Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài Liệu - Sách Công Giáo (sưu tầm). Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài Liệu - Sách Công Giáo (sưu tầm). Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 31 tháng 8, 2026

Người Philippines là cộng đồng Công giáo chiếm đa số khác thường tại Châu Á

Người Philippines là cộng đồng Công giáo chiếm đa số khác thường tại Châu Á

Trong khi gần như mọi người Philippines đều là người Công giáo được rửa tội, thì chỉ có ba trong số 100 người Châu Á đã được rửa tội. Điều này có ý nghĩa gì?

26/08/2026

Simone Lorenzo-Peckson

Người Philippines là cộng đồng Công giáo chiếm đa số khác thường tại Châu Á

Là người Philippines thường rất dễ bỏ qua một thực tế rằng Công giáo chỉ là một thiểu số rất nhỏ tại Châu Á.

Trong khi người Công giáo chiếm khoảng 80% dân số Philippines, họ chỉ chiếm 3% dân số Châu Á. Nói cách khác, trong khi gần như mọi người Philippines đều là người Công giáo được rửa tội, thì chỉ có ba trong số 100 người Châu Á được rửa tội.

Để so sánh, Châu Mỹ có khoảng 60 người Công giáo trong số 100 người; Châu Âu có khoảng 35 người, Châu Đại Dương khoảng 25, trong khi Châu Phi có khoảng 18. Do đó, Châu Á là khu vực có tỷ lệ Công giáo thấp nhất trên thế giới. Khoảng cách này cho chúng ta thấy còn rất nhiều điều phải làm để rút ngắn lại khoảng cách giữa người Công giáo và người không Công giáo tại Châu Á, như đã được nhấn mạnh tại Đại hội Toàn thể của Liên hội Hội đồng Giám mục Châu Á (FABC) được tổ chức vào tháng 7 vừa qua:

“Như chúng tôi đã cùng nhau phân định, một sự đồng thuận chung nổi bật lên rằng, hơn bao giờ hết, Giáo hội tại Châu Á được kêu gọi trở thành một cầu nối và là người xây dựng cầu cầu thông qua việc không ngừng hoán cải theo tinh thần hiệp hành, đón nhận sự đa dạng phong phú của các nền văn hóa và các dân tộc chúng ta.”


Đôi nét lịch sử

Tầm nhìn này không phải là mới; nó đã xuất hiện ngay từ những ngày đầu của FABC. Khi các Giám mục Châu Á nhóm họp để thành lập liên hội trong chuyến viếng thăm lịch sử của Đức Giáo hoàng Phaolô VI đến Manila năm 1970, các ngài đã ý thức rõ về thách đố mục vụ trước mắt, với tư cách là những mục tử trên một lục địa mà phần lớn là người không theo Kitô giáo. Thay vì theo đuổi một chương trình cải đạo mang tính quyết liệt, các ngài đã chọn con đường mục vụ lấy đối thoại và tình liên đới làm trung tâm – một cách tiếp cận được diễn tả cách hoàn hảo qua hình ảnh xây dựng cầu nối.

Đến năm 1972, FABC chính thức định hình phương thức tiếp cận mang tính tương quan này trong quy chế của mình qua điều được gọi là “Ba cuộc đối thoại”: đối thoại với (1) các nền văn hóa Châu Á, (2) các tôn giáo Châu Á, và (3) người nghèo.

Ngay từ nền tảng thành lập, FABC đã kêu gọi các tín hữu Công giáo Châu Á nhìn nhận những người hàng xóm ngoài Công giáo là anh chị em và là những người bạn lữ khách đồng hành. Niềm tin tưởng cốt lõi này vẫn luôn được duy trì – đã âm vang trong những văn kiện đầu tiên và được tái khẳng định trong đại hội gần đây nhất của các ngài.


“Pakikipagkapwa”: vì sao đối thoại lại cộng hưởng với giá trị sâu sắc này của người Philippines

Niềm vững tin rằng xây dựng sự cộng tác mang lại hiệu quả cao hơn việc nhắm đến mục tiêu cải đạo không chỉ riêng cho người Châu Á. Chẳng hạn, Đức Giáo hoàng Lêô được biết đến là một người cổ vũ mạnh mẽ cho quan điểm này, cũng như các vị tiền nhiệm gần đây của ngài, đặc biệt là Đức Bênêđictô XVI.

Cách tiếp cận này cộng hưởng với bản năng của người Châu Á trong việc xây dựng những mối tương quan hòa hợp. Đối với người Philippines, khuynh hướng này được thể hiện qua giá trị pakikipagkapwa. Xuất phát từ gốc kapwa, có nghĩa là nhìn nhận người khác như một con người có cùng phẩm giá và nhân tính như chính mình, pakikipagkapwa chính là hình thức xây dựng cầu nối theo hình thức trực quan nhất. Khi chúng ta đến với những người hàng xóm ngoài Công giáo bằng sự tôn trọng và tình liên đới, chúng ta mở ra những con đường cho sự hợp tác và tình bằng hữu sâu sắc hơn.

Tuyên bố bế mạc của FABC khẳng định với các tín hữu Công giáo Châu Á rằng việc đến với những người thuộc các tôn giáo khác bằng sự tôn trọng và tình liên đới không làm tổn hại đến căn tính Công giáo, nhưng đúng hơn là hướng trở lại cốt lõi căn tính của chúng ta với tư cách là những môn đệ của Đức Giêsu. Là những môn đệ của Đức Kitô, chúng ta được mời gọi nhận ra hình ảnh của Ngài nơi mỗi con người, bất kể tín ngưỡng hay văn hóa, và trở nên hiện thân của chính cây cầu mà Ngài là:

"Chúng tôi rời Đại hội này với một niềm tin tưởng được đổi mới rằng chính Đức Kitô là Cầu nối sống động giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa và nhân loại, giữa các dân tộc, và giữa nhân loại với ngôi nhà chung của chúng ta. Đối với chúng ta, bước theo Ngài là trở thành những nhịp cầu và những người xây dựng cầu nhân danh Ngài, trong chính thời đại và môi trường sống của chúng ta."


Đường hầm nối liền nhà thờ chánh tòa và đền thờ Hồi giáo

Trong thời gian ở Jakarta, các tham dự viên Đại hội toàn thể FABC đã đi bộ qua Đường hầm Hữu nghị (Tunnel of Friendship), nối Nhà thờ Chánh tòa Jakarta với Đền thờ Hồi giáo Istiqlal – một biểu tượng vật chất nổi bật về ơn gọi của người Công giáo là xây dựng những nhịp cầu nối với các dân tộc thuộc các niềm tin khác nhau.

Sứ mạng xây dựng cầu nối ấy đang được thể hiện cụ thể mỗi ngày trong đời sống của các lao động Philippines tại hải ngoại (OFW), 70% trong số họ đang làm việc tại các xã hội không theo Kitô giáo trên khắp Châu Á và Trung Đông. Họ là những người chăm sóc và bảo mẫu làm việc tại những nơi như Hồng Kông, Singapore và Đài Bắc; là những kỹ sư, y tá và nhân viên phục vụ làm việc tại Dubai và Riyadh.

Thay vì rao giảng trên tòa giảng, họ xây dựng những cây cầu sống động bằng sự hy sinh và lòng trắc ẩn mỗi ngày: kiên nhẫn chăm sóc những người chủ lao động cao tuổi, hy sinh sự thoải mái cá nhân để hỗ trợ gia đình ở quê nhà, phục vụ những người di cư đồng hương và mở rộng lòng hiếu khách chân thành đến tất cả những người họ gặp gỡ.

Chính chứng tá âm thầm này, được nhân lên hàng triệu lần đã tỏ lộ Đức Giêsu mà không cần một bài giảng hay một cuộc tranh luận. Qua lòng nhân hậu bền bỉ và tình liên đới ấm áp, những người Philippines di cư biến nơi làm việc xa lạ thành những không gian gặp gỡ thiêng liêng. Qua họ, Đường hầm Hữu nghị tại Jakarta trở thành một cầu nối hằng ngày được xây dựng bằng chính đời sống con người thể hiện điều các giám mục Châu Á đã hình dung:

“Tại Châu Á, một lục địa được chúc phúc với những nền văn minh cổ xưa, các tôn giáo lớn đầy sức sống và những dân tộc trẻ trung, chúng ta được kêu gọi trở thành những cầu nối và những người xây dựng cầu: những cây cầu của lòng tin và đối thoại nơi người khác dựng lên những bức tường nghi kỵ; những cây cầu hòa bình nơi bạo lực và xung đột chia rẽ các cộng đồng; những cây cầu của lòng trắc ẩn nơi người nghèo, những người dễ bị tổn thương và những người bị loại trừ khao khát phẩm giá; và những cây cầu hy vọng cho những người trẻ đang tìm kiếm ý nghĩa giữa những biến đổi của xã hội và công nghệ diễn ra nhanh chóng, sự phân mảnh toàn cầu và cuộc khủng hoảng sinh thái đang đe dọa ngôi nhà chung của chúng ta.”


Sâu sắc hơn và rộng lớn hơn những gì chúng ta thường nghĩ

Lời kêu gọi xây dựng những nhịp cầu của các giám mục mời gọi chúng ta đi vào cách hiểu về sứ mạng sâu sắc hơn và rộng lớn hơn.

Sâu sắc hơn, bởi vì điều đó đặt sứ mạng Kitô giáo trên nền tảng của tập quán lắng nghe chăm chú: lắng nghe Thiên Chúa trong cầu nguyện và phân định Thánh Thần khi Người nói qua những người khác.

Rộng lớn hơn, bởi vì nó mở rộng tầm nhìn của chúng ta để ôm trọn lấy tình liên đới, tình bằng hữu và sự hợp tác. Qua đại hội, các giám mục nhắc nhở toàn thể tín hữu Công giáo rằng mục đích của một tâm hồn truyền giáo không chỉ là mời gọi những người chưa tin đón nhận Bí tích Rửa tội; mà còn là đồng hành và phục vụ họ.

Đây là lý do tại sao tính hiệp hành lại vô cùng quan trọng đối với công cuộc của Giáo hội tại Châu Á. Tính hiệp hành cung cấp một khuôn khổ mục vụ để tương quan với những người anh chị em ngoài Kitô giáo theo cách tôn trọng các giá trị văn hóa về sự kính trọng và hòa hợp. Tuy nhiên, trước khi có thể cùng lữ hành bên cạnh họ, các giám mục cũng nhắc nhở chúng ta rằng trước hết, chúng ta phải để Chúa Thánh Thần hoán cải tâm hồn của chính chúng ta. Các ngài nhắc chúng ta rằng để công cuộc loan báo Tin Mừng sinh nhiều hoa trái tại Châu Á cũng như ở bất cứ nơi nào khác, chúng ta phải bắt đầu sự biến đổi này từ chính bản thân và từ những mối tương quan hiện tại của mình:

“Trong suốt những ngày cầu nguyện, lắng nghe, thinh lặng và đàm đạo trong Thánh Thần, chúng tôi một lần nữa cảm nghiệm rằng tính hiệp hành không đơn thuần là một phương pháp làm việc cùng nhau; trên hết, đó là một con đường hoán cải hướng đến sứ mạng. Trước khi biến đổi các cơ cấu của chúng ta, tính hiệp hành biến đổi tâm hồn chúng ta. Trước khi đổi mới các thể chế của chúng ta, nó đổi mới các mối tương quan của chúng ta.”

Sự thật này sẽ vang vọng vượt ra ngoài phạm vi Công giáo. Mahatma Gandhi đã trực cảm thấy điều tương tự khi ông viết:

“Chúng ta chỉ là tấm gương phản chiếu thế giới. Mọi khuynh hướng hiện diện trong thế giới bên ngoài đều được tìm thấy trong thế giới nơi thể xác của chúng ta. Nếu chúng ta có thể thay đổi chính mình, những khuynh hướng trong thế giới cũng sẽ thay đổi... Chúng ta không cần phải chờ xem người khác làm gì.”

Tính hiệp hành làm nổi bật những hiệu quả cộng đồng của nhận thức này: sự đổi mới mà mỗi người cảm nghiệm nơi chính bản thân phải lan tỏa ra bên ngoài vào đời sống của những người chung quanh. Hoán cải không nhằm để chúng ta trở nên những con người đơn độc. Hoán cải mời gọi mỗi người Kitô hữu vượt qua các rào cản, cùng bước đi bên nhau và khích lệ mọi người chúng ta gặp gỡ tiến đến gần hơn với Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng nên tất cả chúng ta.

Sau cùng, cuộc lữ hành chung này chính là cây cầu sống động mà Châu Á đang cần nhất.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 27/08/2026]


Thứ Ba, 18 tháng 8, 2026

Papua New Guinea, phép lạ của sự hiệp nhất Giáo hội tại đất nước của 800 ngôn ngữ

Papua New Guinea, phép lạ của sự hiệp nhất Giáo hội tại đất nước của 800 ngôn ngữ

Thứ Tư, 12 tháng Tám, 2026

Papua New Guinea, phép lạ của sự hiệp nhất Giáo hội tại đất nước của 800 ngôn ngữ Thứ Tư, 12 tháng Tám, 2026  Cristian Sieland (personal collection) Marie-Lucile Kubacki Port Moresby (Hãng tin Fides) – Khi Giáo phận Bougainville đánh dấu cột mốc lịch sử 125 năm ngày các nhà truyền giáo Công giáo đầu tiên đặt chân đến, các cử hành năm thánh kéo dài ba tuần sẽ lên đến đỉnh điểm trong buổi bế mạc trọng thể tại Vùng Bắc từ ngày 14 đến ngày 17 tháng 8 năm 2026. Bắt đầu từ sự hiện diện của các tu sĩ Dòng Marist đầu tiên tại Pokpok (năm 1901) và Buin (năm 1903), Giáo hội địa phương đã phát triển từ một sứ mạng non trẻ, được các giáo lý viên giáo dân duy trì trong Thế chiến II và cuộc khủng hoảng Bougainville, thành một giáo phận đầy sức sống với hơn 200.000 tín hữu thuộc 35 giáo xứ. Điểm nhấn của chặng cuối này sẽ trùng với chuyến viếng thăm mục vụ của Đức Hồng y Luis Antonio Tagle, người sẽ chủ sự Thánh lễ Năm Thánh trọng thể vào ngày 16 tháng 8 tại Nhà thờ Chánh tòa Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời ở Hahela. Lịch trình bốn ngày của ngài tại Buka cũng bao gồm các chuyến thăm giáo xứ địa phương, thừa tác vụ bệnh viện, gặp gỡ các nhà lãnh đạo vùng và làm phép một tòa nhà mới của giáo phận. Nhân dịp các lễ kỷ niệm này, cha Christian Sieland, Giám đốc Quốc gia của Hội Giáo hoàng Truyền giáo, chia sẻ với Fides những suy tư về lịch sử loan báo Tin Mừng tại Papua New Guinea.   Thưa Cha, trước hết Cha có thể chia sẻ thêm về câu chuyện cá nhân của Cha? Tôi xin chia sẻ với tư cách là một người có đặc ân riêng được lớn lên tại Papua New Guinea trong một thời kỳ mà Giáo hội địa phương của chúng tôi có gần 90% nhân sự là các nhà truyền giáo nước ngoài. Cha tôi là một giáo dân truyền giáo được tổ chức Misereor tại Đức tuyển chọn, và ông đã làm việc sát cánh với các linh mục cùng các tu sĩ nam nữ trong hơn 20 năm. Ngày nay, tôi là một phần của hàng giáo sĩ địa phương đang ở trong giai đoạn chuyển tiếp then chốt — chuyển từ một Giáo hội truyền giáo thành một Giáo hội địa phương hoàn toàn. Cá nhân tôi tin rằng những giá trị quan trọng nhất mà tôi thừa hưởng là sự tôn trọng và lòng trân quý. Thế hệ hiện đại của chúng ta đã phần nào đánh mất mối liên hệ với quá khứ; nhiều người trẻ ngày nay gặp khó khăn trong việc nói tiếng bản địa của họ, chỉ giao tiếp bằng tiếng Tok Pisin và tiếng Anh. Bằng việc nuôi dưỡng sự tôn trọng và lòng trân quý sâu sắc, các giá trị địa phương có thể được gìn giữ, và các nhân đức của Tin Mừng có thể được hội nhập một cách rất ý nghĩa vào đời sống con người. Theo nghĩa đó, hội nhập văn hóa là một hành trình liên tục. Trong các chương trình đào tạo, chúng tôi luôn nhắc nhở các giáo lý viên, các nhà lãnh đạo giáo dân và các linh mục địa phương đừng bao giờ quên di sản văn hóa của họ, và làm cho thông điệp Tin Mừng thực sự trở thành của riêng họ. Đức tin đã bén rễ thành công, nhưng cần phải bén rễ sâu hơn nữa để đem lại những biến đổi xã hội triệt để cần thiết nhằm chữa lành hoàn toàn các vết thương như những cáo buộc liên quan đến pháp thuật, chế độ đa thê và chiến tranh bộ tộc.   Câu chuyện gia đình của Cha gắn bó chặt chẽ với lịch sử loan báo Tin Mừng tại Papua New Guinea. Chứng tá của những người họ hàng thân thuộc Papua của Cha lẫn các nhà truyền giáo đã ảnh hưởng thế nào đến ơn gọi linh mục của Cha? Sau khi học xong trung học tại Đức, tôi được gọi nhập ngũ. Tuy nhiên, theo lương tâm Kitô giáo, tôi đã chọn khước từ nhập ngũ. Thay vào đó, tôi gia nhập Dòng Ngôi Lời (SVD) với tư cách tình nguyện viên truyền giáo trẻ thông qua một chương trình mang tên “Missionar auf Zeit” (Nhà truyền giáo trong một thời gian). Chương trình này cho phép những người trẻ từ các quốc gia nói tiếng Đức có được kinh nghiệm truyền giáo thực tế trong 9 đến 15 tháng tại một vùng truyền giáo. Vì muốn phục vụ tại Papua New Guinea, tôi đã thực hiện công việc tình nguyện ở đó từ tháng 9 năm 1999 đến tháng 12 năm 2000. Cuộc gặp gỡ trực tiếp của tôi với cộng đoàn quốc tế các nhà truyền giáo Dòng Ngôi Lời, đặc biệt là tình bạn thân thiết của tôi với một số vị trong đó, đã khơi dậy nơi tôi tiếng gọi tiến tới chức linh mục. Nếu không có cuộc gặp gỡ ấy, hôm nay tôi đã không là linh mục. Tôi cũng xuất thân từ một gia đình Công giáo đạo đức. Nếu không nhờ công lao vất vả của cha mẹ tôi đã chủ tâm nuôi dạy chúng tôi theo các giá trị Kitô giáo, tôi đã không đáp lại tiếng gọi này. Vì thế, ơn gọi của tôi trước hết được hình thành từ chứng tá của gia đình, và thứ đến từ các nhà truyền giáo tận tụy, những người đã không mệt mỏi loan báo Tin Mừng cho dân tộc chúng tôi.   Nhìn lại hơn 120 năm hiện diện của Công giáo, Cha nhận thấy đâu là những giai đoạn chính trong hành trình từ các điểm truyền giáo đầu tiên đến một Giáo hội hiện nay phần lớn do hàng giáo sĩ địa phương lãnh đạo? Dựa trên hiểu biết, kinh nghiệm mục vụ và suy tư lịch sử của bản thân, tôi cho rằng hiện nay chúng ta đang chứng kiến thế hệ thứ tư hoặc thứ năm của những người đã đón nhận Tin Mừng kể từ khi Tin Mừng được các vị tiên phong rao giảng lần đầu tiên. Những nhà truyền giáo đầu tiên đến vùng chúng tôi đã đặt chân lên mảnh đất này vào đầu những năm 1930. Giáo xứ Denglagu quê hương của tôi là điểm truyền giáo Công giáo đầu tiên được thiết lập trong toàn vùng Cao nguyên Papua New Guinea, vào năm 1934. Từ căn cứ đó, các nhà truyền giáo đã tiến xa hơn vào các vùng lãnh thổ khác trên khắp miền Cao nguyên. Trước những năm 1930, người dân chúng chúng tôi chưa hề tiếp xúc với thế giới bên ngoài; khiến đó là một thời khắc lịch sử mang tính cột mốc — “năm 1492” của chính chúng tôi. Năm 2034, chúng tôi sẽ kỷ niệm 100 năm loan báo Tin Mừng tại vùng Cao nguyên. Sự hiện diện của Giáo hội cũng đem đến cho đất nước chúng tôi các dịch vụ xã hội thiết yếu và sự phát triển cơ cấu. Sau Thế chiến II — cuộc chiến đã gây tai họa khủng khiếp cho Giáo hội địa phương và nhiều hội dòng truyền giáo — làn sóng thứ hai các nhà truyền giáo đã đến để tái thiết cơ sở hạ tầng bị phá hủy. Thế hệ thứ ba và thứ tư các nhà truyền giáo đã đến vào những năm 1970 và 1980. Thập niên 1990 đánh dấu một bước ngoặt lớn với sự gia tăng đáng kể các ơn gọi bản địa; con số này còn mở rộng hơn nữa trong những năm 2000. Đây là lúc thế hệ lãnh đạo Kitô giáo hiện tại của chúng tôi xuất hiện. Hiện nay, chúng tôi là một Giáo hội địa phương đang trong giai đoạn chuyển tiếp. Điều này có nghĩa là chúng tôi phải học cách tự lực, tự quản lý và vững vàng trong căn tính Kitô giáo riêng biệt của mình với tư cách là một Giáo hội Melanesia. Đây là thách đố lớn mà chúng tôi phải đối diện trong những năm tới: khi số các nhà truyền giáo nước ngoài giảm dần, kỳ vọng đặt trên chúng tôi, hàng giáo sĩ địa phương, trong việc đảm nhận trọn vẹn trách nhiệm và lãnh đạo sẽ tiếp tục tăng lên.   Trong một quốc gia được đánh dấu bởi sự đa dạng văn hóa và bộ tộc mạnh mẽ, Cha thấy đâu là những thách đố chính trong việc xây dựng sự hiệp nhất trong Giáo hội, và những chuyển biến tích cực nào đem lại cho Cha hy vọng? Đất nước chúng tôi được mô tả một cách chính xác là một trong những quốc gia đa dạng nhất về văn hóa trên Trái Đất. Chúng tôi là một xã hội bộ tộc tự hào có hơn 800 ngôn ngữ và nhóm sắc tộc riêng biệt. Một phép lạ thật đẹp khi chúng tôi, với tư cách một quốc gia non trẻ, đã có thể kỷ niệm 50 năm độc lập (1975–2025) như một quốc gia thống nhất, dân chủ và chủ yếu theo Kitô giáo — bất chấp những thách đố to lớn về xã hội, bộ tộc, kinh tế và chính trị. Tôi tin chắc rằng yếu tố hiệp nhất mạnh mẽ nhất ở đất nước chúng tôi chính là căn tính Kitô giáo. Sự hiệp nhất này sống động nhất trong Giáo hội, nơi mọi người từ mọi tầng lớp, vùng miền và bộ tộc quy tụ lại với nhau như một gia đình. Thật là bằng chứng mạnh mẽ khi chứng kiến những khoảnh khắc các cá nhân thuộc những bộ tộc từng là đối thủ trong lịch sử ngồi lại và hợp tác như một đội ngũ trong hội đồng mục vụ giáo xứ. Kể từ buổi đầu loan báo Tin Mừng, các nhà thờ đã đóng một vai trò rất lớn trong việc hiệp nhất hàng ngàn bộ tộc ở New Guinea. Mặc dù sự thống nhất quốc gia vẫn là một tiến trình đang tiếp diễn, Giáo hội đã làm một công việc rất đặc biệt là đặt nền móng và vun đắp một bản sắc quốc gia chung, qua việc cung cấp các trường học và trung tâm y tế mở cửa cho tất cả mọi người, không phân biệt ranh giới bộ tộc. Những thách đố chính đối với sự hiệp nhất này xuất phát từ các chia rẽ chính trị và sự kìm kẹp kéo dài của các tập tục tổ tiên, chẳng hạn như hệ thống trả thù “mắt đền mắt”, vốn có thể châm ngòi cho những vòng xoáy bất tận của xung đột và chiến tranh bộ tộc.   Những tín ngưỡng truyền thống, bao gồm cả những nỗi sợ hãi liên quan đến phép thuật và thế giới tâm linh, vẫn còn hiện diện rất rõ ở một số vùng. Giáo hội tìm cách đồng hành với người dân trong sự tôn trọng như thế nào, đồng thời giúp họ đào sâu hiểu biết về Tin Mừng? Các niềm tin truyền thống, những cáo buộc liên quan đến yêu thuật, bạo lực và mối quan hệ với thế giới linh hồn dựa trên nỗi sợ hãi vẫn phổ biến ở nhiều nơi trong nước, ngay cả giữa những người Công giáo thực hành đức tin. Giáo hội là một trong số ít các định chế tiếp cận với các hệ thống tín ngưỡng truyền thống với sự nhạy bén mục vụ, trong khi vẫn kiên quyết nói lên sự thật về những thực hành văn hóa hoàn toàn không tương thích với đức tin Kitô giáo. Lập trường Công giáo là không thỏa hiệp: chúng ta không thể thực sự sống như người Công giáo trong khi vẫn tiếp tục nuôi dưỡng niềm tin vào phép thuật và yêu thuật. Giáo hội cũng kiên quyết phản đối chế độ đa thê, vốn vẫn còn phổ biến, đặc biệt những người đàn ông giàu có. Để giải quyết vấn đề này, giáo phận của tôi, cùng với nhiều nơi khác, điều hành các trung tâm mục vụ. Những trung tâm này tổ chức các khóa học và hội thảo, phối hợp chặt chẽ với các tổ chức phi chính phủ và các cơ quan chính quyền, nhằm đào tạo các nhà lãnh đạo Giáo hội và các tình nguyện viên cộng đồng. Những người tham dự được trang bị để trở thành những người bênh vực và tư vấn cho các nạn nhân của bạo lực gia đình, các cáo buộc liên quan đến phép thuật và những vấn đề xã hội mang tính cơ cấu khác. Ngoài ra, một số người được đào tạo chuyên biệt về giải quyết xung đột và trung gian hòa giải hòa bình, và được cử đến những khu vực đang xảy ra chiến tranh bộ tộc. Qua các sáng kiến này, cộng đoàn Giáo hội tích cực đồng hành với các nạn nhân bạo lực, đồng thời nâng cao nhận thức cộng đồng để loại bỏ các tập tục truyền thống có hại. Chúng tôi nỗ lực giúp người dân đón nhận sức mạnh biến đổi của chân lý, tình yêu và sự tha thứ của Tin Mừng. Tình hình chưa hoàn hảo, nhưng Giáo hội đang đi đầu trong việc bênh vực, bảo vệ và đào tạo con người.   Ở Papua New Guinea có sự đa dạng phong phú về các bộ tộc và văn hóa. Theo kinh nghiệm của Cha, sự đa dạng này tạo ra những cơ hội và thách thức nào cho việc xây dựng sự hiệp thông trong Giáo hội? Tôi có thể nói về thực tại này một cách sâu sắc từ kinh nghiệm mục vụ của mình với tư cách là một cựu linh mục chánh xứ. Những thách thức luôn hiện hữu. Thực tại của chúng tôi khá khác biệt với các xã hội đa văn hóa ở Châu Âu, nơi những người từ các quốc gia hoàn toàn khác nhau di cư đến để cùng sinh sống và làm việc. Tại Papua New Guinea, sự đa dạng của chúng tôi là nội tại — chúng tôi gồm các bộ tộc và nhóm sắc tộc khác nhau cùng chia sẻ một di sản Melanesia chung. Vì thế, viên gạch đầu tiên cho sự hiệp nhất của chúng tôi cách tự nhiên phải là bản sắc Melanesia chung ấy. Tuy nhiên, trên thực tế, ít khi đơn giản chỉ như vậy, bởi chúng tôi vẫn gắn chặt với một hệ thống bộ tộc địa phương phức tạp. Sự đa dạng to lớn này cần được nhìn nhận như một phúc lành sâu xa. Giáo hội có thể sử dụng điều đó để cho thấy rằng, cũng như những bộ phận khác nhau của một thân thể hợp thành một thể thống nhất, các bản sắc bộ tộc riêng biệt của chúng tôi có thể đóng góp cách độc đáo cho sự hiệp nhất của cả Giáo hội lẫn quốc gia độc lập. Một ví dụ đẹp về sự hiệp nhất này là Thánh Phêrô ToRot, một ân phúc của quốc gia chúng tôi. Dù ngài xuất thân từ Rabaul (New Britain), mọi người Công giáo trên khắp Papua New Guinea đều tự hào nhận ngài và nói: “Ngài là một người trong chúng tôi.” Nguồn gốc bộ tộc và vùng miền cụ thể của ngài mờ nhạt đi vì ngài đã ngã xuống với tư cách là một giáo lý viên, một vị tử đạo và một người Công giáo. Điều này cho thấy những cơ hội phi thường mà chúng tôi có để xây dựng sự hiệp thông thực sự. Tại những nơi các cuộc giao tranh bộ tộc tiếp tục tàn phá một số vùng, các nhà thờ luôn đi đầu trong công tác hòa giải, dẫn dắt các cuộc đàm phán hòa bình và nỗ lực hòa giải. Bởi vì người dân địa phương thường tin tưởng vào sự chính trực của Giáo hội hơn rất nhiều so với các nhà lãnh đạo chính trị, các buổi hội thảo đào tạo những người trung gian hòa bình trong cộng đồng của chúng tôi có tác động rất lớn. Chúng tôi vẫn còn một chặng đường dài để đạt tới một ý thức hoàn hảo về sự hiệp nhất quốc gia và tinh thần. Tuy nhiên, Giáo hội đã thành công trong việc mở đường. Với sự kiên nhẫn và bền chí tiếp tục, tôi tin tưởng rằng cam kết kiên định này cuối cùng sẽ sinh hoa trái là sự hòa giải và hiệp nhất bền lâu. (Hãng tin Fides, ngày 12/8/2026)  [Nguồn: fides.org]  [Chuyển ngữ: TRI KHOAN 13/08/2026]

Marie-Lucile Kubacki


Port Moresby (Hãng tin Fides) – Khi Giáo phận Bougainville đánh dấu cột mốc lịch sử 125 năm ngày các nhà truyền giáo Công giáo đầu tiên đặt chân đến, các cử hành năm thánh kéo dài ba tuần sẽ lên đến đỉnh điểm trong buổi bế mạc trọng thể tại Vùng Bắc từ ngày 14 đến ngày 17 tháng 8 năm 2026.

Bắt đầu từ sự hiện diện của các tu sĩ Dòng Marist đầu tiên tại Pokpok (năm 1901) và Buin (năm 1903), Giáo hội địa phương đã phát triển từ một sứ mạng non trẻ, được các giáo lý viên giáo dân duy trì trong Thế chiến II và cuộc khủng hoảng Bougainville, thành một giáo phận đầy sức sống với hơn 200.000 tín hữu thuộc 35 giáo xứ.

Điểm nhấn của chặng cuối này sẽ trùng với chuyến viếng thăm mục vụ của Đức Hồng y Luis Antonio Tagle, người sẽ chủ sự Thánh lễ Năm Thánh trọng thể vào ngày 16 tháng 8 tại Nhà thờ Chánh tòa Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời ở Hahela. Lịch trình bốn ngày của ngài tại Buka cũng bao gồm các chuyến thăm giáo xứ địa phương, thừa tác vụ bệnh viện, gặp gỡ các nhà lãnh đạo vùng và làm phép một tòa nhà mới của giáo phận.

Nhân dịp các lễ kỷ niệm này, cha Christian Sieland, Giám đốc Quốc gia của Hội Giáo hoàng Truyền giáo, chia sẻ với Fides những suy tư về lịch sử loan báo Tin Mừng tại Papua New Guinea.


Thưa Cha, trước hết Cha có thể chia sẻ thêm về câu chuyện cá nhân của Cha?

Tôi xin chia sẻ với tư cách là một người có đặc ân riêng được lớn lên tại Papua New Guinea trong một thời kỳ mà Giáo hội địa phương của chúng tôi có gần 90% nhân sự là các nhà truyền giáo nước ngoài. Cha tôi là một giáo dân truyền giáo được tổ chức Misereor tại Đức tuyển chọn, và ông đã làm việc sát cánh với các linh mục cùng các tu sĩ nam nữ trong hơn 20 năm. Ngày nay, tôi là một phần của hàng giáo sĩ địa phương đang ở trong giai đoạn chuyển tiếp then chốt — chuyển từ một Giáo hội truyền giáo thành một Giáo hội địa phương hoàn toàn.

Cá nhân tôi tin rằng những giá trị quan trọng nhất mà tôi thừa hưởng là sự tôn trọng và lòng trân quý. Thế hệ hiện đại của chúng ta đã phần nào đánh mất mối liên hệ với quá khứ; nhiều người trẻ ngày nay gặp khó khăn trong việc nói tiếng bản địa của họ, chỉ giao tiếp bằng tiếng Tok Pisin và tiếng Anh. Bằng việc nuôi dưỡng sự tôn trọng và lòng trân quý sâu sắc, các giá trị địa phương có thể được gìn giữ, và các nhân đức của Tin Mừng có thể được hội nhập một cách rất ý nghĩa vào đời sống con người. Theo nghĩa đó, hội nhập văn hóa là một hành trình liên tục.

Trong các chương trình đào tạo, chúng tôi luôn nhắc nhở các giáo lý viên, các nhà lãnh đạo giáo dân và các linh mục địa phương đừng bao giờ quên di sản văn hóa của họ, và làm cho thông điệp Tin Mừng thực sự trở thành của riêng họ. Đức tin đã bén rễ thành công, nhưng cần phải bén rễ sâu hơn nữa để đem lại những biến đổi xã hội triệt để cần thiết nhằm chữa lành hoàn toàn các vết thương như những cáo buộc liên quan đến pháp thuật, chế độ đa thê và chiến tranh bộ tộc.


Câu chuyện gia đình của Cha gắn bó chặt chẽ với lịch sử loan báo Tin Mừng tại Papua New Guinea. Chứng tá của những người họ hàng thân thuộc Papua của Cha lẫn các nhà truyền giáo đã ảnh hưởng thế nào đến ơn gọi linh mục của Cha?

Sau khi học xong trung học tại Đức, tôi được gọi nhập ngũ. Tuy nhiên, theo lương tâm Kitô giáo, tôi đã chọn khước từ nhập ngũ. Thay vào đó, tôi gia nhập Dòng Ngôi Lời (SVD) với tư cách tình nguyện viên truyền giáo trẻ thông qua một chương trình mang tên “Missionar auf Zeit” (Nhà truyền giáo trong một thời gian). Chương trình này cho phép những người trẻ từ các quốc gia nói tiếng Đức có được kinh nghiệm truyền giáo thực tế trong 9 đến 15 tháng tại một vùng truyền giáo.

Vì muốn phục vụ tại Papua New Guinea, tôi đã thực hiện công việc tình nguyện ở đó từ tháng 9 năm 1999 đến tháng 12 năm 2000. Cuộc gặp gỡ trực tiếp của tôi với cộng đoàn quốc tế các nhà truyền giáo Dòng Ngôi Lời, đặc biệt là tình bạn thân thiết của tôi với một số vị trong đó, đã khơi dậy nơi tôi tiếng gọi tiến tới chức linh mục. Nếu không có cuộc gặp gỡ ấy, hôm nay tôi đã không là linh mục.

Tôi cũng xuất thân từ một gia đình Công giáo đạo đức. Nếu không nhờ công lao vất vả của cha mẹ tôi đã chủ tâm nuôi dạy chúng tôi theo các giá trị Kitô giáo, tôi đã không đáp lại tiếng gọi này. Vì thế, ơn gọi của tôi trước hết được hình thành từ chứng tá của gia đình, và thứ đến từ các nhà truyền giáo tận tụy, những người đã không mệt mỏi loan báo Tin Mừng cho dân tộc chúng tôi.


Nhìn lại hơn 120 năm hiện diện của Công giáo, Cha nhận thấy đâu là những giai đoạn chính trong hành trình từ các điểm truyền giáo đầu tiên đến một Giáo hội hiện nay phần lớn do hàng giáo sĩ địa phương lãnh đạo?

Dựa trên hiểu biết, kinh nghiệm mục vụ và suy tư lịch sử của bản thân, tôi cho rằng hiện nay chúng ta đang chứng kiến thế hệ thứ tư hoặc thứ năm của những người đã đón nhận Tin Mừng kể từ khi Tin Mừng được các vị tiên phong rao giảng lần đầu tiên. Những nhà truyền giáo đầu tiên đến vùng chúng tôi đã đặt chân lên mảnh đất này vào đầu những năm 1930. Giáo xứ Denglagu quê hương của tôi là điểm truyền giáo Công giáo đầu tiên được thiết lập trong toàn vùng Cao nguyên Papua New Guinea, vào năm 1934. Từ căn cứ đó, các nhà truyền giáo đã tiến xa hơn vào các vùng lãnh thổ khác trên khắp miền Cao nguyên.

Trước những năm 1930, người dân chúng chúng tôi chưa hề tiếp xúc với thế giới bên ngoài; khiến đó là một thời khắc lịch sử mang tính cột mốc — “năm 1492” của chính chúng tôi. Năm 2034, chúng tôi sẽ kỷ niệm 100 năm loan báo Tin Mừng tại vùng Cao nguyên.

Sự hiện diện của Giáo hội cũng đem đến cho đất nước chúng tôi các dịch vụ xã hội thiết yếu và sự phát triển cơ cấu. Sau Thế chiến II — cuộc chiến đã gây tai họa khủng khiếp cho Giáo hội địa phương và nhiều hội dòng truyền giáo — làn sóng thứ hai các nhà truyền giáo đã đến để tái thiết cơ sở hạ tầng bị phá hủy. Thế hệ thứ ba và thứ tư các nhà truyền giáo đã đến vào những năm 1970 và 1980.

Thập niên 1990 đánh dấu một bước ngoặt lớn với sự gia tăng đáng kể các ơn gọi bản địa; con số này còn mở rộng hơn nữa trong những năm 2000. Đây là lúc thế hệ lãnh đạo Kitô giáo hiện tại của chúng tôi xuất hiện. Hiện nay, chúng tôi là một Giáo hội địa phương đang trong giai đoạn chuyển tiếp. Điều này có nghĩa là chúng tôi phải học cách tự lực, tự quản lý và vững vàng trong căn tính Kitô giáo riêng biệt của mình với tư cách là một Giáo hội Melanesia. Đây là thách đố lớn mà chúng tôi phải đối diện trong những năm tới: khi số các nhà truyền giáo nước ngoài giảm dần, kỳ vọng đặt trên chúng tôi, hàng giáo sĩ địa phương, trong việc đảm nhận trọn vẹn trách nhiệm và lãnh đạo sẽ tiếp tục tăng lên.


Trong một quốc gia được đánh dấu bởi sự đa dạng văn hóa và bộ tộc mạnh mẽ, Cha thấy đâu là những thách đố chính trong việc xây dựng sự hiệp nhất trong Giáo hội, và những chuyển biến tích cực nào đem lại cho Cha hy vọng?

Đất nước chúng tôi được mô tả một cách chính xác là một trong những quốc gia đa dạng nhất về văn hóa trên Trái Đất. Chúng tôi là một xã hội bộ tộc tự hào có hơn 800 ngôn ngữ và nhóm sắc tộc riêng biệt. Một phép lạ thật đẹp khi chúng tôi, với tư cách một quốc gia non trẻ, đã có thể kỷ niệm 50 năm độc lập (1975–2025) như một quốc gia thống nhất, dân chủ và chủ yếu theo Kitô giáo — bất chấp những thách đố to lớn về xã hội, bộ tộc, kinh tế và chính trị.

Tôi tin chắc rằng yếu tố hiệp nhất mạnh mẽ nhất ở đất nước chúng tôi chính là căn tính Kitô giáo. Sự hiệp nhất này sống động nhất trong Giáo hội, nơi mọi người từ mọi tầng lớp, vùng miền và bộ tộc quy tụ lại với nhau như một gia đình. Thật là bằng chứng mạnh mẽ khi chứng kiến những khoảnh khắc các cá nhân thuộc những bộ tộc từng là đối thủ trong lịch sử ngồi lại và hợp tác như một đội ngũ trong hội đồng mục vụ giáo xứ.

Kể từ buổi đầu loan báo Tin Mừng, các nhà thờ đã đóng một vai trò rất lớn trong việc hiệp nhất hàng ngàn bộ tộc ở New Guinea. Mặc dù sự thống nhất quốc gia vẫn là một tiến trình đang tiếp diễn, Giáo hội đã làm một công việc rất đặc biệt là đặt nền móng và vun đắp một bản sắc quốc gia chung, qua việc cung cấp các trường học và trung tâm y tế mở cửa cho tất cả mọi người, không phân biệt ranh giới bộ tộc.

Những thách đố chính đối với sự hiệp nhất này xuất phát từ các chia rẽ chính trị và sự kìm kẹp kéo dài của các tập tục tổ tiên, chẳng hạn như hệ thống trả thù “mắt đền mắt”, vốn có thể châm ngòi cho những vòng xoáy bất tận của xung đột và chiến tranh bộ tộc.


Những tín ngưỡng truyền thống, bao gồm cả những nỗi sợ hãi liên quan đến phép thuật và thế giới tâm linh, vẫn còn hiện diện rất rõ ở một số vùng. Giáo hội tìm cách đồng hành với người dân trong sự tôn trọng như thế nào, đồng thời giúp họ đào sâu hiểu biết về Tin Mừng?

Các niềm tin truyền thống, những cáo buộc liên quan đến yêu thuật, bạo lực và mối quan hệ với thế giới linh hồn dựa trên nỗi sợ hãi vẫn phổ biến ở nhiều nơi trong nước, ngay cả giữa những người Công giáo thực hành đức tin. Giáo hội là một trong số ít các định chế tiếp cận với các hệ thống tín ngưỡng truyền thống với sự nhạy bén mục vụ, trong khi vẫn kiên quyết nói lên sự thật về những thực hành văn hóa hoàn toàn không tương thích với đức tin Kitô giáo.

Lập trường Công giáo là không thỏa hiệp: chúng ta không thể thực sự sống như người Công giáo trong khi vẫn tiếp tục nuôi dưỡng niềm tin vào phép thuật và yêu thuật. Giáo hội cũng kiên quyết phản đối chế độ đa thê, vốn vẫn còn phổ biến, đặc biệt những người đàn ông giàu có.

Để giải quyết vấn đề này, giáo phận của tôi, cùng với nhiều nơi khác, điều hành các trung tâm mục vụ. Những trung tâm này tổ chức các khóa học và hội thảo, phối hợp chặt chẽ với các tổ chức phi chính phủ và các cơ quan chính quyền, nhằm đào tạo các nhà lãnh đạo Giáo hội và các tình nguyện viên cộng đồng. Những người tham dự được trang bị để trở thành những người bênh vực và tư vấn cho các nạn nhân của bạo lực gia đình, các cáo buộc liên quan đến phép thuật và những vấn đề xã hội mang tính cơ cấu khác. Ngoài ra, một số người được đào tạo chuyên biệt về giải quyết xung đột và trung gian hòa giải hòa bình, và được cử đến những khu vực đang xảy ra chiến tranh bộ tộc.

Qua các sáng kiến này, cộng đoàn Giáo hội tích cực đồng hành với các nạn nhân bạo lực, đồng thời nâng cao nhận thức cộng đồng để loại bỏ các tập tục truyền thống có hại. Chúng tôi nỗ lực giúp người dân đón nhận sức mạnh biến đổi của chân lý, tình yêu và sự tha thứ của Tin Mừng. Tình hình chưa hoàn hảo, nhưng Giáo hội đang đi đầu trong việc bênh vực, bảo vệ và đào tạo con người.


Ở Papua New Guinea có sự đa dạng phong phú về các bộ tộc và văn hóa. Theo kinh nghiệm của Cha, sự đa dạng này tạo ra những cơ hội và thách thức nào cho việc xây dựng sự hiệp thông trong Giáo hội?

Tôi có thể nói về thực tại này một cách sâu sắc từ kinh nghiệm mục vụ của mình với tư cách là một cựu linh mục chánh xứ. Những thách thức luôn hiện hữu. Thực tại của chúng tôi khá khác biệt với các xã hội đa văn hóa ở Châu Âu, nơi những người từ các quốc gia hoàn toàn khác nhau di cư đến để cùng sinh sống và làm việc. Tại Papua New Guinea, sự đa dạng của chúng tôi là nội tại — chúng tôi gồm các bộ tộc và nhóm sắc tộc khác nhau cùng chia sẻ một di sản Melanesia chung. Vì thế, viên gạch đầu tiên cho sự hiệp nhất của chúng tôi cách tự nhiên phải là bản sắc Melanesia chung ấy. Tuy nhiên, trên thực tế, ít khi đơn giản chỉ như vậy, bởi chúng tôi vẫn gắn chặt với một hệ thống bộ tộc địa phương phức tạp.

Sự đa dạng to lớn này cần được nhìn nhận như một phúc lành sâu xa. Giáo hội có thể sử dụng điều đó để cho thấy rằng, cũng như những bộ phận khác nhau của một thân thể hợp thành một thể thống nhất, các bản sắc bộ tộc riêng biệt của chúng tôi có thể đóng góp cách độc đáo cho sự hiệp nhất của cả Giáo hội lẫn quốc gia độc lập.

Một ví dụ đẹp về sự hiệp nhất này là Thánh Phêrô ToRot, một ân phúc của quốc gia chúng tôi. Dù ngài xuất thân từ Rabaul (New Britain), mọi người Công giáo trên khắp Papua New Guinea đều tự hào nhận ngài và nói: “Ngài là một người trong chúng tôi.” Nguồn gốc bộ tộc và vùng miền cụ thể của ngài mờ nhạt đi vì ngài đã ngã xuống với tư cách là một giáo lý viên, một vị tử đạo và một người Công giáo. Điều này cho thấy những cơ hội phi thường mà chúng tôi có để xây dựng sự hiệp thông thực sự.

Tại những nơi các cuộc giao tranh bộ tộc tiếp tục tàn phá một số vùng, các nhà thờ luôn đi đầu trong công tác hòa giải, dẫn dắt các cuộc đàm phán hòa bình và nỗ lực hòa giải. Bởi vì người dân địa phương thường tin tưởng vào sự chính trực của Giáo hội hơn rất nhiều so với các nhà lãnh đạo chính trị, các buổi hội thảo đào tạo những người trung gian hòa bình trong cộng đồng của chúng tôi có tác động rất lớn.

Chúng tôi vẫn còn một chặng đường dài để đạt tới một ý thức hoàn hảo về sự hiệp nhất quốc gia và tinh thần. Tuy nhiên, Giáo hội đã thành công trong việc mở đường. Với sự kiên nhẫn và bền chí tiếp tục, tôi tin tưởng rằng cam kết kiên định này cuối cùng sẽ sinh hoa trái là sự hòa giải và hiệp nhất bền lâu.
(Hãng tin Fides, ngày 12/8/2026)


[Nguồn: fides.org]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 13/08/2026]


Thứ Năm, 28 tháng 5, 2026

Thông điệp ‘Magnifica Humanitas’ về trí tuệ nhân tạo (AI): 6 điều người Công giáo cần biết

Thông điệp ‘Magnifica Humanitas’ về trí tuệ nhân tạo (AI): 6 điều người Công giáo cần biết

Thông điệp ‘Magnifica Humanitas’ về trí tuệ nhân tạo (AI): 6 điều người Công giáo cần biết

Shutterstock I Korosi Francois-Zoltan


Daniel Esparza

25/05/26


AI không thể cảm nhận, yêu thương, hay gánh vác trách nhiệm luân lý — nhưng nó có thể loại trừ, thao túng và tập trung quyền lực. Đức Thánh cha muốn nó phải được quản trị, chứ không chỉ dừng lại ở việc điều tiết.

Trước thông điệp Magnifica Humanitas, chưa từng có vị giáo hoàng nào luận bàn về trí tuệ nhân tạo ở mức độ dài và với những chi tiết kỹ thuật cũng như thần học như vậy. Dưới đây là sáu điều Đức Lêô XIV muốn người Công giáo phải hiểu rõ.


1. AI không phải là trí tuệ con người, và chính sự khác biệt này là điều cốt yếu

Đức Lêô XIV diễn đạt rất chính xác về điểm này. Đoạn 99 khẳng định rằng các hệ thống AI “không trải qua những kinh nghiệm, không có thân xác, không cảm nhận niềm vui hay đau khổ, không trưởng thành qua các mối tương quan, và từ bên trong không biết tình yêu, lao động, tình bạn hoặc trách nhiệm có nghĩa là gì.” Chúng có thể bắt chước ngôn ngữ và mô phỏng sự đồng cảm, nhưng “chúng không hiểu những gì chúng tạo ra.” Đây không phải là một khác biệt kỹ thuật nhỏ bé. Nó là nền tảng cho toàn bộ những gì tiếp theo.


2. AI không bao giờ trung lập về mặt luân lý

Mọi hệ thống đều tích hợp các lựa chọn. Đoạn 104 nêu rõ rằng “mọi công cụ kỹ thuật đều thể hiện cụ thể các lựa chọn và ưu tiên qua những gì nó đo lường, bỏ qua và tối ưu hóa, cũng như cách thức nó phân loại con người và hoàn cảnh.” Đức Lêô XIV viết rằng khi một hệ thống được thiết kế theo cách xét một số sự sống là ít giá trị hơn, nó “đã đưa vào các tiêu chí mâu thuẫn với phẩm giá bất khả xâm phạm của con người.” Đạo đức không thể là một ý nghĩ bổ sung thêm vào sau khi công nghệ đã được xây dựng.


3. Trao quyền quyết định cho các thuật toán đồng nghĩa với việc đánh mất trách nhiệm giải trình

Khi các hệ thống tự động đưa ra những quyết định hệ trọng — về việc làm, tín dụng, hoặc khả năng tiếp cận các dịch vụ — đoạn 103 cảnh báo rằng “sự loại trừ những người dễ bị tổn thương được che đậy dưới một lớp vỏ trung lập và khách quan, khiến cho việc phản đối trở nên khó khăn.” Đức Thánh cha viết rằng lòng trắc ẩn, lòng thương xót và sự tha thứ “dần biến mất khỏi tầm nhìn.” Luôn phải có một ai đó chịu trách nhiệm. Một thuật toán thì không thể.


4. Dữ liệu là công ích

Đây có thể là khẳng định mang tính cách mạng nhất về mặt kinh tế của thông điệp. Đoạn 108 nhấn mạnh rằng dữ liệu “là sản phẩm của nhiều người đóng góp và không được đối xử như một thứ để đem bán hoặc được trao phó cho một số ít người chọn lọc.” Các thuật toán, những nền tảng kỹ thuật số, bằng sáng chế và cơ sở hạ tầng công nghệ đều thuộc phạm vi của nguyên tắc phổ quát của của cải (universal destination of goods). Những gì ngành công nghệ coi là tài sản tư hữu thì Đức Thánh cha xem là thuộc về toàn thể nhân loại, theo một ý nghĩa quan trọng.


5. Những người lao động thầm lặng phải được nhìn nhận

Đức Lêô XIV nhắc nhở chúng ta rằng đằng sau mỗi phản hồi của AI là “một chuỗi dài những tầng trung gian.” Đoạn 173 cho biết phần lớn điều đó phụ thuộc vào “hàng triệu người đang thực hiện các công việc thiết yếu nhưng phần lớn không được nhìn thấy, như dán nhãn dữ liệu, huấn luyện mô hình và kiểm duyệt nội dung, thường phải tiếp xúc với những tài liệu gây khó chịu.” Nhiều người trong số họ là các phụ nữ trẻ làm việc với mức lương tối thiểu. Những người khác khai thác các khoáng sản đất hiếm trong những điều kiện nguy hiểm. “Thân thể của những người này đầy vết sẹo, bị thương tổn và hao mòn để dòng chảy điện toán có thể liên tục không bị gián đoạn.” Không một lời ca ngợi nào về lợi ích của AI có thể bỏ qua điều này.


6. AI phải được giải giới, không chỉ là điều tiết

Đòi hỏi nổi bật nhất của thông điệp này vượt ra ngoài các khung quản trị và hướng dẫn đạo đức. Đoạn 110 kêu gọi AI phải được “giải giới” — giải phóng khỏi “não trạng cạnh tranh vũ trang,” khỏi sự kiểm soát độc quyền, khỏi cuộc đua giành ưu thế địa chính trị và thương mại. “Giải giới không có nghĩa là khước từ công nghệ, mà là ngăn chặn không để nó thống trị nhân loại.” Đoạn 111 trực tiếp gửi đến các nhà phát triển AI: “Mỗi lựa chọn trong thiết kế đều phản ánh một tầm nhìn về con người.” Ngài nhấn mạnh rằng trách nhiệm đó vừa mang tính đạo đức vừa mang tính thiêng liêng.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 26/05/2026]


Thứ Ba, 26 tháng 5, 2026

Kết nối các dấu mốc từ thông điệp 'Rerum Novarum' đến 'Magnifica Humanitas'

Kết nối các dấu mốc từ thông điệp 'Rerum Novarum' đến 'Magnifica Humanitas'

PHÂN TÍCH: Đã có bảy giai đoạn phát triển trong suốt 135 năm kể từ khi Đức Thánh cha Lêô XIII ban hành văn kiện mang tính đột phá của ngài.

Kết nối các dấu mốc từ thông điệp 'Rerum Novarum' đến 'Magnifica Humanitas'

Andrea Gagliarducci

Vatican 21 Tháng Năm, 2026


Việc Đức Giáo hoàng Lêô XIV quyết định chính thức ký ban hành Thông điệp Magnifica Humanitas vào ngày 15 tháng 5 không phải là điều ngẫu nhiên.

Chính vào ngày này năm 1891, vị tiền nhiệm cùng tước hiệu với ngài, Đức Lêô XIII, đã ký thông điệp Rerum Novarum, thông điệp xã hội đầu tiên trong lịch sử Giáo hội Công giáo. Ngày nay, Đức Lêô XIV vẫn muốn phản ánh về “những điều mới mẻ” (ý nghĩa của Rerum Novarum), tức là những thách đố mới do xã hội đương đại đặt ra.

Nhưng tại sao cần phải nhìn lại Rerum Novarum? Và học thuyết xã hội của Giáo hội đã phát triển như thế nào trong suốt 135 năm kể từ khi thông điệp được công bố?

Khi Đức Lêô XIII đề cập đến “những điều mới mẻ” của thời đại bấy giờ, ngài phải đưa ra câu trả lời của Kitô giáo trước hai hiện tượng lớn: tư tưởng xã hội chủ nghĩa trao cho người nghèo niềm hy vọng bằng cách kêu gọi họ tham gia vào cuộc đấu tranh giai cấp; và tư tưởng Khai sáng đã dẫn đến một cuộc tấn công chưa từng có nhắm vào Giáo hội. Thêm vào đó, ngài cũng phải đối diện với các vấn đề của cuộc Cách mạng Công nghiệp, sự thay đổi nhanh chóng của thế giới lao động đang tạo ra sự mất cân bằng xã hội sâu sắc giữa người giàu và người nghèo.

Với Đức Lêô XIII, một học thuyết xã hội đã xuất hiện, khởi đi từ những vấn đề của con người và sau đó chạm đến các vấn đề quốc tế. Không phải ngẫu nhiên mà Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII, trong Thông điệp Mater et Magistra năm 1961, đã nói đến những mất cân bằng toàn cầu và cách thức chúng trở thành mối đe dọa đối với hòa bình. Cũng không phải tình cờ mà Thánh Giáo hoàng Phaolô VI, trong Thông điệp Populorum Progressio năm 1967, đã nhấn mạnh rằng “phát triển là tên gọi mới của hòa bình.”

Rerum Novarum nói đến những điều gì

Đức Lêô XIII đã nói về điều gì trong Rerum Novarum? Phần đầu tiên được dành riêng cho vấn đề tư hữu. Đức Giáo hoàng bác bỏ luận điểm “chế độ tài sản chung do chủ nghĩa xã hội đề xuất” vì điều đó “xúc phạm đến các quyền tự nhiên của mỗi cá nhân.”

Đức Lêô XIII cũng đề cập đến vấn đề mục đích chung của của cải, trong đó nhấn mạnh rằng chính việc sử dụng tốt hay xấu đối với của cải mới là điều quyết định vấn đề, bởi lẽ “sự giàu có không giải thoát con người khỏi đau khổ.” Thông điệp sau đó bàn đến vấn đề nghèo đói, nhấn mạnh rằng “nhân đức là sản nghiệp chung, ai cũng có thể đạt được như nhau, dù là người quyền quý hay kẻ thấp hèn, người giàu cũng như người vô sản,” điều này rất quan trọng để hiểu rằng mọi người đều bình đẳng trước mặt Thiên Chúa.

Đức Lêô XIII cũng đề cập đến chủ đề tình huynh đệ, chủ đề mà sau này Đức Thánh cha Phanxicô đã dành trọn một thông điệp để khai triển, và nhấn mạnh rằng sống tình huynh đệ có nghĩa là nhìn nhận “những ân huệ của tự nhiên và ân sủng là gia sản chung của toàn thể nhân loại,” bởi vì nếu tất cả mọi người đều là con cái, thì tất cả cũng là “những người thừa kế của Thiên Chúa và đồng thừa kế với Chúa Giêsu Kitô. Đây là lý tưởng về các quyền lợi và bổn phận được chứa đựng trong Tin Mừng.”

Đức Lêô XIII nói về một Giáo hội đang hiện diện giữa lòng thế giới và do đó ưu tiên cải thiện những điều kiện sống cũng như làm cho lao động trở nên xứng hợp với phẩm giá hơn. Chính vì vậy, Rerum Novarum dành nhiều chú ý đến những điều kiện lao động khắc nghiệt của giới công nhân công nghiệp, nhấn mạnh rằng “đòi hỏi con người phải làm việc quá nhiều đến mức tinh thần bị suy sụp vì lao lực và cơ thể bị suy kiệt thì không công bằng cũng chẳng nhân đạo.”

Đức Lêô XIII cũng khẳng định rằng “tiền lương không được thấp hơn mức đủ để người lao động sinh sống,” và đồng thời, người lao động cũng phải học cách tiết kiệm.

Chủ đề lớn ở đây là thiết lập một trật tự xã hội công bằng, với một con đường trung tâm: con đường bác ái.

Đức Lêô XIII viết: “Mỗi người hãy thi hành phần việc của mình và đừng trì hoãn, vì sự trì hoãn có thể khiến cho việc chữa lành một sự dữ vốn đã trầm trọng càng trở nên khó khăn hơn. Các chính phủ hãy hướng tới mục tiêu này bằng những luật lệ tốt đẹp và những biện pháp khôn ngoan; các nhà tư bản và giới chủ sử dụng lao động luôn ghi nhớ bổn phận của mình; và giới vô sản, những người bị ảnh hưởng trực tiếp, hãy làm những gì có thể trong giới hạn của công lý.”

Bảy giai đoạn của giáo huấn xã hội

Kể từ Rerum Novarum, đã có 12 thông điệp xã hội, nếu tính cả Laudato Si và Fratelli Tutti của Đức Thánh cha Phanxicô. Tất cả đều quy chiếu về Rerum Novarum, cập nhật tư duy để đáp ứng với những phát triển mới, giải quyết các thách đố xã hội mới, và làm phong phú thêm một tư tưởng với sứ mạng trả lời những câu hỏi của thời đại.

Đức Giám mục danh dự Mario Toso của giáo phận Faenza-Modigliana, Ý, một trong những chuyên gia hàng đầu của Giáo hội về học thuyết xã hội, nhấn mạnh rằng: “Học thuyết xã hội của Giáo hội cung cấp những chìa khóa diễn giải giúp các ngành khoa học khác nhau đối thoại với nhau để đóng góp cho tri thức, hòa bình và việc hiện thực hóa Nước Thiên Chúa. Học thuyết xã hội không phải là tri thức suy diễn; không phải điều bị áp đặt bởi người khác; cũng không phải là một học thuyết quá phức tạp. Học thuyết Xã hội là một tri thức mở.”

Ông Ernesto Preziosi, người nhiều năm giữ chức giám đốc quan hệ đối ngoại (quản lý vùng sở tại của đại học) tại Đại học Công giáo Thánh Tâm ở Milan, nhấn mạnh rằng trọng tâm của học thuyết xã hội Công giáo chính là “việc loan báo Tin Mừng.”

Ông Preziosi xác định có bảy giai đoạn trong tiến trình phát triển của học thuyết xã hội.

Giai đoạn thứ nhất bắt đầu từ Rerum Novarum vào những năm 1920 và 1930, khi giáo huấn xã hội trở thành đặc quyền của một phong trào mang tính bình dân hơn, và tiếp theo là giai đoạn nảy sinh vào cuối Thế chiến thứ hai, với một hình thái giáo huấn xã hội mới, và cũng va chạm với sự tiến hóa của chủ nghĩa xã hội.

Sau đó là giai đoạn thứ tư, giai đoạn của Công đồng Vatican II, bởi vì, ông Preziosi nói, “Đức Gioan XXIII và Đức Phaolô VI đã thay đổi phương pháp phát triển học thuyết xã hội: đi từ phương pháp diễn dịch sang phương pháp quy nạp.”

Giai đoạn thứ năm diễn ra sau Công đồng và là giai đoạn rất tế nhị, bởi vì “Công đồng mở ra một viễn cảnh mới; Công đồng nhìn nhận sự thay đổi trong phương pháp.” Ngay trong các cuộc tranh luận tại công đồng, việc sử dụng thuật ngữ “học thuyết” đã bị tranh cãi, và người ta bắt đầu nói đến một cách giải thích tự do hơn.

Với Đức Bênêđictô XVI – đây là giai đoạn thứ sáu – “cuộc tranh luận khép lại, vì sự khủng hoảng của các hệ tư tưởng đã nhường chỗ cho một lối tư duy duy nhất,” ông Preziosi giải thích. Chủ nghĩa nhân văn mới, vốn đã hiện diện trong tư tưởng của Thánh Gioan Phaolô II, được nhấn mạnh qua các thông điệp Laborem Exercens, Sollicitudo Rei SocialisCentesimus Annus, những văn kiện đã đưa chủ đề đạo đức xã hội trở lại trung tâm, nhằm vượt qua các ý thức hệ hiện thời.

Sau cùng, giai đoạn thứ bảy, với Đức Giáo hoàng Phanxicô, là giai đoạn của những biến chuyển xã hội lớn lao.

Thông điệp Magnifica Humanitas có khả năng sẽ mở ra một kỷ nguyên mới. Văn kiện này hướng tầm nhìn tới một cuộc cách mạng công nghiệp mới do trí tuệ nhân tạo khởi phát, tới những mất cân bằng toàn cầu phát sinh từ sự phân bổ lao động mới, và tới một thế giới mới mà Giáo hội được mời gọi phải đưa ra câu trả lời. Đây có thể không phải là thông điệp xã hội duy nhất của Đức Lêô XIV, nhưng sẽ là một điểm khởi đầu rất đáng để dõi theo.


[Nguồn: ncregister]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 23/05/2026]


Thứ Tư, 18 tháng 3, 2026

Liên minh Toàn cầu được khởi động: một nền tảng quốc tế về nghiên cứu và hành động cho sinh thái toàn diện, do Giáo hội Công giáo đặt bước tiên phong

Liên minh Toàn cầu được khởi động: một nền tảng quốc tế về nghiên cứu và hành động cho sinh thái toàn diện, do Giáo hội Công giáo đặt bước tiên phong
Sáng kiến, do Trung tâm Giáo dục Bậc cao Laudato Si’ và Đại học Notre Dame dẫn dắt
Ảnh: Centro Di Alta Formazione Laudato Si

Liên minh Toàn cầu được khởi động: một nền tảng quốc tế về nghiên cứu và hành động cho sinh thái toàn diện, do Giáo hội Công giáo bước tiên phong

Sáng kiến này, do Trung tâm Giáo dục Bậc cao Laudato Si’ và Đại học Notre Dame dẫn dắt, đã quy tụ các học giả từ nhiều lãnh vực chuyên môn khác nhau với mục tiêu tăng cường sự hợp tác giữa các đại học trên toàn thế giới, đồng thời định hướng nghiên cứu khoa học vào những tiến trình cụ thể của sự chuyển đổi về môi trường, xã hội và kinh tế; phù hợp với tầm nhìn về việc chăm sóc ngôi nhà chung được đề xuất trong giáo huấn của Đức Thánh Cha Phanxicô và được thúc đẩy bởi Đức Thánh Cha Lêô XIV.


13 tháng Ba, 2026 13:03

ZENIT STAFF


(ZENIT News / Castelgandolfo, 13.03.2026). - Hai ngày đối thoại giữa các nhà nghiên cứu đến từ hơn 60 đại học và 30 quốc gia đã đánh dấu sự ra đời của Liên minh Toàn cầu, một nền tảng quốc tế về sự hợp tác học thuật và khoa học nhằm xây dựng một chương trình nghị sự toàn cầu về nhận thức, nghiên cứu, giáo dục và hành động trong lãnh vực sinh thái học toàn diện, được truyền cảm hứng từ các nguyên tắc của Thông điệp Laudato Si’.

Sáng kiến này, do Trung tâm Giáo dục Bậc cao Laudato Si’ và Đại học Notre Dame dẫn dắt, đã quy tụ các học giả từ nhiều lãnh vực chuyên môn khác nhau với mục tiêu tăng cường sự hợp tác giữa các đại học trên toàn thế giới, đồng thời định hướng nghiên cứu khoa học vào những tiến trình cụ thể của sự chuyển đổi về môi trường, xã hội và kinh tế; phù hợp với tầm nhìn về việc chăm sóc ngôi nhà chung được đề xuất trong giáo huấn của Đức Thánh Cha Phanxicô và được thúc đẩy bởi Đức Thánh Cha Lêô XIV.

Ngày thảo luận đầu tiên được dành ra để trình bày các hoạt động nghiên cứu đang được triển khai tại các đại học thành viên, và xác định những cơ hội mới cho sự hợp tác quốc tế. Các diễn giả nhấn mạnh tầm quan trọng cốt lõi của phương pháp tiếp cận liên ngành, có khả năng kết hợp các ngành khoa học tự nhiên và ứng dụng với triết học, nhân học, khoa học xã hội và thần học.

Các cuộc thảo luận xuất phát từ một số đoạn văn quan trọng nhất trong Thông điệp Laudato Si’, góp phần đào sâu và phát triển di sản văn hóa, khoa học và xã hội của văn kiện này. Công trình học thuật được hiểu như một phần của một tiến trình rộng lớn hơn, nhằm thúc đẩy sự hoán cải sinh thái đích thực. Điều này được thực hiện thông qua các mạng lưới nghiên cứu có khả năng tạo ra tri thức, hỗ trợ các cuộc tranh luận công khai và đóng góp vào việc xây dựng những chính sách cũng như chiến lược phát triển bền vững.

Các cuộc đối thoại dần mở rộng vượt ra ngoài phạm vi môi trường thuần túy để giải quyết những vấn đề thuộc cơ cấu đang ảnh hưởng đến sự cân bằng toàn cầu; bao gồm tài chính khí hậu, việc xóa nợ công, và các động lực của chủ nghĩa tân thực dân.

Những chủ đề này phản ánh tầm nhìn về sinh thái toàn diện được đề xuất trong Laudato Si’, liên kết việc bảo vệ môi trường với các vấn đề công bằng xã hội, trách nhiệm của các hệ thống tài chính và sự chuyển đổi các mô hình kinh tế. Trên thực tế, cuộc khủng hoảng sinh thái không thể tách rời khỏi sự bất bình đẳng kinh tế và các động lực thuộc cơ cấu đang định hình hệ thống phát triển toàn cầu hiện nay.

Từ tầm nhìn này, những thảo luận giữa các tham dự viên đã nhấn mạnh nhu cầu về một phương pháp tiếp cận kết hợp, không chỉ bao gồm cộng đồng nghiên cứu và các thể chế công, mà còn gồm cả khu vực tư nhân, các hệ thống sản xuất, thị trường và các nhà đầu tư — những chủ thể được kêu gọi đóng góp vào việc xây dựng các mô hình kinh tế bền vững hơn, công bằng hơn và hướng tới ích chung.

Borgo Laudato Si’ đã đóng vai trò là bối cảnh mang tính biểu tượng lẫn vận hành cho cuộc gặp gỡ, đem lại cho các tham dự viên một ví dụ cụ thể về cách thức các nguyên tắc của Thông điệp có thể được đưa ra thực hành thông qua những sáng kiến kết hợp các chiều kích môi trường, xã hội, giáo dục và đức tin.

Được thiết kế như một không gian dành cho giáo dục, nghiên cứu và thử nghiệm, Borgo đóng vai trò là một phòng thí nghiệm về sinh thái toàn diện, có khả năng chuyển hóa các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội Công giáo thành những thực hành và mô hình có thể nhân rộng trong các bối cảnh khác. Không gian này đã tạo ra sự quan tâm mạnh mẽ nơi các tham dự viên, những người nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy các lộ trình chuyển đổi tương tự trong các đại học và trung tâm nghiên cứu trên toàn thế giới.

Ngày thảo luận thứ hai đánh dấu bước chuyển từ suy tư sang việc xác định các công cụ vận hành. Các tham dự viên đã thành lập sáu nhóm làm việc liên ngành, có nhiệm vụ phát triển các định hướng nghiên cứu chính của Liên minh Toàn cầu trong những năm tới.

Công việc của họ tập trung đặc biệt vào các ưu tiên chiến lược sau:
  • Loại bỏ các rào cản ngăn cản việc tiếp cận nước sạch, năng lượng và an ninh lương thực.
  • Biến đổi các hệ thống kinh tế hướng tới những mô hình bền vững và công bằng hơn.
  • Phát triển những thực hành tốt nhất và các công cụ để thúc đẩy hành động tập thể.
Đức Hồng y Fabio Baggio, Giám đốc Trung tâm Giáo dục Bậc cao Laudato Si’ nói, “Ngày đầu tiên đã mang lại sự phong phú rất lớn về nội dung và những suy tư chung. Các đại học và trung tâm nghiên cứu đã trình bày những nghiên cứu và dự án trải rộng từ khoa học ứng dụng đến triết học, từ nhân học đến khoa học nhân văn và thần học. Nhiệt huyết này, được sinh ra từ khát vọng chung là phục vụ thiện ích cho nhân loại và chăm sóc thụ tạo, là một dấu chỉ của niềm hy vọng lớn lao. Giờ đây, chúng ta được mời gọi chuyển hóa điều đó thành những mục tiêu cụ thể thông qua các nhóm làm việc sẽ tiếp tục sau hội nghị, khởi đầu một tiến trình hợp tác lâu dài giữa các trung tâm nghiên cứu và các thể chế, nhằm phục vụ việc chăm sóc ngôi nhà chung và thúc đẩy một nền sinh thái toàn diện đích thực.”

Linh mục Robert A. Dowd, C.S.C., Viện trưởng Đại học Notre Dame, cho biết, “Chúng tôi bước ra từ cuộc gặp gỡ đầu tiên này của Liên minh Toàn cầu với một ý thức mới về sứ mạng và niềm hy vọng. Những sáng kiến nghiên cứu và giáo dục liên ngành này phản ánh cam kết của chúng tôi đối với một nền sinh thái toàn diện, vốn nhìn nhận các mối liên hệ sâu xa giữa tính bền vững của môi trường với phẩm giá và sự thăng tiến của con người. Chúng tôi mong đợi nhiều cách thức mà sự hợp tác này sẽ phục vụ ích chung và thúc đẩy việc chăm sóc ngôi nhà chung trong những ngày tới.”

Sự kết thúc của cuộc gặp gỡ đánh dấu bước khởi đầu của một “hành trình hiệp hành” dự kiến sẽ phát triển theo thời gian thông qua các tiến trình nghiên cứu và giáo dục, với tiềm năng tạo ra những tác động tích cực đáng kể ở cấp địa phương, khu vực và toàn cầu. Những hiểu biết sâu sắc được rút ra sẽ góp phần phát triển các chương trình giáo dục mới về sinh thái toàn diện, thiết lập các định hướng nghiên cứu mới về tác động của những chuyển đổi môi trường và xã hội, và thúc đẩy các sáng kiến nâng cao nhận thức hướng đến xã hội dân sự.


[Nguồn: zenit]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 16/3/2026]