Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiên Cứu - Lịch Sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiên Cứu - Lịch Sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2026

Vị giám mục hàng đầu châu Âu nói với Crux Now: sự sợ hãi người nhập cư cho thấy cuộc khủng hoảng bản sắc của châu Âu

Vị giám mục hàng đầu châu Âu nói với Crux Now: sự sợ hãi người nhập cư cho thấy cuộc khủng hoảng bản sắc của châu Âu

Fionn Shiner
Ngày 10 tháng 9 năm 2026

Vị giám mục hàng đầu châu Âu nói với Crux Now: sự sợ hãi người nhập cư cho thấy cuộc khủng hoảng bản sắc của châu Âu


Chủ tịch các Hội đồng Giám mục Liên minh châu Âu (EU) cho biết sự gia tăng nỗi sợ hãi và thái độ thù địch đối với người nhập cư là dấu hiệu cho thấy châu Âu đã đánh mất ý thức về những giá trị mà mình đại diện.

Trong bối cảnh việc trợ tử đang lan rộng trên khắp châu lục và niềm tin vào Thiên Chúa tiếp tục giảm sút, Đức cha Mariano Crociata, Giám mục giáo phận Latina-Terracina-Sezze-Priverno của Ý, Chủ tịch Ủy ban các Hội đồng Giám mục Liên minh châu Âu (COMECE), đã trao đổi với Crux Now trong một cuộc phỏng vấn đề cập đến nhiều vấn đề.

Ngài cho rằng châu Âu đang đứng trước nguy cơ đánh mất các giá trị của mình, không phải do di dân, mà do chính các công dân của lục địa này.

Ngài nói, “Những người thuộc các nền văn hóa và tôn giáo khác nhau cần được đón nhận và hội nhập vào một môi trường và bối cảnh xã hội, nơi họ có thể học cách sống chung trong sự tôn trọng lẫn nhau."

Đức cha Crociata nói thêm: “Tuy nhiên, nếu chính chúng ta không biết mình là ai, bỏ qua căn tính của mình và không bảo vệ những gì thực sự quan trọng cũng như những gì mang lại ý nghĩa cho đời sống công dân chung của chúng ta, thì chẳng cần người khác phải lấy đi những giá trị làm nền tảng của chúng ta, bởi chính chúng ta sẽ tự từ bỏ chúng.”

Đức cha Crociata nhấn mạnh các giá trị cốt lõi của châu Âu cần được bảo vệ bao gồm “ý thức về nhân phẩm của mỗi con người” vốn tạo nên “nền tảng của sự chung sống văn minh”, cùng với “tự do, bình đẳng và liên đới, cũng như dân chủ và pháp quyền.”

Ngài nói ngài tin tưởng rằng “những thay đổi sâu xa và mang tính quyết định nhất đang diễn ra trong các xã hội phương Tây của chúng ta không phải là do sự hiện diện của những người nhập cư và người nước ngoài mang đến.”

Thay vào đó, Đức cha Crociata lập luận rằng “điều sẽ định hình cách sâu sắc nhất các xã hội của chúng ta là cách thức chính chúng ta đã chọn và vẫn tiếp tục chọn lối sống của mình, cách chúng ta chung sống với nhau và tương lai mà chúng ta mong muốn xây dựng.”

“Nỗi sợ người khác là dấu hiệu của sự yếu đuối nơi chính chúng ta,” ngài nói.

Đức cha Crociata nói với Crux Now sau khi các quy định mới của EU về người di cư được thông qua trong mùa hè, trong đó có việc kéo dài thời gian tạm giữ di dân và đẩy nhanh tiến trình trục xuất.

Khi đó, Đức cha Crociata đã chỉ trích luật này và nhắc lại mối quan ngại của ngài về “cách thức những di dân và người tị nạn có thể bị đối xử, việc thiếu tôn trọng phẩm giá của họ khi đến nơi, cũng như những trường hợp đẩy trả và di chuyển mang tính chất trục xuất.

“Chúng tôi đã nói điều này nhiều lần trong suốt những năm qua, nhưng chúng tôi sẽ không bao giờ mệt mỏi phải nhắc lại: chúng ta đang nói về con người, chứ không phải những con số,” ngài nói, đồng thời thêm rằng “cần có sự phân định và đánh giá cẩn trọng về hoàn cảnh của những người đến.”

Dưới đây là toàn văn cuộc phỏng vấn của Crux Now với Đức cha Mariano Crociata…


Crux Now: Trong tuyên bố của Đức cha sau khi các quy định mới của EU được công bố, Đức cha nói về việc tôn trọng các giá trị nền tảng của châu Âu. Đó là những giá trị nào? Tại sao chúng quan trọng?

ĐGM Mariano Crociata: Các giá trị nền tảng của Liên minh châu Âu sở dĩ mang tính chất như vậy không chỉ vì chúng đã được tuyên bố và chia sẻ bởi thế hệ đã khai sinh ra Cộng đồng châu Âu, mà còn vì chúng được công nhận và hệ thống hóa thành luật trong các văn kiện được thông qua và phê chuẩn bởi các quốc gia thành viên EU ngày nay, cụ thể là Hiệp ước về Liên minh Châu Âu và Hiến chương về các Quyền Cơ bản của Liên minh Châu Âu.

Những giá trị này nói đến phẩm giá con người, tự do, bình đẳng và liên đới, cũng như nền dân chủ và pháp quyền.

Ý thức về phẩm giá của mỗi con người và sự tôn trọng phẩm giá ấy là nền tảng của sự chung sống văn minh; lãng quên những điều này, hoặc tệ hơn nữa, khinh miệt chúng, chắc chắn sẽ dẫn đến sự suy thoái và tình trạng phi nhân hóa.

Mọi thất bại trong việc tôn trọng một con người khác, sớm hay muộn, sẽ quay trở lại tác động đến chính những người đã thực hiện hành vi ấy.


Đức cha sẽ nói gì với những nhà phê bình cho rằng các giá trị của châu Âu cũng đang bị đe dọa bởi sự gia tăng số những người đến từ các nền văn hóa có thể không chia sẻ chung các giá trị đó?

Trước hết, các giá trị này có thể bị đe dọa bởi chính các công dân. Nếu họ thực sự tin vào những giá trị đó, họ sẽ làm những gì cần thiết để bảo vệ và đảm bảo chúng tiếp tục được gìn giữ cách vững chắc.

Những người có nguồn gốc văn hóa và tôn giáo khác nhau cần được đón nhận và hội nhập vào một môi trường và bối cảnh xã hội, nơi họ có thể học cách sống chung trong sự tôn trọng lẫn nhau.

Tuy nhiên, nếu chính chúng ta không biết mình là ai, bỏ qua căn tính của mình và không bảo vệ những gì thực sự quan trọng cũng như những gì mang lại ý nghĩa cho đời sống công dân chung của chúng ta, thì chẳng cần người khác phải lấy đi những giá trị làm nền tảng của chúng ta, bởi chính chúng ta sẽ tự từ bỏ chúng.

Ngược lại, nếu những giá trị này vẫn bén rễ vững chắc bên trong và giữa chúng ta, thì việc chung sống với những người thuộc các nền văn hóa và tôn giáo khác nhau sẽ chỉ đặt những giá trị ấy vào thử thách, cũng như khả năng đối thoại và sự tôn trọng mà chúng ta có thể thiết lập với mọi người và dành cho mọi người.


Cụ thể điều gì trong các quy định mới của EU khiến Đức cha lo ngại?

Điều đáng quan ngại là cách thức những di dân và người tị nạn có thể bị đối xử, việc thiếu tôn trọng phẩm giá của họ khi đến nơi, cũng như những trường hợp đẩy trả và di chuyển mang tính chất trục xuất.

Chúng tôi đã nói điều này nhiều lần trong suốt những năm qua, nhưng chúng tôi sẽ không bao giờ mệt mỏi khi nhắc lại: chúng ta đang nói về con người, chứ không phải những con số.

Chắc chắn cần có sự phân định và đánh giá cẩn trọng về hoàn cảnh của những người đến. Cũng đúng là không thể tổ chức việc tiếp nhận nếu không có các tiêu chí, cũng như không tính đến khả năng và điều kiện của các quốc gia tiếp nhận. Đó chính là lý do tại sao điều đang được đặt ra là khả năng của chúng ta trong việc quản lý vấn đề di cư một cách tổng thể.

Sự chần chừ, bất an và sợ hãi vốn là đặc trưng trong chính sách của các quốc gia chúng ta đối với người di dân cuối cùng đã quay ngược chống lại chính chúng ta, bởi vì chúng ta đã tự tước đi cơ hội phát triển một phương cách tiếp cận có tính phối hợp, xuyên quốc gia, đủ khả năng ngăn chặn dòng người ồ ạt và hỗn loạn, đã và đang bị những kẻ buôn người vô lương tâm lợi dụng.

Chúng ta phải bắt đầu từ tiền đề rằng chúng ta cần phải đối diện với hiện tượng mang tính thời đại này. Ý tưởng cho rằng chúng ta có thể đơn giản ngăn chặn nó bằng cách đóng cửa các biên giới là một ảo tưởng, chỉ dẫn đến việc lãng phí thời gian và nguồn lực.

Các quốc gia xuất xứ cũng phải gánh vác những nghĩa vụ đối với chính công dân của họ, những người đang chạy trốn khỏi các hoàn cảnh không phù hợp với phẩm giá con người của họ.

Và những quốc gia quá cảnh cũng phải tránh việc công cụ hóa người di cư và những tình huống vi phạm các quyền cơ bản nhất của họ.


Giáo hội công nhận cả quyền di cư lẫn quyền của các quốc gia trong việc quản lý biên giới của họ. Nếu hai quyền này xung đột, các chính phủ nên cân nhắc hài hòa những quyền ấy như thế nào?

Trước hết, tôi muốn nhấn mạnh rằng quyền đầu tiên của mỗi người là được sống trong phẩm giá và an toàn tại chính quê hương của mình. Khi điều này không xảy ra, con người có quyền tìm kiếm những nơi mà họ có thể có được cả hai điều đó.

Từ xưa đến nay, và ngày nay còn hơn thế nữa, sự dịch chuyển luôn là một đặc tính của thân phận con người.

Trong thời đại khi con người vượt qua mọi ranh giới có thể có, không chỉ trong tâm trí mà còn thông qua truyền thông dưới mọi hình thức vô hạn của nó, mỗi quốc gia hoặc nhóm quốc gia có thể thực thi quyền quản lý biên giới của họ không chỉ bằng việc thi hành luật pháp hiện hành, mà còn bằng cách xác lập các thỏa thuận và thiết lập quan hệ với những quốc gia nơi người di cư xuất phát hoặc với các quốc gia quá cảnh.

Chẳng hạn, một thực hành tốt là thiết lập những con đường đến nơi an toàn và hợp pháp. Bằng cách này, sự tôn trọng con người có thể được dung hòa với sự tôn trọng biên giới cũng như việc duy trì trật tự và sự gắn kết xã hội.

Tính hợp pháp và đối thoại thể chế phải không ngừng tìm kiếm và xác định điểm cân bằng giữa hai loại quyền này.


Sau cuộc khủng hoảng Ceuta, các giám mục Tây Ban Nha cảnh báo rằng người di cư có thể bị sử dụng như những quân cờ trong trò chơi địa chính trị rộng lớn hơn. Các chính phủ châu Âu nên ứng phó với điều này như thế nào?

Điểm then chốt được làm nổi bật bởi tình huống này chính là việc sử dụng con người, đối xử với họ như những công cụ và thậm chí đặt sự sống còn của họ vào tình trạng nguy hiểm vì những mục đích chính trị hoặc chiến lược.

Khi điều này thực sự xảy ra, đánh giá về mặt đạo đức chỉ có thể là bác bỏ và lên án.

Chúng ta phải dứt khoát về điểm này. Điều đang bị đe dọa ngày nay chính là sự hiểu biết về mặt luân lý của những nguyên tắc căn bản làm nền tảng cho đời sống chung của chúng ta, thậm chí từ trước khi Liên minh châu Âu được thành lập.

Không bao giờ có thể giản lược một con người thành một phương tiện hay một vật thể để sử dụng cho những mục đích khác.

Mức độ căng thẳng và hỗn loạn về chính trị và quân sự mà chúng ta đang chứng kiến ngày nay khiến chúng ta có nguy cơ nhắm mắt làm ngơ trước những hành vi không thể chấp nhận được, hoặc thậm chí rơi vào cám dỗ biện minh cho điều không thể biện minh.


Đức Giáo hoàng Phanxicô thường nói về “văn hóa vứt bỏ” góp phần tạo nên thái độ thờ ơ trước hoàn cảnh khốn cùng của người nhập cư. Giáo hội có thể giúp chuyển biến một văn hóa từ não trạng này sang một văn hóa nhìn nhận phẩm giá vốn có của mỗi con người như thế nào?

Trong lĩnh vực này, tôi tin rằng Giáo hội đã và đang làm nhiều điều từ những góc độ khác nhau.

Khó khăn nằm ở chính lối tư duy không xuất phát từ các tác nhân văn hóa cụ thể, mà đúng hơn là từ một lối sống lan rộng cách tự phát, thông qua một dạng vận động xã hội mang tính phân tử.

Chúng ta phải tiếp tục đóng góp phần của mình, với sự tin tưởng và quyết tâm, đồng thời bảo đảm rằng những não trạng và thực hành hợp thức hóa việc loại trừ và vứt bỏ con người một cách bất công không bén rễ giữa chúng ta, với tư cách là những người tín hữu và trong các cộng đoàn giáo hội của chúng ta.


Dường như nỗi sợ hãi về vấn đề di cư là một yếu tố then chốt đứng sau sự phát triển của nhiều phong trào dân túy mới ở châu Âu. Đức Cha sẽ nói gì với một người cho biết họ cảm thấy sợ hãi trước sự thay đổi nhanh chóng mà tình trạng di cư đã mang đến cho cộng đồng địa phương của họ?

Tôi tin rằng những biến chuyển sâu sắc và mang tính quyết định nhất đang diễn ra trong các xã hội phương Tây của chúng ta không phải do sự hiện diện của người nhập cư và người nước ngoài mang đến.

Chắc chắn họ sẽ có tác động trong thời gian dài, nhưng điều sẽ định hình sâu sắc nhất các xã hội của chúng ta là cách thức chính chúng ta đã chọn và vẫn đang tiếp tục chọn là lối sống của mình, cách chúng ta chung sống với nhau và tương lai mà chúng ta mong muốn xây dựng.

Nỗi sợ người khác là dấu hiệu của sự yếu đuối nơi chính chúng ta.

Chúng ta cần hy vọng rằng những biến đổi sâu sắc hiện đang diễn ra, trong đó di cư chỉ là một khía cạnh, sẽ đưa tất cả chúng ta đến một sự suy tư nghiêm túc và một tái khám phá đích thực về điều làm cho cuộc sống của chúng ta và các cộng đồng công dân châu Âu của chúng ta trở nên có giá trị.


[Nguồn: cruxnow]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 11/09/2026]


Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2026

Đức Tổng Giám mục Anh quốc nói với Crux Now: xu hướng thúc đẩy trợ tử xuất phát từ nhu cầu muốn quản lý

Đức Tổng Giám mục Anh quốc nói với Crux Now: xu hướng thúc đẩy trợ tử xuất phát từ nhu cầu muốn quản lý

Fionn Shiner
Ngày 1 tháng 9 năm 2026


Đức Tổng Giám mục Anh quốc nói với Crux Now: xu hướng thúc đẩy trợ tử xuất phát từ nhu cầu muốn quản lý


Vị Tổng Giám mục phụ trách các vấn đề về sự sống tại Anh và xứ Wales cho rằng việc chăm sóc xã hội và chăm sóc giảm nhẹ tốt hơn sẽ góp phần rất lớn giúp con người tìm lại cảm thức về sự sống như một hồng ân, đồng thời chống lại nỗi sợ hãi về việc mất khả năng kiểm soát mà những thử thách ở cuối đời chắc chắn sẽ mang đến.

Đức Tổng Giám mục John Sherrington của Liverpool, Giám mục phụ trách các vấn đề về sự sống thuộc Hội đồng Giám mục Anh và xứ Wales, đưa ra nhận định trên trong cuộc phỏng vấn gồm hai phần về nhiều vấn đề với Crux Now (Phần 1 tại đây).

Ngài nói: “Con người ai cũng sợ chết, ai cũng sợ đau đớn, và thật khó để chấp nhận việc phải sống trong tình trạng khuyết tật nghiêm trọng; vì lý do đó, tôi nghĩ người ta đang biện luận để ủng hộ trợ tử”.

Đức Tổng Giám mục Sherrington nói: “Điều chúng ta cần làm là định hình lại cuộc đối thoại để giúp mọi người hiểu rằng việc sống chung với khuyết tật hoặc trong tình trạng khuyết tật cũng là một phần quan trọng của sự sống – và có lẽ nếu chúng ta có thể cung cấp dịch vụ chăm sóc xã hội và chăm sóc giảm nhẹ tốt hơn, thì nhiều người sẽ lựa chọn điều đó.”

Đức Tổng Giám mục Sherrington nói: “Có nỗi sợ hãi về việc mất khả năng kiểm soát, có nỗi sợ hãi về việc mất sự tự chủ”.

Ngài nói rằng “chính từ ‘tự chủ’ đó đang tạo đà lập luận cho nhiều người, bởi vì chúng ta đang sống trong một bối cảnh mà việc tự mình ra luật cho mình (self-law), làm chủ cuộc đời mình, được coi là điều vô cùng quan trọng.”

Ngài nói thêm: “Việc tự mình làm luật đó, sự tự chủ ấy, được mở rộng đến khả năng tự kết thúc sự sống của mình. Vì vậy, đó là một cách nhìn khác đang định hình việc đưa ra quyết định của nhiều người: tôi làm chủ cuộc đời tôi và vì thế tôi có thể lựa chọn phải làm gì với nó.”

Crux Now đã trao đổi với Đức Tổng Giám mục Sherrington trong bối cảnh một nỗ lực lập pháp mới nhằm hợp pháp hóa trợ tử tại Vương quốc Anh đang tiến tới cuộc bỏ phiếu mang tính quyết định.

Phiên thảo luận lần thứ hai về dự luật Người trưởng thành mắc bệnh giai đoạn cuối (Cuối đời) sẽ diễn ra vào ngày 11 tháng 9 tại Hạ viện, sau khi bà Lauren Edwards, một nghị sĩ thuộc Đảng Lao động, trình lại dự luật vào tháng 6.

Một dự luật gần như tương tự do Nghị sĩ Đảng Lao động Kim Leadbeater trình vượt qua giai đoạn bỏ phiếu cuối cùng tại Hạ viện vào tháng 6 năm 2025, nhưng đã hết thời hạn vào tháng 4 năm nay sau khi có hơn 1.200 khoản sửa đổi được đưa ra tại Thượng viện.

Mặc dù Đức Tổng Giám mục Sherrington đã thể hiện rõ sự phản đối dự luật dựa trên những cơ sở nguyên tắc lẫn thực tiễn, ngài nói với Crux Now rằng điểm tốt trong cuộc tranh luận là vấn đề này đã làm sáng tỏ những câu hỏi nền tảng về bản chất con người.

Ngài nói: “Điểm tốt về cuộc tranh luận này là nó đã làm nổi bật một trong những câu hỏi căn bản nhất về đời sống con người chúng ta, về cái chết và chúng ta sẽ chết như thế nào. Việc chúng ta đang thảo luận về nó lúc này vẫn tốt hơn việc trước đây chúng ta không thảo luận, và có lẽ thậm chí không muốn nói đến nó.”

Dưới đây là phần thứ hai trong cuộc phỏng vấn của Crux Now với Đức Tổng Giám mục John Sherrington của Liverpool, đã được biên tập để bảo đảm tính rõ ràng và độ dài …


Crux Now: Một cuộc thăm dò gần đây cho thấy đa số người được hỏi cho rằng vấn đề trợ tử không nên được đưa ra xem xét lại nếu không có sự thẩm tra đầy đủ của cả hai viện. Tuy nhiên, cũng có những cuộc thăm dò cho thấy sự ủng hộ rộng rãi đối với trợ tử tại Vương quốc Anh. Trước hết, Đức Tổng Giám mục cho rằng kết quả nào phản ánh chính xác hơn? Và thứ hai, cách thức cuộc tranh luận này được tiến hành có khiến công chúng trở nên hoài nghi hơn về vấn đề trợ tử không?

Đức Tổng Giám mục John Sherrington: Con người ai cũng sợ chết, ai cũng sợ đau đớn, và thật khó để chấp nhận việc phải sống trong tình trạng khuyết tật nghiêm trọng; vì lý do đó, tôi nghĩ người ta đang biện luận để ủng hộ trợ tử.

Điều chúng ta cần làm là định hình lại cuộc đối thoại để giúp mọi người hiểu rằng việc sống chung với khiếm khuyết hoặc trong tình trạng khuyết tật cũng là một phần quan trọng của sự sống. Và có lẽ nếu chúng ta có thể cung cấp dịch vụ chăm sóc xã hội và chăm sóc giảm nhẹ tốt hơn, thì nhiều người sẽ lựa chọn nó.

Điểm tốt về cuộc tranh luận này là nó đã làm nổi bật một trong những câu hỏi căn bản nhất về đời sống con người chúng ta, về cái chết và về cách chúng ta sẽ chết như thế nào.

Việc chúng ta đang thảo luận về nó lúc này vẫn tốt hơn việc trước đây chúng ta không thảo luận, và có lẽ thậm chí không muốn nói đến nó.

Nhìn chung, chúng ta cần tiếp tục xem xét những vấn đề của dự luật này, đồng thời lắng nghe tiếng nói của những người dễ bị tổn thương, dù là vì nguy cơ bị ép buộc, hay của những người đang sống trong tình trạng khuyết tật và kiên quyết phản đối điều này.

Một cuộc tranh luận rộng lớn hơn nhiều đang nổi lên, không chỉ xoay quanh riêng dự luật này, và điều đó rất quan trọng.


Đã có dự luật Leadbeater mà bà Edwards đưa trở lại nghị trình. Gần đây, Pháp cũng đã thông qua vấn đề trợ tử sau một quá trình kéo dài. Theo Đức Tổng Giám mục, sự nhiệt tình muốn đưa những dự luật như thế này thành luật xuất phát từ đâu?

Có nỗi sợ hãi về việc mất khả năng kiểm soát, có nỗi sợ hãi về mất sự tự chủ.

Chính từ tự chủ đó đang tạo đà cho lập luận của nhiều người, bởi vì chúng ta đang sống trong một bối cảnh mà việc tự mình ra luật cho mình (self-law), làm chủ cuộc đời mình, được coi là điều vô cùng quan trọng.

Và việc tự mình làm luật đó, sự tự chủ ấy, được mở rộng đến khả năng tự kết thúc sự sống của mình.

Vì vậy, đó là một cách nhìn khác đang định hình việc đưa ra quyết định của nhiều người: tôi làm chủ cuộc đời tôi và vì thế tôi có thể lựa chọn phải làm gì với nó.

Trái lại, quan điểm Kitô giáo – và quan điểm của những người thuộc nhiều tín ngưỡng khác – cho rằng chúng ta đón nhận sự sống như một hồng ân.

Chúng ta nhận thức rằng mình phải tôn trọng sự sống đó, trân trọng sự sống ấy và đối xử tốt với sự sống đó; đồng thời chắc chắn phải nhận ra những giới hạn của các can thiệp y khoa, nhưng luôn luôn cần phải chăm sóc sự sống.

Quan điểm về sự sống như một hồng ân và việc chăm sóc là một cách nhìn khác, rõ ràng rất khác với cách nhìn tập trung vào sự tự chủ cá nhân.

Quan điểm về sự sống là một hồng ân cũng nhìn nhận sâu sắc hơn nhiều về tính tương thuộc giữa con người với con người. Không phải chỉ là cá nhân một mình tôi.

Chúng ta có sự tương thuộc lẫn nhau, và vì thế nhu cầu được chăm sóc là một phần của bản chất con người, cho dù điều đó thật khó khăn. Chúng ta không dễ dàng chấp nhận điều ấy.


Vậy Đức Tổng Giám mục có cho rằng trợ tử là biểu hiện của một nguyên nhân sâu xa hơn không?

Đó là một khía cạnh của cuộc tranh luận sâu xa hơn rất nhiều về bản chất con người, về sự kiểm soát, về việc nhìn nhận tính tương thuộc, và sau cùng là về ý nghĩa của việc từ bỏ sự kiểm soát.

Nếu nhìn vào Tin Mừng theo thánh Marcô, Chúa Giêsu hoạt động, Người rao giảng, Người giảng dạy, Người chữa lành.

Rồi đến một thời điểm Người bị bắt và trở nên thụ động: Người bị đánh đòn, bị điệu đi, phải vác thập giá, chịu đóng đinh. Trên thập giá, Chúa Giêsu phó dâng mạng sống mình cho Thiên Chúa: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”

Dưới góc độ mạc khải, Chúa Giêsu đang dạy chúng ta một điều rất căn bản về bản chất con người.

Có những lúc chúng ta phải phó thác cho Thiên Chúa và cho Chúa Cha; điều đó hoàn toàn khác với việc tự mình quyết định kết thúc cuộc đời mình.


Thánh Gioan Phaolô II đã nhiều lần nói về văn hóa sự chết và Đức Giáo hoàng Phanxicô nói về văn hóa vứt bỏ. Đức Tổng Giám mục có nghĩ rằng trợ tử phù hợp với những khuôn mẫu tư tưởng đó không?

Đôi khi tôi nghĩ chúng ta đã đơn giản hóa vấn đề nếu cố gắng đặt mọi sự vào các khuôn mẫu. Theo cách nói của Đức Giáo hoàng Phanxicô, điều chúng ta nhận ra là sự thiếu hiểu biết về món quà sự sống.

Vì thế, chúng ta cần tái khám phá giá trị của món quà sự sống được ban tặng cho chúng ta, và xây dựng một văn hóa sự sống cùng với nền văn minh tình thương.

Điều này ảnh hưởng đến cách chúng ta sống, cách chúng ta tương quan với nhau, cách chúng ta chăm sóc lẫn nhau, và cách chúng ta xây dựng tình liên đới giữa con người với nhau.

Mối nguy hại của một xã hội đề cao chủ nghĩa cá nhân là những ai không được coi là tốt đẹp như người khác vì họ thiếu một số năng lực nào đó, hoặc có thể đang sống trong tình trạng khuyết tật, thì không được coi trọng bằng những người khác.

Theo nghĩa đó, chúng ta có thể nhanh chóng tiến tới một xã hội vứt bỏ.

“Văn hóa sự chết” là một hình ảnh hết sức mạnh mẽ. Tôi nghĩ có thể có những yếu tố của văn hóa đó bên trong con người, nhưng đồng thời cũng có những yếu tố của văn hóa sự sống.

Vì vậy, chúng ta cần tiếp tục hướng tới những điều tốt lành; đến sự thiện hảo bẩm sinh trong con người và hiện diện trong tất cả mọi người, nhằm phát triển việc bảo vệ sự sống và văn minh tình thương của chúng ta.

Cho nên, với thuật ngữ về các "văn hóa", người ta rất dễ đổ lỗi cho người khác mà không nhận ra rằng hai văn hóa đó có thể cùng tồn tại bên trong mỗi con người.


Giáo hội có thể làm gì để hướng tới việc xây dựng văn minh tình thương mà Đức Tổng Giám mục vừa nói đến?

Tôi nhìn thấy những mẫu gương tuyệt vời về tình yêu quảng đại và sự hy sinh trong các gia đình, cách mà nhiều gia đình chăm sóc những người già, những thành viên đau bệnh của họ, dù họ có ở trong Giáo hội hay không.

Tất cả những điều đó đều là dấu chỉ của một nền văn minh tình thương. Tôi cũng nhìn thấy điều này qua sự phục vụ quảng đại và tuyệt vời tại các viện dưỡng lão, trong ngành y tế, trong Dịch vụ Y tế Quốc gia (NHS), và tại các cơ sở chăm sóc cuối đời.

Chứng tá tuyệt vời cho sự sống ấy cần được nhìn nhận và công bố.

Tôi cũng nhận thấy nơi các vị tuyên úy bệnh viện, dù là giáo sĩ hay giáo dân, đang thực hiện một công việc tuyệt vời trong việc chăm sóc người bệnh; cũng như các giáo sĩ trong việc cử hành các bí tích, đồng hành với con người trong cơn bệnh tật đang bước gần tới cái chết – tất cả đều là những dấu chỉ của vương quốc mà chúng ta mong đợi.

Tôi vừa trở về từ Lộ Đức, nơi những người sống chung với bệnh tật là trung tâm của đời sống.

Tôi thường nghĩ rằng Lộ Đức là một biểu tượng tuyệt vời cho việc chăm sóc người bệnh, cho mẫu vương quốc mà Chúa Giêsu mong muốn.

Những người dễ bị tổn thương, đau bệnh và khuyết tật nằm ở trung tâm mọi hoạt động, mọi sự chăm sóc của con người. Họ được đối xử bình đẳng, thậm chí còn được đối xử tốt hơn những người khác, và được sống cuộc đời cách trọn vẹn.

Vì thế, có một hình ảnh và biểu tượng tuyệt vời tại Lộ Đức khi những người hành hương quy tụ về để nhận thức về món quà sự sống và cử hành văn minh tình thương.


Có điều gì khác mà Đức Giám mục muốn bổ sung, hoặc có điều gì đặc biệt ngài muốn nói mà chúng ta chưa đề cập đến không?

Điều quan trọng là tất cả những ai đọc bài viết này và đang sống tại một đơn vị bầu cử tại Vương quốc Anh hãy liên lạc với nghị sĩ đại diện cho mình.

Điều quan trọng là nếu nghị sĩ của các bạn đã bỏ phiếu chống lại dự luật Leadbeater, hãy cảm ơn họ và khuyến khích họ tiếp tục làm như vậy, đồng thời giải thích tại sao điều đó càng trở nên quan trọng hơn.

Nếu nghị sĩ của quý vị đã bỏ phiếu ủng hộ dự luật, điều quan trọng là hãy đề nghị họ bỏ phiếu chống lại nó, đặc biệt vì chúng ta cần một cuộc tranh luận rộng lớn hơn về việc chăm sóc xã hội và chăm sóc giảm nhẹ, cũng như vì tất cả những lý do khác mà tôi đã nêu.

Do đó, việc mọi người thực thi quyền chính trị của mình qua sự liên lạc với nghị sĩ về những vấn đề này là vô cùng quan trọng.

Và dĩ nhiên, xin các bạn hãy cầu nguyện.


[Nguồn: cruxnow]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 02/09/2026]


Thứ Tư, 2 tháng 9, 2026

Vị Linh mục Bờ Tây xin thế giới bênh vực công lý

Vị Linh mục Bờ Tây xin thế giới bênh vực công lý

27/08/26
Theresa Civantos Barber

Vị Linh mục Bờ Tây xin thế giới bênh vực công lý

SeeSaw GmbH | Shutterstock

Israel tuyên bố Taybeh, thị trấn Kitô giáo cuối cùng tại Bờ Tây, là một vùng quân sự, giữa lúc các Kitô hữu địa phương kêu gọi thế giới bênh vực công lý.

Quân đội Israel đã tuyên bố Taybeh, thị trấn hoàn toàn theo Kitô giáo cuối cùng tại Bờ Tây, là một vùng quân sự khép kín, với lý do biện pháp này là cần thiết nhằm đối phó với các cuộc tấn công liên tiếp của những người định cư bất hợp pháp nhằm vào thị trấn.

Đức cha James Curry, Giám mục phụ trách Thánh Địa của Hội đồng Giám mục, cho biết ngài “hết sức lo ngại” trước động thái này, vốn đang buộc các gia đình phải rời khỏi khu vực.

Đức Giáo hoàng Lêô XIV đã nhiều lần kêu gọi tiếp cận nhân đạo vào Palestine, gần đây nhất là Chúa nhật ngày 16 tháng 8, khi Ngài kêu gọi chấm dứt “các hành vi bạo lực lặp đi lặp lại nhắm vào dân chúng Palestine tại Bờ Tây.”

Aleteia đã liên hệ với cha Firas Khoury, cha sở Nhà thờ Thánh George của Công giáo Hy Lạp Melkite tại Zababdeh, một thị trấn Kitô giáo khác ở Bờ Tây, để tìm hiểu áp lực đang đè nặng trên Taybeh ảnh hưởng như thế nào đến toàn thể cộng đồng trong khu vực.

Vị Linh mục Bờ Tây xin thế giới bênh vực công lý

Cha Firas Khoury, một linh mục tại Bờ Tây, đứng bên tháp chuông mới do giáo xứ của ngài xây dựng như một dấu chỉ hy vọng. Ảnh do cha Firas Khoury cung cấp

Sống trong vòng vây

Ngài cho biết các Kitô hữu trong khu vực đang phải chịu đựng những cuộc tấn công liên tiếp:

Những gì đang diễn ra tại Taybeh là hết sức nghiêm trọng. Trong ba năm qua, những người định cư đã tấn công các làng mạc nằm gần những khu định cư và đốt phá những cây ôliu cũng như các cánh đồng thuộc về người Palestine.

Những người định cư này muốn gieo rắc kinh hoàng để người dân phải chạy trốn và rời bỏ nhà cửa. Nếu họ kiểm soát được thành phố, họ có thể xóa bỏ lịch sử Kitô giáo lâu đời của nơi này.

Theo Văn phòng Điều phối các vấn đề Nhân đạo của Liên Hợp Quốc (OCHA), binh lính và những người định cư Israel đã sát hại 76 người Palestine kể từ đầu năm đến nay. Trong năm nay, OCHA đã ghi nhận trung bình 6,6 vụ tấn công của những người định cư mỗi ngày, gây thương vong, thiệt hại tài sản hoặc cả hai — cao hơn bất kỳ năm nào được ghi nhận trong dữ liệu của cơ quan này.

Tuy nhiên, cha Khoury nói rằng cộng đồng Kitô giáo toàn cầu cần các Kitô hữu tiếp tục ở lại Thánh Địa. Sự hiện diện của họ giúp duy trì sống động câu chuyện về Chúa Giêsu tại chính vùng đất nơi Người đã sống. Cha nói:

Câu hỏi lớn là: “Điều gì sẽ xảy ra nếu tất cả các Kitô hữu tháo chạy khỏi Đất Thánh, nếu họ không thể đối mặt với nỗi kinh hoàng này? Vùng đất này sẽ có ý nghĩa gì đối với các Kitô hữu ở phương Tây? Câu chuyện của họ sẽ có ý nghĩa gì?” Các đền thánh và lịch sử sẽ không bao giờ kể cho các bạn câu chuyện về con người đến từ Nadarét.

Vị Linh mục Bờ Tây xin thế giới bênh vực công lý

Buổi gặp gỡ của giới trẻ và các hướng đạo sinh tại Nhà thờ Thánh George của Công giáo Hy Lạp Melkite ở Zababdeh. Ảnh do cha Firas Khoury cung cấp

Lời khẩn cầu gửi tới thế giới

Các Kitô hữu tại Thánh Địa đang rất cần sự hỗ trợ của thế giới để có thể tiếp tục ở lại đó, trên mảnh đất của tổ tiên họ. Cha Khoury ví mình như một “kẻ hành khất” đang cầu xin sự trợ giúp từ các Kitô hữu trên khắp thế giới, và nói:

Chúng tôi là những người ăn xin: chúng tôi không xin tiền, nhưng chúng tôi xin các bạn đứng về phía công lý và tình liên đới với cộng đồng Kitô hữu nơi đây, để Taybeh có thể tồn tại giữa cuộc xung đột.

Chúng tôi mời gọi các bạn cầu nguyện cho chúng tôi, lắng nghe những câu chuyện của chúng tôi và đến thăm chúng tôi; chúng tôi có rất nhiều câu chuyện để kể cho các bạn.

Chúng tôi cần các bạn đứng về phía hòa bình, lắng nghe Giáo hội Kitô giáo tại Thánh Địa và đứng bên chúng tôi, những người anh chị em của các bạn.

Hôm nay, chúng tôi đang cố gắng sống sót.

Vị Linh mục Bờ Tây xin thế giới bênh vực công lý

Một buổi học Kinh Thánh dành cho nữ giới tại Nhà thờ Thánh George của Công giáo Hy Lạp Melkite ở Zababdeh. Ảnh do Cha Firas Khoury cung cấp

Độc giả có thể cầu nguyện cho cộng đồng Kitô hữu tại Palestine, đặc biệt là tại Taybeh, và xem xét khả năng hỗ trợ các tổ chức giúp đỡ họ, chẳng hạn như Save West Bank Christians Pilgrims of Ibilin, cũng như các nhóm hành hương Thánh Địa, bởi hoạt động du lịch của họ góp phần hỗ trợ các cộng đồng này. Cũng có thể xem xét hỗ trợ thông qua CNEWA, tổ chức được Đức Giáo hoàng Piô XI thành lập vừa tròn 100 năm vào năm nay.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 01/09/2026]


Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2026

Khu vườn thời trung cổ của Vatican hoàn toàn canh tác theo phương pháp hữu cơ

Khu vườn thời trung cổ của Vatican hoàn toàn canh tác theo phương pháp hữu cơ


24/08/2026

D. R. Esparza

Khu vườn thời trung cổ của Vatican hoàn toàn canh tác theo phương pháp hữu cơ


Khu đất bên cạnh đan viện Mater Ecclesiae hiện tuân theo những nguyên tắc chăm sóc thụ tạo được đề ra trong thông điệp Laudato Si’.

Bên trong khu vườn Vatican, cạnh đan viện Mater Ecclesiae, nơi Đức Bênêđictô XVI đã sống những năm cuối đời, có một vườn rau rộng khoảng 400 mét vuông (0,1 mẫu Anh) được chia thành bốn khu vực canh tác. Khu vườn này đã cung cấp thực phẩm cho bàn ăn của các vị giáo hoàng từ thế kỷ XIII. Như Vatican News đưa tin, hiện nay khu vườn đã hoàn toàn trở thành vườn hữu cơ.

Khu vườn có nguồn gốc từ thời Đức Giáo hoàng Nicôla III Orsini, người đã chuyển nơi cư trú của giáo hoàng từ Lateran về Vatican trong khoảng thời gian từ năm 1277 đến 1280, và ngay lập tức cho xây dựng một vườn cây ăn trái cùng một viridarium (khu vườn cảnh) bên trong những tường thành mới. Tám thế kỷ sau, chính thửa đất đó vẫn tiếp tục sản xuất thực phẩm.

Việc chuyển sang phương thức quản lý hoàn toàn hữu cơ có nghĩa là hoạt động canh tác tuân theo nhịp điệu tự nhiên của đất đai và mùa màng. Phân bón dạng viên nén có chứng nhận, được lựa chọn tùy theo mùa và nhu cầu của từng loại cây, đã thay thế nguồn phân chuồng trước đây được chuyển tới từ các biệt thự giáo hoàng tại Castel Gandolfo. Phương pháp luân canh cây trồng giúp duy trì độ phì nhiêu của đất. Các biện pháp canh tác nông học giúp kiểm soát sâu bệnh dưới ngưỡng gây hại. Mọi can thiệp đòi hỏi được phép đều được ghi chép trong sổ nhật ký đồng ruộng. Việc tưới tiêu vẫn hoàn toàn được thực hiện thủ công.

Việc chăm sóc hằng ngày do ông Gilberto Bianchi đảm trách, một người làm vườn đã làm tại vườn Vatican hơn hai thập niên, với sự hỗ trợ của những cộng sự trẻ, những người đang được ông từng bước truyền lại những kiến thức đã tích lũy, những thao tác nhỏ bé hằng ngày được gìn giữ theo cách tương tự như tri thức được lưu truyền từ đan viện này sang đan viện khác trong những thế kỷ trước.

Các nữ đan sĩ chiêm niệm thuộc cộng đoàn Mater Ecclesiae cho biết những loại cây trồng nào cần thiết, dựa trên mùa vụ và những gì đất đai có thể cung cấp vào từng thời điểm.

Lịch canh tác được theo sát các mùa trong năm. Những loại cây trồng hiện tại gồm tỏi tươi, húng tây, ớt — trong đó có một giống ớt Peru có vị cay nồng đặc biệt — cà chua, cà tím, bí ngòi, các cây thuộc họ cam chanh, và bí ngô. Năm nay, các nữ đan sĩ đề nghị trồng những cây kiwi đầu tiên. Một phần sản lượng thu hoạch từ lâu nay được trao tặng cho các tổ chức từ thiện, trong đó có cơ sở Casa Dono di Maria.

Sự thay đổi này rõ ràng phù hợp với thông điệp Laudato Si’ và với quan điểm của Đức Lêô XIV đã trình bày vào tháng 11 năm ngoái khi ngỏ lời với các nhà nông học và các chuyên gia lâm nghiệp Ý. Đức Giáo hoàng nói: “Trái đất không phải là một sự chiếm hữu, nhưng là một món quà. Những ai canh tác đất đai với lòng tôn trọng và sự khôn ngoan là tham gia vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa.”

Đan viện nằm cạnh khu vườn cũng có một lịch sử đa tầng. Được xây dựng từ năm 1992 đến 1994 theo sáng kiến của Đức Gioan Phaolô II, để làm nơi cư ngụ luân phiên cho một cộng đoàn chiêm niệm chuyên chăm cầu nguyện cho Đức Giáo hoàng, đan viện trở thành tư dinh của Đức Bênêđictô XVI sau khi ngài từ nhiệm năm 2013, cho đến khi qua đời năm 2022. Đức Bênêđictô được biết thường xuyên đi dạo trong khu vườn trong những lúc cầu nguyện và nghiên cứu. Vào năm 2023, nơi này đã trở lại với chức năng ban đầu là đan viện dành cho các nữ đan sĩ chiêm niệm.

Khu vườn hữu cơ này là một khu nhỏ bé — rộng 400 mét vuông, được một người làm vườn giàu kinh nghiệm cùng một số ít cộng sự chăm sóc, cung cấp các loại rau củ theo mùa cho một đan viện và bàn ăn của Đức Giáo hoàng.

Tuy nhiên, đó cũng là một biểu hiện cụ thể của việc quản lý mà truyền thống Công giáo hiểu là một phần trong ơn gọi của con người: canh tác trái đất với sự quan tâm chăm sóc, và hoàn trả lại những gì đã lấy đi.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 26/08/2026]


Thứ Năm, 27 tháng 8, 2026

Một ngày tại Bưu điện Vatican: cổng kết nối ra thế giới

Một ngày tại Bưu điện Vatican: cổng kết nối ra thế giới

Ngày 20 tháng 8 năm 2026

Một ngày tại Bưu điện Vatican: cổng kết nối ra thế giới
Phỏng vấn ông Stefano Rossi và Ermanno Croci, các nhân viên Phòng Thư đi của Sở Bưu chính và Tem thư thuộc Phủ Thống đốc Thành quốc Vatican

Cách hàng cột Bernini tại Quảng trường Thánh Phêrô chỉ vài bước chân là một nơi mà mỗi ngày, hàng ngàn mảnh ghép của cuộc sống con người — bưu thiếp, thư từ, bưu kiện và thư bảo đảm — bắt đầu hành trình đến mọi miền trên thế giới. Đây không phải là một bưu điện bình thường: đây là Bưu điện của quốc gia nhỏ nhất thế giới.

Ông Stefano Rossi và Ermanno Croci làm việc tại đây, chịu trách nhiệm xử lý thư từ tại Phòng Thư đi. Trong cuộc phỏng vấn với trang web của Thành quốc Vatican, họ chia sẻ kinh nghiệm của mình. Họ được giao một nhiệm vụ rất đặc biệt: tự tay xử lý các thông điệp của những người hành hương từ khắp nơi trên thế giới, thư từ chính thức của Tòa Thánh, và các tài liệu liên quan đến những sự kiện lịch sử như Năm Thánh hoặc việc bầu chọn tân giáo hoàng. Làm việc tại đây có nghĩa là mỗi ngày trở thành một mắt xích trong chuỗi liên kết Vatican với toàn thế giới.

Xin các ông chia sẻ về quá trình công tác và cơ duyên nào đưa các ông đến với vị trí hiện tại?

Ông Stefano giải thích, “Hành trình nghề nghiệp của chúng tôi tại Bưu điện Vatican đã bắt đầu từ nhiều năm trước. Tôi khởi đầu sự nghiệp với vai trò là nhân viên vận hành hệ thống thư tín bằng ống khí nén và nhân viên tổng đài điện thoại — một chi tiết tự nó đã nói lên rất nhiều điều về cách nơi đây gìn giữ những công nghệ và truyền thống mà ở nhiều nơi khác đã biến mất từ lâu.” Ông Ermanno nói thêm rằng ông bắt đầu làm việc tại bộ phận thu gom thư, qua đó tích lũy được nhiều kinh nghiệm thực tế. “Đó là một hành trình không ngừng phát triển về chuyên môn, giúp chúng tôi có được sự hiểu biết sâu xa về cơ cấu tổ chức và cách thức vận hành của một định chế không giống bất kỳ nơi nào khác trên thế giới.”

Theo các ông, những kỹ năng nào là cần thiết đối với một nhân viên xử lý thư từ hiện nay?

“Hơn bao giờ hết, ngày nay chúng tôi tin rằng việc đào tạo chuyên môn vững vàng và am hiểu tường tận về các quy trình nội bộ là điều cốt yếu để thực hiện công việc này một cách hiệu quả. Công việc của chúng tôi đòi hỏi sự chính xác, độ tin cậy và sự chú ý cao độ đến từng chi tiết, vì mỗi công đoạn đều ảnh hưởng đến sự vận hành thông suốt của toàn bộ quy trình bưu chính.

“Bên cạnh những kỹ năng chuyên môn này, tính chính xác, tinh thần trách nhiệm và năng lực tổ chức là những phẩm chất nền tảng để bảo đảm một dịch vụ hiệu quả. Khả năng ứng phó nhanh với những tình huống ngoài dự kiến cũng rất quan trọng. Chỉ với tinh thần hợp tác chặt chẽ, chúng tôi mới có thể cung cấp một dịch vụ đáp ứng các tiêu chuẩn đề ra.”

Một ngày làm việc điển hình của các ông diễn ra như thế nào?

“Ngày làm việc của chúng tôi bắt đầu lúc 7 giờ 30 sáng với việc tổ chức các chuyến gửi đi và chuẩn bị những lô thư từ gửi đến các quốc gia trên khắp thế giới. Trong quy trình đầu ngày này, các hoạt động trong ngày được lập kế hoạch, và nhân viên được phân công vào các dịch vụ khác nhau, nhằm bảo đảm phân bổ khối lượng công việc cân đối và mọi hoạt động được tiến hành thông suốt. Sự phối hợp là một khía cạnh căn bản trong công việc của chúng tôi: mỗi dịch vụ đều liên kết chặt chẽ với các dịch vụ khác và đòi hỏi sự hoạch định cẩn thận để tránh bị chậm trễ hoặc ứ đọng. Mục tiêu là bảo đảm mọi bưu phẩm đều được xử lý nhanh chóng và chính xác.

“Trong suốt ngày làm việc, chúng tôi thu gom và phân loại hàng ngàn bưu thiếp mà những người hành hương và du khách gửi qua Bưu điện Vatican mỗi ngày, rồi chuyển chúng đến những điểm đến theo địa chỉ. Đồng thời, chúng tôi xử lý các chuyển phát thư nhanh, giám sát việc xử lý và gửi đi, cũng như thư bảo đảm, được ghi nhận, kiểm tra và chuyển tiếp với sự cẩn trọng cao nhất.

“Một phần quan trọng khác trong công việc của chúng tôi là cung cấp dịch vụ bưu chính cho thư từ do các cơ quan khác nhau của Tòa Thánh gửi đến Bưu điện Tòa Thánh. Chúng tôi cũng chuẩn bị các chứng từ hải quan cho những bưu phẩm chứa sách hoặc hàng hóa được gửi đến các quốc gia Châu Âu cũng như ngoài Châu Âu; đây là một bước quan trọng nhằm bảo đảm các bưu phẩm được lưu chuyển thông suốt và tuân thủ các quy định quốc tế.

“Nhìn chung, những hoạt động này khiến ngày làm việc của chúng tôi vừa bận rộn vừa đa dạng: từng thành viên trong đội ngũ nhân viên đều góp phần qua công việc của mình để bảo đảm một dịch vụ hiệu quả và đáng tin cậy.”

Những trách nhiệm chính trong công việc của các ông là gì?

“Trách nhiệm chính của chúng tôi bao gồm điều phối các hoạt động của phòng và giám sát toàn bộ quy trình thu gom và xử lý thư từ. Mỗi ngày đòi hỏi phải hoạch định nguồn lực một cách cẩn thận để mọi hoạt động có thể được thực hiện cách chính xác và trong những khung thời gian quy định.

“Chúng tôi bảo đảm mọi hoạt động đều được tiến hành theo các quy trình đã thiết lập, đồng thời can thiệp kịp thời bất cứ khi nào phát sinh khó khăn hoặc những tình huống bất ngờ. Nhiệm vụ của chúng tôi là bảo đảm mọi bưu phẩm — từ một tấm bưu thiếp đơn thuần cho đến những lô hàng phức tạp nhất — đều được xử lý với sự cẩn trọng và chuẩn xác tối đa về thời gian.”

Các ông thường xuyên sử dụng những công cụ hoặc công nghệ nào nhiều nhất?

“Trong số những công cụ chúng tôi sử dụng hằng ngày, chủ yếu là máy vi tính và máy đóng dấu bưu chính; cả hai đều không thể thiếu trong việc quản lý các hoạt động hành chính. Hệ thống công nghệ thông tin cho phép chúng tôi quản lý các công đoạn khác nhau của quá trình xử lý thư từ, từ việc đăng ký bưu phẩm đến việc theo dõi các hành trình chuyển phát, đồng thời hỗ trợ toàn bộ các hoạt động tổ chức của phòng.

“Máy quét (scanner) cũng đóng một vai trò quan trọng, được sử dụng để kiểm tra và xác minh thư đến và thư đi, qua đó cho phép quản lý các bưu phẩm một cách chính xác và an toàn hơn. Trong khi đó, máy đóng cước bưu chính rất cần thiết để áp dụng đúng các mức cước, đặc biệt đối với thư từ do các cơ quan khác nhau ủy thác cho chúng tôi.

“Đây chắc chắn là những công cụ hiện đại, nhưng tại đây, chúng cùng tồn tại với những phương thức và kinh nghiệm chuyên môn được truyền lại qua thời gian. Thiết bị này cung cấp sự hỗ trợ không thể thiếu, nhưng luôn cần đến kinh nghiệm và sự chú tâm của đội ngũ nhân viên chúng tôi. Đó chính là bản chất của một bưu điện không giống bất kỳ nơi nào khác: công nghệ phục vụ con người, chứ không phải ngược lại.”

Các ông làm thế nào để bảo đảm tính hiệu quả và đúng giờ trong việc thu gom và phân loại thư từ?

“Tất cả phụ thuộc vào việc đồng bộ hóa thời điểm thư từ đến phòng của chúng tôi với các công đoạn xử lý tiếp theo. Mỗi bước được tổ chức theo trình tự và phối hợp với nhau nhằm giảm thiểu thời gian chờ đợi và bảo đảm thư từ được tiếp nhận và phân loại mà không bị chậm trễ.

“Việc hoạch định nội bộ cho phép phân bổ khối lượng công việc đồng đều giữa các nhân viên, đồng thời giúp chúng tôi nhanh chóng điều chỉnh cách thức tổ chức của phòng theo những yêu cầu của từng ngày. Sự cộng tác giữa các bộ phận khác nhau và việc liên lạc liên tục cũng cho phép chúng tôi ứng phó kịp thời với những thời điểm cao điểm của công việc hoặc những tình huống bất ngờ.”

Công việc của các ông đóng góp như thế nào vào hoạt động chung của hoạt động bưu chính?

“Đóng góp của chúng tôi vào hoạt động của toàn bộ chuỗi bưu chính là bảo đảm thư từ được chuyển đến các địa chỉ khác nhau một cách nhanh chóng, chính xác và có hệ thống. Mỗi công đoạn — từ thu gom, phân loại đến chuẩn bị các bưu phẩm — đều nhằm rút ngắn thời gian xử lý và bảo đảm các bưu phẩm được chuyển đúng tuyến.

“Theo nghĩa đó, chúng tôi có thể tự hào nói rằng vai trò của chúng tôi là một mắt xích then chốt trong chuỗi hậu cần (logistics), vì công việc này cho phép chúng tôi tổ chức và tối ưu hóa dòng luân chuyển thư từ trước khi chúng được chuyển sang các dịch vụ tiếp theo. Sự chú trọng đến tính chính xác và việc tuân thủ các quy trình bảo đảm mỗi bưu phẩm đến đích trong thời gian ngắn nhất có thể và trong tình trạng nguyên vẹn.”

Sự chuyển đổi số đã làm thay đổi công việc của các ông như thế nào trong những năm gần đây?

“Sự chuyển đổi số đã mang lại những thay đổi đáng kể, làm cho nhiều quy trình trở nên thuận tiện và nhanh chóng hơn so với trước đây. Việc đưa vào vận hành các hệ thống công nghệ thông tin ngày càng tiên tiến đã đơn giản hóa nhiều công đoạn vận hành, rút ngắn thời gian xử lý và cải thiện khả năng truy xuất hành trình của thư từ trong suốt quá trình vận chuyển.

“Đặc biệt, khả năng số hóa một số quy trình đã giúp thực hiện các công việc hằng ngày nhanh chóng hơn và góp phần giảm thiểu biên độ sai sót, qua đó nâng cao độ chính xác trong việc kiểm tra và lưu trữ hồ sơ. Việc liên lạc nội bộ giữa các phòng khác nhau cũng trở nên thông suốt và tức thời hơn.

“Tuy nhiên, có một khía cạnh mà chúng tôi cho rằng không thay đổi: vai trò của người vận hành. Kinh nghiệm và khả năng xử lý những tình huống khác nhau vẫn là yếu tố cốt lõi để bảo đảm chất lượng dịch vụ. Tóm lại, cuộc cách mạng kỹ thuật số không thay thế lao động của con người; nó làm cho công việc ấy hiệu quả hơn mà không làm giảm giá trị của chính nó.”

Những cải tiến nào đã nâng cao chất lượng dịch vụ nhiều nhất?

“Việc cơ giới hóa từng bước các hoạt động vận hành là thay đổi đáng kể nhất. Máy móc và các hệ thống tự động đã tối ưu hóa việc phân loại, dán cước và đăng ký bưu phẩm, rút ngắn thời gian xử lý và nâng cao độ chính xác. Kết quả là toàn bộ quy trình bưu chính trở nên thông suốt hơn, có khả năng bảo đảm tính đúng giờ ngay cả trong những giai đoạn đỉnh điểm.”

Các ông có nghĩ rằng vai trò của nhân viên xử lý thư từ sẽ tiếp tục thay đổi trong những năm tới không?

“Công nghệ chắc chắn sẽ tiếp tục phát triển, nhưng chừng nào còn nhu cầu gửi và nhận thư từ vật lý — và đối với một nơi như Vatican, một điểm đến hành hương của hàng triệu người, nhu cầu đó dường như không có dấu hiệu sẽ biến mất — thì chức năng căn bản trong vai trò của chúng tôi về bản chất vẫn sẽ giữ nguyên.

“Việc quản lý thư từ vẫn đòi hỏi kỹ năng tổ chức, sự chú ý đến từng chi tiết và khả năng giám sát, những điều khó có thể được tự động hóa hoàn toàn. Ngay cả trong bối cảnh đổi mới công nghệ ngày càng mạnh mẽ, sự đóng góp của con người vẫn là thiết yếu để bảo đảm tính chính xác, độ tin cậy và chất lượng dịch vụ. Do đó, thực tế hơn là hình dung về một sự tiến hóa của vai trò này thay vì một sự biến đổi hoàn toàn, với các công cụ ngày càng tiên tiến hỗ trợ các hoạt động hằng ngày trong khi vai trò trung tâm của người vận hành vẫn là không thể thiếu.”

Những khía cạnh nào là nhạy cảm nhất xét về phương diện an ninh?

“An ninh là một khía cạnh nền tảng trong công việc của chúng tôi. Việc đào tạo nhân viên chuyên nghiệp là nền tảng cốt lõi để bảo đảm mọi thao tác được thực hiện cách chuẩn xác. Việc huấn luyện tốt sẽ giúp giảm biên độ sai sót và cho phép nhân viên xử lý cách thành thục các tình huống khác nhau có thể phát sinh trong ngày làm việc.

“Một yếu tố nền tảng khác là tính thận trọng trong việc xử lý thư từ. Làm việc với tính cẩn mật, chuyên nghiệp và tinh thần trách nhiệm là điều cốt yếu để bảo vệ người sử dụng và bảo đảm sự vận hành đúng cách của dịch vụ.”

Các ông có nhận thấy hoạt động gia tăng đáng kể sau Năm Thánh 2025 và cuộc bầu chọn tân giáo hoàng không?

“Là Bưu điện Vatican, chúng tôi đã chứng kiến sự gia tăng đáng kể các hoạt động cả trong thời gian Năm Thánh lẫn dịp bầu chọn giáo hoàng mới. Đây là những thời điểm có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống của Tòa Thánh và dẫn đến sự gia tăng lớn về khối lượng thư từ.

“Đó là những thời điểm chúng tôi thực sự cảm nhận được đặc ân — đồng thời là trách nhiệm — được làm việc tại một nơi, theo đúng nghĩa đen, là trung tâm của thế giới đối với hàng trăm triệu tín hữu. Dòng người hành hương và du khách từ khắp các châu lục đổ về làm tăng đáng kể khối lượng bưu thiếp, thư từ và bưu phẩm. Dù khối lượng công việc tăng lên nhiều, kinh nghiệm của đội ngũ nhân viên và cơ cấu tổ chức của chúng tôi cho phép chúng tôi quản lý những thời điểm đặc biệt này, đồng thời tiếp tục bảo đảm mọi hoạt động được thực hiện đúng cách, với sự an tâm âm thầm khi biết rằng mỗi ngày, chúng tôi đang lặng lẽ đóng góp vào một phần nhỏ của lịch sử theo cách của riêng mình.”


[Nguồn: vaticanstate.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 24/08/2026]


Thứ Tư, 26 tháng 8, 2026

Đức Giám mục Nam Phi nói rằng vụ sập mỏ chết người phơi bày những tội lỗi kinh tế sâu xa

Đức Giám mục Nam Phi nói rằng vụ sập mỏ chết người phơi bày những tội lỗi kinh tế sâu xa

Ngala Killian Chimtom
23 tháng 8, 2026

Đức Giám mục Nam Phi nói rằng vụ sập mỏ chết người phơi bày những tội lỗi kinh tế sâu xa

Đức cha Thulani Victor Mbuyisa CMM, Giáo phận Kokstad


Sau tai nạn chết người xảy ra tại một khu mỏ bị cấm hoạt động ở Nam Phi hồi đầu tháng này, một vị giám mục Công giáo hàng đầu đang kêu gọi trách nhiệm giải trình.

Hàng chục ngàn người được gọi là những thợ mỏ “thủ công” đang làm việc bất hợp pháp tại các mỏ vàng và bạch kim đã ngừng hoạt động trước đây do các công ty khai thác mỏ vận hành, hoặc tự đào mỏ để tìm quặng, thường làm việc mà không có trang thiết bị bảo hộ thích hợp.

Nhiều thợ mỏ làm việc tại những địa điểm nguy hiểm này là người nhập cư không có giấy tờ.

Đôi khi, các thợ mỏ phải ở dưới lòng đất nhiều tuần lễ.

Mười bốn người trong số những công nhân này đã thiệt mạng ngày 10 tháng 8, sau khi một mỏ đã ngừng hoạt động bị sập tại khu định cư tự phát Nkaneng, gần Rustenburg và Marikana, Nam Phi.

Đức cha Thulani V. Mbuyisa, Giám mục phụ trách liên lạc với Ủy ban Công lý và Hòa bình của Hội đồng Giám mục Công giáo Nam Phi (SACBC), cho rằng việc quy gán cho các nạn nhân là “thợ mỏ bất hợp pháp” là một thất bại về mặt đạo đức, bởi điều đó cho phép những thủ phạm thực sự thoát khỏi sự phán xét.

Đức cha Mbuyisa nói với Crux Now, “Bất kể quốc tịch, tình trạng nhập cư hay việc họ có tham gia khai thác mỏ bất hợp pháp hay không, họ đều là những con người với sự sống có giá trị.”

Ngài nói, “Chúng ta nhất định phải thực thi pháp luật, nhưng một xã hội không thể đơn thuần bằng lòng với việc dán nhãn cho người đã chết là ‘thợ mỏ bất hợp pháp’ rồi tiếp tục như thế”.

"Chúng ta phải đặt câu hỏi xem những hoàn cảnh nào đã liên tục đẩy những con người tuyệt vọng vào các nơi mà cái chết là điều hoàn toàn có thể dự báo trước," vị Giám mục nhấn mạnh.

Với giá trị ước tính từ 2,5 ngàn tỷ đến 3,5 ngàn tỷ USD, nguồn tài nguyên khoáng sản đặc biệt dồi dào của Nam Phi từ lâu đã là xương sống của nền kinh tế nước này; tuy nhiên, những cộng đồng đang sinh sống trên các mỏ khoáng sản ấy vẫn mắc kẹt trong tình trạng nghèo đói cùng cực và thất nghiệp trầm trọng.

Đức Giám mục Mbuyisa tin rằng vụ sập mỏ tại Nkaneng là triệu chứng của một khế ước xã hội đã rạn nứt sâu sắc.

Sau đây là những trích đoạn cuộc trao đổi của Crux Now với Đức cha Thulani V. Mbuyisa thuộc Giáo phận Kokstad, Nam Phi, Giám mục phụ trách liên lạc với Ủy ban Công lý và Hòa bình của SACBC, được biên tập về độ dài và tính rõ ràng…

Crux Now: Thưa Đức Cha, 14 người đã thiệt mạng gần đây tại một khu mỏ đã ngừng hoạt động ở Nkaneng, Rustenburg. Khi vừa nghe tin về vụ sập mỏ này, điều gì hiện lên trong tâm trí Đức Cha?

Đức cha Thulani V. Mbuyisa: Điều đầu tiên tôi nghĩ đến là những con người đã thiệt mạng và những gia đình sẽ phải nhận tin khủng khiếp rằng người thân yêu của họ sẽ không bao giờ về nhà nữa.

Mười bốn người đã thiệt mạng và tám người sống sót sau thảm kịch này. Sự sống con người là thánh thiêng. Một người chết vì khai thác mỏ bất hợp pháp cũng đã là quá nhiều. Bất kể quốc tịch, tình trạng nhập cư hay việc họ có tham gia khai thác mỏ bất hợp pháp hay không, họ đều là những con người với sự sống có giá trị.

Tôi cũng tự hỏi: còn bao nhiêu người nữa phải chết tại những khu vực khai thác mỏ bị bỏ hoang hoặc không còn hoạt động trước khi chúng ta nhận ra rằng có điều sai lầm nào đó sâu xa hơn đang tồn tại?

Chắc chắn, chúng ta phải thực thi pháp luật, nhưng một xã hội không thể đơn thuần bằng lòng với việc dán nhãn cho người đã chết là “thợ mỏ bất hợp pháp” rồi tiếp tục như thế. Chúng ta phải đặt câu hỏi xem những hoàn cảnh nào đã liên tục đẩy những con người tuyệt vọng vào các nơi mà cái chết hoàn toàn có thể được dự liệu trước.

Đức Cha kêu gọi Nam Phi phải đối mặt với “những câu hỏi sâu xa hơn về nền kinh tế khai thác mỏ của đất nước”. Những câu hỏi sâu xa hơn đó là gì?

Câu hỏi sâu xa hơn là thế này: Ai là người cuối cùng được hưởng lợi từ nguồn tài nguyên khoáng sản đặc biệt dồi dào của Nam Phi, và ai phải gánh chịu những tổn thất về con người và môi trường?

Trong hơn một thế kỷ, ngành khai khoáng đã tạo ra nguồn tài sản khổng lồ, nhưng nhiều cộng đồng khai khoáng vẫn phải sống trong tình trạng thất nghiệp, nghèo đói, môi trường bị hủy hoại và cơ sở hạ tầng khai thác mỏ bị bỏ hoang đầy nguy hiểm.

Vì thế, Nkaneng buộc chúng ta phải nhìn xa hơn câu hỏi trước mắt về việc khai thác mỏ bất hợp pháp. Chúng ta phải hỏi tại sao những khu mỏ đã ngừng hoạt động vẫn còn có thể tiếp cận.

Ai chịu trách nhiệm khôi phục môi trường và bảo đảm an ninh?

Tại sao những người sống bên cạnh nguồn tài nguyên khoáng sản khổng lồ vẫn phải sống trong cảnh nghèo đói cùng cực?

Ai tài trợ và thu lợi từ việc khai thác khoáng sản bất hợp pháp, và liệu nền kinh tế khai khoáng của chúng ta thực sự phục vụ ích chung, hay chỉ phục vụ lợi ích của các cổ đông và các mạng lưới tội phạm quốc tế?

Chính Bộ Tài nguyên Khoáng sản và Dầu mỏ (DMPR) cũng đã cho biết thảm kịch này xảy ra trong phạm vi của một khu vực có giấy phép khai thác mỏ còn hiệu lực, mặc dù giấy phép đó liên quan đến hoạt động khai thác lộ thiên trên bề mặt và không bao gồm một hầm mỏ dưới lòng đất.

Điều đó khiến việc điều tra toàn diện về trách nhiệm, việc tuân thủ quy định, an ninh và công tác khôi phục môi trường trở nên đặc biệt cấp thiết.

Tại sao những người dễ bị tổn thương vẫn bị đẩy vào những không gian nguy hiểm, bị bỏ hoang?

Chúng ta phải bắt đầu từ tình trạng thất nghiệp cao trong cả nước, điều mà tự nó tạo ra một tâm lý tuyệt vọng sâu sắc.

Đừng ai lãng mạn hóa việc khai thác mỏ bất hợp pháp. Đây là hoạt động nguy hiểm, trái pháp luật, và ở nhiều nơi có liên hệ với các mạng lưới tội phạm có tổ chức. Nhưng chúng ta cũng phải hỏi tại sao một người lại sẵn sàng đi vào hầm mỏ không an toàn, hoặc đào xuyên qua những công trình mỏ nguy hiểm, dù biết rằng mình có thể không trở về.

Đối với một số người, quyết định có tham gia khai thác mỏ bất hợp pháp hay không được đưa ra trong những hoàn cảnh kiệt quệ về kinh tế.

Khi những cơ hội kinh tế hợp pháp biến mất, những người tuyệt vọng trở thành mục tiêu dễ dàng cho các tổ chức tội phạm tuyển dụng lao động, trong khi những người ở vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị mới thực sự là những người thu lợi.

Đó là lý do tại sao việc bắt giữ những người làm việc dưới lòng đất, trong khi không đụng đến những người tài trợ, tổ chức, chế biến, vận chuyển và mua bán các khoáng sản được khai thác bất hợp pháp, sẽ không bao giờ giải quyết được vấn đề.

Tài sản của Nam Phi được xây dựng trên lưng các thợ mỏ, nhưng trong lịch sử, ngành khai khoáng đã coi công nhân da đen như những người có thể bị loại bỏ. Đã có gì thay đổi hay chưa?

Ngành công nghiệp khai thác mỏ thời kỳ apartheid đã xây dựng một hệ thống lao động di cư, trong đó những người thợ mỏ da đen phải chịu một gánh nặng rất lớn.

Hệ thống lao động di cư về bản chất là một hệ thống sử dụng lao động có thể loại bỏ.

Nhiều thế hệ đàn ông bị chia cắt khỏi gia đình do chính sách lao động di cư, bị dồn vào trong các khu nhà tập thể, phải phơi mình trước những điều kiện làm việc nguy hiểm và bệnh tật, đồng thời nhận mức đền bù không tương xứng với cái giá tổn thất về con người để tạo ra nguồn của cải khoáng sản cho đất nước.

Đúng là về mặt pháp lý, nhiều điều đã thay đổi kể từ thời apartheid.

Người lao động ngày nay có các quyền thuộc hiến định và quyền lao động mà các thế hệ trước họ bị khước từ. Tuy nhiên, câu hỏi sâu xa hơn là liệu quan niệm cũ về lao động có thể loại bỏ đã hoàn toàn biến mất hay chưa.

Khi những công nhân mỏ trước đây phải đấu tranh đòi bồi thường vì các bệnh nghề nghiệp, khi các cộng đồng khai thác mỏ vẫn nghèo đói sau nhiều thập niên khai thác, hoặc khi những người thất nghiệp tuyệt vọng trở thành lực lượng lao động có thể bị loại bỏ nằm ở tầng đáy của các mạng lưới khai thác mỏ bất hợp pháp, chúng ta cần thận trọng trước khi tuyên bố rằng não trạng căn bản ấy đã biến mất.

Các hình thức có thể đã thay đổi.

Nhưng câu hỏi về việc sự sống của người nào thực sự có giá trị trong nền kinh tế khai khoáng vẫn còn đó.

Tại sao những cộng đồng như Nkaneng vẫn nghèo đói dù nằm ngay bên cạnh nguồn tài nguyên bạch kim khổng lồ? Có phải khế ước xã hội đã bị phá vỡ?

Tại mọi thị trấn mỏ ở Nam Phi, người ta đều bắt gặp một nghịch lý về luân lý: sự tồn tại của những tài sản kếch xù ngay giữa lòng sự nghèo đói tột cùng.

Nghịch lý này phải khiến lương tâm chúng ta day dứt. Bạn có thể đứng trong một cộng đồng được bao bọc bởi những trữ lượng khoáng sản dồi dào nhất trên trái đất, nhưng vẫn chứng kiến những gia đình không có việc làm xứng đáng, những người trẻ không có triển vọng và những cộng đồng phải vật lộn để có được các dịch vụ cơ bản.

Có điều gì đó không ổn về mặt luân lý khi nguồn tài sản khổng lồ có thể được khai thác từ lòng đất ngay bên dưới một cộng đồng, trong khi nghèo đói vẫn bám rễ trên mặt đất.

Nếu các cộng đồng chỉ có kinh nghiệm khai thác mỏ qua những trận nổ phá đá, ô nhiễm, thất nghiệp và hạ tầng bị bỏ hoang, trong khi các lợi ích kinh tế dường như lại chảy đi nơi khác, thì rõ ràng đã có sự gãy đổ trong khế ước xã hội giữa những người ở nơi trực tiếp khai thác khoáng sản và những người ở nơi tích lũy của cải.

Nói chung, trong ngành khai khoáng ở Châu Phi, dường như chúng ta đang có một khế ước xã hội bị chi phối bởi lòng tham: lòng tham của các tập đoàn, lòng tham của các tổ chức tội phạm và lòng tham của giới tinh hoa chính trị tha hóa.

Thực tế tình trạng của những khu mỏ bị bỏ hoang đối với các cộng đồng xung quanh như thế nào?

Một khu mỏ bỏ hoang không tự nhiên biến mất khi hoạt động khai thác thương mại kết thúc. Nó vẫn tồn tại hiện hữu về mặt vật chất.

Có thể vẫn còn các hầm mỏ, các đường hầm không an toàn, nguồn nước bị ô nhiễm, các bãi thải mỏ, đất bị ô nhiễm và những mối nguy hiểm khác đối với môi trường và an toàn. Khi công tác khôi phục môi trường và an ninh không được bảo đảm, những địa điểm này có thể trở thành nơi thu hút hoạt động khai khoáng phi chính thức và bất hợp pháp.

Do đó, chúng có thể trở thành những không gian nguy hiểm nằm ngay bên cạnh các cộng đồng mà ở đó người dân đã phải vật lộn với nạn thất nghiệp.

Đó là lý do tại sao việc đóng cửa mỏ không thể đơn thuần là lấy đi những khoáng sản có giá trị kinh tế rồi bỏ đi. Đóng cửa và phục hồi môi trường là một phần trong trách nhiệm luân lý và pháp lý gắn liền với hoạt động khai thác mỏ.

Sinh thái học toàn diện và thảm kịch tại Nkaneng liên hệ với nhau như thế nào?

Sinh thái học toàn diện dạy chúng ta rằng tiếng kêu của trái đất và tiếng kêu của người nghèo không thể tách rời nhau. Khi hoạt động khai thác mỏ tàn phá đất đai, làm ô nhiễm nguồn nước hoặc để lại những cơ sở hạ tầng nguy hiểm, hậu quả không chỉ đơn thuần là vấn đề môi trường.

Con người sống trong chính môi trường ấy.

Người nghèo thường là những người ít có khả năng nhất để thoát khỏi những hậu quả đó.

Nkaneng minh họa mối liên hệ này cách hết sức đau đớn.

Một bên là những không gian khai khoáng đã bị hủy hoại hoặc không còn hoạt động; bên kia là những con người dễ bị tổn thương đang bước vào các không gian ấy để tìm kiếm một thứ gì đó có thể giúp họ sinh tồn.

Sự bỏ mặc môi trường và sự bỏ mặc con người bắt đầu phản chiếu lẫn nhau.

Chúng ta không được quên rằng một nền kinh tế khai khoáng coi đất đai là thứ có thể vứt bỏ thì cuối cùng cũng sẽ dễ dàng coi con người như những thứ có thể dễ dàng loại bỏ.

Ai phải chịu trách nhiệm về mặt luân lý và pháp lý đối với thảm kịch Nkaneng?

Chúng ta nên thận trọng không đưa ra kết luận về trách nhiệm pháp lý trước khi quá trình điều tra hoàn tất.

Bộ Tài nguyên Khoáng sản và Dầu mỏ (DMPR) đã xác nhận sự việc xảy ra trong phạm vi khu vực có giấy phép khai thác còn hiệu lực, đồng thời làm rõ rằng giấy phép này áp dụng cho hoạt động khai thác lộ thiên trên bề mặt chứ không bao gồm hầm mỏ dưới lòng đất.

Bộ đang rà soát việc tuân thủ các quy định pháp luật và giấy phép liên quan, trong khi các cuộc điều tra của cảnh sát vẫn đang được tiến hành. Do đó, trách nhiệm pháp lý phải được xác định dựa trên chứng cứ.

Tuy nhiên, chúng ta không ngại đưa ra nhận định về trách nhiệm luân lý.

Có nhiều tầng trách nhiệm luân lý khác nhau.

Chúng ta phải xem xét trách nhiệm luân lý của những người đã sở hữu, vận hành, đóng cửa mỏ hoặc có nghĩa vụ khôi phục môi trường và bảo đảm an ninh cho khu vực này; trách nhiệm của các cơ quan quản lý; cũng như các mạng lưới tội phạm tổ chức và trục lợi từ hoạt động khai thác bất hợp pháp.

Chúng ta cũng phải tự vấn chính mình với tư cách là một xã hội, khi tình trạng thất nghiệp và bất bình đẳng trở nên nghiêm trọng đến mức việc bước vào một khu mỏ có thể gây chết người lại trở thành sinh kế của một ai đó.

Khai thác mỏ bất hợp pháp có phải chủ yếu là vấn đề thực thi pháp luật hay không?

Thực thi pháp luật là điều cần thiết.

Không thể đơn thuần dung dưỡng cho việc khai thác mỏ bất hợp pháp. Các băng nhóm tội phạm phải bị điều tra, và hoạt động buôn bán khoáng sản khai thác trái phép phải bị ngăn chặn.

Nhưng nếu toàn bộ phản ứng chính sách của chúng ta chỉ bao gồm các chiến dịch của cảnh sát và việc phong tỏa các cửa mỏ, chúng ta chỉ là giải quyết các triệu chứng trong khi cho phép những điều kiện tạo ra chúng tiếp tục tồn tại.

Nam Phi cần một phản ứng rộng lớn hơn nhiều: kiểm toán và khôi phục môi trường đúng quy chuẩn các mỏ bị bỏ hoang; quy trách nhiệm đối với các nghĩa vụ liên quan đến việc đóng cửa mỏ; tăng cường quản lý toàn bộ chuỗi giá trị của hoạt động khai thác mỏ bất hợp pháp; tạo ra các cơ hội kinh tế trong các cộng đồng khai khoáng; và nghiêm túc xem xét việc quản lý thích đáng đối với hoạt động khai thác mỏ thủ công và quy mô nhỏ.

Chúng ta không chỉ đặt câu hỏi: “Làm thế nào để ngăn người dân đi xuống lòng đất?” Chúng ta còn phải hỏi: “Tại sao ngay từ đầu họ lại phải đi xuống lòng đất, và ai đang kiếm tiền từ việc đưa họ xuống đó?”

Ủy ban Công lý và Hòa bình đóng vai trò gì trong cuộc tranh luận về ngành khai thác mỏ? Phải chăng Ủy ban chỉ đơn thuần đưa ra những tuyên bố?

Với tư cách là Ủy ban Công lý và Hòa bình, trong nhiều thập niên qua, chúng tôi đã đưa ra các tuyên bố về những bất công trong ngành khai thác mỏ. Nhưng các tuyên bố chỉ là một phần trong công việc của chúng tôi.

Ủy ban Công lý và Hòa bình làm việc trực tiếp với các cộng đồng bị ảnh hưởng bởi hoạt động khai thác mỏ và với những công nhân từng là thợ mỏ đang tìm kiếm công lý. Chúng tôi thực hiện điều mà chúng tôi gọi là “đồng hành mục vụ”.

Đặc biệt, chúng tôi đã đồng hành với các thợ mỏ bị bệnh trong cuộc đấu tranh đòi bồi thường và khắc phục hậu quả, hỗ trợ tổ chức cộng đồng và vận động, đồng thời làm việc với các cộng đồng bị ảnh hưởng để chất vấn những cơ cấu rộng lớn hơn cho phép của cải từ khai khoáng tồn tại song song với nghèo đói, bệnh tật nghề nghiệp và sự tàn phá môi trường.

Cách tiếp cận của chúng tôi mang bản chất mục vụ, nghĩa là cùng bước đi với các cộng đồng bị ảnh hưởng, thay vì chỉ nói về họ.

Theo một cách nào đó, những gì chúng tôi đang thực hiện chính là tính hiệp hành trong hành động: lắng nghe và đồng hành cùng các cộng đồng đang phải chịu những tổn hại về nhân quyền do hậu quả của hoạt động khai thác mỏ.

Điều này có nghĩa là lắng nghe những người từng là thợ mỏ và gia đình họ, hỗ trợ những nỗ lực tiếp cận công lý của họ, đối thoại với các công ty khai thác mỏ và chính quyền, sử dụng các biện pháp pháp lý và vận động khi cần thiết, đồng thời giúp các cộng đồng tổ chức để bảo vệ các quyền của mình.

Đối với chúng tôi, đây là một phần căn bản trong sứ mạng của Giáo hội. Đây là một phần không thể tách rời của việc loan báo Tin Mừng.

Công lý và Hòa bình không thể từ xa đứng nhìn những con người đang đau khổ rồi chỉ đưa ra những nhận định về đạo đức.

Giáo hội phải hiện diện tại nơi con người đang mang trên mình những vết thương do nền kinh tế khai thác mỏ gây ra.

Do đó, sự quan tâm của chúng tôi tại Nkaneng thuộc về một cam kết rộng lớn hơn nhiều: một nền kinh tế khoáng sản mà trong đó người lao động và các cộng đồng được đối xử như những con người có phẩm giá, chứ không đơn thuần là những công cụ để khai thác.


[Nguồn: cruxnow]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 24/08/2026]