Hiển thị các bài đăng có nhãn Tòa Thánh và Quốc Tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tòa Thánh và Quốc Tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2026

Tiếp kiến các Đại sứ Bangladesh, Chad, Mauritius, Namibia, Rwanda, Sierra Leone, Sri Lanka và Yemen cạnh Tòa Thánh, nhân dịp trình Quốc thư, ngày 21.05.2026

Tiếp kiến các Đại sứ Bangladesh, Chad, Mauritius, Namibia, Rwanda, Sierra Leone, Sri Lanka và Yemen cạnh Tòa Thánh, nhân dịp trình Quốc thư, ngày 21.05.2026

Tiếp kiến các Đại sứ Bangladesh, Chad, Mauritius, Namibia, Rwanda, Sierra Leone, Sri Lanka và Yemen cạnh Tòa Thánh, nhân dịp trình Quốc thư, ngày 21.05.2026

*******

Sáng nay, tại Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh cha Lêô XIV đã tiếp kiến các Đại sứ của Bangladesh, Chad, Mauritius, Namibia, Rwanda, Sierra Leone, Sri Lanka và Yemen bên cạnh Tòa Thánh, nhân dịp họ trình quốc thư.

Dưới đây là diễn văn của Đức Thánh cha trước các tân Đại sứ:


Diễn văn của Đức Thánh cha


Kính thưa quý vị Đại sứ,
Thưa quý bà và quý ông,

Tôi thân ái chào mừng tất cả quý vị nhân dịp trình quốc thư ủy nhiệm quý vị làm Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền bên cạnh Tòa Thánh thay mặt cho quốc gia của quý vị: Sierra Leone, Bangladesh, Yemen, Rwanda, Namibia, Mauritius, Chad và Sri Lanka. Xin quý vị vui lòng chuyển lời chào trân trọng của tôi đến các vị Nguyên thủ Quốc gia của quý vị, cùng với sự bảo đảm về lời cầu nguyện của tôi dành cho các ngài và cho đồng bào của quý vị.

Tôi đặc biệt vui mừng được tiếp đón quý vị khi Giáo hội đang tiến gần đến Đại lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống, nhắc nhớ lại biến cố Chúa Thánh Thần ngự xuống trên các môn đệ, biến đổi nỗi sợ hãi thành lòng can đảm và sự chia rẽ thành hiệp nhất bằng cách ban ơn cho các ông nói được ngôn ngữ của tất mọi dân tộc. Tôi hy vọng rằng một viễn tượng tương tự về sự hiệp nhất có thể truyền cảm hứng cho thế giới ngoại giao, nơi các mối quan hệ mang tính xây dựng giữa các quốc gia được phát triển nhờ sự cởi mở chân thành, thúc đẩy sự tôn trọng lẫn nhau và ý thức chung về trách nhiệm.

Về phương diện này, tôi xin lặp lại lời kêu gọi tôi đã đưa ra trong Diễn văn trước các Thành viên Ngoại giao đoàn vào tháng Giêng năm nay. Trong một thời đại khi “hòa bình được tìm kiếm bằng vũ khí như một điều kiện để khẳng định quyền thống trị của mình”, thì nhu cầu cấp bách là phải trở lại với “một nền ngoại giao thúc đẩy đối thoại và tìm kiếm sự đồng thuận” ở mọi cấp độ — song phương, khu vực và đa phương. Cuộc đối thoại như vậy, “được thúc đẩy bởi việc chân thành tìm kiếm những con đường dẫn đến hòa bình”, đòi hỏi rằng ngôn từ một lần nữa phải diễn tả những thực tại rõ ràng, không có sự bóp méo hoặc mang tính thù nghịch. Chỉ khi đó, những hiểu lầm mới có thể được vượt qua và niềm tin mới được tái thiết trong bối cảnh của các mối quan hệ quốc tế.

Tuy nhiên, đối thoại lịch sự và rõ ràng, dù là điều thiết yếu, vẫn phải đi đôi với sự hoán cải nội tâm sâu sắc hơn: đó là sự sẵn sàng gạt bỏ các lợi ích riêng vì lợi ích chung. Không một quốc gia, không một xã hội, cũng không một trật tự quốc tế nào có thể tự nhận là công chính và nhân đạo nếu chỉ đo lường thành công của mình bằng quyền lực hay sự thịnh vượng, trong khi lại lãng quên những người sống bên lề. Thật vậy, tình yêu của Đức Kitô dành cho những người rốt hết và những người bị lãng quên thúc bách chúng ta gạt bỏ mọi hình thức ích kỷ khiến cho người nghèo và những người dễ bị tổn thương trở nên vô hình (x. Tông huấn Dilexi Te, ngày 4 tháng 10 năm 2025, số 9).

Tinh thần liên đới cho đi này phải trở thành động lực thúc đẩy cho sự phục vụ của các nhà ngoại giao, đồng thời củng cố các tổ chức quốc tế, nhằm tạo ra những không gian cho sự gặp gỡ và trung gian hòa giải. Các tổ chức này vẫn là những công cụ không thể thiếu để giải quyết các tranh chấp và thúc đẩy sự hợp tác. Trong thời điểm khi những căng thẳng địa chính trị tiếp tục làm phân mảnh thế giới của chúng ta nhiều hơn, cần phải làm cho các định chế này có tính đại diện nhiều hơn, hiệu quả hơn và hướng tới sự hiệp nhất của đại gia đình nhân loại.

Sự phục vụ của quý vị với tư cách đại sứ là một nhịp cầu nối quý giá của lòng tin và sự hợp tác giữa đất nước của quý vị và Tòa thánh. Tôi cầu nguyện để những nỗ lực chung của chúng ta sẽ góp phần làm sống lại cam kết đối với sự dấn thân song phương và đa phương, đồng thời giúp hướng sự chú ý đến những người thường bị lãng quên bên lề của các xã hội chúng ta. Bằng cách này, chúng ta có thể cùng nhau làm việc để đặt những nền móng vững chắc hơn cho một thế giới công bằng, huynh đệ và hòa bình hơn.

Khi quý vị đảm nhận các trọng trách mới của mình, tôi bảo đảm với quý vị về sự sẵn sàng hỗ trợ của Phủ Quốc vụ khanh, cùng với các Bộ thuộc Giáo triều Rôma.

Ước mong sứ mạng của quý vị góp phần củng cố đối thoại, đào sâu sự hiểu biết lẫn nhau, và đóng góp cho nền hòa bình mà thế giới chúng ta đang hết sức cần đến. Tôi khẩn cầu muôn phúc lành của Thiên Chúa tuôn đổ trên quý vị, trên những người thân yêu của quý vị, và đất nước mà quý vị đại diện, tin tưởng rằng Người sẽ hướng dẫn và nâng đỡ quý vị trong sứ mạng cao quý của mình. Xin chân thành cảm ơn quý vị!


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 22/05/2026]


Thứ Hai, 18 tháng 5, 2026

Tiếp kiến các Tham dự viên Hội nghị Liên Nghị viện về Cuộc chiến chống Tội phạm Có tổ chức trong Khu vực OSCE, 15.05.2026

Tiếp kiến các Tham dự viên Hội nghị Liên Nghị viện về Cuộc chiến chống Tội phạm Có tổ chức trong Khu vực OSCE, 15.05.2026

Tiếp kiến các Tham dự viên Hội nghị Liên Nghị viện về Cuộc chiến chống Tội phạm Có tổ chức trong Khu vực OSCE, 15.05.2026

*******

Sáng nay, tại Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh cha Lêô XIV đã tiếp kiến các tham dự viên Hội nghị Liên Nghị viện về Cuộc chiến chống Tội phạm có Tổ chức trong khu vực OSCE, và sau đây là bài diễn văn của ngài:

Diễn văn của Đức Thánh cha


Thưa quý vị Nghị sĩ,
Thưa các vị đại diện của các quốc gia tham gia Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu, thưa ngài Đại sứ,
Thưa quý bà và quý ông,

Với niềm hy vọng sâu sắc và mối quan tâm mục vụ, tôi xin gửi lời chào đến quý vị khi quý vị cùng quy tụ tại Hội nghị Quốc tế lần thứ hai về Cuộc chiến chống Ma túy và Tội phạm có Tổ chức trong Khu vực OSCE, một hội nghị chuyên đề về cuộc đấu tranh đầy khó khăn và cấp bách chống lại tai họa ma túy bất hợp pháp. Sự hiện diện của quý vị, đến từ nhiều quốc gia thành viên OSCE trải dài từ Vancouver đến Vladivostok, là minh chứng cho quyết tâm tập thể nhằm đối phó với một hiện tượng đang nuôi dưỡng các mạng lưới tội phạm và đe dọa đến chính tương lai của các xã hội chúng ta.

Tòa thánh xác tín mạnh mẽ rằng pháp quyền, công tác phòng chống tội phạm và nền công lý hình sự phải cùng nhau được thúc đẩy trong sự hiệp nhất. Thật vậy, việc thực thi đích thực nguyên tắc pháp quyền vẫn là điều không thể thiếu cho sự phát triển toàn diện của con người. Không một xã hội thực sự công bằng nào có thể tồn tại bền vững nếu luật pháp — và không phải là ý chí tùy tiện của các cá nhân — không giữ vị thế tối thượng (x. Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội, số 408); đồng thời, không một cá nhân hay nhóm người nào, bất kể quyền lực hay địa vị, có thể tự cho mình quyền xâm phạm phẩm giá và các quyền của người khác hoặc của cộng đồng họ. Do đó, việc phòng ngừa và ứng phó với các hoạt động tội phạm có mối liên hệ chặt chẽ với việc tôn trọng và bảo vệ những quyền phổ quát của con người. Điều này đòi hỏi không chỉ nỗ lực của các cơ quan thực thi pháp luật mà còn cả sự tham gia của toàn xã hội, ở cấp độ quốc gia cũng như quốc tế.

Về phương diện này, Tòa thánh hoàn toàn ủng hộ mọi sáng kiến nhằm thiết lập một hệ thống công lý hình sự hiệu quả, công bằng, nhân đạo và đáng tin cậy, có khả năng ngăn chặn và chống lại việc sản xuất cũng như nạn buôn bán ma túy bất hợp pháp. Nhận thức được rằng công lý đích thực không thể chỉ thỏa mãn bằng hình phạt, những nỗ lực như vậy cũng phải bao gồm các phương pháp mang tính kiên trì và lòng nhân, hướng tới việc giáo dục lại và tái hòa nhập trọn vẹn vào đời sống xã hội cho những người phạm pháp. Chính sự tôn trọng đối với phẩm giá vốn có của mỗi con người, kể cả những người đã phạm tội, loại trừ việc áp dụng án tử hình, tra tấn, và mọi hình thức trừng phạt tàn bạo hoặc hạ nhục nhân phẩm.

Cần có những chương trình toàn diện để tiếp cận những người đang làm nô lệ cho chứng nghiện ngập, mang đến cho họ sự điều trị y khoa, hỗ trợ tâm lý và quá trình phục hồi kiên trì. Cách tiếp cận đa ngành như vậy phải nhìn nhận con người trong tính toàn vẹn của họ, vượt lên trên các biện pháp thuần túy trấn áp cũng như những giải pháp dễ dãi buông lỏng, cả hai cách này đều không thể giải thoát các cá nhân khỏi xiềng xích của sự lệ thuộc. Bằng cách này, họ có thể tái khám phá và sống lại sự viên mãn của phẩm giá do Thiên Chúa ban tặng.

Hơn nữa, tôi muốn nhấn mạnh rằng giáo dục là chìa khóa để phòng ngừa. Nó đặt nền tảng cho sự phát triển toàn diện con người và trang bị cho trẻ em cũng như thanh thiếu niên khả năng nhận thức được sự tàn phá sâu xa do ma túy gây ra. Trong thời đại của chúng ta, khi các phương tiện truyền thông xã hội thường xuyên lan truyền những thông tin sai lệch nguy hiểm xem nhẹ các rủi ro này, giáo dục phải bắt đầu từ trong gia đình và được củng cố ở học đường, truyền đạt kiến thức khoa học chính xác về những tác hại mang tính hủy hoại của chất ma túy đối với não bộ, cơ thể, hành vi cá nhân và công ích của cộng đồng.

Việc ngăn ngừa và chống tội phạm có tổ chức là điều thiết yếu để xây dựng những xã hội an toàn, công bằng và ổn định. Từ góc nhìn ngày, tôi muốn bày tỏ sự tri ân đối với tất cả các nhân viên thực thi pháp luật và các thành viên ngành tư pháp, những người đã hy sinh mạng sống hoặc chịu thương tật trong khi dũng cảm thi hành nhiệm vụ. Chứng tá của họ cần khơi dậy nơi chúng ta tâm tình biết ơn, trách nhiệm và quyết tâm được đổi mới.

Giáo hội Công giáo, thông qua nhiều tổ chức trên khắp thế giới và dựa trên kinh nghiệm lâu dài trong việc đồng hành với những người bị ảnh hưởng bởi chứng nghiện ngập, sẵn sàng đào sâu hơn nữa mối hợp tác hiệu quả với xã hội dân sự. Cùng nhau, trong tinh thần tôn trọng lẫn nhau và trách nhiệm chung, chúng ta có thể thúc đẩy những chính sách thực sự phục vụ ích chung và phẩm giá bất khả xâm phạm của mỗi con người.

Ước mong Hội nghị này sinh nhiều hoa trái dồi dào và bền vững trong các chiến lược hợp tác xuyên quốc gia, phòng ngừa hữu hiệu và niềm hy vọng đích thực. Tôi khẩn xin Thiên Chúa tuôn đổ dồi dào trên tất cả quý vị, trên các cuộc thảo luận của quý vị và trên các dân tộc mà quý vị đại diện, những phúc lành của sự khôn ngoan, lòng can đảm và nền hòa bình bền vững. Cảm ơn quý vị.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 17/05/2026]


Thứ Tư, 6 tháng 5, 2026

Tiếp kiến Ban Điều hành Hiệp hội Từ thiện Công giáo Hoa Kỳ (Catholic Charities USA), 04.05.2026

Tiếp kiến Ban Điều hành Hiệp hội Từ thiện Công giáo Hoa Kỳ (Catholic Charities USA), 04.05.2026

Tiếp kiến Ban Điều hành Hiệp hội Từ thiện Công giáo Hoa Kỳ (Catholic Charities USA), 04.05.2026


Sáng nay, tại Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã tiếp kiến Ban Điều hành Hiệp hội Từ thiện Công giáo Hoa Kỳ (Catholic Charities USA).

Sau đây là diễn văn Đức Thánh cha gửi đến những người hiện diện trong buổi gặp gỡ:


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.
Bình an cho anh chị em.

Các bạn thân mến,

Tôi vui mừng chào đón anh chị em, các thành viên Hội đồng Quản trị của Hiệp hội Từ thiện Công giáo Hoa Kỳ, nhân chuyến viếng thăm Rôma và Tòa Thánh. Tôi cầu nguyện để thời gian của anh chị em ở đây, tại trung tâm của Giáo hội Hoàn vũ, sẽ không chỉ thắt chặt mối dây liên kết với Đấng Kế vị Thánh Phêrô, mà còn giúp anh chị em tiến gần hơn đến Trái tim của Đức Kitô, Đấng mà tất cả chúng ta đều được mời gọi thông phần vào tình yêu của Người.

Trong mùa Phục sinh này, chúng ta đọc lại các trình thuật Kinh Thánh về biến cố Phục sinh và những lần Chúa hiện ra với các Tông đồ sau đó. Khi các ông cùng với những môn đệ khác bắt đầu sứ vụ loan báo Tin Mừng, Chúa Giêsu đã trợ giúp các ông (x. Mc 16:20), đồng thời bảo đảm với các ông rằng: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28:20).

Cũng như trường hợp của các Tông đồ và Giáo hội sơ khai, việc loan báo Tin Mừng qua việc chăm sóc người nghèo và những người túng thiếu nhất luôn gặp phải những khó khăn nhất định, cả ở cấp độ cá nhân lẫn tổ chức (x. Cv 6:1-7). Những khó khăn này bao gồm việc tìm kiếm đủ nguồn lực, làm chứng cho người khác thấy rằng loại hình phục vụ này là một phần thiết yếu của đời sống Kitô hữu đích thực, và không buông xuôi trước sự nản lòng, đặc biệt khi chúng ta gặp những người mà chúng ta không thể trợ giúp theo cách mình mong muốn. Tôi ý thức rất rõ rằng các cơ quan Từ thiện Công giáo tại Hoa Kỳ hoàn toàn không được miễn trừ khỏi những thách đố vẫn đang tiếp diễn trong thời đại chúng ta. Tuy nhiên, chính khi đối diện với những trở ngại như thế, chúng ta phải học cách lắng nghe tiếng của Chúa Giêsu một lần nữa nói với chúng ta rằng: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày!” Ngay cả hôm nay, Đức Kitô vẫn đến gần để đồng hành với các môn đệ của Người, đặc biệt trong những lúc thất vọng và hoài nghi, như Người đã từng làm với Thánh Tôma Tông đồ, hay với các môn đệ trên đường Emmau (x. Ga 20:24-29; Lc 24:13-35).

Vì thế, tôi khích lệ anh chị em, khích lệ những nỗ lực cao quý của anh chị em, và bày tỏ lòng biết ơn đối với sự sẵn sàng của anh chị em trong việc tiếp tục sứ vụ lòng trắc ẩn của Chúa chúng ta, đặc biệt dành cho những người bé mọn nhất giữa chúng ta. Khi làm điều đó, anh chị em tìm kiếm những giải pháp cho các hoàn cảnh phi nhân, xoa dịu nỗi đau khổ của các cá nhân và gia đình, và giảm bớt gánh nặng cho những ai đang bị đè nén bởi gian truân và xung đột. Trong tất cả những hoàn cảnh ấy, chính đức ái của Đức Kitô thúc đẩy anh chị em trong công việc hằng ngày (x. 2 Cr 5:14). Nghĩa là, ước muốn mang đến cho tha nhân sự trợ giúp vật chất với tình yêu từ Trái tim Chúa Giêsu, bởi vì chính trong tình yêu ấy, họ tìm được sự nghỉ ngơi đích thực và phẩm giá của họ được tôn trọng.

Theo nghĩa này, thật đúng khi nói rằng “lòng yêu thương đối với tha nhân là bằng chứng hữu hình cho tính xác thực của tình yêu chúng ta đối với Thiên Chúa” (Tông huấn Dilexi Te, 26). Tuy nhiên, việc yêu thương tha nhân cách đích thực cũng bao hàm việc trao cho họ cơ hội gặp gỡ Thiên Chúa. Công việc của anh chị em với những người kém may mắn tiếp tục mang lại một cơ hội đặc biệt để chia sẻ niềm vui Phục sinh, và tôi cảm ơn anh chị em vì chứng tá đức tin chân thành này. Sự hỗ trợ thiết thực mà anh chị em và các cơ quan đối tác cung cấp cho những người kém may mắn cho phép họ cảm nghiệm tình yêu của Thiên Chúa qua chính anh chị em, và mở ra một con đường để họ bước vào mối tương quan bền vững với Người. Đồng thời, điều đó cũng giúp chính anh chị em được chạm đến Thân thể Đức Kitô khi tìm cách nhận ra và phục vụ Người nơi anh chị em mình (x. Mt 25:31-46). Theo cách này, những việc bác ái của anh chị em trở thành một cuộc gặp gỡ hỗ tương với Chúa, Đấng đang hiện diện giữa chúng ta.

Một lần nữa, Chúa đã hứa với chúng ta: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày” (Mt 28:20). Chúa Phục sinh đến để tuôn đổ bình an vào tâm hồn chúng ta, mở ra những con đường hy vọng và sự sống mới, bảo đảm với chúng ta rằng Người thực sự đang “đổi mới mọi sự” (Kh 21:5). Vì thế, chúng ta hãy cho phép niềm hy vọng Phục sinh thấm nhập vào đời sống chúng ta và hướng dẫn việc phục vụ của chúng ta, được thúc đẩy bởi chính lời hứa của Người.

Với những tâm tình ấy, tôi gửi đến anh chị em những lời chúc tốt đẹp cho sứ vụ cao quý của anh chị em, và bảo đảm với anh chị em cùng tất cả những cộng sự của anh chị em rằng tôi luôn nhớ đến anh chị em trong lời cầu nguyện.

Tôi phó thác tất cả anh chị em cho sự chuyển cầu đầy tình yêu thương của Đức Maria Vô Nhiễm, bổn mạng của Hoa Kỳ, và tôi ban Phép lành Tông tòa cho anh chị em, cũng như tất cả các cơ quan liên kết với Hiệp hội Từ thiện Công giáo Hoa Kỳ, như bảo chứng của sự bình an và niềm vui trong Chúa Phục sinh. Cảm ơn anh chị em.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 05/05/2026]


Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2026

Diễn văn của Đức Thánh Cha Lêô XIV gửi Cộng đoàn Học viện Ngoại giao Tòa thánh nhân kỷ niệm 325 năm thành lập, 27.04.2026

Diễn văn của Đức Thánh Cha Lêô XIV gửi Cộng đoàn Học viện Ngoại giao Tòa thánh nhân kỷ niệm 325 năm thành lập, 27.04.2026

Diễn văn của Đức Thánh Cha Lêô XIV gửi Cộng đoàn Học viện Ngoại giao Tòa thánh nhân kỷ niệm 325 năm thành lập, 27.04.2026

*******

Chiều nay, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã đến thăm Học viện Ngoại giao Tòa thánh (Pontifical Ecclesiastical Academy), tại Quảng trường Piazza della Minerva, 74, Rôma, nhân dịp kỷ niệm 325 năm ngày thành lập Học viện.

Sau đây là diễn văn của Đức Thánh cha gửi đến Cộng đoàn Học viện Ngoại giao Tòa thánh:

Diễn văn của Đức Thánh Cha


Kính thưa Đức Hồng y,
Thưa quý Đức Tổng Giám mục và quý Đức cha,
Thưa quý Bề trên và anh em học viên của Học viện Ngoại giao Tòa Thánh,

Tôi rất vui mừng được thực hiện chuyến viếng thăm đầu tiên trên cương vị Giáo hoàng Rôma tới Học viện cổ kính và cao quý này, nhân dịp Năm thánh kỷ niệm 325 năm ngày thành lập. Thậm chí vài năm trước, khi đến đây để chia sẻ chứng ngôn với tư cách là Tổng trưởng Bộ Giám mục trong những cuộc gặp gỡ dành cho học viên, tôi đã có dịp suy tư về sứ mạng trọng yếu mà "Alma Mater" của các nhà ngoại giao Tòa thánh đang thực thi. Hôm nay, gần một năm sau khi bắt đầu Thừa tác vụ Phêrô, với sự đồng hành và dấn thân tận tụy của Phủ Quốc vụ khanh cùng các Phái bộ Tòa thánh, những tâm tình ấy càng được củng cố. Vì thế, tôi nhìn lại lịch sử dấn thân và phục vụ mà dịp kỷ niệm đầy niềm vui này cử hành với lòng biết ơn sâu sắc.

Lịch sử ấy – bắt nguồn trong tính Công giáo của Giáo hội – qua bao thế kỷ đã chứng kiến một chuỗi liên tục các linh mục, đến từ khắp nơi trên thế giới, đã đóng góp bằng nỗ lực khiêm nhường của mình vào việc xây dựng sự hiệp nhất trong Đức Kitô; sự hiệp nhất này, giữa tính đa dạng về nguồn gốc, làm cho sự hiệp thông trở thành một đặc tính căn bản của ngành ngoại giao Tòa Thánh. Những cuộc cải tổ – mà gần đây nhất được thực hiện theo ý nguyện của vị Tiền nhiệm trực tiếp của tôi, với ký ức đáng kính – luôn nhằm mục đích gìn giữ nét đặc thù và cấu thành này trong hoạt động ngoại giao của chúng ta, vốn được mời gọi cầu nguyện và làm việc mỗi ngày để “ut unum sint” (Ga 17:21).

Cụ thể, những thay đổi gần đây liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau của việc đào tạo học thuật và trí thức đã đem lại cho Học viện sự độc lập cần thiết để điều chỉnh chương trình nghiên cứu về luật pháp, lịch sử, khoa học chính trị, kinh tế, cũng như các ngôn ngữ sử dụng trong quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh rằng cuộc cải tổ quan trọng nhất đòi hỏi nơi những người bước qua ngưỡng cửa của Cộng đoàn này chính là việc thực hành sự hoán cải không ngừng, nhằm vun trồng “sự gần gũi, chú tâm lắng nghe, làm chứng, cách tiếp cận huynh đệ và đối thoại [...] kết hợp với sự khiêm nhường và lòng hiền hòa” (PHANXICÔ, Tự sắc về Thừa tác vụ Phêrô, 25 tháng 3 năm 2025): những nhân đức phải thấm đẫm trong toàn bộ đời sống thừa tác vụ linh mục của anh em.

Cuộc gặp gỡ hôm nay, tại Ngôi nhà đã góp phần vào sự trưởng thành về trí tuệ, nhân bản và thiêng liêng của nhiều vị Thánh và Chân phước – trong đó có một số vị Tiền nhiệm lừng danh của tôi – là cơ hội để tôi cùng anh em phác họa một số nét đặc trưng của Linh mục Ngoại giao Tòa thánh. Khi tham dự vào thừa tác vụ của Đấng kế vị Thánh Phêrô, người linh mục ấy đón nhận và vun trồng một ơn gọi đặc biệt để phục vụ hòa bình, sự thật và công lý.

Trước hết, người ấy phải là một sứ giả của lời loan báo Vượt qua: “Bình an cho anh em!” (Ga 20:19). Ngay cả khi niềm hy vọng về đối thoại và hòa giải dường như tan biến, và hòa bình “theo kiểu thế gian ban tặng” bị chà đạp và thử thách, anh em vẫn được mời gọi tiếp tục mang lời của Đức Kitô Phục sinh đến cho mọi người. “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy” (Ga 14:27). Và ngay cả trước khi cố gắng xây dựng hòa bình bằng sức lực nhỏ bé của chúng ta, giữa những người không tìm kiếm hòa bình như một ân ban từ Thiên Chúa, sứ mạng của anh em kêu gọi anh em trở thành những “nhịp cầu” và “kênh dẫn” cho hòa bình, để ân sủng từ trời cao có thể tìm thấy lối đi qua những thăng trầm của lịch sử.

Hơn nữa, Nhà Ngoại giao của Giáo hoàng — hoạt động trong các bối cảnh văn hóa đa dạng nhất và trong các tổ chức quốc tế — được trao phó cách đặc biệt việc làm chứng cho Sự thật là chính Đức Kitô, mang sứ điệp của Người đến diễn đàn các quốc gia, và trở thành dấu chỉ tình yêu của Người đối với phần nhân loại được trao phó cho sứ vụ mục tử của mình, thậm chí cả trước khi là một nhà ngoại giao. Như tôi đã có dịp nhấn mạnh vào đầu năm nay trước Ngoại giao đoàn cạnh Tòa thánh, ngày nay điều cấp thiết là “ngôn từ một lần nữa phải... diễn tả các thực tại riêng biệt và rõ ràng một cách dứt khoát”, vì “chỉ có như vậy, cuộc đối thoại đích thực mới có thể tiếp tục mà không có những hiểu lầm” (Diễn văn trước các Thành viên Ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh, ngày 9 tháng 1 năm 2026). Chính vì thế, điều quan trọng là anh em phải mang đến cho thế giới Lời Hằng Sống, Đấng đã mạc khải chính mình không phải bằng cách khẳng định những nguyên tắc và ý tưởng trừu tượng, nhưng bằng cách trở thành người phàm.

Sau cùng, anh em đang chuẩn bị đảm nhận một thừa tác vụ riêng biệt, không chỉ giới hạn trong việc bảo vệ lợi ích của cộng đồng Công giáo, nhưng còn mở rộng ra toàn thể gia đình nhân loại đang sống tại một quốc gia cụ thể hoặc tham gia vào hoạt động của các tổ chức quốc tế khác nhau. Điều này đòi hỏi anh em phải trở thành những người cổ võ cho mọi hình thức công lý giúp nhận ra, tái xây dựng và bảo vệ hình ảnh Thiên Chúa được in dấu nơi mỗi con người. Trong việc bảo vệ nhân quyền — trong đó nổi bật lên là quyền tự do tôn giáo và quyền được sống — tôi thúc giục anh em tiếp tục chỉ ra con đường, không phải hướng tới sự đối đầu và đòi hỏi, nhưng là hướng tới việc bảo vệ phẩm giá con người, sự phát triển của các dân tộc và cộng đồng, và thúc đẩy hợp tác quốc tế. Đây là những phương tiện duy nhất cho phép chúng ta dấn bước trên những con đường hòa bình đích thực.

Quý Bề trên và các học viên thân mến, trong một thế giới bị đánh dấu bởi những căng thẳng, dường như coi xung đột là con đường duy nhất để giải quyết các nhu cầu và đòi hỏi, khả năng dấn thân của chúng ta cho việc đối thoại, lắng nghe và hòa giải dường như là không đủ, đôi khi thậm chí là vô ích. Điều này không được phép làm chúng ta nản lòng! Chúng ta hãy tiếp tục tin tưởng khẩn cầu ơn bình an của Đức Kitô, không sợ hãi. Và vững tin rằng thừa tác vụ quảng đại của anh em, ở bất cứ thời điểm nào và bất cứ nơi đâu, sẽ luôn là khí cụ để cổ võ và bảo vệ phẩm giá của mỗi người nam và nữ, được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, cũng như để thăng tiến công ích.

Với những tâm tình đó và với tình phụ tử, nhờ lời chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria và Thánh Antôn Viện phụ, Bổn mạng của anh em, tôi khẩn cầu cho mỗi người trong anh em và cho hành trình tương lai của Học viện Ngoại giao Tòa thánh được hưởng Phép lành Tòa thánh.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 28/4/2026]


Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026

Tiếp kiến các thành viên của Đảng Nhân dân Châu Âu thuộc Nghị viện Châu Âu, 25.04.2026

Tiếp kiến các thành viên của Đảng Nhân dân Châu Âu thuộc Nghị viện Châu Âu, 25.04.2026

Tiếp kiến các thành viên của Đảng Nhân dân Châu Âu thuộc Nghị viện Châu Âu, 25.04.2026

*******

Sáng nay, tại Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã tiếp kiến các thành viên của Đảng Nhân dân Châu Âu thuộc Nghị viện Châu Âu, và dưới đây là diễn văn của ngài:


Diễn văn của Đức Thánh Cha:


Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần,

Bình an cho anh chị em,

Thưa quý vị Nghị sĩ,
Thưa quý ông và quý bà,

Tôi thân ái chào mừng tất cả quý vị đến với cuộc gặp gỡ này. Cách riêng, tôi xin chào ông Manfred Weber, Chủ tịch, và bà Mairead McGuinness, Đặc phái viên của Liên minh Châu Âu phụ trách thúc đẩy tự do tôn giáo và tín ngưỡng bên ngoài khối Liên minh Châu Âu.

Cuộc gặp gỡ của chúng ta tiếp nối những buổi gặp gỡ đã được thực hiện với những vị tiền nhiệm của tôi là Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô IIĐức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, cũng như Sứ điệp mà Đức Giáo hoàng Phanxicô gửi đến quý vị vào tháng 6 năm 2023, khi ngài không thể đích thân tiếp kiến quý vị do phải nhập viện. Vì vậy, tôi rất vui mừng được tiếp tục cuộc đối thoại này với Đảng Nhân dân Châu Âu, một đảng kín múc nguồn cảm hứng chính trị từ những nhân vật như ông Adenauer, De Gasperi và Schuman, những người được xem là các vị sáng lập nên Châu Âu hiện đại.

Như Đức Bênêđictô XVI đã nói cách đây hai mươi năm, tôi cũng “đánh giá cao việc Nhóm của quý vị nhìn nhận di sản Kitô giáo của Châu Âu.” [1] Dự án Châu Âu trổi lên từ đống tro tàn của Thế chiến Thứ hai, chắc chắn được hình thành từ nhu cầu thực tiễn nhằm ngăn chặn một cuộc xung đột tương tự tái diễn. Tuy nhiên, dự án này cũng thấm đẫm một tầm nhìn lý tưởng, đó là khao khát thúc đẩy sự hợp tác nhằm vượt qua nhiều thế kỷ chia rẽ, và giúp các dân tộc trên lục địa tái khám phá di sản nhân văn, văn hóa và tôn giáo mà họ cùng chia sẻ. Các vị sáng lập đã được truyền cảm hứng bởi đức tin cá nhân của họ, và xem các nguyên tắc Kitô giáo là yếu tố chung và hiệp nhất, có thể giúp chấm dứt tinh thần báo thù và xung đột đã dẫn đến cuộc Thế chiến Thứ hai.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã diễn tả ý tưởng này bằng một cụm từ đơn sơ mà sâu sắc: “hiệp nhất lớn lao hơn xung đột.” [2] Thật vậy, việc tìm kiếm sự hiệp nhất đòi hỏi lòng can đảm để vượt lên trên bề mặt của xung đột và nhìn thấy nơi tha nhân phẩm giá sâu xa nhất của họ. [3] Như thế, con người có thể xây dựng điều mới mẻ và mang tính xây dựng, trong khi xung đột chỉ làm trầm trọng thêm những khác biệt, nuôi dưỡng việc theo đuổi và khẳng định quyền lực, và cuối cùng dẫn đến sự hủy diệt.

Nhiệm vụ hàng đầu của mọi hành động chính trị là đưa ra một tầm nhìn lý tưởng, vì chính trị đòi hỏi một cái nhìn rộng mở về tương lai, không sợ hãi khi phải đưa ra những lựa chọn khó khăn, thậm chí không được ưa thích nhưng lại là cần thiết cho ích chung. Theo nghĩa này, chính trị là “hình thức cao nhất của đức ái” [4] bởi vì nó có thể dấn thân trọn vẹn cho việc xây dựng lợi ích chung.

Tuy nhiên, theo đuổi một lý tưởng không có nghĩa là tôn sùng một hệ tư tưởng. Thật vậy, hệ tư tưởng luôn là kết quả của việc bóp méo thực tại và là một dạng sức mạnh áp đặt lên thực tại ấy. Mọi hệ tư tưởng đều làm méo mó các ý tưởng và áp đặt con người vào chương trình hành động của riêng nó, bóp nghẹt những khát vọng chân chính của họ, khao khát tự do, hạnh phúc cũng như an sinh cá nhân và xã hội. Chính Châu Âu hiện đại đã trỗi dậy từ việc thừa nhận sự thất bại của các dự án thuộc hệ tư tưởng từng tàn phá và chia cắt lục địa này.

Như ông De Gasperi đã nhận định, theo đuổi một lý tưởng có nghĩa là đặt nhân vị ở vị trí trung tâm, “với tinh thần huynh đệ Phúc Âm, với sự tôn trọng luật pháp được kế thừa từ thời xa xưa, với việc cảm thụ cái đẹp được tinh luyện qua nhiều thế kỷ, và sự dấn thân cho sự thật và công lý đã được rèn giũa qua hàng thiên niên kỷ kinh nghiệm.” [5]

Đây chính là khuôn khổ mà chính trị vẫn có thể được thực thi ngày nay, và là nơi hoạt động chính trị phải được dẫn đưa trở lại. Đảng của quý vị được gọi là Đảng Nhân dân Châu Âu. Nhân dân nằm ở trung tâm sự cam kết của quý vị, và quý vị không thể gạt họ sang một bên. Họ không đơn thuần là những người thụ động tiếp nhận các đề xuất và quyết định chính trị; trên hết, họ được mời gọi trở thành những chủ thể tích cực cùng chia sẻ trách nhiệm đối với mọi hành động chính trị. Sự hiện diện giữa nhân dân và lôi cuốn họ vào tiến trình chính trị là phương thuốc giải tốt nhất cho chủ nghĩa dân túy vốn chỉ tìm kiếm sự tán thành dễ dãi, và cho chủ nghĩa tinh hoa có khuynh hướng hành động mà không có sự đồng thuận. Cả hai đều là những khuynh hướng phổ biến trong bối cảnh chính trị ngày nay. Một nền chính trị thực sự mang tính “nhân dân” đòi hỏi thời gian, các dự án chung và tình yêu đối với sự thật.

Một trong những vấn đề chính của chính trị trong những năm gần đây là sự suy giảm không ngừng tính hài hòa, hợp tác và gắn kết tương hỗ giữa nhân dân và các đại diện của họ. Cần phải tái lập một cảm thức đích thực về “nhân dân”, thông qua sự tiếp xúc trực tiếp giữa công dân và những người đại diện của họ, để đáp ứng cách hữu hiệu những vấn đề cụ thể của người dân dưới ánh sáng của một tầm nhìn lý tưởng. Chúng ta có thể nói theo cách ẩn dụ rằng, trong kỷ nguyên của “sự khải hoàn của kỹ thuật số”, hành động chính trị thực sự hướng tới ích chung đòi hỏi việc trở lại với phương thức “tương tác trực tiếp” (analogue).

Có lẽ đây chính là phương thuốc đích thực cho một nền chính trị thường xuyên chỉ lớn tiếng, chỉ dừng lại ở các khẩu hiệu và không có khả năng đáp ứng nhu cầu thực tế của người dân. Hơn nữa, để vượt qua sự bất bình đối với chính trị, cần phải giành lại lòng dân bằng cách tiếp cận trực tiếp với họ, và xây dựng lại mạng lưới các mối tương quan tại chính những nơi họ sống, để mỗi người có thể cảm nhận mình thuộc về một cộng đồng và sẻ chia tương lai của cộng đồng đó.

Điều này có ý nghĩa gì trong thực tế đối với những người đặt nền tảng hành động của họ trên các giá trị Kitô giáo - dân chủ? Trước hết, nó có nghĩa là tái khám phá và đón nhận di sản Kitô giáo mà từ đó quý vị đã khởi đi, đồng thời vẫn duy trì sự phân biệt cần thiết giữa chứng tá tôn giáo mang tính ngôn sứ – dành riêng cho cộng đoàn giáo hội – và chứng tá Kitô giáo được thể hiện qua các lựa chọn chính trị cụ thể. [6] Là một người Kitô hữu trong chính trị không có nghĩa là thể hiện việc lớn tiếng tuyên xưng đức tin; thay vào đó, nó có nghĩa là cho phép Tin Mừng hướng dẫn những quyết định cần được đưa ra, kể cả những quyết định có thể không dễ đạt được sự đồng thuận. Điều đó cũng có nghĩa là nỗ lực bảo tồn mối liên hệ giữa luật tự nhiên và luật thực định (positive law), giữa nguồn cội Kitô giáo và hành động chính trị.

Là một Kitô hữu dấn thân trong chính trị đòi hỏi một cái nhìn thực tế khởi đi từ những mối quan tâm cụ thể của người dân. Tầm nhìn này trước hết phải tìm cách thúc đẩy các điều kiện lao động xứng đáng, khuyến khích sự sáng tạo và tài năng của con người trước một thị trường đang ngày càng trở nên phi nhân và không đưa đến sự viên mãn. Một quan điểm như thế phải giúp con người vượt qua nỗi sợ hãi khi lập gia đình và sinh con, một nỗi sợ dường như đặc biệt phổ biến ở Châu Âu. Nó cũng cần phải giải quyết các nguyên nhân gốc rễ của hiện tượng di cư, chăm sóc những người đang đau khổ, đồng thời lưu tâm đến khả năng thực tế trong việc đón nhận và hội nhập người di cư vào xã hội. Cũng vậy, nó đòi hỏi phải đối diện, mà không đi theo con đường hệ tư tưởng, với những thách đố lớn của thời đại chúng ta, chẳng hạn như việc chăm sóc công trình tạo dựng và trí tuệ nhân tạo. Trí tuệ nhân tạo mang lại những cơ hội lớn, nhưng cũng ẩn chứa rất nhiều hiểm họa.

Là một Kitô hữu dấn thân trong chính trị cũng có nghĩa là đầu tư cho tự do, không phải một thứ tự do bị giản lược thành những sở thích cá nhân đơn thuần, mà là một tự do bén rễ trong sự thật, vốn bảo vệ tự do tôn giáo cũng như tự do tư tưởng và lương tâm ở mọi nơi và trong mọi hoàn cảnh. Đồng thời, phải tránh cổ võ cho một sự “đoản mạch quyền con người” [7], bởi vì điều đó cuối cùng sẽ nhường chỗ cho sức mạnh áp đặt và áp bức.

Tôi để lại cho quý vị những điểm suy tư vắn tắt trên, với hy vọng rằng chúng sẽ trở thành điểm khởi đầu cho những suy tư trong công việc của quý vị. Tôi xin gửi đến quý vị những lời chúc tốt đẹp cho sự phục vụ của quý vị dành cho người dân Châu Âu, và tôi ban Phép lành Tòa Thánh cho quý vị.

Cảm ơn quý vị!"

______________________


[2] FRANCIS, Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium, 228: AAS 105 (2013), 1113.

[3] Cf. ibid.

[4] PIUS XI, Audience with the Leaders of the Catholic University Federation (18 December 1927).

[5] A. DE GASPERI, Europe, Our Homeland. Address to the European Parliamentary Conference, 21 April 1954 in: Alcide De Gasperi e la politica internazionale, Rome 1990, vol. III, 437-440.

[6] Cf. MARIALUISA L. SERGIO in: ALCIDE DE GASPERI, Diario 1930-1943, Bologna 2018, 24.




[Nguồn:vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 26/4/2026]


Thứ Bảy, 21 tháng 2, 2026

Tiếp kiến các Tỉnh trưởng của Ý, 16.02.2026

Tiếp kiến các Tỉnh trưởng của Ý, 16.02.2026

Tiếp kiến các Tỉnh trưởng của Ý, 16.02.2026

Sáng nay, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã tiếp kiến các Tỉnh trưởng của Ý tại Điện Tông tòa Vatican, và ngài có diễn văn sau đây gửi tới họ:

Diễn văn của Đức Thánh Cha

Thưa Ngài Bộ trưởng,
Thưa quý Tỉnh trưởng,

Tôi xin gửi lời chào thân ái đến từng người trong quý vị, và tôi cảm ơn quý vị về chuyến viếng thăm này, khẳng định cho cam kết cùng nhau làm việc vì thiện ích của xã hội Ý, tùy theo vai trò của mỗi người. Thánh bổn mạng của quý vị, Thánh Ambrôsiô thành Milan, là hiện thân của một mẫu gương sáng ngời về sự hội tụ giữa Nhà nước và Giáo hội: với vai trò là tỉnh trưởng của thành phố lớn khi đó, từng là thủ đô của đế quốc, ngài đã trở thành giám mục của nơi ấy với sự tung hô của dân chúng, như người ta vẫn kể. Sau sự chuyển đổi nhanh chóng đó, Thánh Ambrôsiô đã thực thi các chức vụ công của mình theo một cách thức mới, đặt quyền bính thiêng liêng mà ngài được trao phó để phục vụ dân chúng.

Vào thời hậu cổ đại, một sự tương đồng nhất định giữa vai trò của tỉnh trưởng và thừa tác vụ giám mục cũng được thể hiện qua các danh xưng và tước hiệu được sử dụng để chỉ về việc quản trị công lẫn việc điều hành cộng đoàn Kitô hữu. Cả những công dân La Mã và các môn đệ của Chúa Giêsu đều được tổ chức thành những giáo phận, hay các địa hạt được đứng đầu bởi các tổng trấn pháp quan hoặc bởi những episkopoi, tức là các giám mục, những vị coi sóc dân chúng như những mục tử nhân lành.

Mối liên hệ lịch sử này vẫn soi sáng sứ mệnh của quý vị hôm nay, đó là phục vụ Nhà nước bằng cách bảo đảm trật tự công cộng và sự an toàn cho mọi công dân. Đặc biệt trong thời đại của chúng ta, bị đánh dấu bởi những xung đột và căng thẳng quốc tế, càng làm nổi bật tầm quan trọng của việc bảo vệ ích chung, một giá trị không thể giản lược vào các khía cạnh vật chất, vì trước hết nó gắn liền với di sản đạo đức và tinh thần của nước Cộng hòa Ý. Chính trong sự chung sống dân sự mà những giá trị này tìm thấy các điều kiện tốt nhất để lan tỏa và tiến bộ.

Bằng cách giám sát sự hòa hợp xã hội, vị Tỉnh trưởng góp phần bảo vệ điều kiện tiên quyết không thể thiếu đối với tự do và các quyền của công dân. Toàn thể dân chúng được hưởng lợi từ sự phục vụ này, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương nhất. Thật vậy, khi không gian dân sự không có sự bất ổn, người nghèo sẽ dễ dàng được đón nhận hơn, người già cảm thấy an tâm hơn, và các dịch vụ dành cho gia đình, bệnh nhân và giới trẻ được cải thiện, thúc đẩy một cái nhìn tin tưởng hơn vào tương lai.

Vì thế, trật tự công cộng không chỉ liên quan đến cuộc đấu tranh cần thiết chống tội phạm hay việc ngăn ngừa các cuộc bạo loạn gây hại; nó còn đòi hỏi một cam kết kiên trì chống lại những hình thức bạo lực, sự dối trá và thô tục làm tổn thương thân thể xã hội. Ở khía cạnh tích cực, nhiệm vụ giám sát của quý vị nhằm mục đích nuôi dưỡng những mối quan hệ xã hội và xây dựng những thỏa thuận ngày càng hiệu quả giữa các cơ quan trung ương của nhà nước, chính quyền địa phương và công dân.

Về vấn đề này, thật đáng để nhắc lại giáo huấn của Thánh Augustinô, người đã được Thánh Ambrôsiô rửa tội. Vị Giám mục thành Hippo viết: “Những người cai quản phục vụ những người mà họ dường như ra lệnh; vì họ cai quản không vì lòng ham muốn quyền lực, mà từ ý thức về bổn phận mà họ mắc nợ đối với người khác” (De civitate Dei, XIX, 14). Nguyên tắc cơ bản này phù hợp với các quy định của Hiến pháp Ý, được tuyên bố tại Điều 98: “Công chức chỉ phục vụ duy nhất Quốc gia”. Khi thiết lập tính chuyên biệt này, Hiến pháp chứng thực ý nghĩa nền tảng cho sự phục vụ cao quý của quý vị, sự phục vụ chắc chắn tuân thủ các luật của Nhà nước, nhưng thậm chí còn hơn thế nữa đối với lương tâm, để nhận biết, hiểu thấu và áp dụng chúng với sự kiên định và công bằng. Thật vậy, một mặt luật pháp là sự thể hiện ý chí của nhân dân; mặt khác, lương tâm diễn giải nhân tính cá nhân của quý vị: cả hai phải được giữ tránh bị áp lực, thực thi đồng thời sự nghiêm minh và lòng khoan dung như những đức tính được điều hòa tốt nơi những con người chính trực.

Quý vị ý thức rõ về kỷ luật nội tâm cần thiết để quản trị và thúc đẩy trật tự trong chính tư tưởng của mình, trước khi thực hiện cho nước Cộng hòa; chính vì thế, phục vụ Quốc gia có nghĩa là dấn thân với tâm trí sáng suốt và lương tâm liêm chính cho cộng đồng, cụ thể là cho ích chung của dân tộc Ý. Về phương diện này, chức vụ cao trọng mà quý vị nắm giữ đòi hỏi một chứng tá hai chiều. Chứng tá thứ nhất đạt được thông qua sự hợp tác giữa các cơ quan hành chính và các cấp bậc khác nhau của Nhà nước; chứng tá thứ hai đạt được bằng cách kết nối trách nhiệm nghề nghiệp và đạo đức trong cuộc sống, như một tấm gương về sự dấn thân cho đồng bào, đặc biệt là các thế hệ trẻ. Về mặt này, tôi hy vọng quyền hạn của quý vị sẽ góp phần cải thiện hình ảnh của bộ máy hành chính, hợp tác để làm cho việc chăm sóc xã hội ngày càng trở nên nhân đức hơn.

Đặc biệt trong những tình huống khẩn cấp, đối mặt với thiên tai và hiểm nguy, vai trò của quý vị cho phép quý vị thể hiện trọn vẹn các giá trị của sự đoàn kết, lòng can đảm và công lý làm rạng danh nước Cộng hòa Ý. Chiều sâu đạo đức của sự phục vụ của quý vị cũng được thể hiện trong những thách đố do các công nghệ mới đặt ra, chẳng hạn như trí tuệ nhân tạo, hiện đang được áp dụng trong quản lý hành chính công. Những công cụ này phải được quản trị cách thận trọng, không chỉ để bảo vệ dữ liệu cá nhân, mà còn vì lợi ích của tất cả mọi người, không đặt ra những điều kiện ưu tiên thuộc nhóm tinh hoa.

Khi vun trồng phong cách công dân có ý thức, trung thực và tích cực, xin quý vị biết rằng quý vị luôn có thể tin tưởng vào sự cộng tác và tôn trọng của Giáo hội. Những mối tương quan mang tính xây dựng mà quý vị duy trì với các Giám mục giáo phận đặc biệt thuận lợi cho việc tiếp nhận người di cư và nhiều hình thức hỗ trợ cho những người túng thiếu, cho phép chúng ta có thể cùng nhau hoạt động ở tuyến đầu, cũng như trong việc quản lý các vấn đề thực tế khác, chẳng hạn như các hội đồng giáo xứ. Do đó, đức tin của cộng đoàn Kitô hữu và các giá trị tôn giáo mà cộng đoàn đó thể hiện góp phần vào sự phát triển văn hóa và xã hội của nước Ý.

Thưa quý bà và quý ông, xin cầu chúc những thành công tốt đẹp nhất cho từng người trong quý vị, tôi ban phép lành cho quý vị, cho sự phục vụ và gia đình của quý vị.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 20/2/2016]


Thứ Tư, 14 tháng 1, 2026

Mạng lưới ngoại giao rộng khắp của Tòa Thánh trong năm 2026

Mạng lưới ngoại giao rộng khắp của Tòa Thánh trong năm 2026

Mạng lưới ngoại giao rộng khắp của Tòa Thánh trong năm 2026

Mistervlad / Shutterstock


I.Media

10/01/26


Thật ngạc nhiên khi chỉ còn rất ít quốc gia hoàn toàn không có quan hệ ngoại giao chính thức với Tòa Thánh, và năm 2025 vừa qua đã ghi nhận thêm ba đại sứ quán nước ngoài mới được mở tại Roma.

Tính đến đầu năm 2026, Tòa Thánh có quan hệ ngoại giao chính thức với 184 quốc gia, ngoài ra còn có Liên minh Châu Âu (EU) và Dòng Hiệp sĩ Malta. Vatican đã công bố các số liệu thống kê này trong một thông cáo phát hành ngày 9 tháng 1, nhân dịp Đức Giáo hoàng Lêô thực hiện buổi tiếp kiến và chúc mừng năm mới thường niên đầu tiên dành cho Ngoại giao đoàn.

Cùng với hai thực thể này, hiện có 93 phái bộ ngoại giao thường trú đặt trụ sở tại Roma, cũng như văn phòng của Liên đoàn Ả Rập, Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM) và Cao ủy Liên Hợp Quốc về Người tị nạn (UNHCR).

Chỉ có 12 quốc gia không có quan hệ ngoại giao chính thức với Tòa Thánh.

Các quốc gia hoàn toàn không có quan hệ ngoại giáo chính thức với Vatican bao gồm Afghanistan, Bhutan, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (ngoại trừ các thỏa thuận mục vụ tạm thời được ký kết vào năm 2018), Bắc Triều Tiên và Maldives.

Tòa Thánh cũng chưa có quan hệ ngoại giao với Tuvalu, nhưng đã có một Phái đoàn Tòa Thánh phụ trách khu vực Thái Bình Dương; tương tự, Tòa Thánh không có quan hệ ngoại giao với Saudi Arabia, nhưng có một Phái đoàn Tòa Thánh tại Bán đảo Ả Rập.

Tại một số quốc gia, thay vì có đại sứ, Tòa Thánh cử các vị Khâm sứ Tòa Thánh, như tại Comoros, Somalia, Brunei và Lào.

Sau cùng, trong một trường hợp đặc biệt, từ năm 2024, Tòa Thánh đã có “Đại diện Tòa Thánh thường trú” tại Việt Nam — tuy nhiên, vị này không phải là đại sứ.

Trong bài diễn văn trước Ngoại giao đoàn vào thứ Sáu, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã hoan nghênh những tiến triển đạt được trong quan hệ với quốc gia này.

Tăng cường các mối quan hệ ngoại giao

Ba phái bộ ngoại giao đã mở văn phòng tại Roma trong năm 2025 gồm: Belarus, Kazakhstan và Burundi, nâng tổng số đại sứ quán lên 93. Các đại sứ không thường trú có trụ sở tại Berlin, Paris, Geneva hoặc Madrid.

Tòa Thánh hiện có 128 Sứ thần Tòa Thánh, tương đương với các đại sứ quán của Tòa Thánh.

Năm 2025, Tòa Thánh đã ký kết hai thỏa thuận song phương: vào ngày 31 tháng 7 với Ý liên quan đến việc lắp đặt nhà máy điện mặt trời tại vùng lãnh thổ Santa Maria di Galeria ở phía bắc Roma; và vào ngày 29 tháng 9 với bang Berlin của Đức, liên quan đến hoạt động của Viện Thần học Công giáo tại Đại học Humboldt ở thủ đô của Đức.

Cuối cùng, vào ngày 3 tháng 11, một thỏa thuận về hỗ trợ thiêng liêng cho các lực lượng vũ trang Ý, đã được ký kết vào năm 2024, đã chính thức có hiệu lực.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 11/1/2026]


Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2026

Tiếp kiến Ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh, ngày 09.01.2026

Tiếp kiến Ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh, ngày 09.01.2026

Tiếp kiến Ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh, ngày 09.01.2026

*******

Vào lúc 10 giờ sáng nay, tại Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã tiếp kiến các thành viên của Ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh nhân dịp trao đổi lời chúc mừng năm mới.

Sau lời chào mở đầu của Trưởng Ngoại giao đoàn, Ngài Georges Poulides, Đại sứ Cộng hòa Síp cạnh Tòa Thánh, Đức Giáo hoàng đã đọc diễn văn sau đây:


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Kính thưa Đức Hồng y,
Thưa quý Ngài Đại sứ,
Thưa quý thành viên Ngoại giao đoàn,
Thưa quý bà và quý ông,

Tôi xin chân thành cảm ơn Ngài Đại sứ George Poulides, Trưởng Ngoại giao đoàn, về những lời ân cần và đầy kính trọng mà ngài thay mặt cho quý vị gửi đến tôi. Tôi vui mừng chào đón tất cả quý vị trong cuộc gặp gỡ trao đổi lời chúc mừng nhân dịp đầu năm mới này.

Đây là một sự kiện truyền thống trong đời sống của Ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh; nhưng với cá nhân tôi, đó là một trải nghiệm mới mẻ, bởi tôi mới được gọi để chăn dắt đoàn chiên của Chúa Kitô vài tháng trước đây. Vì thế, tôi rất vui mừng được đón tiếp quý vị sáng nay, và tôi cảm ơn vì sự hiện diện quảng đại của quý vị, đặc biệt năm nay còn có thêm sự hiện diện của các vị Trưởng cơ quan Đại diện Thường trú của Kazakhstan, Burundi và Belarus. Tôi cảm ơn các Nhà chức trách Chính phủ của quý vị đã quyết định mở Văn phòng Đại diện ngoại giao cạnh Tòa Thánh tại Roma. Đây là dấu chỉ cụ thể của những mối quan hệ song phương tốt đẹp và hiệu quả. Thông qua mỗi quý vị Đại sứ ở đây, tôi xin gửi lời chúc tốt đẹp nhất đến đất nước của quý vị, đồng thời chia sẻ những suy tư về thời đại của chúng ta, một thời kỳ đang bị xáo trộn bởi sự gia tăng những căng thẳng và xung đột.

Năm vừa qua đã chứng kiến nhiều biến cố quan trọng, bắt đầu với những biến cố tác động trực tiếp đến đời sống Giáo hội, khi Giáo hội trải qua một Năm Thánh sâu sắc, và cũng đã chứng kiến vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, Đức Giáo Hoàng Phanxicô, trở về Nhà Cha. Toàn thế giới đã quy tụ quanh linh cữu của ngài trong ngày lễ an táng, và cảm nhận sự mất mát một người cha đã dẫn dắt Dân Chúa với đức ái mục tử vô cùng lớn lao.

Vài ngày trước, chúng tôi đã đóng Cửa Thánh cuối cùng, đó là Cửa Thánh của Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, được chính Đức Giáo Hoàng Phanxicô mở ra vào đêm Giáng sinh năm 2024. Trong suốt Năm Thánh, hàng triệu người hành hương đã đổ về Roma để thực hiện cuộc hành hương Năm Thánh của mình. Mỗi người mang theo những kinh nghiệm, những câu hỏi và niềm vui, cũng như những nỗi đau và thương tổn của mình, để bước qua Cửa Thánh, là biểu tượng của chính Chúa Kitô, vị lương y từ trời cao của chúng ta. Khi đến trong xác phàm, Người đã mặc lấy nhân tính của chúng ta để làm cho chúng ta được thông phần vào sự sống thần linh của Người, như chúng ta đã chiêm ngắm trong mầu nhiệm Giáng sinh vừa qua. Tôi tin tưởng rằng, qua những trải nghiệm ấy, nhiều người đã có thể đào sâu hoặc tìm lại mối tương quan với Chúa Giêsu, tìm thấy sự an ủi và niềm hy vọng mới để đối mặt với những thách đố trong cuộc sống.

Ở đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt đối với người dân Roma đã đón tiếp những người hành hương và du khách từ khắp nơi trên thế giới với sự kiên nhẫn và lòng hiếu khách tuyệt vời. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến Chính phủ Ý, chính quyền thành phố Roma và các lực lượng cảnh sát, những người đã làm việc với lòng nhiệt thành và sự chính xác để bảo đảm rằng Roma có thể chào đón mọi du khách, và các sự kiện của Năm Thánh cũng như các sự kiện sau khi Đức Giáo hoàng Phanxicô qua đời, được diễn ra trong an toàn và bình an.

Tòa Thánh và nước Ý không chỉ chia sẻ sự gần gũi về mặt địa lý, mà trên hết là một lịch sử đức tin và văn hóa lâu đời, gắn kết Giáo hội với bán đảo xinh đẹp này và người dân của đất nước. Điều ấy cũng được phản ánh trong các mối quan hệ song phương tuyệt vời, được củng cố trong năm nay bằng việc các sửa đổi trong Thỏa thuận về việc Hỗ trợ Thiêng liêng cho các Lực lượng Vũ trang chính thức có hiệu lực, điều này cho phép sự đồng hành thiêng liêng hiệu quả hơn đối với những nam nữ quân nhân đang phục vụ trong các Lực lượng Vũ trang tại Ý, và trong nhiều sứ mệnh ở nước ngoài. Tương tự, việc ký kết Thỏa thuận về nhà máy điện mặt trời-nông nghiệp (agrivoltaic) tại Santa Maria di Galeria, cho phép cung cấp điện cho Thành quốc Vatican bằng các nguồn năng lượng tái tạo, qua đó khẳng định cam kết chung của chúng ta trong việc chăm sóc công trình tạo dựng. Tôi cũng cảm ơn về các chuyến viếng thăm của các vị lãnh đạo cao cấp Chính phủ dành cho tôi khi khởi đầu triều đại giáo hoàng, cũng như sự đón tiếp nồng hậu mà ngài Tổng thống Cộng hòa Ý dành cho tôi tại phủ Quirinale, tôi xin gửi đến ngài lời chào thân ái và trân trọng nhất.

Trong năm qua, khi nhận lời mời được gửi đến Đức Giáo hoàng Phanxicô, tôi đã có niềm vui được viếng thăm Thổ Nhĩ Kỳ và Li-băng. Tôi xin cảm ơn các Nhà chức trách của cả hai quốc gia vì sự đón tiếp nồng hậu. Tại İznik, cùng với Đức Thượng Phụ Đại Kết Constantinople, và đại diện của các hệ phái Kitô giáo khác, tôi đã kỷ niệm 1700 năm Công đồng Đại kết đầu tiên. Đây là một cơ hội quan trọng để làm mới cam kết của chúng tôi trên hành trình hướng tới sự hiệp nhất hữu hình trọn vẹn của tất cả các Kitô hữu. Tại Li-băng, tôi đã gặp gỡ một dân tộc dù còn nhiều khó khăn nhưng tràn đầy đức tin và lòng nhiệt thành. Ở đó, tôi đã cảm nhận được niềm hy vọng của những người trẻ khao khát xây dựng một xã hội công bằng và gắn kết hơn, cũng như củng cố mối dây liên kết các văn hóa và tôn giáo, làm cho Đất nước của những cây Tuyết tùng trở nên độc đáo trên thế giới.


Thưa quý vị Đại sứ,

Được thôi thúc bởi những biến cố bi thảm trong cuộc cướp phá thành Roma năm 410 sau Công nguyên, Thánh Augustinô đã viết tác phẩm De Civitate Dei (Thành đô của Thiên Chúa). Đây là một trong những tác phẩm thần học, triết học và văn chương mạnh mẽ nhất của Ngài. Như Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI nhận định, đó là một “tác phẩm đồ sộ, có tính quyết định đối với sự phát triển tư tưởng chính trị phương Tây và thần học Kitô giáo về lịch sử” [1]. [1] Tác phẩm này, như cách chúng ta nói theo ngôn ngữ đương đại, khai triển một “lối tường thuật” đang lan rộng thời bấy giờ, vì “những người ngoại giáo, khi đó vẫn còn rất đông, và thậm chí không ít Kitô hữu, đã nghĩ rằng Thiên Chúa của tôn giáo mới, và chính các Tông đồ đã cho thấy họ không có khả năng bảo vệ thành đô. Trong thời kỳ của các thần ngoại giáo, Roma là caput mundi, thành đô vĩ đại, và không ai có thể tưởng tượng rằng nó lại rơi vào tay kẻ thù. Giờ đây, với Thiên Chúa của các Kitô hữu, thành đô vĩ đại ấy dường như không còn an toàn nữa”. [2] Chắc chắn, thời đại của chúng ta rất xa với những biến cố đó. Đây không đơn thuần là về khoảng cách thời gian, mà còn là sự khác biệt về nhận thức văn hóa và sự phát triển của các phạm trù tư tưởng. Tuy nhiên, chúng ta không thể bỏ qua thực tế rằng chính những cảm thức văn hóa của chúng ta đã được nuôi dưỡng từ tác phẩm đó, một tác phẩm, giống như tất cả các tác phẩm kinh điển khác, luôn đối thoại với con người thuộc mọi thế hệ.

Thánh Augustinô giải thích các biến cố và lịch sử theo mô hình của hai thành đô. Thứ nhất là thành đô của Thiên Chúa, vốn mang tính vĩnh cửu và được đặc trưng bởi tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa (amor Dei), cũng như tình yêu đối với tha nhân, đặc biệt là người nghèo. Tiếp đến là thành đô của trần thế, là nơi cư ngụ tạm thời, nơi con người sinh sống cho đến khi chết. Trong thời đại chúng ta, thành đô này bao gồm tất cả các thể chế chính trị và xã hội, từ gia đình đến các quốc gia dân tộc và các tổ chức quốc tế. Đối với Thánh Augustinô, thành đô này được tiêu biểu nơi Đế quốc Roma. Thật vậy, thành đô thế gian tập trung vào lòng kiêu ngạo và yêu bản thân (amor sui), vào sự khao khát quyền lực và vinh quang trần thế dẫn đến hủy diệt. Tuy nhiên, đây không phải là một cách đọc lịch sử nhằm đối lập sự vĩnh cửu với hiện tại, Giáo hội với Nhà nước, cũng không phải là một phép biện chứng về vai trò của tôn giáo trong xã hội dân sự.

Theo quan điểm của Thánh Augustinô, hai thành đô này cùng tồn tại cho đến tận cùng thời gian. Mỗi thành đô đều có chiều kích bên ngoài và bên trong, vì chúng không chỉ được hiểu qua hình thức bên ngoài mà chúng được xây dựng trong dòng lịch sử, mà còn qua lăng kính của thái độ nội tâm của mỗi con người trước các thực tại của cuộc sống và các biến cố lịch sử. Trong viễn tượng ấy, mỗi người chúng ta đều là một chủ thể, và vì thế phải chịu trách nhiệm với lịch sử. Hơn nữa, Thánh Augustinô nhấn mạnh rằng các Kitô hữu được Thiên Chúa mời gọi cư ngụ trong thành đô trần thế với con tim và tâm trí hướng về thành đô trên trời, quê hương đích thực của họ. Đồng thời, các Kitô hữu sống trong thành đô trần thế không phải là những người xa lạ với thế giới chính trị, và dưới sự hướng dẫn của Kinh Thánh, họ tìm cách áp dụng đạo đức Kitô giáo vào việc quản trị dân sự.

Tác phẩm Thành đô của Thiên Chúa không đề xuất một chương trình chính trị. Trái lại, nó đưa ra những suy tư quý giá về các vấn đề cơ bản liên quan đến đời sống chính trị và xã hội, chẳng hạn như việc tìm kiếm một sự chung sống công bằng và hòa bình hơn giữa các dân tộc. Thánh Augustinô cũng cảnh báo về những nguy cơ nghiêm trọng đối với đời sống chính trị nảy sinh từ những cách diễn giải sai lệch về lịch sử, từ chủ nghĩa dân tộc cực đoan, và sự bóp méo lý tưởng về người lãnh đạo chính trị.

Mặc dù bối cảnh chúng ta đang sống ngày nay khác với thế kỷ thứ V, nhưng một số điểm tương đồng vẫn còn mang tính thời sự sâu sắc. Chúng ta ngày nay, cũng như thời ấy, đang ở trong một kỷ nguyên của các phong trào di cư lan rộng; cũng như khi đó, chúng ta đang sống trong thời kỳ điều chỉnh sâu sắc những cân bằng địa chính trị và các phạm trù văn hóa; cũng như thời đó, như cách diễn đạt nổi tiếng của Đức Giáo hoàng Phanxicô, chúng ta không ở trong một kỷ nguyên của những thay đổi, mà ở trong một cuộc thay đổi kỷ nguyên. [3]

Trong thời đại của chúng ta, sự suy yếu của chủ nghĩa đa phương là một nguyên nhân đặc biệt đáng lo ngại trên bình diện quốc tế. Một nền ngoại giao thúc đẩy đối thoại và tìm kiếm sự đồng thuận giữa tất cả các bên đang bị thay thế bằng một nền ngoại giao dựa trên vũ lực của các cá nhân hoặc các nhóm đồng minh. Chiến tranh đang trở lại thành xu thế thời đại, và tính hiếu chiến đang lan rộng. Nguyên tắc được thiết lập sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, vốn cấm các quốc gia sử dụng vũ lực để xâm phạm biên giới của các quốc gia khác, đã hoàn toàn bị lung lay. Hòa bình không còn được tìm kiếm như một ân ban và một điều thiện hảo đáng mong ước, hoặc theo đuổi “việc thiết lập một vũ trụ có trật tự theo ý muốn của Thiên Chúa, với một hình thức công lý hoàn hảo hơn giữa người nam và người nữ”. [4] Thay vào đó, hòa bình được tìm kiếm qua vũ khí như một điều kiện để khẳng định quyền thống trị của mình. Điều này đe dọa nghiêm trọng đến pháp quyền, vốn là nền tảng của mọi sự chung sống hòa bình.

Hơn nữa, như Thánh Augustinô đã lưu ý, “không ai không mong muốn có hòa bình. Bởi ngay cả những kẻ gây chiến cũng không khao khát điều gì khác ngoài chiến thắng; nghĩa là, họ mong đạt tới hòa bình trong vinh quang. Vì chiến thắng là gì nếu không phải là việc khuất phục những kẻ chống lại chúng ta? Và khi điều này được thực hiện, sẽ có hòa bình… vì ngay cả những kẻ cố tình phá vỡ nền hòa bình mà họ đang sống cũng không hề thù ghét hòa bình, họ chỉ muốn thay đổi nó thành một nền hòa bình phù hợp với họ hơn. Do đó, họ không phải là không muốn có hòa bình, mà chỉ muốn có thứ hòa bình mà họ khao khát”. [5]

Chính thái độ ấy đã dẫn nhân loại vào thảm kịch của Chiến tranh Thế giới thứ hai. Từ những đống tro tàn đó, Liên Hợp Quốc đã ra đời, tổ chức gần đây vừa kỷ niệm 80 năm thành lập. Liên Hợp Quốc được thành lập bởi quyết tâm của năm mươi mốt quốc gia như một trung tâm hợp tác đa phương nhằm ngăn ngừa những thảm họa toàn cầu trong tương lai, để bảo vệ hòa bình, bảo vệ các quyền căn bản của con người, và thúc đẩy sự phát triển bền vững.

Tôi muốn đặc biệt lưu ý đến tầm quan trọng của luật nhân đạo quốc tế. Việc tuân thủ luật này không thể chỉ phụ thuộc vào các hoàn cảnh hoặc những lợi ích quân sự và chiến lược. Luật nhân đạo, ngoài việc bảo đảm một mức độ nhân bản tối thiểu giữa những tàn phá của chiến tranh, còn là một cam kết mà các Quốc gia đã đưa ra. Luật này phải luôn được đặt lên trên những tham vọng của các bên tham chiến, nhằm giảm thiểu những hậu quả tàn khốc của chiến tranh, kể cả việc hướng tới sự tái thiết. Chúng ta không thể làm ngơ trước thực tế rằng việc phá hủy các bệnh viện, cơ sở hạ tầng năng lượng, nhà ở và những nơi thiết yếu cho đời sống hàng ngày là sự vi phạm nghiêm trọng luật nhân đạo quốc tế. Tòa Thánh kiên quyết tái khẳng định sự lên án đối với bất kỳ hình thức nào lôi kéo thường dân vào các hoạt động quân sự. Đồng thời, Tòa Thánh hy vọng cộng đồng quốc tế sẽ ghi nhớ rằng việc bảo vệ nguyên tắc bất khả xâm phạm của phẩm giá con người, và tính thánh thiêng của sự sống luôn có giá trị cao hơn bất kỳ lợi ích quốc gia thuần túy nào.

Với tinh thần đó, Liên Hợp Quốc đã làm trung gian cho các cuộc xung đột, thúc đẩy phát triển và giúp đỡ các Quốc gia bảo vệ quyền con người và các quyền tự do căn bản. Trong một thế giới đang đối mặt với những thách đố phức tạp như căng thẳng địa chính trị, bất bình đẳng và khủng hoảng khí hậu, Liên Hợp Quốc cần đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy đối thoại và hỗ trợ nhân đạo, giúp xây dựng một tương lai công bằng hơn. Do đó, cần có những nỗ lực để bảo đảm rằng Liên Hợp Quốc không chỉ phản ánh tình hình của thế giới ngày nay thay vì của thời kỳ hậu chiến, mà còn phải tập trung và trở nên hiệu quả hơn trong việc theo đuổi các chính sách nhằm xây dựng sự hiệp nhất của gia đình nhân loại thay vì các hệ tư tưởng.

Do đó, mục đích của chủ nghĩa đa phương là tạo ra một nơi để mọi người có thể gặp gỡ và trò chuyện, theo mô hình của Diễn đàn La Mã cổ đại hoặc quảng trường thời trung cổ. Đồng thời, để tham gia vào cuộc đối thoại, cần có sự đồng thuận về các ngôn từ và khái niệm được sử dụng. Việc tái khám phá ý nghĩa của các từ ngữ có lẽ là một trong những thách đố căn bản nhất của thời đại chúng ta. Khi ngôn từ mất đi mối liên hệ với thực tại, và chính thực tại trở nên đáng tranh cãi và cuối cùng là không thể truyền đạt, chúng ta sẽ trở nên giống như hai người mà Thánh Augustinô đã đề cập, những người bị buộc phải ở chung với nhau mà không ai biết ngôn ngữ của người kia. Ngài nhận xét rằng: “Những con vật không có tiếng nói, ngay cả khi chúng thuộc chủng loại khác nhau, còn hiểu nhau dễ dàng hơn hai cá nhân này. Bởi dù cả hai đều là con người, nhưng bản tính chung của họ không giúp ích gì cho sự thân thiện khi họ bị ngăn trở bởi sự khác biệt về ngôn ngữ trong việc truyền đạt cảm xúc cho nhau; đến mức con người thà trò chuyện với con chó của mình còn hơn là với một người ngoại quốc!” [6]

Ngày nay, ý nghĩa của các từ ngữ ngày càng trở nên biến thiên, và các khái niệm mà chúng đại diện ngày càng trở nên mơ hồ. Ngôn ngữ không còn là phương tiện ưu tiên để con người hiểu biết và gặp gỡ nhau. Hơn nữa, trong những méo mó của sự mơ hồ về ngữ nghĩa, ngôn ngữ đang ngày càng trở thành một vũ khí để lừa dối, hoặc để tấn công và xúc phạm đối phương. Một lần nữa, chúng ta cần những từ ngữ diễn đạt các thực tại riêng biệt và rõ ràng một cách chắc chắn. Chỉ bằng cách này, cuộc đối thoại đích thực mới có thể tái lập mà không có sự hiểu lầm. Điều này cần diễn ra trong gia đình và các không gian công cộng, trong chính trị, trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội. Điều đó cũng cần diễn ra trong bối cảnh những mối quan hệ quốc tế và chủ nghĩa đa phương, để chủ nghĩa đa phương có thể lấy lại sức mạnh cần thiết để thực hiện vai trò gặp gỡ và trung gian của mình. Việc này thực sự cần thiết nhằm ngăn ngừa các xung đột, và để bảo đảm rằng không ai bị cám dỗ tìm cách thống trị người khác bằng não trạng của vũ lực, dù là bằng lời nói, bằng thể lý hay quân sự.

Chúng ta cũng cần lưu ý đến nghịch lý là sự suy yếu của ngôn ngữ này thường được viện dẫn nhân danh quyền tự do ngôn luận. Tuy nhiên, khi xem xét kỹ hơn, điều ngược lại mới đúng, vì tự do ngôn luận và diễn đạt được bảo đảm chính nhờ tính chắc chắn của ngôn ngữ, và mọi thuật ngữ đều được neo chặt trong sự thật. Thật đau lòng khi thấy không gian dành cho tự do ngôn luận đích thực đang nhanh chóng bị thu hẹp, đặc biệt là ở phương Tây. Đồng thời, một thứ ngôn ngữ kiểu Orwell đang phát triển, trong nỗ lực ngày càng trở nên bao gồm hơn, nhưng rốt cuộc là loại trừ những ai không tuân theo các hệ tư tưởng đang thúc đẩy nó.

Đáng tiếc, điều này lại dẫn đến những hệ quả khác, cuối cùng làm hạn chế các quyền con người căn bản, bắt đầu từ quyền tự do lương tâm. Về khía cạnh này, sự phản kháng theo lương tâm cho phép các cá nhân từ chối những nghĩa vụ pháp lý hoặc nghề nghiệp đi ngược lại với những nguyên tắc đạo đức, luân lý hoặc tôn giáo đã bám rễ sâu trong đời sống cá nhân của họ. Đó có thể là việc từ chối nghĩa vụ quân sự nhân danh bất bạo động, hoặc việc các bác sĩ và nhân viên y tế từ chối tham gia vào những việc thực hành như phá thai hoặc trợ tử. Phản kháng theo lương tâm không phải là sự nổi loạn, mà là một hành động trung thành với chính mình. Tại thời điểm này của lịch sử, tự do lương tâm dường như ngày càng bị các Quốc gia đặt vấn đề, thậm chí cả những quốc gia tuyên bố được xây dựng trên nền tảng dân chủ và nhân quyền. Tuy nhiên, quyền tự do này thiết lập một sự cân bằng giữa lợi ích tập thể và phẩm giá cá nhân. Nó cũng nhấn mạnh rằng một xã hội thực sự tự do không áp đặt sự đồng nhất mà bảo vệ sự đa dạng của lương tâm, ngăn chặn các khuynh hướng độc đoán và thúc đẩy một cuộc đối thoại đạo đức làm phong phú cơ cấu xã hội.

Tương tự như vậy, tự do tôn giáo đang có nguy cơ bị thu hẹp. Như Đức Bênêđictô XVI đã nhắc nhở, đây là quyền đứng đầu trong tất cả các quyền con người, vì nó diễn tả thực tại căn bản nhất của con người. [7] Những dữ liệu gần đây nhất cho thấy các vi phạm quyền tự do tôn giáo đang gia tăng, và sáu mươi bốn phần trăm dân số thế giới đang phải chịu những vi phạm nghiêm trọng đối với quyền này.

Khi yêu cầu quyền tự do tôn giáo và thờ phượng của các Kitô hữu phải được tôn trọng đầy đủ, Tòa Thánh cũng yêu cầu điều tương tự cho tất cả các cộng đồng tôn giáo khác. Nhân dịp kỷ niệm sáu mươi năm công bố Tuyên ngôn Nostra Aetate, một trong những hoa trái của Công đồng Chung Vatican II kết thúc vào ngày 8 tháng 12 năm 1965, tôi đã có cơ hội nhắc lại việc kiên quyết bác bỏ mọi hình thức bài Do Thái, mà đáng buồn là nó vẫn tiếp tục gieo rắc hận thù và chết chóc. Đồng thời, tôi cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nuôi dưỡng cuộc đối thoại Do Thái giáo – Kitô giáo, đào sâu những nguồn cội Kinh Thánh chung của chúng ta.

Cũng trong dịp kỷ niệm ấy, cuộc gặp gỡ với các đại diện của những tôn giáo khác đã cho phép tôi tái khẳng định sự trân trọng đối với những tiến bộ đã đạt được trong những thập kỷ qua trên hành trình đối thoại liên tôn. Quả thật, trong mọi cuộc tìm kiếm tôn giáo chân thành đều có “một sự phản chiếu của Mầu nhiệm Thiên Chúa duy nhất bao trùm mọi loài thụ tạo”. [8] Về phương diện này, tôi kêu gọi tất cả các quốc gia bảo đảm đầy đủ quyền tự do tôn giáo và thờ phượng cho mỗi công dân của mình.

Tuy nhiên, không thể bỏ qua một thực tế rằng việc bách hại các Kitô hữu vẫn là một trong những cuộc khủng hoảng nhân quyền lan rộng nhất hiện nay, ảnh hưởng đến hơn 380 triệu tín hữu trên toàn thế giới. Họ phải chịu đựng sự phân biệt đối xử, bạo lực và áp bức ở mức độ cao hoặc rất cao vì đức tin của mình. Hiện tượng này tác động đến khoảng 1/7 Kitô hữu trên toàn cầu, và nó đã trở nên tồi tệ hơn trong năm 2025 do các cuộc xung đột đang diễn ra, các chế độ độc tài và chủ nghĩa cực đoan tôn giáo. Đáng buồn là, tất cả những điều này cho thấy rằng tự do tôn giáo trong nhiều bối cảnh được coi là một “đặc ân” hoặc là sự ban ơn hơn là một quyền con người căn bản.

Ở đây, tôi đặc biệt nhắc đến nhiều nạn nhân của bạo lực, bao gồm bạo lực mang động cơ tôn giáo tại Bangladesh, vùng Sahel và Nigeria, cũng như những nạn nhân của cuộc tấn công khủng bố nghiêm trọng hồi tháng Sáu năm ngoái vào giáo xứ Thánh Êlia tại Damascus. Tôi cũng không quên các nạn nhân của bạo lực thánh chiến tại Cabo Delgado, Mozambique.

Đồng thời, chúng ta cũng không được quên một hình thức phân biệt đối xử tôn giáo tinh vi đối với các Kitô hữu, đang lan rộng ngay cả ở những quốc gia nơi họ chiếm đa số, như ở Châu Âu hoặc Châu Mỹ. Ở đó, họ có những lúc bị hạn chế khả năng công bố các chân lý của Tin Mừng vì những lý do chính trị hoặc hệ tư tưởng, đặc biệt là khi họ bảo vệ phẩm giá của những người yếu thế nhất, của thai nhi, của người tị nạn và di dân, hoặc cổ võ cho gia đình.

Trong các quan hệ và hành động quốc tế, Tòa Thánh luôn giữ lập trường bảo vệ phẩm giá bất khả xâm phạm của mỗi con người. Chẳng hạn, không thể bỏ qua sự thật rằng mỗi người di cư là một con người, và với tư cách đó, họ có những quyền bất khả xâm phạm phải được tôn trọng trong mọi hoàn cảnh. Không phải tất cả những người di cư đều di chuyển do lựa chọn, mà nhiều người buộc phải tháo chạy vì bạo lực, bách hại, xung đột và thậm chí là do những tác động của biến đổi khí hậu, như ở nhiều khu vực thuộc Châu Phi và Châu Á. Trong năm nay, cũng là năm đánh dấu kỷ niệm 75 năm thành lập Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM), tôi tái khẳng định niềm hy vọng của Tòa Thánh rằng hành động mà các Quốc gia thực hiện nhằm chống lại tội phạm và nạn buôn người sẽ không trở thành cái cớ để xâm phạm phẩm giá của những người di cư và tị nạn.

Những cân nhắc tương tự cũng cần được áp dụng cho các tù nhân, những người không bao giờ có thể bị quy giản vào những tội ác mà họ đã phạm. Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các Chính phủ đã đáp lại cách tích cực lời kêu gọi của vị Tiền nhiệm đáng kính của tôi về những cử chỉ khoan hồng trong Năm Thánh. Tôi hy vọng rằng tinh thần của Năm Thánh sẽ mãi mãi soi dẫn cho việc quản trị công lý theo cơ cấu, để các hình phạt tương xứng với tội đã phạm, những điều kiện giam giữ xứng đáng được bảo đảm cho các tù nhân, và trên hết, nỗ lực bãi bỏ án tử hình là một biện pháp tiêu diệt mọi hy vọng về sự tha thứ và đổi mới. [9] Chúng ta cũng không thể quên nỗi khổ đau của rất nhiều tù nhân bị giam giữ vì lý do chính trị ở nhiều quốc gia.

Hơn nữa, dưới nhãn quan Kitô giáo, con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, Đấng “bằng cách gọi họ đi vào sự sống bằng tình yêu, thì đồng thời cũng mời gọi họ yêu thương”. [10] Ơn gọi này được tỏ lộ một cách đặc biệt và duy nhất trong gia đình. Chính trong bối cảnh này, chúng ta học cách yêu thương và nuôi dưỡng khả năng phục vụ sự sống, từ đó đóng góp vào sự phát triển của xã hội và sứ mạng của Giáo hội.

Mặc dù giữ vai trò trung tâm, định chế gia đình ngày nay đang phải đối mặt với hai thách đố then chốt. Một mặt, có một khuynh hướng đáng lo ngại trong hệ thống quốc tế là bỏ qua và đánh giá thấp vai trò xã hội nền tảng của gia đình, dẫn đến việc dần dần gạt nó ra bên lề về mặt định chế. Mặt khác, chúng ta không thể làm ngơ trước thực tại ngày càng tăng và đau đớn về những gia đình mong manh, tan vỡ và đau khổ, bị tổn thương bởi những khó khăn nội tại và những hiện tượng đáng lo ngại, bao gồm cả bạo lực gia đình.

Ơn gọi yêu thương và sự sống, được biểu lộ một cách quan trọng trong sự kết hợp duy nhất và bất khả phân ly giữa một người nữ và một người nam, hàm chứa một mệnh lệnh luân lý căn bản nhằm giúp các gia đình đón nhận và chăm sóc trọn vẹn sự sống chưa chào đời. Điều này ngày càng trở thành một ưu tiên, đặc biệt tại những quốc gia đang trải qua sự sụt giảm nghiêm trọng về tỷ lệ sinh. Quả thật, sự sống là một ân ban vô giá, được phát triển trong một mối tương quan cam kết, dựa trên sự hiến trao và phục vụ lẫn nhau.

Dưới ánh sáng của tầm nhìn sâu sắc này về sự sống như một món quà cần được trân quý, và gia đình là người bảo hộ có trách nhiệm của món quà ấy, chúng tôi dứt khoát bác bỏ bất kỳ cách thực hành phủ nhận hoặc khai thác nguồn gốc của sự sống và sự phát triển của nó. Trong số đó có việc phá thai, là hành vi cắt đứt một sự sống đang lớn dần và từ chối đón nhận món quà sự sống. Về phương diện này, Tòa Thánh bày tỏ quan ngại sâu sắc về các dự án nhằm tài trợ cho việc di chuyển xuyên biên giới nhằm mục đích tiếp cận cái gọi là “quyền phá thai an toàn”. Tòa Thánh cũng coi là điều đáng lên án khi các nguồn lực công được phân bổ để dập tắt sự sống, thay vì được đầu tư để hỗ trợ các bà mẹ và gia đình. Mục tiêu hàng đầu phải luôn là bảo vệ mọi thai nhi và sự hỗ trợ hiệu quả, cụ thể cho mọi người phụ nữ để họ có thể đón nhận sự sống.

Tương tự như vậy là việc mang thai hộ. Việc biến quá trình thai nghén thành một dịch vụ có thể thương lượng đã vi phạm phẩm giá của cả đứa trẻ, bị quy giản thành một “sản phẩm”, và của người mẹ, khai thác thân thể và tiến trình sinh sản của bà, đồng thời bóp méo ơn gọi tương quan nguyên thủy của gia đình.

Những cân nhắc tương tự cũng cần được mở rộng đối với người bệnh, người già hoặc người bị cô lập, những người đôi khi phải đấu tranh tìm ra lý do để tiếp tục sống. Xã hội dân sự và các Nhà nước cũng có trách nhiệm đáp lại cách cụ thể đối với những hoàn cảnh dễ bị tổn thương, đưa ra những giải pháp cho sự đau đớn của con người, chẳng hạn như chăm sóc giảm nhẹ, và thúc đẩy các chính sách liên đới đích thực, thay vì khuyến khích các hình thức lừa dối của lòng trắc ẩn như trợ tử.

Một suy tư tương tự cũng được áp dụng liên quan đến nhiều người trẻ đang buộc phải đối mặt với vô vàn khó khăn, trong đó có nạn nghiện ma túy. Để ngăn chặn hàng triệu người trẻ trên khắp thế giới trở thành nạn nhân của việc lạm dụng chất gây nghiện, cần có những nỗ lực phối hợp để xóa bỏ tai họa này đối với nhân loại và nạn buôn bán ma túy đang nuôi dưỡng nó. Cùng với những nỗ lực ấy, phải có các chính sách thích hợp cho việc phục hồi sau nghiện, cũng như đầu tư nhiều hơn vào việc phát triển con người, giáo dục và tạo ra các cơ hội việc làm.

Trước những thách đố này, chúng tôi kiên quyết tái khẳng định rằng việc bảo vệ quyền được sống cấu thành nền tảng không thể thiếu cho mọi quyền khác của con người. Một xã hội chỉ lành mạnh và thực sự tiến bộ khi nó bảo vệ sự thánh thiêng của sự sống con người và hoạt động tích cực để thúc đẩy sự sống đó.

Những suy tư vừa nêu trên đưa tôi đến niềm tin rằng, trong bối cảnh hiện nay, chúng ta đang chứng kiến một sự “đoản mạch” thực sự của các quyền con người. Quyền tự do ngôn luận, tự do lương tâm, tự do tôn giáo và thậm chí cả quyền được sống đang bị hạn chế nhân danh những cái gọi là quyền mới khác, với hệ quả là chính khuôn khổ của nhân quyền đang mất đi sức sống và tạo không gian cho vũ lực và sự áp bức. Điều này xảy ra khi mỗi quyền trở nên tự quy chiếu, và đặc biệt khi nó bị tách rời khỏi thực tại, khỏi tự nhiên và chân lý.


Thưa các vị Đại sứ,

Trong khi Thánh Augustinô nhấn mạnh sự tồn tại song song của thành đô trên trời và thành đô trần thế cho đến tận thế, thời đại chúng ta dường như có phần thiên về việc phủ nhận “quyền công dân” của Thành đô của Thiên Chúa. Dường như chỉ có thành đô trần thế tồn tại, khép kín hoàn toàn trong các biên giới của nó. Việc chỉ tìm kiếm những điều tốt đẹp nội tại làm suy yếu “sự bình yên của trật tự”, [11] điều mà đối với Thánh Augustinô cấu thành bản chất của hòa bình, vốn liên quan đến xã hội và các quốc gia cũng như chính linh hồn con người, và là điều thiết yếu cho mọi sự chung sống dân sự. Khi thiếu vắng một nền tảng siêu việt và khách quan, chỉ có lòng yêu bản thân ngự trị, đến mức thờ ơ với Thiên Chúa, Đấng cai quản thành đô trần thế. [12] Tuy nhiên, như Thánh Augustinô lưu ý, “sự điên rồ của lòng kiêu ngạo nơi những cá nhân nghĩ rằng điều thiện hảo tối thượng có thể tìm thấy trong cuộc sống này thật là quá lớn, và rằng họ có thể trở nên hạnh phúc nhờ chính nguồn lực của họ”. [13]

Lòng kiêu ngạo làm lu mờ cả thực tại lẫn khả năng cảm thông của chúng ta đối với người khác. Không phải ngẫu nhiên mà lòng kiêu ngạo luôn là gốc rễ của mọi xung đột. Do đó, như tôi đã nhắc lại trong Sứ điệp Ngày Thế giới Hòa bình, “chúng ta mất đi ý thức về thực tại và đầu hàng trước một cái nhìn phiến diện và méo mó về thế giới, bị biến dạng bởi bóng tối và nỗi sợ hãi”, [14] từ đó dọn đường cho tâm thế đối đầu, vốn là tiền đề của mọi cuộc chiến tranh.

Chúng ta nhìn thấy điều này trong nhiều bối cảnh, bắt đầu từ cuộc chiến đang diễn ra tại Ukraine và những đau khổ gây ra cho dân thường. Trước tình cảnh bi thảm này, Tòa Thánh mạnh mẽ nhắc lại nhu cầu cấp bách về một lệnh ngừng bắn ngay lập tức, và về một cuộc đối thoại được thúc đẩy bởi việc chân thành tìm kiếm những con đường dẫn đến hòa bình. Tôi khẩn thiết kêu gọi cộng đồng quốc tế không nao núng trong cam kết theo đuổi các giải pháp công bằng và bền vững nhằm bảo vệ những người dễ bị tổn thương nhất và khôi phục niềm hy vọng cho những dân tộc đang đau khổ. Đồng thời, tôi cũng nhấn mạnh sự sẵn sàng hoàn toàn của Tòa Thánh trong việc hỗ trợ bất kỳ sáng kiến nào nhằm thúc đẩy hòa bình và hòa hợp.

Đồng thời, chúng ta thấy điều đó tại Thánh Địa, nơi bất chấp thỏa thuận ngừng bắn được công bố vào tháng Mười, người dân thường vẫn tiếp tục phải chịu đựng một cuộc khủng hoảng nhân đạo nghiêm trọng, làm tăng thêm những đau khổ vốn đã tồn tại. Tòa Thánh đặc biệt quan tâm đến mọi sáng kiến ngoại giao nhằm tìm cách bảo đảm cho người Palestine ở Dải Gaza một tương lai hòa bình và công lý bền vững trên chính mảnh đất của họ, cũng như cho toàn thể người dân Palestine và toàn thể dân tộc Israel. Cụ thể, giải pháp hai nhà nước vẫn là viễn cảnh thể chế để đáp ứng những nguyện vọng chính đáng của cả hai dân tộc; tuy nhiên, thật đáng buồn, đã có sự gia tăng bạo lực ở Bờ Tây chống lại dân thường Palestine, những người có quyền sống trong hòa bình trên chính quê hương của họ.

Căng thẳng leo thang ở vùng biển Caribê và dọc theo bờ biển Thái Bình Dương thuộc Châu Mỹ cũng là một nguyên nhân gây quan ngại nghiêm trọng. Tôi xin lặp lại lời kêu gọi khẩn thiết rằng cần tìm kiếm các giải pháp chính trị hòa bình cho tình hình hiện nay, quan tâm đến lợi ích chung của các dân tộc chứ không phải việc bảo vệ các lợi ích đảng phái.

Điều này liên quan cách đặc biệt đến Venezuela, dưới góc độ của những diễn biến gần đây. Trong bối cảnh này, tôi tái khẳng định lời kêu gọi tôn trọng ý chí của người dân Venezuela, và bảo vệ quyền con người và quyền dân sự của tất cả mọi người, nhằm bảo đảm một tương lai ổn định và hòa hợp. Để đạt được mục tiêu đó, nguồn cảm hứng có thể được tìm thấy nơi mẫu gương của hai người con của đất nước này mà tôi đã có niềm vui tuyên phong Thánh hồi tháng Mười vừa qua – José Gregorio Hernández và Nữ tu Carmen Rendiles. Ước gì chứng tá của họ truyền cảm hứng cho việc xây dựng một xã hội đặt nền tảng trên công lý, sự thật, tự do và tình huynh đệ, và từ đó giúp quốc gia này vươn lên từ cuộc khủng hoảng trầm trọng đã đè nặng đất nước trong nhiều năm qua.

Những cuộc khủng hoảng khác cũng rải rác trên bức tranh toàn cầu. Trước hết, tôi đề cập đến tình cảnh tuyệt vọng ở Haiti, bị đánh dấu bởi nhiều hình thức bạo lực, từ buôn người đến lưu vong cưỡng bức và bắt cóc. Về khía cạnh này, tôi hy vọng rằng, với sự hỗ trợ cần thiết và cụ thể của cộng đồng quốc tế, quốc gia này sẽ sớm có thể thực hiện những bước đi cần thiết để khôi phục trật tự dân chủ, chấm dứt bạo lực và đạt được sự hòa giải và hòa bình.

Chúng ta cũng không thể quên tình hình đã ảnh hưởng đến khu vực Hồ Lớn của Châu Phi suốt nhiều thập niên qua, nơi bị tàn phá bởi bạo lực đã cướp đi sinh mạng của rất nhiều nạn nhân. Tôi khuyến khích các bên liên quan tìm kiếm một giải pháp dứt khoát, công bằng và bền vững để chấm dứt một cuộc xung đột đã kéo dài quá lâu. Tương tự, tôi nghĩ đến tình hình tại Sudan, nơi đã biến thành một chiến trường rộng lớn, cũng như sự bất ổn chính trị tiếp diễn ở Nam Sudan, quốc gia trẻ nhất trong gia đình các quốc gia, vốn ra đời sau cuộc trưng cầu dân ý cách đây mười lăm năm.

Chúng ta không thể không nhắc đến những dấu hiệu căng thẳng đang gia tăng ở Đông Á, và bày tỏ hy vọng rằng tất cả các bên liên quan sẽ chọn cách tiếp cận hòa bình và dựa trên đối thoại về các vấn đề tranh chấp, vốn là nguồn gốc của các xung đột tiềm ẩn.

Tâm trí tôi đặc biệt hướng về cuộc khủng hoảng nhân đạo và an ninh nghiêm trọng đang hoành hành tại Myanmar, càng trở nên trầm trọng hơn do trận động đất tàn khốc vào tháng Ba vừa qua. Với sự khẩn thiết mới, tôi kêu gọi hãy can đảm lựa chọn những con đường hòa bình và đối thoại bao dung, nhằm bảo đảm mọi người được tiếp cận viện trợ nhân đạo một cách công bằng và kịp thời. Để có sự xác thực, các tiến trình dân chủ phải đi kèm với ý chí chính trị nhằm theo đuổi ích chung, củng cố sự gắn kết xã hội và thúc đẩy sự phát triển toàn diện của mỗi con người.

Ở trung tâm của nhiều tình huống mà tôi vừa nêu, chúng ta có thể nhận thấy điều mà Thánh Augustinô đã chỉ ra, đó là tư nghĩ dai dẳng cho rằng hòa bình chỉ có thể đạt được thông qua việc sử dụng vũ lực và răn đe. Trong khi chiến tranh chỉ hài lòng với sự hủy diệt, thì hòa bình đòi hỏi những nỗ lực xây dựng liên tục và kiên nhẫn, cũng như sự cảnh giác không ngừng. Những nỗ lực như thế được đòi hỏi nơi tất cả mọi người, bắt đầu từ các quốc gia sở hữu kho vũ khí hạt nhân. Tôi đặc biệt nghĩ đến nhu cầu quan trọng phải tiếp nối Hiệp ước New START sẽ hết hạn vào tháng Hai tới. Thật vậy, có nguy cơ quay trở lại cuộc chạy đua sản xuất các loại vũ khí mới ngày càng tinh vi hơn, kể cả bằng phương tiện trí tuệ nhân tạo. Trí tuệ nhân tạo là một công cụ đòi hỏi sự quản lý thích hợp và có đạo đức, cùng với các khung pháp lý tập trung vào việc bảo vệ tự do và trách nhiệm của con người.


Thưa các vị Đại sứ,

Bất chấp tình cảnh bi thảm trước mắt chúng ta, hòa bình vẫn là một sự thiện hảo khó đạt nhưng thực tế. Như Thánh Augustinô nhắc nhở chúng ta rằng hòa bình là “mục tiêu thiện hảo của chúng ta”, [15] bởi vì nó là mục đích của thành đô Thiên Chúa, điều mà chúng ta khao khát, ngay cả trong vô thức, và là điều mà chúng ta có thể nếm trải trước ngay cả trong thành đô trần thế. Trong cuộc lữ hành của chúng ta trên mặt đất này, việc kiến tạo hòa bình đòi hỏi sự khiêm nhường và lòng can đảm. Khiêm nhường để sống sự thật, và can đảm để tha thứ. Trong đời sống Kitô giáo, chúng ta thấy những nhân đức này được phản chiếu trong mầu nhiệm Giáng sinh, khi Sự Thật, Ngôi Lời vĩnh cửu của Thiên Chúa, trở nên người phàm khiêm hạ, và trong mầu nhiệm Phục sinh, khi Đấng Công Chính bị kết án đã tha thứ cho những kẻ bách hại mình và ban tặng cho họ sự sống của Người với tư cách là Đấng Phục sinh.

Hơn nữa, nếu chúng ta nhìn kỹ hơn, không thiếu những dấu chỉ của niềm hy vọng can đảm trong thời đại chúng ta, và chúng ta cần không ngừng ủng hộ chúng. Tôi nghĩ đến, chẳng hạn, Thỏa ước Dayton, cách đây ba mươi năm đã chấm dứt cuộc chiến đẫm máu ở Bosnia và Herzegovina. Bất kể những khó khăn và căng thẳng, chúng đã mở ra khả năng cho một tương lai thịnh vượng và hòa hợp hơn. Tôi cũng nghĩ đến Tuyên bố chung về Hòa bình giữa Armenia và Azerbaijan, được ký kết vào tháng Tám năm ngoái. Chúng ta hy vọng điều này sẽ mở đường cho một nền hòa bình công bằng và lâu dài ở Nam Caucasus, và giải quyết các vấn đề còn tồn đọng một cách thỏa đáng cho cả hai bên. Cũng vậy, tôi nhớ đến những nỗ lực mà các Nhà Chức trách Việt Nam đã thực hiện trong những năm gần đây nhằm cải thiện quan hệ với Tòa Thánh và các điều kiện hoạt động của Giáo hội tại quốc gia này. Đó đều là những hạt giống hòa bình cần được vun trồng.

Tháng Mười tới đây sẽ đánh dấu tám thế kỷ ngày qua đời của Thánh Phanxicô Assisi, một con người của hòa bình và đối thoại, được nhìn nhận cách phổ quát ngay cả bởi những người không thuộc Giáo hội Công giáo. Cuộc đời ngài tỏa sáng rực rỡ, vì nó được truyền cảm hứng bởi lòng can đảm để sống trong sự thật, và biết rằng một thế giới hòa bình được xây dựng bắt đầu từ những tâm hồn khiêm nhường hướng về thành đô trên trời. Một tâm hồn khiêm nhường và yêu chuộng hòa bình là điều tôi mong ước cho mỗi chúng ta, và cho tất cả những người đang cư ngụ trong các quốc gia của quý vị, khi bước vào đầu Năm Mới này.

Cảm ơn quý vị.

___________________________________________

[1] Benedict XVI, Catechesis (20 February 2008).

[2] Ibid.

[3] Cf. Francis, Address to the Fifth Convention of the Italian Church, Florence (10 November 2015).

[4] Saint Paul VI, Encyclical Letter Populorum Progressio (26 March 1967), 76: AAS 59 (1967), 294-295.

[5] Saint Augustine, De Civ. Dei, XIX, 12.1.

[6] Saint Augustine, De Civ. Dei, XIX, 7.

[7] Benedict XVI, Address to the Members of the Diplomatic Corps, 9 January 2012.

[8] Catechesis (29 October 2025).

[9] Cf. Francis, Bull of Indiction of the Ordinary Jubilee of the Year 2025 Spes non Confundit (9 May 2024), 10: AAS 116 (2024), 654-655.

[10] Saint John Paul II, Apostolic Exhortation Familiaris Consortio (22 November 1981), 11: AAS 74 (1982), 91.

[11] Cf. Saint Augustine, De Civ. Dei, XIX, 13.

[12] Ibid., XIV, 28.

[13] Ibid., XIX, 4.4.


[15] Saint Augustine, De Civ. Dei, XIX, 11.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 10/1/2026]