Thứ Ba, 7 tháng 4, 2026

Canh Thức Phục Sinh 2026: Đức Thánh Cha: Sống lại với Đức Kitô, ước gì chúng ta cũng mang lại sự sống cho một thế giới mới của hòa bình và hiệp nhất

Đức Thánh Cha: Sống lại với Đức Kitô, ước gì chúng ta cũng mang lại sự sống cho một thế giới mới của hòa bình và hiệp nhất

Canh Thức Phục Sinh trong Đêm Thánh

Canh Thức Phục Sinh 2026: Đức Thánh Cha: Sống lại với Đức Kitô, ước gì chúng ta cũng mang lại sự sống cho một thế giới mới của hòa bình và hiệp nhất

*******

Vào lúc 9 giờ tối, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã chủ sự Đêm Canh thức Phục sinh trọng thể tại Vương cung Thánh đường Vatican.

Nghi thức bắt đầu tại tiền sảnh của Đền thờ Thánh Phêrô với việc làm phép lửa và chuẩn bị Nến Phục Sinh. Đoàn rước tiến lên bàn thờ với Nến Phục Sinh đã được thắp sáng và hát bài ca Exsultet, tiếp theo là Phụng vụ Lời Chúa, Phụng vụ Thánh tẩy và Phụng vụ Thánh Thể, đồng tế cùng các vị hồng y.

Đức Thánh Cha thúc giục chúng ta đừng sợ loại bỏ những tảng đá đang giam cầm chúng ta trong các nấm mồ và dường như không thể lay chuyển: sự ngờ vực, nỗi sợ hãi, tính ích kỷ, lòng oán hận, chiến tranh, bất công và sự cô lập giữa các dân tộc và quốc gia. “Đừng để chúng làm chúng ta tê liệt!” là lời kêu gọi của Đức Thánh Cha, ngài sẽ cử hành bí tích Rửa tội và Thêm sức cho mười dự tòng.

Dưới đây là bài giảng Đức Thánh Cha trình bày sau khi công bố Tin Mừng:

________________________

Bài giảng của Đức Thánh Cha

“Đêm thánh này […] xua tan hận thù, đem lại hòa hợp và khuất phục những kẻ quyền thế” (Bài Công bố Phục Sinh).

Anh chị em thân mến, vị phó tế, khi bắt đầu cử hành này, đã ngợi ca ánh sáng của Đức Kitô Phục sinh, được biểu trưng qua Nến Phục sinh. Từ một ngọn Nến duy nhất này, tất cả chúng ta đã thắp sáng ngọn nến của mình, và mỗi người mang theo một ngọn lửa nhỏ được lấy từ cùng một nguồn lửa, chúng ta đã thắp sáng đại vương cung thánh đường này. Đó là dấu chỉ của ánh sáng Phục sinh, ánh sáng liên kết chúng ta trong Giáo hội như những ngọn đèn cho thế gian. Sau lời công bố của phó tế, chúng ta đáp “Amen,” khẳng định cam kết đón nhận sứ mạng này, và lát nữa đây chúng ta sẽ lặp lại lời “Thưa con tin” khi làm mới lại những lời hứa khi chịu phép Rửa tội.

Anh chị em thân mến, đây là một đêm Canh thức tràn ngập ánh sáng, lâu đời nhất trong truyền thống Kitô giáo, được gọi là “mẹ của mọi đêm canh thức.” Trong đêm này, chúng ta sống lại việc tưởng niệm chiến thắng của Chúa sự sống trên sự chết và hỏa ngục. Chúng ta thực hiện điều này trong những ngày vừa qua, như trong một cuộc cử hành vĩ đại, sau khi đã hành trình đi qua các mầu nhiệm cuộc Thương khó của Thiên Chúa, Đấng vì chúng ta đã trở nên “đau khổ triền miên” (Is 53:3), “bị đời khinh khi ruồng rẫy” (sđd), bị tra tấn và đóng đinh vào thập giá.

Có tình yêu nào lớn lao hơn, có hành vi ân sủng nào trọn vẹn hơn thế? Đấng Phục Sinh chính là Đấng Tạo Hóa của vũ trụ, Đấng mà thuở bình minh của lịch sử đã ban cho chúng ta sự hiện hữu từ hư vô, thì nay trên thập giá, để tỏ lộ tình yêu vô biên của Người, đã ban cho chúng ta sự sống.

Bài đọc thứ nhất nhắc lại cho chúng ta về điều này qua trình thuật về khởi nguyên. Thuở ban đầu, Thiên Chúa đã sáng tạo trời và đất (x. St 1:1), tạo dựng vũ trụ từ chỗ hỗn độn, mang lại sự hài hòa từ sự rối ren, và trao phó cho chúng ta, những kẻ được tạo dựng theo hình ảnh của Người, nhiệm vụ làm những người canh giữ. Và ngay cả khi, do tội lỗi, nhân loại đã không sống xứng với kế hoạch ấy, Chúa vẫn không bỏ rơi chúng ta, nhưng đã tỏ lộ dung nhan thương xót của Người theo cách đầy ngạc nhiên hơn nữa: qua ơn tha thứ.

Vì thế, “đêm thánh” này cũng bắt nguồn từ chính nơi đã xảy ra sự thất bại đầu tiên của nhân loại, và trải dài qua các thế kỷ như một con đường hòa giải và ân sủng.

Dọc theo hành trình này, phụng vụ đã cung cấp cho chúng ta nhiều chặng đường qua các bản văn thánh mà chúng ta vừa nghe. Phụng vụ nhắc chúng ta nhớ việc Thiên Chúa đã ngăn giữ tay ông Abraham khi ông sẵn sàng hiến tế con trai mình là Isaac, để cho chúng ta thấy rằng Người không muốn cái chết của chúng ta, nhưng muốn chúng ta hiến dâng chính mình để trở nên những chi thể sống động của một dòng dõi những người được cứu độ trong tay Người (x. St 22:11-12, 15-18). Cũng vậy, phụng vụ mời gọi chúng ta suy ngẫm về việc Chúa đã giải thoát dân Israel khỏi ách nô lệ Ai Cập, biến biển cả, nơi của sự chết chóc và là một trở ngại không thể vượt qua, thành cửa ngõ mở ra khởi đầu của một đời sống mới và tự do. Và cùng một sứ điệp đó đã vang lên trong lời các ngôn sứ, trong đó chúng ta được nghe những lời ngợi khen Chúa như một phu quân kêu gọi và quy tụ (x. Is 54:5-7), là nguồn mạch làm thỏa cơn khát, là dòng nước làm sinh hoa kết trái (x. Is 55:1, 10), là ánh sáng chỉ đường bình an (x. Br 3:14), là Thần Khí biến đổi và canh tân tâm hồn (Êd 36:26).

Trong tất cả những thời khắc này của lịch sử cứu độ, chúng ta đã thấy cách Thiên Chúa, khi đối diện với sự nghiệt ngã của tội lỗi vốn chia rẽ và giết chết, đã đáp lại bằng sức mạnh của tình yêu hiệp nhất và phục hồi sự sống. Chúng ta đã cùng nhau tưởng nhớ những điều ấy, đan xen câu chuyện với các thánh vịnh và lời nguyện, để nhắc nhở chúng ta rằng, nhờ cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, “đã được mai táng với Người trong cái chết […] chúng ta cũng được sống một đời sống mới […] đã chết đối với tội lỗi và sống cho Thiên Chúa trong Đức Kitô Giêsu” (Rm 6:4-11), được thánh hiến trong Bí tích Rửa tội cho tình yêu của Chúa Cha, hiệp nhất trong mầu nhiệm các thánh thông công, và nhờ ân sủng mà trở nên những viên đá sống động để xây dựng Nước của Người (x. 1 Pr 2:4-5).

Dưới ánh sáng của tất cả những điều đó, chúng ta đọc lại trình thuật Phục sinh mà chúng ta đã nghe trong Tin Mừng theo Thánh Matthêu. Vào buổi sáng Phục Sinh, những người phụ nữ, vượt qua nỗi đau buồn và sợ hãi, đã lên đường. Họ muốn đến mồ Chúa Giêsu. Họ nghĩ sẽ tìm thấy ngôi mộ bị niêm phong, với một tảng đá lớn ở lối vào và lính canh giữ. Đó chính là tội lỗi: một rào cản rất nặng nề giam cầm chúng ta và ngăn cách chúng ta khỏi Thiên Chúa, cố gắng giết chết những lời hy vọng của Người trong chúng ta. Tuy nhiên, Maria Mađalêna và bà Maria khác đã không bị nao núng. Họ đi đến mộ và nhờ đức tin cùng tình yêu, họ đã trở thành những chứng nhân đầu tiên của sự Phục sinh. Trong trận động đất và nơi thiên thần ngồi trên tảng đá đã bị lăn ra, họ đã nhìn thấy quyền năng tình yêu của Thiên Chúa, mạnh hơn mọi quyền lực của sự dữ, có khả năng “xua tan hận thù” và “khuất phục những kẻ quyền thế.” Con người có thể giết chết thân xác, nhưng sự sống của Thiên Chúa tình yêu là sự sống đời đời; sự sống ấy vượt trên cái chết, và không ngôi mộ nào có thể giam cầm được. Vì thế, Đấng bị Đóng đinh đã hiển trị từ thập giá, thiên thần ngồi trên tảng đá, và Chúa Giêsu hằng sống đã hiện ra trước mặt họ và nói: “Hãy vui lên” (Mt 28:9).

Anh chị em thân mến, đây cũng là sứ điệp của chúng ta gửi đến thế giới hôm nay: cuộc gặp gỡ mà chúng ta mong muốn làm chứng, bằng lời của đức tin và những việc bác ái, hát lên bằng chính cuộc sống mình lời “Alleluia” mà chúng ta công bố trên môi miệng (x. Thánh Augustinô, Bài giảng 256, 1). Như những người phụ nữ đã chạy đi loan báo cho anh chị em mình, tối nay chúng ta cũng ước mong lên đường từ vương cung thánh đường này để mang đến cho mọi người tin vui rằng Chúa Giêsu đã sống lại, và với quyền năng của Người, cùng sống lại với Người, chúng ta cũng có thể mang lại sức sống cho một thế giới mới hòa bình và hiệp nhất, như “nhiều người mà là một người; nhiều Kitô hữu mà là một Đức Kitô” (Thánh Augustinô, Chú giải Thánh vịnh 127, 3).

Sứ mạng ấy được thánh hiến cho những anh chị em hiện diện nơi đây, đến từ nhiều nơi trên thế giới và sắp đón nhận Bí tích Rửa tội. Sau hành trình dài của giai đoạn dự tòng, hôm nay họ được tái sinh trong Đức Kitô để trở nên những thụ tạo mới (x. 2 Cr 5:17), những chứng nhân của Tin Mừng. Với họ, và với tất cả chúng ta, chúng ta lặp lại những lời Thánh Augustinô đã nói với các Kitô hữu thời đại của ngài: “Hãy loan báo Đức Kitô; hãy gieo hạt […]. Hãy loan truyền Tin Mừng; những gì anh em đã cưu mang trong lòng mình” (Bài giảng 116, 7).

Thưa anh chị em, ngay cả ngày nay cũng không thiếu những nấm mồ cần phải mở ra, và thường thì những tảng đá niêm phong chúng quá nặng nề và được canh giữ cẩn mật đến mức dường như không thể lay chuyển. Có những tảng đá đè nặng lên trái tim con người, như sự ngờ vực, sợ hãi, ích kỷ và oán hận; những tảng đá khác, hệ quả của những tảng đá trước, phá vỡ các mối dây liên kết giữa chúng ta, như chiến tranh, bất công và sự cô lập giữa các dân tộc và quốc gia. Đừng để chúng làm chúng ta tê liệt! Qua các thế kỷ, nhiều người với sự trợ giúp của Thiên Chúa đã loại bỏ chúng, có lẽ với nỗ lực rất lớn, đôi khi bằng cả mạng sống của mình, nhưng đã để lại những hoa trái tốt lành mà chúng ta vẫn được thừa hưởng cho đến ngày nay. Họ không phải là những nhân vật xa vời không thể đạt tới, mà là những người như chúng ta, được củng cố bởi ân sủng của Đấng Phục Sinh, trong đức ái và sự thật, đã có can đảm để nói, như Thánh Tông đồ Phêrô nói, bằng “lời Thiên Chúa” (1 Pr 4:11) và hành động “bằng sức mạnh Thiên Chúa ban, để trong mọi việc Thiên Chúa được tôn vinh” (sđd).

Chúng ta hãy để mình được truyền cảm hứng bởi gương sáng của họ và trong Đêm Thánh này, chúng ta hãy biến cam kết của ngài thành của chính mình, để ở mọi nơi và mọi lúc trên thế giới, những ân ban Phục sinh của sự hòa hợp và hòa bình có thể lớn lên và triển nở.


[Nguồn: exaudi]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 5/4/2026]


Thánh lễ "Tiệc Ly" tại Vương cung Thánh đường Thánh Gioan Latêranô, 02.04.2026

Thánh lễ "Tiệc Ly" tại Vương cung Thánh đường Thánh Gioan Latêranô, 02.04.2026

Thánh lễ "Tiệc Ly" tại Vương cung Thánh đường Thánh Gioan Latêranô, 02.04.2026

*******

Vào lúc 17 giờ 30 chiều nay, Thứ Năm Tuần Thánh, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã chủ sự Thánh lễ Chiều Tiệc Ly, khởi đầu Tam Nhật Vượt Qua.

Trong phần phụng vụ, Đức Thánh Cha đã thực hiện nghi thức rửa chân cho mười hai linh mục thuộc giáo phận Rôma.

Cuối Thánh Lễ, Mình Thánh Chúa được kiệu sang Bàn thờ Phụ.

Dưới đây là bài giảng của Đức Thánh Cha sau khi công bố Tin Mừng:


Bài giảng của Đức Thánh Cha


Anh chị em thân mến,

Phụng vụ trọng thể tối nay đánh dấu việc chúng ta bước vào Tam Nhật Thánh tưởng niệm cuộc Thương khó, Cái chết và sự Phục sinh của Chúa. Chúng ta bước qua ngưỡng cửa này không đơn thuần như những khán giả, cũng không phải theo thói quen, nhưng như những người được chính Chúa Giêsu đích thân mời gọi như những vị khách dự Tiệc, nơi bánh và rượu trở thành bí tích cứu độ cho chúng ta. Thật vậy, chúng ta thông phần vào một yến tiệc mà nơi đó Đức Kitô "yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng" (Ga 13:1). Tình yêu của Người vừa trở thành cử chỉ, vừa trở thành lương thực cho muôn người, mạc khải công lý của Thiên Chúa. Giữa thế gian này, và đặc biệt tại những nơi sự dữ bủa vây, Chúa Giêsu yêu thương cách dứt khoát — mãi mãi và bằng trọn vẹn hữu thể của Người.

Trong bữa Tiệc Ly này, Người rửa chân cho các tông đồ và nói rằng: "Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em" (Ga 13:15). Cử chỉ của Chúa không thể tách rời khỏi bàn tiệc mà Người đã mời gọi chúng ta. Cử chỉ này là một mẫu gương cụ thể tuôn trào từ bí tích: khi mặc khải ý nghĩa của mầu nhiệm Thánh Thể, đồng thời ủy thác cho chúng ta một nhiệm vụ — một sứ mạng mà chúng ta được kêu gọi đón nhận như lương thực cho đời sống mình. Thánh Gioan Tông đồ đã chọn từ Hy Lạp upódeigma để mô tả biến cố ngài chứng kiến: nó có nghĩa là "điều được phô bày trước mắt bạn". Những gì Chúa bày tỏ cho chúng ta — khi cầm lấy nước, chậu và khăn — vượt xa một mẫu gương đạo đức. Người ủy thác cho chúng ta chính con đường sống của Người. Việc rửa chân là một cử chỉ tóm kết mạc khải về Thiên Chúa: một dấu chỉ mẫu mực của Ngôi Lời nhập thể, một ký ức không thể lầm lẫn của Người. Khi mặc lấy thân phận tôi tớ, Chúa Con mặc khải vinh quang của Chúa Cha, đảo lộn những tiêu chuẩn trần gian vốn rất thường làm sai lệch lương tâm chúng ta.

Cùng với sự kinh ngạc thầm lặng của các môn đệ, ngay cả lòng kiêu hãnh của con người cũng không thể làm ngơ trước những gì đang diễn ra. Giống như Phêrô, người thoạt đầu đã kháng cự sáng kiến của Chúa Giêsu, chúng ta cũng phải "không ngừng học lại rằng sự vĩ đại của Thiên Chúa khác với quan niệm của chúng ta về sự vĩ đại... bởi vì chúng ta luôn khao khát một Thiên Chúa của thành công chứ không phải của cuộc Thương khó" (Bài giảng Thánh Lễ Tiệc Ly, 20 tháng 3 năm 2008). Những lời này của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI thẳng thắn nhìn nhận rằng chúng ta luôn bị cám dỗ tìm kiếm một Thiên Chúa "phục vụ" chúng ta, ban cho chúng ta chiến thắng, Đấng tỏ ra hữu ích như của cải hoặc quyền lực. Thế nhưng, chúng ta lại không nhận thức được rằng Thiên Chúa thực sự phục vụ chúng ta qua cử chỉ nhưng không và khiêm nhường của việc rửa chân. Đây chính là quyền năng tuyệt đối thực sự của Thiên Chúa. Bằng cách này, ước muốn hiến thân cho những kẻ mà sự hiện hữu của họ lệ thuộc hoàn toàn vào ân ban của Người được trọn vẹn. Vì yêu thương, Chúa đã quỳ xuống để rửa chân cho từng người chúng ta, và ân ban thần linh của Người biến đổi chúng ta.

Thật vậy, qua hành động này, Chúa Giêsu không chỉ thanh tẩy hình ảnh của chúng ta về Thiên Chúa — khỏi những ngẫu tượng và sự phạm thượng đã làm biến dạng hình ảnh ấy — mà còn thanh tẩy cả hình ảnh của chúng ta về con người. Bởi lẽ chúng ta có xu hướng chỉ coi mình là quyền lực khi thống trị, là chiến thắng khi tiêu diệt đồng loại, là vĩ đại khi được sợ hãi. Ngược lại, với tư cách là Thiên Chúa thật và là người thật, Đức Kitô trao cho chúng ta mẫu gương về sự tự hiến, phục vụ và yêu thương. Chúng ta cần mẫu gương của Người để học cách yêu thương, không phải vì chúng ta không có khả năng yêu, mà chính là để dạy cho chính mình và cho nhau biết thế nào là tình yêu đích thực. Học cách hành động như Chúa Giêsu — dấu chỉ sống động mà Thiên Chúa đã đặt vào lịch sử thế giới — là công việc của cả một đời người.

Người là chuẩn mực đích thực, là "Thầy và là Chúa" (Ga 13:13), Đấng lột bỏ mọi lớp mặt nạ của thần linh và con người. Người không trao ban mẫu gương của mình khi tất cả mọi người đều hài lòng và tận tụy với Người, nhưng vào đêm Người bị phản bội, trong bóng tối của sự không hiểu biết và bạo lực. Như vậy, rõ ràng là tình yêu của Chúa đi trước sự tốt lành hoặc trong sạch của chúng ta; Người yêu chúng ta trước, và trong tình yêu đó, Người tha thứ và phục hồi chúng ta. Tình yêu của Người không phải là phần thưởng cho việc chúng ta chấp nhận lòng thương xót của Người; trái lại, chính vì Người yêu chúng ta, và tẩy sạch chúng ta, để nhờ đó giúp chúng ta có thể đáp lại tình yêu của Người.

Vậy, chúng ta hãy học nơi Chúa Giêsu sự phục vụ lẫn nhau này. Người không yêu cầu chúng ta đáp trả lại cho Người, nhưng mời gọi chúng ta chia sẻ món quà của Người cho nhau: "Anh em cũng phải rửa chân cho nhau" (Ga 13:14). Như Đức Thánh Cha Phanxicô đã từng nói: đây "là một bổn phận xuất phát từ trái tim của tôi: tôi yêu thích điều đó. Tôi yêu điều đó và tôi muốn thực hiện điều ấy vì đó là những gì Chúa đã dạy tôi làm" (Bài giảng Thánh Lễ Tiệc Ly, 28 tháng 3 năm 2013). Ngài không nói về một mệnh lệnh trừu tượng, cũng không phải một lệnh truyền hình thức và trống rỗng, nhưng diễn tả sự vâng phục chân thành đối với đức ái của Đức Kitô, là nguồn mạch và là khuôn mẫu cho đức ái của chính chúng ta. Thật vậy, mẫu gương Chúa Giêsu trao ban không thể được noi theo vì sự tiện lợi, miễn cưỡng hay giả hình, mà chỉ có thể vì tình yêu.

Do đó, cho phép Chúa phục vụ là điều kiện cần thiết để có thể phục vụ như Người đã làm. Chúa Giêsu đã nói với Phêrô: "Nếu Thầy không rửa chân cho con, con sẽ chẳng được chung phần với Thầy" (Ga 13:8): nếu con không chấp nhận Thầy như người phục vụ con, con không thể thực sự tin vào Thầy hoặc theo Thầy là Chúa. Bằng cách rửa thân xác chúng ta, Chúa Giêsu thanh tẩy linh hồn chúng ta. Nơi Người, Thiên Chúa đã ban cho chúng ta một mẫu gương — không phải về cách thống trị, mà về cách giải phóng; không phải về cách hủy diệt sự sống, mà về cách hiến dâng sự sống.

Khi nhân loại đang phải quỵ ngã trước biết bao hành vi tàn bạo, chúng ta cũng hãy quỳ xuống như những anh chị em bên cạnh những người bị áp bức. Như thế, chúng ta tìm cách noi theo gương Chúa, làm trọn những điều chúng ta đã nghe trong sách Xuất Hành: "Các ngươi phải lấy ngày đó làm ngày tưởng niệm" (12:14). Thật vậy, toàn bộ lịch sử Kinh Thánh hội tụ nơi Chúa Giêsu, Chiên Vượt Qua đích thực. Nơi Người, các hình bóng cũ được kiện toàn, vì Đức Kitô, Đấng Cứu Độ, thực hiện cuộc Vượt Qua của nhân loại, mở ra cho mọi người con đường từ tội lỗi đến ơn tha thứ, từ cái chết đến sự sống đời đời: "Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy" (1 Cr 11:24).

Khi lặp lại các cử chỉ và lời nói của Chúa ngay trong tối hôm nay, chúng ta tưởng niệm việc thiết lập Bí tích Thánh Thể và Bí tích Truyền Chức Thánh. Mối liên kết nội tại giữa hai bí tích này mặc khải sự tự hiến trọn vẹn của Chúa Giêsu, vị Thượng Tế và là Thánh Thể hằng sống, đời đời. Bởi lẽ trong bánh và rượu đã được truyền phép là "bí tích tình yêu, dấu chỉ của sự hiệp nhất, mối dây đức ái, bữa tiệc vượt qua, trong đó Chúa Kitô được đón nhận, tâm hồn được tràn đầy ân sủng, và một bảo chứng vinh quang tương lai được ban cho chúng ta" (Hiến chế Tín lý Sacrosantum Concilium, 4 tháng 12 năm 1963, số 47). Qua các giám mục và linh mục, những người được thiết lập làm "tư tế của Giao ước Mới" theo lệnh truyền của Chúa (Công đồng Trentô; De Missae Sacrificio, 1), dấu chỉ đức ái của Người hiện diện giữa toàn thể Dân Chúa. Anh em linh mục thân mến, chúng ta được kêu gọi phục vụ Dân Thiên Chúa bằng trọn cả cuộc đời mình.

Vì thế, Thứ Năm Tuần Thánh là ngày của lòng biết ơn sâu sắc và tình huynh đệ đích thực. Xin cho giờ chầu Thánh Thể tối nay, tại mọi giáo xứ và cộng đoàn, trở thành thời gian để chiêm ngưỡng cử chỉ của Chúa Giêsu, quỳ gối như Người đã làm, và cầu xin sức mạnh để noi gương việc phục vụ của Người bằng chính tình yêu ấy.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 4/4/2026]