Hiển thị các bài đăng có nhãn Năm Thánh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Năm Thánh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 14 tháng 1, 2026

Tiếp kiến đại diện của các tổ chức đã cộng tác trong Năm Thánh, 10.01.2026

Tiếp kiến đại diện của các tổ chức đã cộng tác trong Năm Thánh, 10.01.2026

Tiếp kiến đại diện của các tổ chức đã cộng tác trong Năm Thánh, 10.01.2026

Sáng nay, tại Hội trường Phaolô VI, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã tiếp kiến các đại diện của các tổ chức đã cộng tác trong Năm Thánh.
Dưới đây là diễn văn của Đức Thánh Cha gửi đến những người hiện diện:

Diễn văn của Đức Thánh Cha:

Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.
Bình an cho anh chị em!

Anh chị em thân mến, chào mừng anh chị em!

“Thế giới này có biết bao điều thiện hảo!”. Tôi xin mượn những lời này của Đức Tổng Giám mục Fisichella, bởi chính anh chị em là minh chứng: thế giới này có biết bao điều thiện hảo! Xin cảm ơn anh chị em! Chân thành cảm ơn anh chị em!

Tôi xin chào Đức Tổng Giám mục Rino Fisichella, các vị hữu trách hiện diện và đại diện các cơ quan dân sự cũng như giáo hội đã đóng góp bằng nhiều cách khác nhau cho Năm Thánh Hy Vọng vừa kết thúc cách đây bốn ngày. Tôi đặc biệt nhắc đến Chính phủ Cộng hòa Ý, Đặc phái viên Chính phủ, Thành phố Roma – cách riêng là Ngài Thị trưởng và cơ cấu tổ chức của ông – và Vùng Lazio; cũng như Lực lượng An ninh, Phủ Thủ hiến đã điều phối công việc, Lực lượng Bảo vệ Dân sự và đông đảo các hiệp hội tình nguyện, cùng với Cơ quan “Jubilee 2000”. Tôi bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt tới Bộ Loan báo Tin Mừng – Phân ban các vấn đề căn bản về Loan báo Tin Mừng trên Thế giới, và các Bộ liên quan khác, lực lượng Hiến binh Vatican, Đội Vệ binh Thụy Sĩ, Phủ Thống đốc Thành quốc Vatican, Phủ Đặc trách các vấn đề Nội chính, các Ủy ban khác nhau – mục vụ, văn hóa, truyền thông, đại kết, kỹ thuật, kinh tế –, các Linh mục Giải tội, đại diện của các Giáo phận và Hội đồng Giám mục, các chuyên gia thuộc nhiều lãnh vực đã tham gia vào từng sự kiện, và năm ngàn “Tình nguyện viên Năm Thánh” thuộc mọi lứa tuổi và nguồn gốc.

Tôi xin bày tỏ tới tất cả anh chị em lòng biết ơn chân thành vì công việc của anh chị em, trong giai đoạn chuẩn bị đầy áp lực cũng như trong suốt Năm Thánh. Anh chị em đã có những đóng góp theo nhiều chiều kích, thường là âm thầm, luôn nặng nề và đầy trách nhiệm, nhờ đó hơn ba mươi triệu người hành hương đã có thể thực hiện hành trình Năm Thánh và tham dự các cử hành cũng như các sự kiện trong bầu khí lễ hội nhưng đồng thời rất trang nghiêm, tĩnh tâm, trật tự và có tổ chức. Nhờ anh chị em, Roma đã trình bày với mọi người gương mặt hiếu khách của mình, gương mặt của một cộng đoàn cởi mở, vui tươi nhưng cũng rất kín đáo và tôn trọng, giúp mọi người sống khoảnh khắc đức tin trọng đại này sinh hoa kết quả.

Việc viếng mộ hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô, các Thánh Tông đồ khác và các vị Tử đạo, hành trình tiến về Cửa Thánh, trải nghiệm về sự tha thứ và lòng thương xót của Thiên Chúa, đối với nhiều người là những khoảnh khắc gặp gỡ sinh ơn ích với Chúa Giêsu, qua đó họ có thể trực tiếp cảm nghiệm rằng “hy vọng không làm thất vọng” (Rm 5:5), vì Người đang sống, đang bước đi trong chúng ta và cùng với chúng ta – trong những thời khắc quan trọng nhất của cuộc sống cũng như trong đời sống thường nhật – và bởi vì, với Người, chúng ta có thể đạt tới đích điểm của mình. Thánh Augustinô viết về điều này rằng: “Hy vọng rất cần thiết cho chúng ta trong chốn tha hương… Xét cho cùng, người lữ khách cảm thấy mệt mỏi khi tiến bước trên đường, người ấy chịu đựng sự mệt nhọc chính vì hy vọng sẽ tới đích. Nếu tước đi niềm hy vọng được tới bến, thì ngay lập tức sức lực để bước đi của người ấy sẽ tan biến” (Bài giảng 158, 8). Với công việc của mình, anh chị em đã giúp nhiều người tìm thấy và tái khám phá niềm hy vọng, để tiếp tục hành trình cuộc sống với đức tin được canh tân và những quyết tâm bác ái (x. 1 Tx 1:2-3).

Tôi đặc biệt muốn nhắc lại sự hiện diện tại Roma, nhân dịp Năm Thánh, của rất nhiều người trẻ và người trưởng thành đến từ mọi quốc gia. Thật đẹp biết bao khi được trực tiếp cảm nhận nhiệt huyết của họ, được chứng kiến niềm vui, được thấy sự nghiêm trang khi họ cầu nguyện, suy niệm và cử hành; được quan sát họ, tuy đông đảo và đa dạng nhưng lại hiệp nhất, trật tự (cũng nhờ sự phục vụ quý báu của anh chị em!), háo hức được quen biết nhau và cùng nhau trải nghiệm những khoảnh khắc ân sủng, huynh đệ và hòa bình. Chúng ta hãy suy ngẫm về những gì họ đã cho chúng ta thấy. Tất cả chúng ta, ở những mức độ khác nhau, đều chịu trách nhiệm về tương lai của họ, đó cũng chính là tương lai của thế giới. Vì thế, dưới ánh sáng của những gì đã nhìn thấy, chúng ta hãy tự hỏi: họ thực sự cần gì? Điều gì thật sự giúp họ trưởng thành và cống hiến những gì tốt đẹp nhất của họ? Họ có thể tìm thấy câu trả lời đích thực cho các câu hỏi sâu xa nhất trong lòng họ ở đâu? Giới trẻ cần những hình mẫu lành mạnh, chỉ cho họ hướng tới sự thiện, tình yêu và sự thánh thiện, như gương sáng của Thánh Carlo Acutis và Thánh Piergiorgio Frassati, những vị đã được tuyên phong hiển thánh vào tháng Chín vừa qua. Chúng ta hãy giữ trước mắt mình ánh mắt trong sáng và sinh động của họ, tràn đầy năng lượng nhưng đồng thời cũng thật mong manh: những ánh mắt ấy có thể giúp ích rất nhiều cho chúng ta trong việc phân định với sự khôn ngoan và thận trọng về những trách nhiệm nghiêm túc mà chúng ta phải có đối với họ.

Trong Sắc chỉ Công bố Năm Thánh, Đức Thánh Cha Phanxicô đã kết thúc lời kêu gọi mạnh mẽ của ngài về niềm hy vọng bằng những lời này: “Ngay từ bây giờ, chúng ta hãy để mình được lôi cuốn bởi niềm hy vọng này! Qua chứng tá của chúng ta, xin cho niềm hy vọng được lan tỏa đến tất cả những ai đang khắc khoải tìm kiếm nó. Ước gì cách chúng ta sống sẽ nói với họ bằng muôn vàn cách rằng: ‘Hãy cậy trông vào Chúa! Mạnh bạo lên! Can đảm lên nào, hãy cậy trông vào Chúa!’” (Tv 27:14) (Sắc chỉ Spes non confundit, 25). Ước mong đây là sứ mạng mà chúng ta mang theo bên mình, như sự tiếp nối sinh hoa kết trái của công việc đã hoàn thành, để nhiều hạt giống thiện hảo mà Chúa đã gieo rắc, cũng nhờ sự trợ giúp của anh chị em, trong biết bao tâm hồn những tháng gần đây có thể lớn lên và phát triển.

Kết thúc cuộc gặp gỡ này, tôi vui mừng tặng mỗi anh chị em Thánh Giá Năm Thánh, như một dấu chỉ nhỏ của lòng biết ơn, một phiên bản thu nhỏ của cây thập giá với Chúa Kitô vinh hiển đã đồng hành cùng những người hành hương. Ước mong Thánh Giá ấy luôn ở bên anh chị em như một kỷ niệm về kinh nghiệm cộng tác này. Và giờ đây tôi ban phép lành cho anh chị em, và chúc anh chị em mọi điều tốt đẹp nhất trong năm mới này. Cảm ơn anh chị em!


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 11/1/2026]



Thứ Năm, 8 tháng 1, 2026

Quảng trường trong tiết trời lạnh và mưa phùn giờ Kinh Truyền Tin buổi trưa

Quảng trường trong tiết trời lạnh và mưa phùn giờ Kinh Truyền Tin buổi trưa

Quảng trường trong tiết trời lạnh và mưa phùn giờ Kinh Truyền Tin buổi trưa

Antoine Mekary | ALETEIA


Kathleen N. Hattrup

06/01/26


“Sự sống thần linh ở trong tầm tay chúng ta; sự sống ấy được tỏ hiện để chúng ta có thể được tham dự vào sự tự do năng động của sự sống ấy, sự tự do tháo cởi xiềng xích của sợ hãi và cho phép chúng ta gặp gỡ bình an.”

Sau khi cử hành nghi thức đóng Cửa Thánh của Đền thờ Thánh Phêrô và tiếp theo là Lễ Chúa Hiển Linh, Đức Thánh Cha Lêô đã ra ban công chính của Vương cung Thánh đường để chủ sự giờ Kinh Truyền Tin trưa. Quảng trường chật kín người hành hương đến tham dự ngày lễ này, và đánh dấu việc kết thúc Năm Thánh Hy Vọng, bất chấp nhiệt độ giá lạnh và mưa lất phất.

Đức Thánh Cha Lêô nói rằng Lễ Hiển Linh cho chúng ta thấy điều gì làm cho niềm vui có thể hiện hữu ngay cả trong những thời điểm khó khăn.”

Ngài nói: “Giờ đây chúng ta biết cách để hy vọng, ngay giữa muôn vàn gian truân”.

Suy tư về những lễ vật các nhà Đạo sĩ mang đến, Đức Thánh Cha tiếp tục:

Chúng có vẻ như không hữu ích đối với một hài nhi, nhưng chúng diễn tả một khát khao mang đến cho chúng ta nhiều điều để suy ngẫm khi tiến đến những ngày cuối của Năm Thánh.

Sau đây là toàn văn bài suy niệm của ngài, cùng với những lời kêu gọi được đưa ra sau giờ kinh.

______________________________________


Anh chị em thân mến, chào (buổi chiều) anh chị em!

Trong mùa thánh này, chúng ta đã cử hành nhiều ngày lễ. Hôm nay, Lễ trọng Chúa Hiển Linh, đúng như tên gọi của ngày lễ, cho chúng ta thấy điều gì làm cho niềm vui có thể hiện hữu ngay cả trong những thời điểm khó khăn. Như anh chị em biết, từ “hiển linh” có nghĩa là “sự tỏ hiện”, và niềm vui của chúng ta quả thật đến từ một Mầu nhiệm không còn bị che giấu nữa. Sự sống của Thiên Chúa đã được mạc khải trong nhiều thời kỳ và bằng nhiều cách thức khác nhau, nhưng đã được sáng tỏ sau cùng nơi Chúa Giêsu, để giờ đây chúng ta biết cách để hy vọng, ngay giữa muôn vàn gian truân. “Thiên Chúa cứu độ” không có ý nghĩa nào khác, không có danh xưng nào khác [ngoài danh Chúa Giêsu]. Chỉ những gì giải thoát và cứu độ chúng ta mới đến từ Thiên Chúa và là một cuộc hiển linh của Thiên Chúa.

Đối với chúng ta, quỳ gối như các nhà Đạo sĩ trước Hài Nhi Bêlem cũng có nghĩa là tuyên xưng rằng chúng ta đã tìm thấy nơi đó nhân tính đích thực, trong đó vinh quang của Thiên Chúa tỏa rạng. Nơi Chúa Giêsu, sự sống thật xuất hiện: con người sống động, Đấng không hiện hữu cho chính mình nhưng luôn mở ra và hiệp thông, Đấng dạy chúng ta thưa lên: “dưới đất cũng như trên trời” (Mt 6:10). Quả thật, sự sống thần linh ở trong tầm tay chúng ta; sự sống ấy được tỏ hiện để chúng ta có thể được tham dự vào sự tự do năng động của sự sống ấy, sự tự do tháo cởi xiềng xích của sợ hãi và cho phép chúng ta gặp gỡ bình an. Đây là một khả năng và là một lời mời gọi, vì sự hiệp thông không thể bị cưỡng ép. Chúng ta có thể mong ước điều gì hơn thế?

Trong trình thuật Tin Mừng, cũng như trong những cảnh hang đá của chúng ta, các nhà Đạo sĩ dâng lên Hài Nhi Giêsu những lễ vật quý giá: vàng, nhũ hương và một dược (x. Mt 2:11). Chúng có vẻ như không hữu ích đối với một hài nhi, nhưng chúng diễn tả một khát khao mang đến cho chúng ta nhiều điều để suy ngẫm khi tiến đến những ngày cuối của Năm Thánh. Lễ vật lớn lao nhất chính là hiến trao tất cả. Chúng ta hãy nhớ đến bà góa nghèo mà Chúa Giêsu chú ý: bà đã bỏ vào hòm tiền Đền Thờ hai đồng kẽm, là tất cả những gì bà có (x. Lc 21:1-4). Chúng ta không biết gì về của cải của các nhà Đạo sĩ đến từ phương Đông; nhưng chính sự lên đường của họ, việc họ chấp nhận rủi ro và những lễ vật họ dâng tiến cho thấy rằng mọi sự, thật sự là mọi sự, đó là chính con người chúng ta và những gì chúng ta có cần được dâng lên Chúa Giêsu, Đấng là kho tàng vô giá của chúng ta. Năm Thánh đã nhắc nhở chúng ta về nền công lý được đặt nền tảng trên tính nhưng không, về những quy định ban đầu của năm toàn xá, bao gồm lời kêu gọi xây dựng lối sống hòa bình, tái phân phối đất đai và tài nguyên, cũng như phục hồi “những gì ta có” và “những gì ta là” về với chương trình của Thiên Chúa, những chương trình vốn lớn lao hơn các chương trình của chúng ta.

Các bạn thân mến, niềm hy vọng mà chúng ta loan báo phải được bén rễ vào thực tại, vì Chúa Giêsu đã từ trời xuống để kiến tạo một câu chuyện mới nơi trần gian này. Qua những lễ vật của các nhà Đạo sĩ, chúng ta thấy được những gì mỗi người chúng ta có thể chia sẻ, những gì chúng ta không còn giữ cho riêng mình nhưng được trao tặng cho người khác, để sự hiện diện của Chúa Giêsu có thể lớn lên giữa chúng ta. Nguyện cho Vương Quốc của Người rộng mở, nguyện cho Lời của Người được hoàn tất nơi chúng ta; nguyện cho những người xa lạ và kẻ thù trở thành anh chị em. Tại những nơi còn bất công, ước mong có sự công bằng, và ước mong nền công nghiệp chiến tranh được thay thế bằng việc kiến tạo hòa bình. Là những người dệt nên hy vọng, chúng ta hãy cùng nhau tiến về tương lai bằng một con đường khác (x. Mt 2:12).

_________________________________


Sau Kinh Truyền Tin

Anh chị em thân mến,

Vào ngày lễ Hiển Linh, cũng là Ngày Thiếu nhi Truyền giáo, cha gửi lời chào và cảm ơn tất cả các thiếu nhi và thanh thiếu niên ở nhiều nơi trên thế giới cầu nguyện cho các nhà truyền giáo, và cam kết giúp đỡ những bạn đồng trang lứa kém may mắn hơn. Các bạn thân mến, cảm ơn các bạn!

Tôi cũng hướng lòng về các cộng đoàn Giáo Hội Đông phương, những cộng đoàn sẽ cử hành lễ Giáng Sinh vào ngày mai theo lịch Giuliô. Anh chị em thân mến, nguyện xin Chúa Giêsu ban cho anh chị em và gia đình sự bình an!

Tôi thân ái chào tất cả anh chị em, các tín hữu Roma và anh chị em hành hương đến từ nhiều quốc gia, đặc biệt là các thành viên Ban Thường vụ của Hiệp hội Công giáo Nông thôn Quốc tế, với những lời chúc tốt đẹp cho công việc của anh chị em.

Tôi gửi lời chào các tín hữu Lampedusa cùng với cha sở của họ, các bạn trẻ thuộc Phong trào “Tra Noi”, và những người tham dự đoàn rước lịch sử–dân gian truyền thống về các giá trị của lễ Hiển Linh, năm nay làm nổi bật vùng Sicilia.

Tôi chào anh chị em hành hương người Ba Lan và đông đảo những người tham gia “Cuộc Rước các Nhà Đạo sĩ” diễn ra hôm nay tại Warszawa và tại nhiều thành phố trên khắp Ba Lan, cũng như tại Rôma!

Gửi đến tất cả anh chị em, tôi xin bày tỏ những lời chúc tốt đẹp nhất cho Năm Mới trong ánh sáng của Đức Kitô Phục Sinh.

Chúc tất cả anh chị em mọi điều tốt đẹp. Chúc anh chị em ngày Lễ hạnh phúc!


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 7/1/2026]


Toàn văn bài giảng Lễ Hiển Linh của Đức Thánh Cha: “Đúng vậy, các nhà Đạo sĩ vẫn còn hiện diện ngày nay”

Toàn văn bài giảng Lễ Hiển Linh của Đức Thánh Cha: “Đúng vậy, các nhà Đạo sĩ vẫn còn hiện diện ngày nay”

Antoine Mekary | ALETEIA


Kathleen N. Hattrup

06/01/26


Thật đáng ngạc nhiên khi Giêrusalem, một thành phố đã chứng kiến biết bao khởi đầu mới, lại trở nên xôn xao... Phản ứng này cũng là một thách đố đối với chúng ta trong tư cách là Giáo hội.

Sau nghi thức đóng Cửa Thánh tại Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô, kết thúc Năm Thánh Thông thường 2025, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã cử hành Thánh lễ tại Đền thờ Thánh Phêrô mừng lễ Hiển Linh.

Đức Thánh Cha đã ví hàng triệu người bước qua Cửa Thánh như những nhà Đạo sĩ tiến về Bêlem: “Đúng vậy, các Đạo sĩ vẫn còn hiện diện ngày nay.”

Hàng triệu người đã bước qua ngưỡng cửa của Giáo hội. Họ đã tìm thấy gì? Điều gì đọng lại trong tâm hồn, trong những thắc mắc và cảm xúc của họ?

Đức Lêô suy tư về phản ứng “xôn xao” của Giêrusalem và của Hêrôđê như một thách đố đối với Giáo hội ngày nay.

Sau năm nay, liệu chúng ta có khả năng biết nhận ra một người lữ khách nơi người khách đến thăm, một người đang đi tìm kiếm nơi người xa lạ, một người lân cận nơi người ngoại kiều, và những người bạn đồng hành nơi những người khác biệt với chúng ta hay không?

Theo thông lệ sau bài Tin Mừng lễ Hiển Linh, một thầy phó tế công bố các ngày lễ “linh động” quan trọng trong năm phụng vụ Công giáo, như Thứ Tư Lễ Tro (18 tháng 2), Lễ Phục Sinh (5 tháng 4), Lễ Thăng Thiên (14 tháng 5), Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống (24 tháng 5), Lễ Chúa Ba Ngôi (4 tháng 6) và Chúa Nhật I Mùa Vọng (29 tháng 11).

Dưới đây là toàn văn bài giảng của Đức Thánh Cha Lêô:

_____________________________


Anh chị em thân mến,

Tin Mừng (x. Mt 2:1-12) thuật lại cho chúng ta niềm vui khôn tả của các nhà Đạo sĩ khi họ lại nhìn thấy ngôi sao (x. c. 10), đồng thời cũng cho thấy vua Hêrôđê và cả thành Giêrusalem xôn xao thế nào trước cuộc tìm kiếm của họ (x. c. 3). Thật vậy, mỗi khi Thánh Kinh nói về việc Thiên Chúa tỏ mình ra, bản văn không hề che giấu những phản ứng tương phản, chẳng hạn như niềm vui và sự bối rối, sự kháng cự và vâng phục, nỗi sợ hãi và lòng khát mong. Hôm nay chúng ta cử hành lễ Chúa Hiển Linh, với ý thức rằng trước sự hiện diện của Người, không có gì còn nguyên trạng như cũ. Đây chính là khởi đầu của niềm hy vọng, vì Thiên Chúa đã tỏ mình ra và không có gì là bất biến. Sự hiện diện của Người chấm dứt kiểu thỏa mãn u sầu khiến con người mãi thốt lên rằng: “Dưới ánh mặt trời, nào có chi mới lạ” (Gv 1:9). Một điều mới mẻ đã bắt đầu, định hình cả hiện tại lẫn tương lai, như lời Ngôn sứ đã loan báo: “Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi, vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu tỏa trên ngươi” (Is 60:1).

Thật đáng ngạc nhiên khi Giêrusalem, một thành phố đã chứng kiến biết bao khởi đầu mới, lại trở nên xôn xao. Trong thành ấy, những người nghiên cứu Kinh Thánh và nghĩ rằng mình có mọi câu trả lời dường như đánh mất khả năng đặt câu hỏi và nuôi dưỡng niềm khát mong. Thực vậy, thành phố ấy sợ hãi những người, được thôi thúc bởi niềm hy vọng, đã lặn lội từ phương xa đến; thành phố dường như run sợ trước điều lẽ ra phải mang lại niềm vui lớn lao. Phản ứng này cũng là một thách đố đối với chúng ta trong tư cách là Giáo hội.

Cửa Thánh của Vương cung Thánh đường này, Cửa Thánh cuối cùng được đóng lại hôm nay, đã chứng kiến dòng người vô tận, những người hành hương của niềm hy vọng, đang tiến về Giêrusalem mới, thành đô mà những cánh cửa luôn rộng mở (x. Kh 21:25).

Những người ấy là ai, và điều gì đã thúc bách họ? Khi Năm Thánh khép lại, hành trình tìm kiếm thiêng liêng của những con người đương thời với chúng ta, phong phú hơn nhiều so với những gì chúng ta có thể thấu hiểu, mời gọi chúng ta suy tư cách nghiêm túc. Hàng triệu người đã bước qua ngưỡng cửa của Giáo hội. Họ đã tìm thấy gì? Điều gì đọng lại trong tâm hồn, trong những thắc mắc và cảm xúc của họ? Đúng vậy, các Đạo sĩ vẫn còn hiện diện ngày nay. Họ là những người cảm nhận được sự cần thiết phải lên đường và tìm kiếm, chấp nhận những rủi ro gắn liền với cuộc hành trình, đặc biệt trong một thế giới đầy biến động như thế giới của chúng ta, nơi có thể gây khó chịu và nguy hiểm theo nhiều cách.

Người xưa gọi con người là homo viator (con người lữ hành), và quả thật, toàn bộ đời sống chúng ta là một cuộc hành trình. Tin Mừng thách đố Giáo hội không sợ hãi hiện tượng này, nhưng hãy trân trọng và hướng nó về phía Thiên Chúa, Đấng nâng đỡ chúng ta. Người là một Thiên Chúa có thể làm chúng ta xáo trộn, vì Người không nằm gọn trong tay chúng ta như những ngẫu tượng bằng bạc hay vàng; trái lại, Người hằng sống và ban sự sống, như Hài Nhi được Mẹ Maria ẵm trên tay và được các nhà thông thái thờ lạy. Những thánh địa như các nhà thờ chính tòa, vương cung thánh đường và đền thánh, đã trở thành điểm hành hương của Năm Thánh, phải tỏa lan hương thơm của sự sống, một nhận thức không thể quên rằng một thế giới khác đã bắt đầu.

Chúng ta hãy tự hỏi: có sự sống trong Giáo hội của chúng ta hay không? Có không gian cho một điều gì đó mới mẻ được sinh ra không? Chúng ta có yêu mến và loan báo một Thiên Chúa, Đấng đặt chúng ta vào cuộc hành trình không?

Trong bài Tin Mừng, vua Hêrôđê lo sợ cho ngai vàng của mình và hoang mang về những điều mà ông ta cảm thấy vượt ngoài tầm kiểm soát. Ông ta cố lợi dụng ước muốn của các nhà Đạo sĩ bằng cách thao túng cuộc tìm kiếm của họ. Ông ta sẵn sàng nói dối, sẵn sàng làm bất cứ điều gì. Thật vậy, nỗi sợ hãi làm chúng ta mù quáng. Ngược lại, niềm vui của Tin Mừng giải phóng chúng ta. Nó làm cho chúng ta nên thận trọng, đúng vậy, nhưng cũng trở nên táo bạo, tỉnh thức và sáng tạo; nó mời gọi chúng ta đi theo những con đường khác với những lối mòn đã qua.

Các nhà Đạo sĩ mang đến cho Giêrusalem một câu hỏi đơn sơ nhưng cốt yếu: “Đức Vua dân Do-thái mới sinh hiện ở đâu?” (Mt 2:2). Thật quan trọng biết bao khi những người bước qua cửa Giáo hội có thể cảm nhận rằng Đấng Mêsia vừa mới chào đời, rằng một cộng đoàn đang quy tụ để niềm hy vọng tuôn trào, và một câu chuyện của sự sống đang mở ra! Năm Thánh nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta có thể bắt đầu lại, hơn nữa, chúng ta vẫn đang ở điểm khởi đầu, và Chúa muốn sự hiện diện của Người lớn lên giữa chúng ta như Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta. Đúng vậy, Thiên Chúa thách đố trật tự hiện hữu, vì Người có những những kế hoạch khơi nguồn cảm hứng cho các ngôn sứ của Người ngay cả hôm nay. Thiên Chúa quyết tâm giải phóng chúng ta khỏi những hình thức nô lệ cũ và mới. Người lôi cuốn người trẻ cũng như người già, người nghèo và người giàu, nam cũng như nữ, thánh nhân và những người tội lỗi, vào các công trình của lòng thương xót, và những kỳ công công lý của Người. Cho dù Chúa thực hiện điều đó một cách âm thầm, Người đã làm cho Vương quốc của Người nảy mầm khắp mọi miền trên thế giới.

Biết bao lần Chúa đã hiển linh cho chúng ta và còn biết bao lần nữa Người có thể tỏ mình ra cho chúng ta! Tuy nhiên, những cuộc hiển linh ấy phải dẫn đưa chúng ta rời xa những mưu đồ của một Hêrôđê, rời xa khỏi những nỗi sợ hãi luôn chực chờ biến thành sự hung bạo. “Từ thời ông Gio-an Tẩy Giả cho đến bây giờ, Nước Trời phải đương đầu với sức mạnh, ai mạnh sức thì chiếm được” (Mt 11:12). Cách diễn đạt huyền nhiệm này của Chúa Giêsu, trong Tin Mừng theo thánh Matthêu, không khỏi khiến chúng ta nghĩ đến rất nhiều cuộc xung đột, mà qua đó con người chống lại và thậm chí hủy hoại những điều mới mẻ mà Thiên Chúa dành sẵn cho mọi người. Yêu mến và tìm kiếm hòa bình nghĩa là bảo vệ những gì là thánh thiêng, và vì thế, bảo vệ những gì mới được sinh ra như một hài nhi nhỏ bé, dễ bị tổn thương và mong manh.

Toàn văn bài giảng Lễ Hiển Linh của Đức Thánh Cha: “Đúng vậy, các nhà Đạo sĩ vẫn còn hiện diện ngày nay”

Isabella Bonotto/POOL | ALETEIA

Chung quanh chúng ta, một nền kinh tế bị bóp méo đang cố gắng trục lợi từ mọi thứ. Chúng ta thấy thị trường có thể biến những khát vọng tìm kiếm, lên đường và bắt đầu lại của con người thành một việc kinh doanh thuần túy. Chúng ta hãy tự hỏi: Năm Thánh có dạy chúng ta thoát khỏi thứ chủ nghĩa hiệu quả biến mọi thứ thành món hàng, và con người thành kẻ tiêu dùng hay không? Sau năm nay, liệu chúng ta có khả năng biết nhận ra một người lữ khách nơi người khách đến thăm, một người đang đi tìm kiếm nơi người xa lạ, một người lân cận nơi người ngoại kiều, và những người bạn đồng hành nơi những người khác biệt với chúng ta hay không?

Cách thức Chúa Giêsu gặp gỡ và cho phép mọi người tiếp cận đã dạy chúng ta biết trân trọng những bí mật của tâm hồn, mà chỉ mình Người mới có thể đọc thấu. Cùng với Người, chúng ta học biết đón nhận những dấu chỉ của thời đại (x. Công đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay, Gaudium et Spes, số 4). Không ai có thể bán điều này cho chúng ta. Hài nhi mà các nhà Đạo sĩ thờ lạy là một Thiện Hảo vô giá và khôn lường. Đó là sự Hiển linh của một ân ban. Ân ban ấy không xảy ra ở một nơi danh giá, mà ở một nơi khiêm hạ. Phần ngươi, hỡi Bêlem, miền đất Giuđa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa” (Mt 2:6). Biết bao thành phố, biết bao cộng đồng cần được nghe lời này: “Anh em đâu phải là nhỏ bé nhất.” Vâng, Chúa vẫn luôn làm chúng ta ngạc nhiên! Người tỏ mình ra và cho phép mình được tìm thấy. Đường lối của Người không phải là đường lối của chúng ta, và những kẻ bạo ngược không thể kiểm soát được chúng, quyền lực thế gian cũng không thể ngăn chặn được. Đó chính là niềm vui lớn lao của các nhà Đạo sĩ, những người đã bỏ lại cung điện và đền thờ sau lưng để lên đường về Bêlem; chỉ khi ấy, họ mới nhìn thấy lại ngôi sao!

Vì thế, anh chị em thân mến, thật tuyệt vời khi trở thành những người hành hương của niềm hy vọng. Thật tuyệt vời khi chúng ta tiếp tục cùng nhau là những người lữ hành! Sự trung tín của Thiên Chúa tiếp tục làm chúng ta kinh ngạc. Nếu chúng ta không biến các nhà thờ của mình thành những đài tưởng niệm, nếu các cộng đoàn của chúng ta là những mái nhà, nếu chúng ta hiệp nhất đứng vững và kháng cự lại sự tâng bốc và quyến rũ của những kẻ quyền lực, thì chúng ta sẽ là thế hệ của một bình minh mới.

Mẹ Maria, Đấng là Sao Mai, sẽ luôn đi trước chúng ta! Nơi Con của Mẹ, chúng ta sẽ chiêm ngắm và phục vụ một nhân loại phi thường, được biến đổi không phải bởi những ảo tưởng của kẻ toàn năng, nhưng bởi Thiên Chúa, Đấng đã trở nên người phàm vì yêu thương.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 7/1/2026]


Có bao nhiêu người hành hương đã đến Roma trong Năm Thánh 2025? Vatican công bố những con số gây ngạc nhiên

Có bao nhiêu người hành hương đã đến Roma trong Năm Thánh 2025? Vatican công bố những con số gây ngạc nhiên

Một nghiên cứu của Đại học Roma Tre từng dự báo có hơn 31 triệu người tham dự, sau đó điều chỉnh thành 31,7 triệu. Ảnh: Vatican News

Có bao nhiêu người hành hương đã đến Roma trong Năm Thánh 2025? Vatican công bố những con số gây ngạc nhiên

Châu Âu chiếm đa số khách hành hương, với 62% đến từ đại lục này. Ý đứng đầu, tiếp theo là Hoa Kỳ và Tây Ban Nha.

ENERO 05, 2026 16:55

JORGE ENRIQUE MÚJICA


(ZENIT News / Vatican City, 05.01.2026).- Hiếm khi Roma chứng kiến một năm như năm vừa qua. Vatican xác nhận rằng có 33.475.369 người hành hương đến từ 185 quốc gia đã tham dự Năm Thánh Hy Vọng, khiến Năm Thánh 2025 trở thành một trong những cuộc quy tụ tôn giáo lớn nhất trong lịch sử hiện đại. Con số này không chỉ vượt qua, mà còn vượt xa, các kỳ vọng. Một nghiên cứu của Đại học Roma Tre trước đó đã dự báo chỉ hơn 31 triệu người tham dự, sau đó được tinh chỉnh thành 31,7 triệu. Thực tế đã vượt xa những dự tính đó.

Quy mô của sự kiện được công bố ngày 5 tháng 1, ngay trước thềm lễ bế mạc Năm Thánh, trong một cuộc họp báo tại Văn phòng Báo chí Tòa Thánh. Đức Tổng Giám mục Rino Fisichella, quyền Tổng trưởng Bộ Loan báo Tin Mừng và là nhà tổ chức chính của Năm Thánh, đã trình bày bản tổng kết cuối cùng với các nhà chức trách dân sự Ý, những người liên tục nhắc đến điều mà giờ đây họ gọi là “phương pháp Năm Thánh” trong hợp tác.

Châu Âu chiếm đa số khách hành hương, với 62% đến từ đại lục này. Ý đứng đầu, tiếp theo là Hoa Kỳ và Tây Ban Nha. Tuy nhiên, phạm vi địa lý mang tính toàn cầu rõ rệt, phản ánh điều mà các nhà tổ chức mô tả là “cả thế giới” quy tụ về Roma.

Tuy nhiên, những con số chỉ nói lên một phần của câu chuyện. Lịch trình Năm Thánh bao gồm 35 sự kiện lớn, nhưng Đức cha Fisichella nhấn mạnh rằng cả con số tham dự lẫn chương trình đều không thể lột tả hết ý nghĩa sâu xa của năm nay. Theo ngài, đặc điểm nổi bật chính là sự canh tân thiêng liêng. Ngài mô tả là một “dân tộc đang lên đường”, được ghi dấu bởi khát khao đổi mới đối với cầu nguyện và hoán cải. Các vương cung thánh đường Giáo hoàng và những điểm sùng kính quan trọng khác trên khắp Roma đã chứng kiến những đám đông chưa từng có. Scala Santa (Thang Thánh), cùng với các đền thánh khác, ghi nhận lượng người tham dự kỷ lục. Lượng người xưng tội gia tăng đáng kể, và Ơn Toàn xá Năm Thánh, dấu chỉ thiêng liêng trung tâm của Năm Thánh, đã được lãnh nhận rộng rãi.

Đằng sau hậu trường, Năm Thánh dựa vào một mạng lưới nhân sự khổng lồ. Tổng cộng có 5.000 tình nguyện viên đã phục vụ suốt năm, cùng với 2.000 thành viên của Dòng Malta đảm trách công tác sơ cứu tại bốn đại vương cung thánh đường Giáo hoàng. Đức cha Fisichella nhấn mạnh rằng sự đóng góp của họ mang ý nghĩa đặc biệt trong một thời đại bị ghi dấu bởi chủ nghĩa cá nhân đang gia tăng.

Các nhà chức trách Ý nhấn mạnh khung quản trị hành chính đã giúp sự kiện này thành công. Ông Alfredo Mantovano, Thứ trưởng Văn phòng Thủ tướng Ý, giải thích rằng “phương pháp Năm Thánh” có nghĩa là điều phối thay vì kiểm soát, giải quyết vấn đề thay vì quan liêu, và chia sẻ trách nhiệm thay vì đối đầu. Ông mô tả đây là một hệ thống mà các tổ chức công đặt mình vào vị trí phục vụ cho một trải nghiệm thiêng liêng thay vì làm lu mờ nó.

Thị trưởng Roma, ông Roberto Gualtieri, người cũng giữ vai trò là đặc phái viên của Chính phủ về Năm Thánh, nhấn mạnh rằng làn sóng người hành hương không làm thành phố quá tải. Ngược lại, ông nói, nó đóng vai trò như một động cơ cho sự đổi mới. Roma vẫn duy trì được khả năng đón tiếp du khách và phục vụ cư dân, đồng thời tiếp đón hàng triệu người tìm kiếm Ơn Toàn xá. Ông đặc biệt nhắc đến sự kiện tại Tor Vergata như một khoảnh khắc chắc chắn sẽ còn in đậm trong ký ức chung của thành phố.

Từ góc độ khu vực, Chủ tịch vùng Lazio, ông Francesco Rocca, đề cập đến tác động vận hành đối với các dịch vụ công. Các dịch vụ y tế khẩn cấp đã xử lý 580.000 ca cần can thiệp trong năm Năm Thánh, tăng 40.000 ca so với năm trước. Số tiếp nhận tại khoa cấp cứu lên đến 1.600.000 ca, nhiều hơn 100.000 ca so với năm 2024. Ông Rocca cho rằng dịch vụ vận hành trơn tru là nhờ bầu khí hợp tác, ưu tiên sự điềm tĩnh thay vì cạnh tranh.

An ninh là một mối quan tâm then chốt khác. Tỉnh trưởng Roma, ông Lamberto Giannini, giải thích rằng nguyên tắc chỉ đạo là bảo đảm sự an toàn và sự an tâm. Thay vì quân sự hóa nặng nề, các nhà chức trách tập trung vào việc phòng ngừa. Ông Giannini nhắc lại Năm Thánh Giới trẻ là một sự kiện đặc biệt ấn tượng, nhất là các tòa giải tội được dựng lên tại Circus Maximus, một hình ảnh mà ông nói rằng sẽ không bao giờ quên.

Vatican thừa nhận rằng con số 33.475.369 người hành hương là một ước tính, không phải là một con số đếm chính xác. Con số được tính toán bằng cách kết hợp dữ liệu đăng ký chính thức với các sự kiện Năm Thánh, việc kiểm đếm thủ công đám đông tại các đại vương cung thánh đường ở Roma và dữ liệu từ hệ thống camera giám sát tại Vương cung thánh đường Thánh Phêrô. Các camera đã ghi nhận từ 25.000 đến 30.000 người mỗi ngày đi qua Cửa Thánh.

Lượng người tham dự cũng tăng đều sau khi Đức Thánh Cha Phanxicô qua đời vào tháng Tư, và cuộc bầu chọn Đức Thánh Cha Lêô XIV. Sự chuyển tiếp này khiến Năm Thánh Hy Vọng trở thành Năm Thánh thứ hai trong lịch sử Giáo hội được khai mạc bởi một vị Giáo hoàng và bế mạc bởi một vị khác. Lần đầu tiên xảy ra vào năm 1700, khi Đức Giáo hoàng Innocentê XII khai mạc Năm Thánh và Đức Giáo hoàng Clêmentê XI bế mạc sau khi Đức Innocentê qua đời.

Ngoài yếu tố con người, Năm Thánh đã tái định hình chính thành phố. Trong số 117 dự án công trình công cộng ban đầu liên quan đến Năm Thánh, 110 dự án đã hoàn thành. Tham vọng nhất là việc tạo ra một quảng trường dành cho người đi bộ ở cuối đường Via della Conciliazione, đối diện trực tiếp với Vương cung thánh đường Thánh Phêrô. Dự án đòi hỏi phải chuyển hướng giao thông xuống một đường hầm ngầm và kết quả là quảng trường Piazza Pia mới đã ra đời.

Quảng trường này cũng làm lộ ra một trong số ít những khoảnh khắc bất đồng ý kiến công khai giữa các nhà tổ chức. Thiết kế của nó bao gồm hai đài phun nước bằng đá theo phong cách hiện đại đóng khung góc nhìn về phía vương cung thánh đường. Ông Gualtieri ủng hộ chúng; Đức cha Fisichella thì không. Về sau, Đức Cha kể lại với giọng hài hước rằng đây có lẽ là điểm duy nhất mà họ thể hiện khác biệt cách công khai, và cuối cùng ngài nhượng bộ vì quảng trường nằm trên lãnh thổ của Ý. Đức cha Fisichella đặt câu hỏi liệu các đài phun nước hiện đại có phù hợp trong một không gian hướng nhìn về nét tráng lệ theo kiến trúc Baroque của Đền thờ Thánh Phêrô và kiến trúc thời Phát-xít của con đường Via della Conciliazione không, con đường đã được tạo ra bằng việc dỡ bỏ cả một khu dân cư để phục vụ Năm Thánh 1950.

Khi Cửa Thánh khép lại, các nhà tổ chức khẳng định rằng di sản thực sự của Năm Thánh không chỉ giới hạn ở các số liệu thống kê hay cơ sở hạ tầng. Đối với Đức cha Fisichella, kết quả lâu dài chính là niềm hy vọng, được khơi dậy trong hàng triệu cuộc đời và hướng tới một tương lai, theo lời ngài, được đánh dấu bởi hòa bình và sự an hòa.


[Nguồn: zenit]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 6/1/2026]


Thứ Ba, 16 tháng 12, 2025

Năm Thánh các Tù nhân. Đức Thánh Cha Lêô XIV kêu gọi niềm hy vọng trong các nhà tù: “Không một ai phải hư mất! Mọi người được cứu độ!”

Đức Thánh Cha Lêô XIV kêu gọi niềm hy vọng trong các nhà tù: “Không một ai bị hư mất! Mọi người được cứu độ!”

Năm Thánh các Tù nhân

Năm Thánh các Tù nhân. Đức Thánh Cha Lêô XIV kêu gọi niềm hy vọng trong các nhà tù: “Không một ai phải hư mất! Mọi người được cứu độ!”


Trong Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô ngập tràn cảm xúc và tính biểu tượng, Đức Thánh Cha Lêô XIV chủ sự Thánh Lễ Chúa Nhật nhân dịp Năm Thánh của các Tù nhân, một sự kiện trọng tâm của Năm Thánh 2025, quy tụ hàng ngàn phạm nhân, gia đình của họ, và nhân viên trại giam. Trước khoảng 6.000 tù nhân đến từ các nhà tù khác nhau, Đức Thánh Cha đã công bố một bài giảng thấm đẫm lòng thương xót, kêu gọi hoán cải, tái hòa nhập, và xây dựng một “nền văn minh tình thương”, ngay cả trong các bức tường nhà tù.

Chúa Nhật thứ ba Mùa Vọng, được gọi là “Gaudete” (Hãy vui lên) với lời mời gọi niềm hân hoan, là bối cảnh hoàn hảo cho Năm Thánh Hy vọng dành cho thế giới nhà tù. Đức Lêô XIV nhắc lại lời của Đức Thánh Cha Phanxicô khi ngài mở Cửa Thánh tại nhà tù Rebibbia vào năm 2024, mời gọi mọi người bám chặt vào “mỏ neo của niềm hy vọng” và “mở rộng cánh cửa tâm hồn” của mình.

Trong bài giảng của mình, Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng “nhà tù là một môi trường khó khăn” nơi ngay cả những ý định tốt nhất cũng gặp trở ngại, tuy nhiên ngài khẳng định đừng nản lòng: “Chúng ta phải đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã; không một con người nào bị định nghĩa trọn vẹn bởi những gì họ đã làm, và công lý luôn là một tiến trình đền bù và hòa giải.” Ngài làm nổi bật cách mà những “đóa hoa tuyệt vời” của lòng thương xót, sự tha thứ và nhân tính vẫn có thể nở rộ, ngay cả trong những điều kiện bất lợi.

Đức Lêô XIV nhắc lại mong muốn của Đức Phanxicô về việc ban ân xá và các chương trình tái hòa nhập trong Năm Thánh, đồng thời bày tỏ hy vọng nhiều quốc gia sẽ thực hiện lời hứa này, và nhắc lại nguồn gốc Kinh Thánh của Năm Thánh như là thời điểm để “bắt đầu lại.” Trích dẫn Tin Mừng về Gioan Tẩy Giả và lời của tiên tri Isaia, ngài nhấn mạnh rằng Thiên Chúa muốn “không một ai bị hư mất” và “mọi người được cứu độ,” một tiếng kêu đã vang vọng mạnh mẽ ở cuối bài giảng.

Đức Thánh Cha đề cập đến những thách đố cụ thể như tình trạng quá tải, thiếu các chương trình giáo dục và việc làm, và những vết thương cá nhân trong quá khứ. Ngài kêu gọi một sự hoán cải không chỉ liên quan đến các tù nhân, mà đặc biệt là những người thi hành công lý, thúc đẩy một xã hội được xây dựng trên bác ái, như Thánh Phaolô VI đã từng mơ ước.

Năm Thánh cho các Tù Nhân, một trong 35 sự kiện chuyên đề của Năm Thánh 2025, củng cố thông điệp trọng tâm của Đức Lêô XIV: hy vọng không làm thất vọng, ngay cả ở những nơi tăm tối nhất. Khi Lễ Giáng Sinh đến gần, Đức Thánh Cha mời gọi chúng ta kiên trì đón nhận giấc mơ của Thiên Chúa, ghi nhớ rằng “Chúa đã đến gần” và bước đi bên cạnh chúng ta.

Buổi cử hành, được ghi dấu bởi sự hiện diện đông đảo của các phạm nhân, đã được truyền thông Vatican mô tả là một khoảnh khắc của niềm vui sâu xa và sự hòa giải, phù hợp với khẩu hiệu Năm Thánh: “Những người hành hương của hy vọng.”


Toàn Văn Bài Giảng:

______________________________________


NĂM THÁNH CÁC TÙ NHÂN

THÁNH LỄ

BÀI GIẢNG CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV

Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô
Chúa Nhật thứ 3 Mùa Vọng, ngày 14 tháng 12 năm 2025

*******


Anh chị em thân mến,

Hôm nay chúng ta cử hành Năm Thánh Hy Vọng dành cho các cơ sở cải huấn, các tù nhân và tất cả những ai giám sát hoặc làm việc trong hệ thống quản chế. Việc chọn ngày hôm nay, Chúa Nhật thứ ba Mùa Vọng, cho năm thánh đặc biệt này, mang ý nghĩa phong phú, vì đây là ngày mà Giáo Hội gọi là Chúa Nhật Gaudete (Hãy vui lên), tên gọi xuất phát từ những lời đầu trong ca nhập lễ (x. Pl 4:4). Trong Năm Phụng vụ, đây là Chúa Nhật “của niềm vui”, nhắc chúng ta nhớ đến khía cạnh tươi sáng của sự chờ đợi: niềm vững tin rằng điều tốt đẹp, điều hân hoan sẽ xảy đến.

Về điều này, vào ngày 26 tháng 12 năm ngoái, Đức Thánh Cha Phanxicô, khi mở Cửa Thánh tại Nhà thờ Our Father trong nhà tù ở Rebibbia, đã gửi lời mời gọi đến tất cả mọi người: “Tôi nói với các bạn hai điều: Thứ nhất, sợi dây ở trong tay, với mỏ neo của niềm hy vọng. Thứ hai, hãy mở rộng cánh cửa tâm hồn các bạn.” Khi đề cập đến một hình ảnh hướng về cõi vĩnh hằng, vượt ra ngoài rào cản không gian và thời gian (x. Dt 6:17-20), ngài mời gọi chúng ta giữ niềm tin sống động vào sự sống mai sau và luôn tin vào khả năng có một tương lai tốt đẹp hơn. Nhưng đồng thời, ngài cũng khuyến khích chúng ta trở thành những người biết thực hành, với tấm lòng quảng đại, công lý và bác ái ở những nơi chúng ta đang sống.

Khi Năm Thánh sắp khép lại, chúng ta phải thừa nhận rằng, mặc cho những nỗ lực của nhiều người, ngay cả trong hệ thống quản chế, vẫn còn nhiều điều cần phải làm liên quan đến vấn đề đó. Những lời của ngôn sứ Isaia mà chúng ta vừa nghe, “Những người được Đức Chúa giải thoát sẽ trở về, tiến đến Xi-on giữa tiếng hò reo” (35:10), nhắc nhở chúng ta rằng chính Thiên Chúa là Đấng cứu chuộc, Đấng cứu độ và giải thoát. Đồng thời, những lời ấy truyền đạt ý nghĩa của một sứ mạng quan trọng và đầy thử thách cho tất cả chúng ta. Chắc chắn, nhà tù là một nơi khó khăn và ngay cả những đề xuất tốt nhất cũng có thể gặp phải nhiều trở ngại. Nhưng chính vì lý do đó, chúng ta không bao giờ được mệt mỏi, nản lòng hay bỏ cuộc. Chúng ta phải tiếp tục tiến lên với lòng kiên trì, lòng dũng cảm và tinh thần cộng tác. Thật vậy, có nhiều người vẫn chưa hiểu rằng sau mỗi lần vấp ngã, con người phải có khả năng đứng dậy, rằng không một người nào bị định nghĩa chỉ bởi hành động của họ, và rằng công lý luôn là một tiến trình đền bù và hòa giải.

Tuy nhiên, ngay cả trong những tình huống khó khăn, chúng ta vẫn có thể giữ gìn và bảo tồn vẻ đẹp của cảm xúc, sự nhạy cảm, sự quan tâm đến nhu cầu của người khác, sự tôn trọng, khả năng thương xót và tha thứ, thì những đóa hoa tuyệt đẹp sẽ nảy nở từ “mảnh đất khô cằn” của tội lỗi và đau khổ. Hơn nữa, những cử chỉ, những dự án và những cuộc gặp gỡ, mang tính nhân bản độc đáo, thậm chí vẫn có thể trưởng thành trong các bức tường nhà tù. Điều này đòi hỏi phải làm việc trên chính cảm xúc và suy nghĩ của mình, đây là điều cần thiết đối với những người đã bị mất tự do, mà còn cần thiết hơn nữa đối với những người có nghĩa vụ đại diện cho họ và bảo đảm rằng họ được đối xử công bằng. Năm Thánh là một lời kêu gọi hoán cải, và vì thế, đó là một nguồn hy vọng và niềm vui.

Vì lý do này, điều quan trọng là trước hết phải hướng nhìn về Chúa Giêsu, đến nhân tính của Ngài và đến Vương Quốc của Ngài, nơi “người mù xem thấy, kẻ què được đi, … kẻ nghèo được nghe Tin Mừng” (Mt 11:5). Chúng ta phải nhớ rằng, dù đôi khi những phép lạ này xảy đến nhờ những can thiệp phi thường của Thiên Chúa, nhưng thường thì chúng được giao phó cho chúng ta, cho lòng trắc ẩn, sự quan tâm và sự khôn ngoan của chúng ta, cũng như cho trách nhiệm của cộng đồng và các tổ chức của chúng ta.

Điều này đưa chúng ta đến một chiều kích khác của lời tiên tri mà chúng ta đã nghe: nghĩa vụ phải cổ võ ở mọi nơi – và tôi muốn nhấn mạnh cách đặc biệt trong các nhà tù – một xã hội được thiết lập trên những tiêu chí mới, và sau cùng là trên đức ái, như Thánh Phaolô VI nói khi bế mạc Năm Thánh 1975: “Đức ái – phải là,… sự khởi đầu của thời khắc ân sủng và thiện chí mới, đặc biệt trên bình diện đời sống công cộng, mà lịch sử đang mở ra trước mắt chúng ta: nền văn minh tình thương!” (Tiếp kiến Chung, ngày 31 tháng 12 năm 1975).

Để đạt mục tiêu ấy, Đức Thánh Cha Phanxicô cũng hy vọng rằng trong Năm Thánh này “các hình thức ân xá hoặc khoan hồng nhằm giúp các cá nhân lấy lại niềm tin vào bản thân và xã hội” (Tông Sắc, Spes Non Confundit, 10) có thể được ban hành và những cơ hội tái hòa nhập thực sự được cung cấp cho tất cả mọi người (x. ibid.). Tôi hy vọng nhiều quốc gia thực hiện ước mong của ngài. Năm Thánh, như chúng ta biết, với nguồn gốc trong Kinh Thánh, là một năm hồng ân, trong đó mọi người được trao cơ hội để khởi đầu lại theo nhiều cách khác nhau (x. Lv 25:8-10).

Bài Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe cũng nói với chúng ta về thực tại này. Thánh Gioan Tẩy Giả, khi rao giảng và làm phép rửa, đã kêu gọi dân chúng sám hối và một lần nữa vượt qua dòng sông, mang tính biểu tượng, như trong thời Giôsuê (x. Gs 3:17) để đi vào và chiếm hữu miền “Đất Hứa” mới, đó là một trái tim được hòa giải với Thiên Chúa và với anh chị em của chúng ta. Theo ý nghĩa này, hình ảnh của Gioan như một ngôn sứ thật hùng hồn: ông là người chính trực, khắc khổ và thẳng thắn, thậm chí đến mức bị giam cầm vì những lời nói can đảm của mình. Ông không phải là “cây sậy phất phơ trước gió” (Mt 11:7). Nhưng đồng thời, ông giàu lòng thương xót và thấu hiểu đối với tất cả những ai thành tâm sám hối và đang nỗ lực thay đổi (x. Lc 3:10-14).

Về vấn đề này, Thánh Augustinô kết luận một trong những bài chú giải nổi tiếng của ngài về câu chuyện người phụ nữ ngoại tình trong Tin Mừng (x. Ga 8:1-11) rằng: “Khi những kẻ tố cáo bỏ đi, chỉ còn lại người phụ nữ tội lỗi và lòng thương xót. Và Chúa nói với chị ta: hãy về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa (Ga 8:10-11)” (Sermo 302, 14).

Các bạn thân mến, nhiệm vụ mà Chúa giao phó cho các bạn – cho tất cả các bạn, các tù nhân cũng như những người làm việc trong hệ thống quản chế – không hề dễ dàng. Có nhiều vấn đề cần phải giải quyết. Ở đây, chúng ta có thể đề cập đến tình trạng quá tải, sự thiếu cam kết trong việc bảo đảm các chương trình giáo dục ổn định cho việc phục hồi và những cơ hội việc làm. Ở cấp độ cá nhân, chúng ta đừng quên gánh nặng của quá khứ, những vết thương cần được chữa lành nơi thể xác và tâm hồn, những thất vọng, sự kiên nhẫn vô hạn cần có với chính bản thân và với người khác khi bắt đầu con đường hoán cải, cũng như những cám dỗ bỏ cuộc hoặc không tha thứ nữa. Tuy nhiên, vượt trên tất cả những điều ấy, Chúa vẫn không ngừng lặp lại với chúng ta rằng chỉ có một điều quan trọng: không một ai bị hư mất (x. Ga 6:39) và mọi người “được cứu độ” (1 Tm 2:4).

Không một ai bị hư mất! Mọi người được cứu độ! Đó là điều Thiên Chúa của chúng ta mong muốn, đó là Vương Quốc của Người, và đó là mục tiêu hành động của Người trong thế giới này. Khi Giáng Sinh đang đến gần, chúng ta cũng hãy ôm lấy giấc mơ của Chúa cách mạnh mẽ hơn, đồng thời kiên vững và trung thành trong cam kết của mình (x. Gc 5:8). Chúng ta biết rằng ngay cả khi đứng trước những thách đố lớn nhất, chúng ta không đơn độc: Chúa đã gần đến (x. Pl 4:5), Người bước đi cùng chúng ta, và với Người ở bên, điều tốt đẹp và hân hoan sẽ luôn xảy đến.


[Nguồn: exaudi]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 15/12/2025]


Thứ Năm, 27 tháng 11, 2025

Năm Thánh của các Ca đoàn - Đức Lêô XIV: Âm nhạc như một con đường hiệp hành của đức tin và niềm vui

Đức Lêô XIV: Âm nhạc như một con đường hiệp hành của đức tin và niềm vui

Trong Năm Thánh của các Ca đoàn. Bài giảng Lễ trọng Chúa Giêsu Kitô Vua Vũ trụ: Hát như diễn tả tình yêu và sự hiệp nhất của Giáo hội

Năm Thánh của các Ca đoàn - Đức Lêô XIV: Âm nhạc như một con đường hiệp hành của đức tin và niềm vui

*******

Trong bối cảnh Năm Thánh 2025, Quảng trường Thánh Phêrô vào Chúa nhật này, ngày 23 tháng 11, được biến thành một sân khấu mênh mông của lời ca khen và hòa điệu, nơi hơn 60.000 tín hữu, khách hành hương và các ca viên từ khắp nơi trên thế giới quy tụ để cử hành Năm Thánh của các Ca đoàn và Đội Hợp xướng. Đức Thánh Cha Lêô XIV đã chủ sự Thánh lễ nhân Đại lễ Chúa Giêsu Kitô, Vua Vũ trụ, và trong bài giảng, ngài đã gửi gắm một thông điệp rất xúc động đến các nhạc sĩ phụng vụ và ca viên, mời gọi họ xem việc phục vụ của mình như một hành trình hiệp hành đích thực của đức tin, niềm hy vọng và niềm vui được chia sẻ. Buổi cử hành này, gồm cả giờ kinh Truyền tin và cuộc di chuyển trên xe giáo hoàng của Đức Thánh Cha dọc theo Đại lộ Hòa giải (Via della Conciliazione) để chào những người hiện diện, nhấn mạnh vai trò thiết yếu của âm nhạc trong đời sống Giáo hội, như một nhịp cầu nối kết những giọng hát đa dạng trong một giai điệu duy nhất của tình yêu dành cho Thiên Chúa.

Đức Thánh Cha, bắt đầu từ Thánh vịnh đáp ca — “Ta vui sướng trẩy lên đền thánh Chúa” (Tv 122) — đã mời gọi cộng đoàn cùng nhau tiến bước về với Đức Kitô, vị Vua hiền lành và khiêm nhường, Đấng mà ngai vàng là Thập giá và quyền năng được tỏ hiện nơi lòng thương xót của Thiên Chúa. “Vương quốc của Người rạng ngời trên thế giới qua thập giá, nơi Thiên Chúa trị vì từ trên cây gỗ như là Thái tử Hòa bình,” Đức Lêô XIV nhắc lại, đồng thời nhấn mạnh rằng chính tình yêu này là nguồn cảm hứng sâu xa của mọi bài thánh ca phụng vụ. Các ca đoàn, hiện diện trong Thánh lễ này với những giọng hát cất lên trong các bài thánh ca và thánh vịnh, đã được chào đón như những chứng nhân sống động của ân sủng, dâng hiến tài năng của mình “để tôn vinh Thiên Chúa và nâng cao tâm hồn của các tín hữu” (x. Công đồng Vaticanô II, Sacrosanctum Concilium, 120).

Trong phần suy niệm, Đức Thánh Cha gợi lên chiều kích phổ quát của âm nhạc, một món quà từ các nền văn minh vĩ đại nhằm diễn tả “những điều chúng ta mang trong tâm khảm sâu thẳm, mà ngôn từ không phải lúc nào cũng diễn tả được”. Trích dẫn Thánh Augustinô — “Cantare amantis est” (Bài giảng 336, 1) — ngài giải thích rằng “ca hát là thuộc về người đang yêu”, một hành động hợp nhất tâm trí, cảm xúc, thân xác và linh hồn trong việc truyền tải những chân lý lớn lao của cuộc sống. Đối với Dân Chúa, bài ca trở thành “bài ca mới” mà Đức Kitô Phục sinh dâng lên Chúa Cha, làm cho tất cả những ai đã chịu phép Rửa trở thành những chi thể trong cùng một thân thể được Thần Khí tác sinh. Như thế, các ca viên trở thành những “người hát lên ân sủng”, những người con của Giáo hội tìm thấy nơi Chúa Phục sinh nguồn mạch ngợi khen bất tận. Theo nghĩa này, nhạc phụng vụ không đơn thuần là sự trang trí, nhưng là một khí cụ quý giá để phục vụ việc ngợi khen và diễn tả niềm vui trong đời sống mới của Đức Kitô.

Đức Lêô XIV đã mở rộng hình ảnh đầy thi vị ấy sang hành trình của Giáo hội: như những lữ khách mệt mỏi, các tín hữu vừa đi vừa hát, nếm trước niềm vui của cuộc gặp gỡ cuối cùng với Thiên Chúa. “Hãy hát, nhưng hãy tiếp tục hành trình […], hãy thăng tiến trong đức hạnh” (Bài giảng 256, 3), Thánh Augustinô đã khuyên dạy, và Đức Thánh Cha áp dụng lời dạy này vào đời sống của các ca đoàn: “Là thành viên của ca đoàn nghĩa là cùng nhau tiến bước, nắm lấy tay anh chị em mình, giúp họ cùng bước đi với chúng ta và cùng họ cất lên lời ngợi khen Thiên Chúa, an ủi họ trong những khổ đau, và khích lệ họ khi sự mệt mỏi dường như đánh bại họ”. Động lực này phản ánh một Giáo hội đang lên đường, một “thực tại hiệp hành đích thực” chia sẻ ơn gọi ngợi khen trong cuộc lữ hành của tình yêu và niềm hy vọng.

Đi sâu hơn vào sự hiệp nhất, Đức Thánh Cha hướng về Thánh Inhaxiô thành Antiokia, người đã nhìn thấy trong “tình yêu giao hưởng và hòa hợp” của một ca đoàn chính là tiếng nói của Đức Kitô: “Mỗi người trong anh em cũng hãy trở thành một ca đoàn, để trong sự hòa hợp của sự thuận hòa, anh em có thể nhận lấy cung giọng của Thiên Chúa trong sự hiệp nhất” (Gửi tín hữu Êphêsô, 4). Những giọng hát khác nhau hòa quyện trong một giai điệu duy nhất tượng trưng cho Giáo hội, nơi liên kết tất cả mọi người trong tình yêu, dệt nên một “giai điệu du dương” của sự thuận hòa. Các ca đoàn phụng vụ, hoạt động chủ yếu trong cử hành Thánh Thể, đòi hỏi sự chuẩn bị, lòng trung thành và một đời sống thiêng liêng sâu sắc: “Nếu anh chị em cầu nguyện bằng tiếng hát, hãy giúp mọi người cùng cầu nguyện”. Họ cần có tính kỷ luật và tinh thần phục vụ, đặc biệt trong các phụng vụ trọng thể, nhưng luôn luôn trong sự hiệp thông với cộng đoàn, tránh sự phô trương loại trừ sự tham gia tích cực của cộng đoàn.

Như trong bất kỳ gia đình nào — và ca đoàn là một “gia đình nhỏ” được liên kết bởi tình yêu âm nhạc — những căng thẳng và mệt mỏi sẽ nảy sinh, nhưng Đức Thánh Cha xem đó là sự phản chiếu hành trình lịch sử của Giáo hội, đầy dẫy những thử thách và niềm vui đan xen. Ca hát làm cho hành trình này nhẹ nhàng hơn, đem lại sự an ủi và nhiệt huyết. “Vì thế, hãy cam kết biến các ca đoàn của anh chị em ngày càng trở thành một tuyệt phẩm của sự hòa hợp và vẻ đẹp; hãy ngày càng trở nên hình ảnh rạng rỡ của Giáo hội đang ca tụng Chúa,” Đức Lêô XIV thúc giục, đồng thời nhắc lại Huấn quyền của Công đồng để hướng dẫn sự phục vụ của họ. Ngài nói thêm, hãy tỉnh thức, để đời sống thiêng liêng của anh chị em thực sự nâng cao ân sủng phụng vụ, lôi cuốn Dân Chúa tham dự mà không rơi vào thái độ tinh hoa.

Kết thúc bài giảng, Đức Thánh Cha phó thác các ca viên cho Thánh nữ Cêcilia, vị trinh nữ và tử đạo của Roma mà “bài ca tình yêu” của ngài chính là sự hiến dâng trọn vẹn cho Đức Kitô, mang lại cho Giáo hội một chứng tá sáng ngời về đức tin và tình yêu. “Chúng ta hãy tiếp tục cất tiếng hát và một lần nữa hãy lấy lời mời gọi của thánh vịnh làm của riêng mình: ‘Ta vui sướng trẩy lên đền thánh Chúa’,” ngài kết luận, khép lại một buổi cử hành vang vọng như một bài thánh ca ngợi khen lòng thương xót của Vua Vũ trụ.

Toàn văn bài giảng:



NĂM THÁNH CÁC CA ĐOÀN
THÁNH LỄ
BÀI GIẢNG CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV

Quảng trường Thánh Phêrô
Lễ trọng Chúa Giêsu Kitô, Vua Vũ trụ
Chúa nhật, ngày 23 tháng 11 năm 2025

_______________________________________


Anh chị em thân mến,

Trong Thánh vịnh đáp ca, chúng ta đã hát: “Ta vui sướng trẩy lên đền thánh Chúa” (x. Tv 122). Phụng vụ hôm nay mời gọi chúng ta cùng nhau tiến bước trong lời ngợi khen và niềm vui hướng về cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu Kitô, Vua Vũ trụ, vị Quân vương hiền lành và khiêm nhường, Đấng là khởi nguyên và cùng đích của mọi sự. Quyền năng của Người là tình yêu, ngai tòa của Người là Thập giá, và qua Thập giá, Vương quốc của Người rạng ngời trên thế giới. “Từ trên cây gỗ, Người trị vì” (x. Thánh thi Vexilla Regis) như là Thái tử Hòa bình và Vua Công lý, Đấng đã mạc khải cho thế giới lòng thương xót bao la của trái tim Thiên Chúa trong cuộc Khổ nạn. Tình yêu này cũng chính là nguồn cảm hứng và động lực cho tiếng hát của anh chị em.

Anh chị em ca viên và nhạc sĩ thân mến, hôm nay anh chị em cử hành năm thánh của mình và dâng lời tạ ơn Chúa vì đã ban cho anh chị em hồng ân và ân sủng để phục vụ Người bằng cách dâng hiến lời ca tiếng hát và tài năng để tôn vinh Thiên Chúa và nâng cao tâm hồn anh chị em mình (x. Hiến chế về Phụng vụ Thánh Sacrosanctum Concilium, 120). Công việc của anh chị em là lôi cuốn người khác vào việc ngợi khen Thiên Chúa và giúp họ tham dự trọn vẹn hơn vào phụng vụ qua tiếng hát. Hôm nay, anh chị em diễn tả trọn vẹn “iubilum”, là niềm hoan hỷ của mình, tuôn trào từ những con tim tràn ngập niềm vui của ân sủng.

Các nền văn minh vĩ đại đã trao tặng chúng ta món quà âm nhạc để diễn tả những gì chúng ta mang sâu trong tâm khảm, mà ngôn từ không phải lúc nào cũng diễn đạt được. Âm nhạc có thể diễn tả mọi cung bậc cảm xúc và tâm tình nảy sinh trong chúng ta từ mối tương quan sống động với thực tại. Đặc biệt, ca hát là một cách diễn tả tự nhiên và tinh tế của con người: tâm trí, cảm xúc, thân xác và linh hồn cùng hòa quyện để truyền đạt những biến cố trọng đại của cuộc sống. Như Thánh Augustinô nhắc nhở chúng ta: “Cantare amantis est” (x. Bài giảng 336,1), nghĩa là, “ca hát là thuộc về người đang yêu”. Những ai hát không chỉ diễn tả tình yêu, mà còn cả nỗi đau, sự dịu dàng và ước vọng ngự trị trong tâm hồn họ, đồng thời yêu thương những người mà họ gửi gắm bài ca (x. Enarrationes in Psalmos, 72,1).

Đối với Dân Chúa, bài ca diễn tả lời cầu khẩn và ngợi khen. Đó là “bài ca mới” mà Đức Kitô Phục sinh dâng lên Chúa Cha, trong đó tất cả những người đã chịu phép rửa tham dự như một thân thể duy nhất được tác sinh bởi sự sống mới của Thần Khí. Trong Đức Kitô, chúng ta trở thành những người hát lên ân sủng, những người con của Giáo hội tìm thấy nơi Đấng Phục sinh nguồn mạch cho lời ngợi khen của mình. Do đó, nhạc phụng vụ trở thành một khí cụ quý giá mà qua đó chúng ta thực hiện việc phục vụ ngợi khen Thiên Chúa và diễn tả niềm vui của đời sống mới trong Đức Kitô.

Thánh Augustinô một lần nữa khuyên dạy chúng ta vừa hát vừa bước đi, như những lữ khách rã rời tìm thấy trong bài ca hương vị được nếm trải trước của niềm vui mà họ sẽ trải nghiệm khi đến đích. “Hãy hát, nhưng hãy tiếp tục hành trình [...] hãy thăng tiến trong đức hạnh” (Bài giảng 256, 3). Là thành viên của ca đoàn nghĩa là cùng nhau tiến bước, nắm lấy tay anh chị em mình và giúp họ cùng bước đi với chúng ta. Nghĩa là cùng nhau hát lên lời ngợi khen Thiên Chúa, an ủi anh chị em trong cơn đau khổ, khích lệ họ khi họ dường như muốn bỏ cuộc vì mệt mỏi và động viên họ khi những khó khăn dường như lấn át họ. Tiếng hát nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta là một Giáo hội lữ hành, một thực tại hiệp hành đích thực có khả năng chia sẻ với mọi người ơn gọi ngợi khen và niềm vui trên cuộc hành hương của tình yêu và niềm hy vọng này.

Thánh Inhaxiô thành Antiokia cũng dùng những lời lẽ cảm động để diễn tả mối tương quan giữa tiếng hát của ca đoàn và sự hiệp nhất của Giáo hội: “Từ sự hiệp nhất và tình yêu hòa hợp của anh em, hãy hát lên mừng Chúa Giêsu Kitô. Và mỗi người trong anh em hãy trở thành một ca đoàn, sao cho khi đã hài hòa trong bản hòa âm của mình và khi cùng nhau cất lên bài ca của Thiên Chúa, anh em có thể cất lên một tiếng hát dâng lên Chúa Cha qua Đức Giêsu Kitô, để Người nghe thấy anh em và nhận ra anh em qua những việc lành” (Thánh Inhaxiô thành Antiokia, Ad Ephesios, IV). Thật vậy, những giọng hát đa dạng của một ca đoàn hòa quyện với nhau, viết nên một bài ca ngợi khen duy nhất, là biểu tượng sáng ngời của Giáo hội, nơi hiệp nhất mọi người trong tình yêu thành một giai điệu du dương.

Anh chị em thuộc về những ca đoàn thực thi thừa tác vụ chủ yếu trong bối cảnh phụng vụ. Thừa tác vụ của anh chị em là một thừa tác vụ đích thực đòi hỏi sự chuẩn bị, cam kết, sự hiểu biết lẫn nhau và trên hết là một đời sống thiêng liêng sâu sắc, để khi anh chị em hát, anh chị em cầu nguyện và đồng thời giúp mọi người cùng cầu nguyện. Thừa tác vụ này đòi hỏi tính kỷ luật và tinh thần phục vụ, đặc biệt khi chuẩn bị cho phụng vụ trọng thể hay một sự kiện quan trọng trong cộng đoàn của anh chị em. Ca đoàn là một gia đình nhỏ gồm những cá nhân được hiệp nhất bởi tình yêu âm nhạc và sự phục vụ mà họ dâng hiến. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng cộng đoàn mới là gia đình lớn của anh chị em. Anh chị em không đứng trên sân khấu, mà là một phần của cộng đoàn đó, nỗ lực giúp cộng đoàn lớn lên trong sự hiệp nhất bằng việc truyền cảm hứng và lôi cuốn các thành viên. Như trong mọi gia đình, những căng thẳng hay hiểu lầm nhỏ có thể nảy sinh. Những điều này là bình thường khi cùng nhau làm việc và phấn đấu đạt đến một mục tiêu. Chúng ta có thể nói ở một mức độ nào đó rằng ca đoàn là biểu tượng của Giáo hội, đang nỗ lực tiến tới mục tiêu, bước đi xuyên suốt lịch sử để ngợi khen Thiên Chúa. Ngay cả khi hành trình này đầy dẫy khó khăn và thử thách, và những khoảnh khắc vui tươi nhường chỗ cho những lúc chông gai hơn, thì việc ca hát làm cho hành trình nhẹ nhàng hơn, mang lại sự xoa dịu và an ủi.

Vì vậy, hãy nỗ lực làm cho các ca đoàn của anh chị em ngày càng hài hòa và tươi đẹp, và trở thành một hình ảnh rạng rỡ hơn của Giáo hội đang ngợi khen Chúa. Hãy học hỏi kỹ lưỡng Giáo huấn của Giáo Hội. Các văn kiện công đồng đề ra những quy tắc để anh chị em thi hành việc phục vụ cách tốt đẹp nhất. Trên hết, hãy nhiệt tâm thúc đẩy sự tham gia của Dân Chúa, không nhượng bộ trước cám dỗ muốn phô trương là điều ngăn cản toàn thể cộng đoàn phụng vụ tham gia tích cực vào lời ca tiếng hát. Trong việc này, hãy là một dấu chỉ hùng hồn cho lời cầu nguyện của Giáo hội, diễn tả tình yêu của Giáo hội dành cho Thiên Chúa qua vẻ đẹp của âm nhạc. Hãy chăm lo để đời sống thiêng liêng của anh chị em luôn xứng hợp với việc phục vụ mà anh chị em thực hiện, để thừa tác vụ của anh chị em có thể diễn tả ân sủng của phụng vụ một cách đích thực.

Tôi phó thác tất cả anh chị em dưới sự che chở của Thánh Cêcilia, trinh nữ và tử đạo đã cất lên bài ca tình yêu đẹp nhất qua cuộc đời của ngài tại Rôma này, hiến dâng trọn vẹn cho Đức Kitô, và dâng cho Giáo hội một tấm gương sáng ngời về đức tin và tình yêu. Chúng ta hãy tiếp tục hát lên và một lần nữa hãy lấy lời mời gọi của thánh vịnh làm của riêng mình: “Ta vui sướng trẩy lên đền thánh Chúa.”


[Nguồn: exaudi]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 24/11/2025]


Thứ Năm, 20 tháng 11, 2025

Thánh Lễ Năm Thánh của Người Nghèo: Đức Giáo hoàng Lêô XIV: “Ta đã yêu thương con,” sứ điệp hy vọng và công lý

Đức Giáo hoàng Lêô XIV: “Ta đã yêu thương con,” sứ điệp hy vọng và công lý

Thánh Lễ Năm Thánh của Người Nghèo

Thánh Lễ Năm Thánh của Người Nghèo: Đức Giáo hoàng Lêô XIV: “Ta đã yêu thương con,” sứ điệp hy vọng và công lý

*******

Trong Chúa nhật thứ 33 Mùa Thường niên, trùng với Ngày Thế giới Người Nghèo lần thứ IX, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã chủ sự Thánh Lễ tại Vương cung thánh đường Thánh Phêrô nhân dịp Năm Thánh của Người Nghèo. Trước hàng ngàn tín hữu, trong đó có rất đông người nghèo, người di cư và thiện nguyện viên, Đức Thánh Cha công bố bài giảng tập trung vào niềm hy vọng cánh chung, sự gần gũi của Thiên Chúa với những người khiêm nhường, và lời mời gọi về một Giáo hội trở nên “mẹ của người nghèo” trong một thế giới bị ghi dấu bởi chiến tranh, cô đơn và bất bình đẳng.

Đức Giáo hoàng bắt đầu bài suy niệm bằng việc nhắc lại các bài đọc Phụng vụ, trong đó mời gọi chúng ta chiêm ngắm “Ngày của Chúa” như một thời điểm của công lý, khi niềm hy vọng của người nghèo nhận được câu trả lời dứt khoát. Ngài khẳng định: “Mặt trời công chính đang mọc lên chính là Chúa Giêsu,” nhấn mạnh rằng Nước Thiên Chúa được khai mở giữa những biến cố bi thảm của lịch sử, những điều không nhằm làm cho người môn đệ sợ hãi, mà ngược lại khơi dậy nơi họ lòng kiên trì.

Trong bối cảnh bắt bớ và áp bức trên toàn cầu, Đức Lêô XIV nhấn mạnh sự trung tín của Thiên Chúa: “Dù một sợi tóc trên đầu họ cũng không bị mất đi.” Ngài làm nổi bật truyền thống Kinh Thánh về một Thiên Chúa bảo vệ trẻ mồ côi, người ngoại kiều và quả phụ, đỉnh cao là nơi Chúa Giêsu, Đấng loan báo “năm hồng ân của Chúa.” Ngài trực tiếp nói với người nghèo: “Dilexi te – Ta đã yêu thương con,” trích dẫn Tông huấn cùng tên của mình, và kêu gọi Giáo hội trở thành một nơi chào đón và công bằng.

Đức Thánh Cha lên án tình trạng nghèo đói về vật chất, đạo đức và tinh thần đang đè nặng trên thế giới, đặc biệt là nơi người trẻ, và chỉ ra sự cô đơn là một bi kịch lan rộng. Ngài đề xuất một “văn hóa quan tâm” để phá vỡ các bức tường của sự thờ ơ, từ gia đình đến thế giới kỹ thuật số và những vùng ngoại vi của xã hội. Đứng trước chiến tranh, ngài không chấp nhận tình trạng “toàn cầu hóa sự bất lực” và kêu gọi các Kitô hữu hãy là một dấu chỉ sống động của ơn cứu độ.

Ngỏ lời với các nguyên thủ quốc gia và các nhà lãnh đạo chính trị, ngài thúc giục họ lắng nghe tiếng kêu của người nghèo để đạt được hòa bình qua công lý, đồng thời phê phán chuyện hoang đường về sự tiến bộ mang tính loại trừ. Ngài cảm ơn các thiện nguyện viên và những người hoạt động bác ái, nhắc họ rằng người nghèo “chính là xác thịt của Đức Kitô.” Trích lời Thánh Phaolô, ngài cảnh báo chống lại sự khép kín tôn giáo và mời gọi biến đổi xã hội thành một xã hội huynh đệ.

Lấy cảm hứng từ các thánh như Thánh Bênêđictô Giuse Labre, vị thánh được đề nghị là bổn mạng của người vô gia cư, và Kinh Magnificat của Đức Trinh Nữ Maria, ngài kết luận bằng việc khẩn xin một luận lý mới của Nước Trời: tình yêu biết chào đón, tha thứ và chữa lành.

Buổi cử hành, được phong phú nhờ các phương tiện truyền thông và những chứng ngôn, tái khẳng định cam kết Năm Thánh của Giáo hội đối với những người dễ bị tổn thương nhất trong Năm Thánh này.

*******

NGÀY THẾ GIỚI NGƯỜI NGHÈO LẦN THỨ IX

NĂM THÁNH CỦA NGƯỜI NGHÈO

THÁNH LỄ

BÀI GIẢNG CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV

Vương cung thánh đường Thánh Phêrô

Chúa nhật thứ 33 Mùa Thường niên, ngày 16 tháng 11 năm 2025

________________________________________________


Anh chị em thân mến,

Những Chúa nhật cuối cùng của năm Phụng vụ mời gọi chúng ta hướng nhìn về cùng đích của lịch sử. Trong bài đọc thứ nhất, ngôn sứ Malakhi nhìn thấy sự xuất hiện của “Ngày của Chúa” như là khởi đầu một thời đại mới. Ngày đó được mô tả là thời điểm của Thiên Chúa, khi, tựa như hừng đông mang đến mặt trời công chính, niềm hy vọng của người nghèo và người khiêm nhu sẽ nhận được câu trả lời cuối cùng và dứt khoát của Chúa, và việc làm của kẻ gian ác cùng sự bất công của chúng, đặc biệt những bất công chống lại người cô thế và người nghèo, sẽ bị tiêu diệt và thiêu rụi như rơm rạ.

Mặt trời công chính đang mọc lên ấy, như chúng ta biết, chính là Chúa Giêsu. Thật vậy, Ngày của Chúa không chỉ là ngày chung cuộc của lịch sử; đó là Nước Thiên Chúa đến gần với mỗi người nơi Con Thiên Chúa đến trần gian. Trong Tin Mừng, qua việc sử dụng ngôn ngữ khải huyền điển hình của thời đại Người, Chúa Giêsu công bố và khai mở Nước ấy. Chính Người là quyền năng của Thiên Chúa, Đấng hiện diện và hành động trong các biến cố bi thương của lịch sử. Những biến cố này không nhằm làm các môn đệ khiếp sợ, mà phải giúp họ kiên vững trong chứng tá, vì họ biết rằng lời hứa của Chúa Giêsu luôn sống động và trung tín: “Dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu” (Lc 21:18).

Anh chị em thân mến, chúng ta được neo giữ trong niềm hy vọng này, bất chấp những biến cố bất hạnh đôi khi xảy ra trong cuộc sống. Ngay cả ngày nay, “Giáo hội, ‘như người lữ hành trong xứ lạ, tiến bước giữa những bắt bớ của thế gian và sự an ủi của Thiên Chúa,’ rao giảng thập giá và cái chết của Chúa cho đến khi Người lại đến” (Hiến chế Tín lý về Giáo hội Lumen Gentium, 8). Và khi mọi hy vọng nhân loại dường như tắt lịm, sự chắc chắn này, kiên định hơn cả trời đất, lại trở nên mạnh mẽ hơn, bởi vì Chúa sẽ không để mất dù chỉ một sợi tóc trên đầu chúng ta.

Thánh Lễ Năm Thánh của Người Nghèo: Đức Giáo hoàng Lêô XIV: “Ta đã yêu thương con,” sứ điệp hy vọng và công lý

Giữa cơn bách hại, khổ đau, đấu tranh và áp bức trong đời sống cá nhân và xã hội, Thiên Chúa không bỏ rơi chúng ta. Người tỏ lộ mình là Đấng đứng về phía chúng ta. Kinh Thánh được dệt nên bằng sợi chỉ vàng này, kể lại câu chuyện về Thiên Chúa, Đấng luôn đứng về phía những người bé mọn, trẻ mồ côi, người ngoại kiều và quả phụ (x. Đnl 10:17-19). Và nơi Chúa Giêsu, Con của Ngài, sự gần gũi của Thiên Chúa đạt đến tột đỉnh của tình yêu. Vì thế, sự hiện diện và lời của Đức Kitô trở thành niềm vui và niềm hân hoan cho những người nghèo nhất, vì Người đến để loan báo tin mừng cho người nghèo và công bố năm hồng ân của Chúa (x. Lc 4:18-19).

Chúng ta cũng đang tham dự vào năm ân sủng này một cách đặc biệt hôm nay, khi chúng ta cử hành Năm Thánh của Người Nghèo, trong Ngày Thế giới này. Thưa anh chị em, trong khi toàn thể Giáo hội vui mừng hân hoan, tôi muốn công bố những lời trường tồn của chính Chúa Giêsu: “Dilexi te, Ta đã yêu mến ngươi” (Kh 3:9). Vâng, trước sự nhỏ bé và nghèo khó của chúng ta, Thiên Chúa nhìn đến chúng ta không giống như bất kỳ ai khác và yêu thương chúng ta bằng tình yêu vĩnh cửu. Và Giáo hội của Người, ngay cả hôm nay, có lẽ đặc biệt trong thời đại chúng ta, vẫn còn bị thương tổn bởi những hình thức nghèo đói cũ và mới, hy vọng trở thành “mẹ của người nghèo, một nơi chào đón và công lý” (Tông huấn Dilexi Te, 39).

Quá nhiều hình thức nghèo đói đang đè nặng lên thế giới chúng ta! Trước hết là hình thức nghèo đói vật chất, nhưng cũng có nhiều tình trạng nghèo về đạo đức và tinh thần, vốn thường ảnh hưởng cách đặc biệt đến giới trẻ. Thảm kịch xuyên suốt tất cả những hình thức đó là sự cô đơn. Nó thách thức chúng ta nhìn đến tình trạng nghèo khó một cách toàn diện, vì trong khi chắc chắn là cần phải đáp ứng các nhu cầu cấp bách, thì chúng ta cũng phải phát triển một văn hóa quan tâm, chính là để phá vỡ những bức tường cô đơn. Vậy nên, chúng ta hãy biết quan tâm đến người khác, đến mỗi người, ở bất cứ nơi nào chúng ta đến, ở bất cứ nơi nào chúng ta sống, truyền tải thái độ này trong gia đình, sống thái độ đó trong môi trường làm việc và học thuật, trong các cộng đồng khác nhau, trong thế giới kỹ thuật số, ở khắp mọi nơi, vươn tới những người bị gạt ra ngoài lề và trở thành nhân chứng cho sự dịu dàng của Thiên Chúa.

Ngày nay, những viễn cảnh chiến tranh, đáng buồn là đang hiện diện ở nhiều nơi trên thế giới, dường như khẳng định rằng chúng ta đang ở trong tình trạng bất lực. Tuy nhiên, toàn cầu hóa sự bất lực phát sinh từ một lời dối trá, từ việc tin rằng lịch sử luôn là như thế và không thể thay đổi. Ngược lại, Tin Mừng nhắc nhở chúng ta rằng chính trong những biến động của lịch sử mà Chúa đến để cứu độ chúng ta. Và hôm nay, với tư cách là một cộng đoàn Kitô hữu, cùng với người nghèo, chúng ta phải trở thành một dấu chỉ sống động của ơn cứu độ này.

Tình trạng nghèo đói thách đố người Kitô hữu, nhưng nó cũng thách thức tất cả những người đang giữ các vị trí trọng trách trong xã hội. Tôi thúc giục các vị Nguyên thủ Quốc gia và các nhà lãnh đạo các dân tộc lắng nghe tiếng kêu của những người nghèo nhất. Không thể có hòa bình nếu không có công lý, và người nghèo nhắc chúng ta nhớ điều này theo nhiều cách, qua việc di cư cũng như tiếng kêu của họ, vốn thường bị bóp nghẹt bởi chuyện hoang đường về sự thịnh vượng và tiến bộ không bao gồm tất cả mọi người, và bỏ quên nhiều cá nhân, bỏ mặc họ cho số phận.

Với tất cả những anh chị em hoạt động bác ái, rất nhiều thiện nguyện viên, và những anh chị em tìm cách xoa dịu hoàn cảnh của những người nghèo nhất, tôi bày tỏ lòng tri ân, đồng thời khuyến khích anh chị em hãy tiếp tục là lương tâm phê phán của xã hội. Anh chị em biết rõ rằng vấn đề của người nghèo đưa chúng ta trở về với bản chất đức tin của chúng ta, vì họ chính là xác thịt của Đức Kitô chứ không chỉ là một phạm trù xã hội học (x. Dilexi Te, 110). Vì thế, “Giáo hội, như một người mẹ, đồng hành cùng những người đang bước đi. Nơi mà thế gian nhìn thấy các mối đe dọa, thì Mẹ Giáo Hội nhìn thấy những đứa con; nơi các bức tường được dựng lên, Mẹ Giáo hội xây những nhịp cầu” (ibid., 75).

Tất cả chúng ta hãy cùng nhau dấn thân vào cam kết này. Như Thánh Tông đồ Phaolô viết cho các Kitô hữu Thêxalônica (x. 2 Tx 3:6-13): trong khi chờ đợi sự trở lại trong vinh quang của Chúa, chúng ta không được sống một cuộc đời khép kín, trong sự cô lập tôn giáo tách chúng ta khỏi tha nhân và khỏi lịch sử. Trái lại, việc tìm kiếm Nước Thiên Chúa bao hàm ước muốn biến đổi sự chung sống của nhân loại thành một không gian của tình huynh đệ và phẩm giá cho tất cả mọi người, không trừ ai. Luôn có nguy cơ là sống như những người lãng du lơ đãng, không quan tâm đến cùng đích, và không màng đến những người cùng chia sẻ hành trình với chúng ta.

Trong Năm Thánh của Người Nghèo này, chúng ta hãy để mình được gợi hứng bởi chứng tá của các thánh đã phục vụ Đức Kitô nơi những người túng thiếu nhất và đi theo Người trên con đường khiêm nhường và từ bỏ chính mình. Đặc biệt, tôi muốn nhắc đến Thánh Bênêđictô Giuse Labre, người với cuộc đời như “kẻ lang thang của Thiên Chúa” khiến ngài được xem là thánh bổn mạng của những người vô gia cư. Đức Trinh Nữ Maria, qua bài ca Ngợi khen Magnificat của Mẹ, tiếp tục nhắc nhở chúng ta về những lựa chọn của Thiên Chúa và đã trở thành tiếng nói của những người không có tiếng nói. Xin Mẹ Maria giúp chúng ta đón nhận lối tư duy mới của Nước Thiên Chúa, để trong đời sống Kitô hữu của chúng ta, tình yêu của Thiên Chúa, là tình yêu chào đón, băng bó vết thương, tha thứ, an ủi và chữa lành, sẽ luôn hiện diện.


[Nguồn: exaudi]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 17/11/2025]