ơn bốn tác giả kịch bản của tôi: Mátthêu, Máccô, Luca và Gioan". Tuy nhiên, hiện tượng này không thể chỉ giải thích bằng sức cuốn hút tự nhiên của một nhân vật “truyền hình” bẩm sinh, bằng giọng nói không thể nhầm lẫn, ánh mắt nhìn thẳng vào máy quay, hay phong thái sân khấu được tôi luyện qua hàng chục năm giảng thuyết. Truyền hình đã đem lại một cơ hội phi thường; nhưng điều làm nên thành công bền vững ấy chính là nội dung.


Đơn sơ không phải là đơn giản hóa, nhưng là thành quả của sự lao động miệt mài

Đức cha Sheen không xem truyền hình như một lối tắt để làm cho Kitô giáo trở nên “thời thượng” hơn. Trái lại, ngài nhìn nhận đó là nơi đức tin có thể đối mặt với những lo âu của thời hiện đại một cách thông thái và không sợ hãi.

Nếu mỗi bài nói chuyện của ngài tuôn chảy như một dòng sông, thì đó là kết quả của một quá trình làm việc không ngừng. Ông Reeves thuật lại rằng, đối với các chương trình phát thanh trong thập niên 1930, ông ước tính Đức cha Sheen đã dành từ bốn mươi đến sáu mươi giờ để chuẩn bị; còn đối với mỗi chương trình truyền hình, ngài dành khoảng ba mươi giờ. Ông giải thích: “Để trở thành một diễn giả giỏi, mười phần trăm là cách trình bày, còn chín mươi phần trăm là suy tư, học hỏi, đổ mồ hôi và làm việc miệt mài”. Ngài không đọc kịch bản trước máy quay và không phụ thuộc vào những tấm thẻ nhắc ý: ngài lập nhiều dàn ý, chỉnh sửa và loại bỏ cho đến khi cấu trúc của lập luận đã trở thành bản năng thứ hai của ngài. Từ đó tạo nên sự tự nhiên mà nhiều khán giả lầm tưởng là sự ứng khẩu.

Trước khi có màn ảnh nhỏ, đã có đài phát thanh. Đức cha Sheen xuất hiện lần đầu trên sóng phát thanh từ năm 1928, và từ năm 1930, ngài trở thành giọng nói quen thuộc của chương trình Catholic Hour (Giờ Công giáo), một chương trình phát sóng toàn quốc được thúc đẩy tại Hoa Kỳ nhằm phổ biến giáo lý Công giáo và thúc đẩy mối quan hệ tốt đẹp hơn giữa các cộng đồng tôn giáo khác nhau. Những bài nói chuyện của ngài, trước đó được trình lên các vị thẩm quyền của Giáo hội để duyệt xét, tuy ngắn nhưng vô cùng cô đọng. Năm 1933, chương trình được phát trên 54 đài của NBC; mỗi tháng có khoảng ba ngàn lá thư gửi đến, và hơn 1,3 triệu bản in các bài nói chuyện đã được phân phối. Đến năm 1940, số đài phát sóng đã tăng lên 106, và các bản in những bài nói chuyện trong toàn bộ loạt chương trình đã lên tới hàng triệu bản.

Tuy nhiên, các buổi phát thanh của Đức cha Sheen không mang đến sự thoát ly thực tại hay loại "giải trí" dễ dãi. Chúng đề cập đến khủng hoảng kinh tế, tự do, phẩm giá lao động, chiến tranh, hòa bình, đau khổ, mối quan hệ giữa đức tin và lý trí, cũng như các hệ tư tưởng của thời đại ngài. Chẳng hạn, khi phê phán chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa cộng sản, ngài nhấn mạnh một đặc điểm chung mà cả hai cùng có: cả hai đều có xu hướng nhận chìm con người vào nhà nước và từng bước tước bỏ tự do cũng như trách nhiệm của họ. Cách diễn đạt của ngài có thể đanh thép, mang dấu ấn của những tranh luận trong giai đoạn lịch sử đó, nhưng sợi chỉ xuyên suốt vẫn là sự bảo vệ con người như một thụ tạo được kêu gọi hướng về Thiên Chúa, chứ không phải là một bánh răng trong bộ máy quyền lực chính trị hay kinh tế.


Nhân vật chính đích thực của công cuộc loan báo Tin Mừng không phải là ngôi sao dẫn chương trình, nhưng là Chúa Thánh Thần

Cùng một niềm tin vững chắc đó cũng đã định hình công việc truyền hình của ngài.

Life Is Worth Living không được hình thành như một bài giáo lý dành cho những khán giả đã tin. Trước mỗi buổi phát sóng, ngài tự đặt ra cho bản thân hai câu hỏi: mục đích của chương trình là gì, và những người ngoài Công giáo sẽ mang theo ấn tượng gì từ chương trình. Với câu hỏi thứ nhất, ngài trả lời bằng chính lời của Thánh Phaolô: ngài sẽ rao giảng "Đức Kitô, và là Đức Kitô chịu đóng đinh". Đối với câu hỏi thứ hai, ngài viện dẫn một trách nhiệm văn hóa rõ ràng: không đáp trả những hình ảnh bóp méo về Công giáo bằng thái độ tự vệ, mà trình bày chiều sâu và tính hợp lý của đức tin từ bên trong.

Đức cha Sheen mô tả phương pháp của ngài bằng những lời này: "Bắt đầu từ một điều gì đó vốn là điểm chung giữa khán giả và tôi, tôi sẽ từng bước đi từ cái đã biết đến cái chưa biết, hoặc tiến tới triết học luân lý và Kitô giáo". Vì thế, ngài không bao giờ tìm cách ép buộc người khác cải đạo. Ngài nhận xét: "Chưa từng có một nỗ lực nào có thể gọi là chiêu dụ tín đồ"; nó tùy thuộc vào khán giả có nhận ra liệu những gì họ nghe được có tương ứng với sự thiếu thốn, với một câu hỏi, hay một nhu cầu đang hiện hữu trong chính cuộc sống của họ hay không. Ngài nói thêm, ánh sáng có thể chạm đến một người là công việc của Thánh Thần, chứ không phải của Đức cha Sheen.

Điểm khởi đầu của ngài thường cụ thể đến mức đáng ngạc nhiên. Ngài nói về sự mệt mỏi và cách đối phó với nó; về sự buồn chán trong công việc; về việc nuôi dạy tuổi thiếu niên; về sự cô đơn; về tính cách; về tự do; về nỗi lo âu do chiến tranh và mối đe dọa nguyên tử gây ra. Ngài thường mở đầu bằng một giai thoại hoặc một câu chuyện hài hước, đôi khi cố tình rất đơn sơ, nhằm phá bỏ khoảng cách giữa vị giám mục và người đang ngồi ở nhà. Sau đó, tông giọng của bài nói chuyện chuyển hướng: từ sự châm biếm sang chẩn đoán luân lý, từ trải nghiệm đời thường đến câu hỏi về định mệnh con người, và tiến tới lời đề nghị của Kitô giáo. Đó là một cách nhìn nhận rằng lời rao giảng Tin Mừng gặp gỡ những con người mà mỗi người đều có lịch sử và những câu hỏi riêng. Trước những câu hỏi này, Đức cha Sheen không thu hẹp chân trời của đức tin thành một tập hợp những lời khuyên tâm lý nhanh chóng; ngài dành thời gian để lắng nghe và chỉ ra rằng các bí tích, việc cầu nguyện, đời sống luân lý và ân sủng có mối liên hệ mật thiết với một đời sống viên mãn. Công thức kết thúc của ngài, “Chúa yêu thương bạn”, được nói ra sau khi ngài nói về những xung đột, thất bại và âu lo, để lại nơi người xem sự suy ngẫm về lòng thương xót của Thiên Chúa.


Có thể tiếp cận khán giả đại chúng bằng những tham chiếu thần học và văn hóa bậc cao

Đức Fulton Sheen đã được đào tạo bài bản toàn diện. Là giáo sư triết học tại Đại học Công giáo Hoa Kỳ, đồng thời từng được đào tạo tại Louvain, ngài sở hữu một nền tảng vững chắc trong truyền thống triết học Tôma. Tư tưởng của ngài được nuôi dưỡng bởi siêu hình học và nhân học Kitô giáo, bởi giáo lý về thụ tạo, bởi thực tại của tội nguyên tổ, bởi tự do cá nhân và bởi vận mệnh siêu việt của con người. Trong các tác phẩm và chương trình phát sóng của ngài, Thánh Tôma Aquinô là chìa khóa giúp ngài phân biệt lý trí với chủ nghĩa giản lược, tự do với sự tùy tiện, và hy vọng với sự không tưởng của chính trị.

Nhưng văn hóa của ngài không chỉ giới hạn trong lĩnh vực thần học. Để tiếp cận một công chúng đa dạng, Đức cha Sheen biết cách vận dụng một tập hợp rộng lớn những tham chiếu về văn học, lịch sử, triết học và khoa học, theo một cách rất chặt chẽ. Sự đồng điệu của ngài với G. K. Chesterton, điều mang lại cho ngài biệt danh "Chesterton của nước Mỹ" tại Anh, cho thấy một trong những điểm tương đồng rõ rệt nhất: thích thú với những nghịch lý, một nghệ thuật hộ giáo khơi dậy sự kinh ngạc, và niềm xác tín rằng Kitô giáo không thu hẹp thực tại nhưng làm cho thực tại trở nên dễ hiểu hơn. Trong các bài nói chuyện của ngài cũng xuất hiện Platon và Aristote, Thánh Augustinô và Dante Alighieri, Blaise Pascal và John Henry Newman, Shakespeare và Charles Dickens, bên cạnh các nhân vật tư tưởng hiện đại như Søren Kierkegaard hay Carl Gustav Jung. Khi đề cập đến khoa học, kỹ thuật và chiến tranh nguyên tử, ngài không ngần ngại trích dẫn hoặc nhắc đến Democritus, Albert Einstein, Leo Szilard, nhà vật lý và thiên văn học James Jeans, nhà di truyền học Hermann J. Muller, Winston Churchill và thậm chí cả Alexander Đại đế...

Tầm rộng mở của các tham chiếu đó hoàn toàn không mang tính phô trương sự uyên bác theo kiểu "khoe tên tuổi". Đức cha Sheen dùng văn hóa như một cây cầu nối. Ngài làm cho người nghe hiểu rằng đức tin Kitô giáo có thể đối thoại với triết học cổ đại, với văn học, với nghiên cứu khoa học và với những biến cố chính trị của thế kỷ XX. Ngài khởi đi từ ý tưởng rằng khán giả đại chúng có thể được dẫn vào những vấn đề phức tạp nếu người truyền đạt tôn trọng trí thông minh của họ và tìm được những lời nói, hình ảnh cũng như những đoạn trích có khả năng đồng hành với họ. Đây là một cách tiếp cận hoàn toàn ngược với điều gọi là truyền thông hiện đại, được định hình bởi mạng xã hội, dựa vào những khẩu hiệu và những ngôn từ gây sốc, đồng thời đánh giá sự thành công của một bài viết hay một chương trình phát sóng chỉ bằng tiêu chí số lượt nhấp chuột. Thật vậy, ngài không ưa chuộng những khẩu hiệu và những câu nói sáo mòn.


Truyền thông đại chúng bắt đầu từ cuộc gặp gỡ với từng cá nhân

Thành công của Đức cha Sheen cũng dựa trên sự đối thoại và gặp gỡ. Trong một thời gian dài của những năm thực hiện Catholic Hour, chương trình bao gồm các câu hỏi do khán giả có mặt tại phòng thu đặt ra và các câu trả lời được đưa ra mà không có sự chuẩn bị trước. Các lá thư gửi đến với yêu cầu giải thích, những câu hỏi cá nhân, những thắc mắc về đức tin và những lời kêu cầu. Trong thập niên 1940, khối lượng thư từ khổng lồ đòi hỏi phải có các thư ký và nhân viên chuyên trách; mỗi ngày Đức cha Sheen đọc cho thư ký viết hàng trăm thư trả lời. Đối với những người xin được hướng dẫn về tôn giáo, ngài dành thời gian cá nhân, thường là hàng chục giờ. Theo cách nhìn của ngài, truyền thông đại chúng không xóa bỏ cuộc gặp gỡ với từng cá nhân. Trái lại, nó bắt đầu từ cuộc gặp gỡ với mỗi con người, và chính cuộc gặp gỡ ấy đã vươn tới đại chúng, nhờ sức hút tỏa ra từ tính chân thực của những cuộc gặp gỡ cá nhân đó – nghĩa là từ kinh nghiệm mục vụ truyền thông của ngài.

Điều này xuất phát từ một đời sống cầu nguyện chân thành và kết hợp mật thiết với Thiên Chúa. Trước khi lên sóng, Đức cha Sheen thường dừng lại cầu nguyện trong thinh lặng. Sau đó ngài bước vào khung hình với một kỷ luật gần như mang tính sân khấu: kiểm soát thời gian, cử chỉ chừng mực, những khoảng dừng có tính toán, sử dụng giọng nói cách cẩn trọng, ánh mắt hướng thẳng vào ống kính. Đối với ngài, máy quay là ngưỡng cửa của một gia đình, và do đó là của một lương tâm. Khả năng “nói với mọi người” của ngài xuất phát từ lựa chọn không bao giờ làm bẽ mặt bất cứ ai bằng những công thức dễ dãi hay những cuộc đối đầu mang tính bản sắc. Vì coi trọng sứ mạng của mình, ngài tin rằng người làm truyền thông Kitô giáo không bán một sản phẩm, cũng không làm việc vì vinh quang bản thân, nhưng là rao giảng Đức Kitô — điều đó có nghĩa là đòi hỏi khắt khe hơn với bản thân, để không trở thành chướng ngại cho sức lôi cuốn của Đấng Phục Sinh. Số tiền thu được và sự nổi tiếng của các chương trình phát sóng được gắn liền với việc hỗ trợ các công cuộc truyền giáo thông qua Hội Truyền bá Đức tin.

Sự bùng nổ của truyền hình đã giúp Đức cha Fulton Sheen bước vào hàng triệu gia đình. Nhưng không phải chỉ riêng công nghệ đã làm cho tiếng nói của ngài được lắng nghe. Tiếng nói của ngài tìm được khán giả vì ngài không xem công chúng như một lượng khán giả cần phải chinh phục, cũng không phải là một đám đông mà người ta chỉ cần ném cho vài công thức dễ dãi, mà là một tập hợp những con người và những gương mặt cần được nhìn nhận cách nghiêm túc: có khả năng suy tư, mang trong mình những câu hỏi chân thực, mở ra trước sự thật. Trong sự hội tụ giữa tính chặt chẽ về trí tuệ, sức hút cá nhân, đức tin sống động và sự quan tâm đến những âu lo của con người là lý do sâu xa nhất cho sự thành công đặc biệt của ngài trong lĩnh vực truyền thông.
(Hãng tin Fides, 7/9/2026)


[Nguồn: fides.org]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 08/09/2026]


Thứ Tư, 9 tháng 9, 2026

Lời chào các thành viên phái đoàn Trường Oriel College, Đại học Oxford, 04.09.2026

Lời chào các thành viên phái đoàn Trường Oriel College, Đại học Oxford, 04.09.2026

Lời chào các thành viên phái đoàn Trường Oriel College, Đại học Oxford, 04.09.2026

Sáng nay, tại Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã tiếp kiến các thành viên phái đoàn đến từ Trường Oriel College, Đại học Oxford.

Sau đây là lời chào mừng của Đức Giáo hoàng gửi đến những người hiện diện tại buổi gặp gỡ:


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.
Bình an cho anh chị em!

Chào tất cả anh chị em, và xin chào mừng.

Thưa Đức Hồng y,
Các bạn thân mến,

Trong cuộc hành hương đến Rôma, theo bước chân của Thánh John Henry Newman, để kỷ niệm 700 năm ngày Trường Oriel College được ban Hiến chương Hoàng gia, tôi vui mừng chào đón vị Hiệu trưởng, cùng với các thành viên khác của Trường, đến Vatican.

Trường Oriel chắc chắn có một lịch sử lâu đời và lừng lẫy, và dĩ nhiên, trải qua một khoảng thời gian dài như thế, Trường đã chứng kiến và kinh qua nhiều thay đổi, biến cố và cả những biến động. Tuy nhiên, Trường vẫn luôn kiên vững trong căn tính Kitô giáo của mình. Vì thế, dịp kỷ niệm này là một cơ hội để quý vị tôn vinh nguồn gốc Công giáo của Trường với tư cách là “Trường Cao đẳng của Đức Trinh nữ Maria Diễm phúc.” Thật vậy, căn tính này là yếu tố then chốt đã làm nên và có thể tiếp tục đưa Oriel không chỉ là một cơ sở học thuật, mà còn là một cộng đoàn đức tin và trí thức đích thực theo ý nghĩa sâu xa nhất. Do đó, Trường có thể tin tưởng nhìn lại những đóng góp trong quá khứ như một nền tảng vững chắc và kim chỉ nam cho những nỗ lực trong tương lai.

Về phương diện này, Thánh John Henry Newman là một mẫu gương sáng ngời của một học giả, ngài không chỉ cho thấy sự không thể tách rời giữa đức tin và lý trí trong các công trình của ngài, mà còn, đáng khâm phục hơn nữa, trong chính cuộc đời của ngài. Tư tưởng của ngài mang tính cụ thể sâu sắc, bởi những xác tín tôn giáo của ngài xuất phát từ mối tương quan cá nhân với Thiên Chúa, trong khi công trình học thuật của ngài vừa siêu việt vừa hết sức thực tiễn. Chiều sâu uyên thâm của cả hai chiều kích đó trong cuộc đời ngài đã được nhìn nhận qua việc ngài được công bố là Tiến sĩ của Giáo hội hoàn vũ và là đồng bổn mạng cho sứ mạng giáo dục của Giáo hội. Chắc chắn đây là sự an bài khi chuyến hành hương nhân dịp kỷ niệm của anh chị em diễn ra cận kề với một sự kiện có ý nghĩa trọng đại như thế đối với cả anh chị em và toàn thể Giáo hội Công giáo.

Hơn nữa, trong bối cảnh những thách đố hiện nay, tư tưởng của Đức Newman về giáo dục đặc biệt mang tính thời sự, bởi ngài đề xuất một nền đào tạo Kitô giáo ôm trọn toàn bộ con người và đánh giá giá trị của giáo dục dựa trên phẩm giá con người, công lý và khả năng phục vụ ích chung (x. “Tông thư Vẽ nên những bản đồ hy vọng mới”, 4.2, ngày 28 tháng 10 năm 2025). Trong những nỗ lực học thuật cá nhân, tôi cũng khuyến khích anh chị em can đảm tìm kiếm chân lý và cổ võ tầm nhìn nhân học toàn diện này. Nhờ đó, công việc của anh chị em có thể thực sự tạo điều kiện cho một cuộc gặp gỡ “từ trái tim đến trái tim” với anh chị em của mình, và đặc biệt với Chúa Giêsu Kitô, Đấng là đường, là sự thật và là sự sống (x. Ga 14:6).

Sau cùng, trong bài thánh ca nổi tiếng “Xin dẫn lối, Ánh sáng Nhân từ” (Lead, Kindly Light), Đức Newman đã cho thấy niềm tín thác lớn lao của ngài rằng Thiên Chúa sẽ dẫn dắt ngài bất chấp những bấp bênh của cuộc sống. Vì thế, tôi khuyến khích anh chị em phó thác bản thân và tương lai của Trường cho Ánh Sáng không bao giờ tàn của thế gian, để anh chị em, cũng như Đức Mẹ, có thể phản chiếu vinh quang của Người cho thế giới.

Với những suy tư này, tôi xin dâng từng người trong anh chị em cho sự chuyển cầu của Thánh Gioan Henry Newman và Đức Trinh nữ Maria Diễm phúc.

Và giờ đây, tôi xin mời anh chị em đứng lên và tôi ban Phép lành Tông tòa cho tất cả anh chị em, gia đình và những người thân yêu của anh chị em.

Và xin Phúc lành của Thiên Chúa Toàn năng, là Cha, và Con, và Thánh Thần, đổ xuống trên anh chị em và ở lại với anh chị em luôn mãi. Amen.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 06/08/2026]


Số người Công giáo mới tại Pháp khiến Giáo hội bất ngờ

Số người Công giáo mới tại Pháp khiến Giáo hội bất ngờ

Khi Đức Giáo hoàng Lêô XIV chuẩn bị viếng thăm Pháp vào tháng Chín này, quốc gia vốn bị tục hóa sâu sắc đang chứng kiến một sự gia tăng bất ngờ và chưa từng có về số lượng những người trưởng thành lãnh nhận Bí tích Rửa tội.

04/09/26
I.Media

Số người Công giáo mới tại Pháp khiến Giáo hội bất ngờ


Trong nhiều năm qua, Pháp đã chứng kiến một hiện tượng cá biệt: số người dự tòng — những người trưởng thành và thanh thiếu niên xin lãnh nhận Bí tích Rửa tội — liên tục gia tăng. Động thái bất ngờ này tại một quốc gia bị tục hóa sâu sắc sẽ nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đức Thánh Cha Lêô XIV trong chuyến viếng thăm Pháp từ ngày 25 đến 28 tháng Chín. Sau đây là cái nhìn cận cảnh hơn về những con số đứng sau xu hướng này.

Cho đến năm 2022, số người từ 12 tuổi trở lên xin lãnh nhận Bí tích Rửa tội tại Pháp nói chung dao động trong khoảng 5.000 đến 6.000 người mỗi năm. Kể từ đó, mức tăng đã tăng tốc mạnh mẽ. Giữa năm 2021 đến 2026, số lượng dự tòng đã tăng hơn gấp bốn lần.

“Hiện tượng này hoàn toàn bất ngờ và độc đáo,” Antoine Pasquier, tác giả quyển Enquête sur ces jeunes qui veulent devenir chrétiens (Điều tra về những người trẻ muốn trở thành Kitô hữu), nhận định.

Số người Công giáo mới tại Pháp khiến Giáo hội bất ngờ
Cyriac Zeller/I.Media

Tìm kiếm những con đường mới đến với Giáo hội

Những nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng đột ngột này vẫn rất khó xác định. Chính Giáo hội dường như cũng bị bất ngờ trước dòng người đổ về này. Khi được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Giám mục Pháp vào tháng 4 năm 2025, Đức Hồng y Jean-Marc Aveline thừa nhận rằng những người dự tòng này đã đến với Giáo hội qua “những con đường khác” khác với những con đường thường được Giáo hội vạch ra.

“Việc hiểu được nguồn gốc của hiện tượng này là một thách đố lớn,” ông Pasquier cho biết thêm, ông cũng là tổng biên tập của tạp chí Famille Chrétienne. “Có một nghịch lý đặc biệt đáng chú ý được nhiều nhà xã hội học ghi nhận: một xã hội càng bị tục hóa thì càng xuất hiện một hình thức tìm kiếm đời sống tâm linh nơi những thành viên trẻ tuổi nhất của xã hội đó.”

Vị nhà báo lưu ý rằng sự suy giảm của Công giáo dường như đã làm giảm bớt những “định kiến tiêu cực” về Giáo hội nơi giới trẻ. “Khi bạn hỏi những người mới được rửa tội này, họ trả lời một cách đơn giản rằng Giáo hội có thể giúp họ trong đời sống. Nhìn chung, họ đang tìm kiếm một nơi để có được sự ủi an, nhưng đồng thời cũng là một khuôn khổ,” ông Pasquier giải thích.


Thích ứng với dòng người đổ về

Sự xuất hiện đột ngột của những người trẻ tìm kiếm Bí tích Rửa tội này đòi hỏi một sự thích ứng đáng kể từ phía Giáo hội. Vào tháng 4 năm 2025, Đức Hồng y Aveline thừa nhận rằng Giáo hội đã tụt hậu trong việc chuẩn bị những người đỡ đầu và người đồng hành cho các tín hữu Công giáo tương lai này. Kể từ đó, những sáng kiến mới đã xuất hiện để đáp ứng các nhu cầu này.

Các giáo phận thuộc giáo tỉnh Paris đã quyết định triệu tập một Đại hội Giáo tỉnh để xem xét cách thức họ đón tiếp các người dự tòng. Tiến trình này bao gồm ba giai đoạn: tham khảo ý kiến các tín hữu và dự tòng (đã hoàn tất vào đầu mùa hè vừa qua), một giai đoạn thảo luận với ba cuộc họp của các đại diện do các giám mục bổ nhiệm được lên lịch kéo dài cho đến tháng 5 năm 2027, và giai đoạn cuối cùng nhằm triển khai các quyết định tại các giáo xứ bắt đầu từ cuối năm 2027.

Ông Pasquier chỉ ra rằng sáng kiến này là “độc nhất vô nhị” trong Giáo hội Công giáo. Tuy nhiên, sự xuất hiện của đông đảo các dự tòng cũng đang bắt đầu được ghi nhận tại các quốc gia khác. Ông đặc biệt nhắc đến Hoa Kỳ — nơi “Thế hệ Z đang ngày càng đi lễ nhiều hơn” — cũng như Bỉ, Tây Ban Nha, Thụy Điển và Na Uy. Mặc dù vậy, những con số được ghi nhận ở các quốc gia đó vẫn khiêm tốn hơn nhiều so với tại Pháp.


Sự quan tâm của Đức Thánh Cha Lêô XIV

Trong chuyến thăm Học viện Công giáo Paris vào ngày 26 tháng 9, Đức Thánh Cha Lêô XIV sẽ gặp gỡ các thành viên của cơ quan này và có một bài diễn văn. Kể từ đầu triều đại giáo hoàng của ngài, Đức Thánh Cha đã nhiều lần bày tỏ sự quan tâm đến dòng người dự tòng đổ về cách khó lý giải tại Pháp. Vào tháng 7 năm 2025, ngài đã dành một buổi tiếp kiến riêng cho một phái đoàn gồm vài trăm dự tòng nói tiếng Pháp trong khuôn khổ Năm Thánh Giới trẻ.

Hơn thế nữa, trong một cuộc phỏng vấn được xuất bản trong cuốn tiểu sử năm 2025 do tác giả Elise Ann Allen viết, mang tựa đề Léon XIV, pape missionnaire d'une Église mondialisée (Đức Lêô XIV, Vị Giáo hoàng truyền giáo của một Giáo hội toàn cầu hóa), Đức Thánh Cha đã gọi sự bùng nổ này là “rất thú vị” đối với một quốc gia “trong một thời gian dài từng được coi là một trong những đất nước bị tục hóa sâu sắc nhất hiện nay.”

Bất chấp xu hướng mới nổi này, Công giáo tại Pháp nhìn chung vẫn tiếp tục suy giảm. Sự tiến triển của những con số về trẻ sơ sinh được rửa tội minh họa rõ nét điều này. Năm 2024, có 175.674 trẻ em được rửa tội tại Pháp, so với con số hơn 300.000 vào năm 2010 — một mức giảm hơn 40% trong chưa đầy 15 năm.

Dù số lượng dự tòng đang gia tăng mạnh mẽ, sự tăng trưởng này vẫn còn xa mới bù đắp được sự sụt giảm số trẻ sơ sinh được rửa tội. Do đó, sự bùng nổ của phong trào dự tòng chưa đủ để ngăn chặn tình trạng phi Kitô giáo hóa đang diễn ra ở quốc gia này về mặt số lượng, nhưng đó là bằng chứng không thể phủ nhận cho một sức sống mới trong lòng Giáo hội Pháp.

Số người Công giáo mới tại Pháp khiến Giáo hội bất ngờ

Cyriac Zeller/I.Media


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 06/09/2026]


Thứ Ba, 8 tháng 9, 2026

Đức Thánh Cha Lêô XIV – Kinh Truyền tin ngày 6 tháng 9 năm 2026

Đức Thánh Cha Lêô XIV – Kinh Truyền tin ngày 6 tháng 9 năm 2026

Đức Thánh Cha Lêô XIV – Kinh Truyền tin

Quảng trường Thánh Phêrô
Chúa nhật, ngày 6 tháng 9 năm 2026

___________________________________


Anh chị em thân mến, chúc anh chị em Chúa nhật hạnh phúc!

Lời Chúa được công bố trong Phụng vụ Chúa nhật hôm nay đưa ra cho chúng ta một số tiêu chuẩn căn bản để suy tư và hành động. Trong Thư gửi tín hữu Rôma, chúng ta đọc thấy rằng mọi điều răn đều được “tóm lại trong lời này: ‘Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình’” (Rm 13:9). Thánh Phaolô nhấn mạnh điểm này bằng một hình ảnh rất mạnh mẽ, cũng xuất hiện trong Kinh Lạy Cha. Ngài viết: “Anh em đừng mắc nợ ai, ngoài món nợ tương thân tương ái” (c. 8).

Chúa Giêsu dạy chúng ta cầu xin và thực hành việc tha nợ. Tuy nhiên, có một món nợ mà chúng ta mắc với nhau nhưng không làm chúng ta trở thành nô lệ: đó là món nợ yêu thương lẫn nhau. Tất cả sự quan tâm, chăm sóc và lòng nhân hậu mà chúng ta đã đón nhận làm cho chúng ta được tự do hơn và có khả năng sống trách nhiệm hơn.

Trong bài Tin Mừng Chúa nhật hôm nay, Chúa Giêsu gợi ý ít nhất hai phương cách để mỗi cộng đoàn Kitô hữu thực hành tình yêu thương lẫn nhau. Trước hết là có khả năng sửa lỗi huynh đệ. Đây là một nghệ thuật tinh tế, rất thường bị lãng quên, đòi hỏi sự chân thành và một tiến trình từng bước. Việc nói chuyện thẳng thắn với nhau — trước hết là gặp trực tiếp, sau đó, nếu cần, cùng với hai hay ba người khác, và cuối cùng, khi cần thiết, với toàn thể cộng đoàn — có nghĩa là đối diện với thực tại, và biến các vấn đề và những xung đột thành cơ hội để trưởng thành. Việc phàn nàn và nói xấu người khác thì dễ dàng hơn, nhưng chẳng mang đến kết quả và chỉ khiến nhiều tình huống rơi vào bế tắc. Trái lại, Tin Mừng dạy chúng ta sự tự do đến từ đức ái.

Cũng có một phương cách thứ hai để yêu thương nhau như anh chị em, mà đối với Đức Giêsu, còn biến đổi cả lời cầu nguyện của chúng ta: đó là sự đồng tâm nhất trí. Không chỉ khi có xung đột, mà cả khi cầu xin Thiên Chúa một ân huệ nào đó. Chúa nói: “Nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho” (Mt 18:19). Lời hứa này gợi ý rằng chúng ta có thể có chung những ước vọng, chung những nỗi đau khổ và chung những niềm hy vọng, và nhờ cầu nguyện, chúng ta có thể lớn lên trong sự hiệp nhất. Không có đức tin, mỗi người có thể cảm thấy cô độc và trở nên nghi kỵ người khác, coi họ như người lạ và kẻ thù. Tuy nhiên, nhờ ân sủng, chúng ta là anh chị em có thể sống trong hòa hợp: gặp gỡ nhau, tha thứ cho nhau và lắng nghe nhau trong Chúa.

Chúng ta hãy xin Đức Mẹ, Đấng sau lời truyền tin của sứ thần đã vội vã lên đường đến với người chị họ là bà Êlisabét để chia sẻ niềm vui cùng những khó nhọc của thai kỳ, dạy chúng ta cũng biết mang lấy khoản nợ vui tươi của tình huynh đệ.

______________________


Sau Kinh Truyền Tin:

Anh chị em thân mến,

Với một trái tim đau buồn, tôi đã theo dõi tin tức về các cuộc tấn công bạo lực mới nhất gần đây đánh vào một số thành phố và cơ sở hạ tầng dân sự tại Ukraine, gây ra cái chết cho những người dân lành vô tội. Trái tim tôi hướng về những người dân đang chịu đau khổ, trong nhiều năm qua đã phải sống trong lo âu và sợ hãi.

Tôi xin lặp lại lời kêu gọi chấm dứt bạo lực, dừng lại sự tàn phá và mở rộng tâm hồn cho đối thoại và hòa bình! Tôi hy vọng những nỗ lực được thực hiện trong những ngày này nhằm nối lại các cuộc đàm phán sẽ mang lại những kết quả cụ thể và mở ra không gian cho ngoại giao.

Chúng ta hãy dâng lời cầu nguyện lên Chúa, xin cho sự hòa hợp có thể chiến thắng trong mọi cuộc xung đột trên thế giới.

Tôi thân ái chào tất cả anh chị em, người dân Rôma và anh chị em hành hương đến từ nhiều quốc gia khác nhau. Cảm ơn anh chị em đã hiện diện ở đây!

Cách riêng, tôi chào mừng cộng đoàn Đại Chủng viện Liên Giáo phận Studienhaus Sankt Lambert tại Lantershofen (Đức).

Tôi cũng vui mừng chào đón đoàn hành hương của Giáo xứ Thánh Ulderico Giám mục ở Musestre (Treviso), cũng như Ca đoàn Giáo phận thuộc Giáo phận Oppido Mamertina-Palmi, cùng với Đức Giám mục.

Khi chúng ta đang từng bước trở lại với những hoạt động thường nhật sau kỳ nghỉ hè, chúng ta hãy xin Chúa đồng hành và nâng đỡ chúng ta bằng ánh sáng của Người.

Chúc tất cả anh chị em Chúa nhật hạnh phúc!


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 07/09/2026]


Tiếp kiến các chủng sinh Chủng viện Giáo hoàng Liên giáo phận “Piô XI” vùng Apulia tại Molfetta và Chủng viện Giáo phận Aversa, 03.09.2026

Tiếp kiến các chủng sinh Chủng viện Giáo hoàng Liên giáo phận “Piô XI” vùng Apulia tại Molfetta và Chủng viện Giáo phận Aversa, 03.09.2026

Tiếp kiến các chủng sinh Chủng viện Giáo hoàng Liên giáo phận “Piô XI” vùng Apulia tại Molfetta và Chủng viện Giáo phận Aversa, 03.09.2026

*******

Sáng nay, tại Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh Cha Lêô XIV tiếp kiến các chủng sinh của Chủng viện Giáo hoàng Liên giáo phận “Piô X” vùng Apulia tại Molfetta và Chủng viện Giáo phận Aversa.

Sau đây là diễn văn Đức Thánh Cha trước những người hiện diện trong cuộc gặp gỡ:


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.
Bình an cho anh chị em.

Thưa các anh em Giám mục,
Các linh mục, chủng sinh và quý thân nhân thân mến,

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn sự hiện diện của anh chị em ở đây hôm nay.

Anh em đến từ hai hành trình khác nhau và hai vùng miền khác nhau, nhưng năm nay, hai chủng viện của anh em cùng mừng một kỷ niệm. Tại Molfetta, anh em kỷ niệm một trăm năm cơ sở mới được xây dựng theo lệnh của Đức Giáo hoàng Piô XI, mà tên của ngài được đặt cho chủng viện của anh em; còn tại Aversa, anh em mừng ba trăm năm kể từ ngày khánh thành cơ sở hiện tại.

Khi gặp gỡ anh em, tôi muốn nhấn mạnh một khía cạnh trong hành trình đào tạo của anh em: đó là mối tương quan với Đấng đã gọi anh em. Việc học tập, kỷ luật và những chặng đường trong hành trình của anh em là những yếu tố quan trọng cần ghi nhớ, nhưng chúng chỉ thực sự có ý nghĩa khi được đặt nền tảng trong mối tương quan của anh em với Thiên Chúa.

Trong Tin Mừng của Thánh Máccô, ngài kể cho chúng ta rằng Chúa Giêsu “lên núi, và gọi đến với Người những kẻ Người muốn. Và các ông đến với Người. Người lập Nhóm Mười Hai” – những người mà Người gọi là tông đồ – “để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng” (Mc 3:13-14).

Những lời ngắn ngủi này chứa đựng tất cả. Khi suy niệm về trích đoạn ngắn này, chúng ta có thể nhận ra một tổng hợp đáng chú ý về kinh nghiệm dành cho tất cả những người được gọi, cho tất cả những người mong muốn đào sâu sự hiểu biết về sự thật ơn gọi của riêng họ. Có một ngọn núi phải leo lên, nơi chúng ta có thể gặp Đức Kitô, và trên hết, nơi chúng ta có thể ở với Người. Trọng tâm của kinh nghiệm chủng viện nằm trọn vẹn ở đây: học cách ở cùng Thầy, là Chúa Giêsu.

Thánh sử kể cho chúng ta rằng Chúa “gọi đến với Người những kẻ Người muốn”, và ngay lập tức làm nổi bật sự tự do của Thiên Chúa, từ đó khởi nguồn mọi ơn gọi. Không có sự cạnh tranh, không có thứ bậc, cũng chẳng có văn bản nào ghi rằng Người chọn những kẻ tốt nhất: Người đã chọn những kẻ Người muốn. Trong một thế giới quá mải mê tôn vinh việc tự khẳng định bản thân, điều quan trọng thật sự cần phải nhắc lại rằng không ai trong anh em, cũng không một ai trong chúng ta, hiện diện nơi đây vì mình xứng đáng được như vậy, nhưng chỉ bởi sự tự do lựa chọn của Thiên Chúa Cha, dấu chỉ và bảo chứng của một tình yêu nhưng không, luôn đi trước chúng ta và không bao giờ làm chúng ta thất vọng.

Các chủng sinh thân mến, chính sự hiện diện của anh em trong chủng viện là một dấu chỉ hy vọng cho toàn thể Hội thánh. Không phải một sự lạc quan mơ hồ, nhưng là niềm vững tin rằng Chúa luôn kêu gọi, trong mọi thời đại của lịch sử và ở mọi nơi. Khi nhìn từng người trong anh em, tôi chiêm ngắm kỳ công của Thiên Chúa, Đấng không bao giờ mệt mỏi trong việc thì thầm vào tâm hồn những người trẻ về vẻ đẹp của việc hiến dâng đời mình cho Người và cho Hội Thánh.

Mọi ơn gọi đều nảy sinh từ một cuộc đối thoại thân tình với Thiên Chúa, được nuôi dưỡng trong thinh lặng và cầu nguyện, một cuộc đối thoại thường diễn ra “bất chấp tiếng ồn ào điếc tai của thế giới” (Đức Lêô XIV, Sứ điệp nhân Ngày Thế giới Cầu nguyện cho Ơn gọi lần thứ 63, ngày 16 tháng 3 năm 2026). Đó là nơi mọi sự được quyết định, và để cuộc đối thoại đó diễn ra, chúng ta phải học cách ở với Người.

Anh em có rất nhiều tấm gương về điều này, nhưng tôi nghĩ rằng đối với tất cả anh em, vị giám mục đáng kính Don Tonino Bello cho thấy một cách đặc biệt rõ ràng thế nào là một linh mục và thế nào là một giám mục: không phải bằng lời nói, nhưng trong từng cử chỉ và từng quyết định, và làm chứng cho điều ấy cho đến cùng. Vì lý do này, thời gian sống trong chủng viện vẫn rất cần thiết, hôm nay cũng như trong quá khứ. Trong một thế giới luôn vội vã và nhìn với thái độ nghi ngờ bất kỳ sự tạm dừng kéo dài thời gian nào, người ta có thể nghĩ rằng chủng viện là một sự xa xỉ, hay một định chế lỗi thời, nhưng không phải vậy. Chính bởi thời đại của chúng ta chuyển động quá nhanh và quá ồn ào, nên cần có một nơi chốn và một giai đoạn trong cuộc đời, nơi người ta học cách dừng lại, phân định và cho phép bản thân được đào tạo không theo con đường tắt. Chủng viện không phải là sự trì hoãn sứ vụ, nhưng là điều kiện tiên quyết cho sứ vụ. Chúng ta đừng coi nhẹ điều này.

Thật vậy, sau khi nghe tiếng Chúa, cần phải đến với Người và leo lên núi; đôi khi điều này có thể rất gian nan, bởi chúng ta phải leo bằng chính đôi chân của mình, có lúc hụt hơi, mà vẫn chưa nhìn thấy đỉnh núi.

Tuy nhiên, sự nhọc nhằn của đời sống thiêng liêng được nâng đỡ bởi vẻ đẹp của tình huynh đệ và sự chia sẻ sứ vụ. Thật vậy, trên núi, Chúa Giêsu không chỉ gọi một người, nhưng là mười hai người, với những tính cách hết sức đa dạng, và đôi khi tưởng chừng như không thể dung hòa theo cách nhìn của chúng ta. Chúa quy tụ họ lại, đặt họ bên cạnh nhau, để họ học biết rằng Giáo hội được sống trong sự hiệp nhất: Giáo hội không thuộc về riêng bất cứ ai trong chúng ta, và tất cả chúng ta đều được kêu gọi yêu mến và phục vụ Giáo hội như một thân thể duy nhất. Anh em đến từ Molfetta cảm nghiệm điều này một cách đặc biệt, bởi vì tại Chủng viện liên giáo phận, sự hiệp thông giữa các Giáo hội của vùng Apulia không chỉ là một lý tưởng, nhưng là một tình bạn cụ thể đang bén rễ trong những năm tháng này và sẽ đồng hành với anh em trong suốt đời linh mục.

Bởi vì, cũng như “không có mục tử nào tồn tại một mình” (Đức Lêô XIV, Tông thư Một lòng trung thành kiến tạo tương lai, ngày 8 tháng 12 năm 2025, số 15), thì một chủng sinh cũng không thể hình thành một hành trình riêng với Chúa: người ấy phải luôn cảm nhận và sống vẻ đẹp của sự trung gian của Giáo hội. Vì thế, trước khi là nơi tiếp thu kiến thức, chủng viện phải là “một trường huấn luyện giúp chủng sinh biết chăm sóc chính tâm hồn mình” (sđd., số 12). Và thưa quý cha giáo, tôi xin anh em hãy là những người thầy đầu tiên trong việc chăm sóc và trong tình huynh đệ được biểu lộ qua những mối tương quan đích thực, cá nhân cũng như cộng đoàn, được xây dựng trên sự thật và đức ái. Không ai có thể trở thành nhà đào tạo chỉ sau một đêm: thừa tác vụ của anh em hết sức tinh tế, mà anh em phải chuẩn bị bằng kiến thức, lòng kiên nhẫn và tình yêu.

Sau đó còn có bước cuối cùng: bước xuống núi, bởi núi không phải là nơi trú ẩn. Chúa Giêsu không đưa Nhóm Mười hai lên nơi cao để giữ họ được an toàn, nhưng để sau khi đã cảm nghiệm về Thiên Chúa, họ được sai đi rao truyền sự mới mẻ của sự sống đó cho thế giới.

Vì thế, anh em sẽ được gọi đi xuống núi, được sai đến với dân chúng trên chính quê hương mình: đến với những gia đình đang chật vật để kiếm sống, với những người trẻ ở tuổi hai mươi phải vác balo lên đường tìm việc làm, với những người già sống cô đơn, với những người bị gạt ra bên lề, và với những người đã đánh mất ý nghĩa của cuộc sống. Linh mục được sai đến với tất cả mọi người để loan báo vẻ đẹp của đức tin vào Đức Giêsu Kitô, Tin Mừng về ơn cứu độ của chúng ta, cho tất cả mọi người. Đó là ơn cứu độ đã được ban cho chúng ta qua Mẹ Maria. Hãy phó thác mình cho Mẹ, cũng như cho Đấng đầu tiên đã thực hiện những gì mà giờ đây anh em được yêu cầu thực hiện. Hãy xin Đức Maria ban cho anh em ơn biết học cách nói lời “xin vâng” với Chúa Giêsu mỗi ngày.

Các chủng sinh thân mến, trước khi chia tay, tôi muốn cảm ơn anh em. Tôi cảm ơn anh em, thay mặt Giáo hội, vì lời “xin vâng” anh em đã thưa và vẫn tiếp tục thưa mỗi ngày: đó không phải là điều dễ dàng, cũng chẳng phải là điều đương nhiên trong thế giới ngày nay, và Giáo hội ý thức rõ điều đó.

Và tôi muốn dành lời cảm ơn đặc biệt cho các gia đình hiện diện nơi đây. Một ơn gọi không bao giờ nảy sinh nếu không có một môi trường thích hợp, và nó thường cần một mái ấm, những bậc cha mẹ biết cầu nguyện và biết cách để con cái bước đi. Các gia đình thân mến, lòng biết ơn của tôi và của toàn thể Giáo hội xin được gửi đến anh chị em.

Tôi gửi lời chào và ban phép lành cho các thầy phó tế sẽ được truyền chức linh mục trong ít ngày tới: tôi nhớ anh em trong lời cầu nguyện, để anh em luôn là những môn đệ trung thành, vui tươi và can đảm của Chúa. Tất cả chúng ta sẽ cầu nguyện cho anh em.

Tôi ban phép lành cho tất cả anh em, cùng với các Giám mục, các cha giáo, các gia đình của anh em, và những cộng đoàn đang chờ đợi anh em và cầu nguyện cho anh em. Cảm ơn anh chị em.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 04/09/2026]