Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài Liệu - Sách Công Giáo (sưu tầm). Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tài Liệu - Sách Công Giáo (sưu tầm). Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2026

Thông điệp ‘Magnifica Humanitas’ về trí tuệ nhân tạo (AI): 6 điều người Công giáo cần biết

Thông điệp ‘Magnifica Humanitas’ về trí tuệ nhân tạo (AI): 6 điều người Công giáo cần biết

Thông điệp ‘Magnifica Humanitas’ về trí tuệ nhân tạo (AI): 6 điều người Công giáo cần biết

Shutterstock I Korosi Francois-Zoltan


Daniel Esparza

25/05/26


AI không thể cảm nhận, yêu thương, hay gánh vác trách nhiệm luân lý — nhưng nó có thể loại trừ, thao túng và tập trung quyền lực. Đức Thánh cha muốn nó phải được quản trị, chứ không chỉ dừng lại ở việc điều tiết.

Trước thông điệp Magnifica Humanitas, chưa từng có vị giáo hoàng nào luận bàn về trí tuệ nhân tạo ở mức độ dài và với những chi tiết kỹ thuật cũng như thần học như vậy. Dưới đây là sáu điều Đức Lêô XIV muốn người Công giáo phải hiểu rõ.


1. AI không phải là trí tuệ con người, và chính sự khác biệt này là điều cốt yếu

Đức Lêô XIV diễn đạt rất chính xác về điểm này. Đoạn 99 khẳng định rằng các hệ thống AI “không trải qua những kinh nghiệm, không có thân xác, không cảm nhận niềm vui hay đau khổ, không trưởng thành qua các mối tương quan, và từ bên trong không biết tình yêu, lao động, tình bạn hoặc trách nhiệm có nghĩa là gì.” Chúng có thể bắt chước ngôn ngữ và mô phỏng sự đồng cảm, nhưng “chúng không hiểu những gì chúng tạo ra.” Đây không phải là một khác biệt kỹ thuật nhỏ bé. Nó là nền tảng cho toàn bộ những gì tiếp theo.


2. AI không bao giờ trung lập về mặt luân lý

Mọi hệ thống đều tích hợp các lựa chọn. Đoạn 104 nêu rõ rằng “mọi công cụ kỹ thuật đều thể hiện cụ thể các lựa chọn và ưu tiên qua những gì nó đo lường, bỏ qua và tối ưu hóa, cũng như cách thức nó phân loại con người và hoàn cảnh.” Đức Lêô XIV viết rằng khi một hệ thống được thiết kế theo cách xét một số sự sống là ít giá trị hơn, nó “đã đưa vào các tiêu chí mâu thuẫn với phẩm giá bất khả xâm phạm của con người.” Đạo đức không thể là một ý nghĩ bổ sung thêm vào sau khi công nghệ đã được xây dựng.


3. Trao quyền quyết định cho các thuật toán đồng nghĩa với việc đánh mất trách nhiệm giải trình

Khi các hệ thống tự động đưa ra những quyết định hệ trọng — về việc làm, tín dụng, hoặc khả năng tiếp cận các dịch vụ — đoạn 103 cảnh báo rằng “sự loại trừ những người dễ bị tổn thương được che đậy dưới một lớp vỏ trung lập và khách quan, khiến cho việc phản đối trở nên khó khăn.” Đức Thánh cha viết rằng lòng trắc ẩn, lòng thương xót và sự tha thứ “dần biến mất khỏi tầm nhìn.” Luôn phải có một ai đó chịu trách nhiệm. Một thuật toán thì không thể.


4. Dữ liệu là công ích

Đây có thể là khẳng định mang tính cách mạng nhất về mặt kinh tế của thông điệp. Đoạn 108 nhấn mạnh rằng dữ liệu “là sản phẩm của nhiều người đóng góp và không được đối xử như một thứ để đem bán hoặc được trao phó cho một số ít người chọn lọc.” Các thuật toán, những nền tảng kỹ thuật số, bằng sáng chế và cơ sở hạ tầng công nghệ đều thuộc phạm vi của nguyên tắc phổ quát của của cải (universal destination of goods). Những gì ngành công nghệ coi là tài sản tư hữu thì Đức Thánh cha xem là thuộc về toàn thể nhân loại, theo một ý nghĩa quan trọng.


5. Những người lao động thầm lặng phải được nhìn nhận

Đức Lêô XIV nhắc nhở chúng ta rằng đằng sau mỗi phản hồi của AI là “một chuỗi dài những tầng trung gian.” Đoạn 173 cho biết phần lớn điều đó phụ thuộc vào “hàng triệu người đang thực hiện các công việc thiết yếu nhưng phần lớn không được nhìn thấy, như dán nhãn dữ liệu, huấn luyện mô hình và kiểm duyệt nội dung, thường phải tiếp xúc với những tài liệu gây khó chịu.” Nhiều người trong số họ là các phụ nữ trẻ làm việc với mức lương tối thiểu. Những người khác khai thác các khoáng sản đất hiếm trong những điều kiện nguy hiểm. “Thân thể của những người này đầy vết sẹo, bị thương tổn và hao mòn để dòng chảy điện toán có thể liên tục không bị gián đoạn.” Không một lời ca ngợi nào về lợi ích của AI có thể bỏ qua điều này.


6. AI phải được giải giới, không chỉ là điều tiết

Đòi hỏi nổi bật nhất của thông điệp này vượt ra ngoài các khung quản trị và hướng dẫn đạo đức. Đoạn 110 kêu gọi AI phải được “giải giới” — giải phóng khỏi “não trạng cạnh tranh vũ trang,” khỏi sự kiểm soát độc quyền, khỏi cuộc đua giành ưu thế địa chính trị và thương mại. “Giải giới không có nghĩa là khước từ công nghệ, mà là ngăn chặn không để nó thống trị nhân loại.” Đoạn 111 trực tiếp gửi đến các nhà phát triển AI: “Mỗi lựa chọn trong thiết kế đều phản ánh một tầm nhìn về con người.” Ngài nhấn mạnh rằng trách nhiệm đó vừa mang tính đạo đức vừa mang tính thiêng liêng.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 26/05/2026]


Thứ Ba, 26 tháng 5, 2026

Kết nối các dấu mốc từ thông điệp 'Rerum Novarum' đến 'Magnifica Humanitas'

Kết nối các dấu mốc từ thông điệp 'Rerum Novarum' đến 'Magnifica Humanitas'

PHÂN TÍCH: Đã có bảy giai đoạn phát triển trong suốt 135 năm kể từ khi Đức Thánh cha Lêô XIII ban hành văn kiện mang tính đột phá của ngài.

Kết nối các dấu mốc từ thông điệp 'Rerum Novarum' đến 'Magnifica Humanitas'

Andrea Gagliarducci

Vatican 21 Tháng Năm, 2026


Việc Đức Giáo hoàng Lêô XIV quyết định chính thức ký ban hành Thông điệp Magnifica Humanitas vào ngày 15 tháng 5 không phải là điều ngẫu nhiên.

Chính vào ngày này năm 1891, vị tiền nhiệm cùng tước hiệu với ngài, Đức Lêô XIII, đã ký thông điệp Rerum Novarum, thông điệp xã hội đầu tiên trong lịch sử Giáo hội Công giáo. Ngày nay, Đức Lêô XIV vẫn muốn phản ánh về “những điều mới mẻ” (ý nghĩa của Rerum Novarum), tức là những thách đố mới do xã hội đương đại đặt ra.

Nhưng tại sao cần phải nhìn lại Rerum Novarum? Và học thuyết xã hội của Giáo hội đã phát triển như thế nào trong suốt 135 năm kể từ khi thông điệp được công bố?

Khi Đức Lêô XIII đề cập đến “những điều mới mẻ” của thời đại bấy giờ, ngài phải đưa ra câu trả lời của Kitô giáo trước hai hiện tượng lớn: tư tưởng xã hội chủ nghĩa trao cho người nghèo niềm hy vọng bằng cách kêu gọi họ tham gia vào cuộc đấu tranh giai cấp; và tư tưởng Khai sáng đã dẫn đến một cuộc tấn công chưa từng có nhắm vào Giáo hội. Thêm vào đó, ngài cũng phải đối diện với các vấn đề của cuộc Cách mạng Công nghiệp, sự thay đổi nhanh chóng của thế giới lao động đang tạo ra sự mất cân bằng xã hội sâu sắc giữa người giàu và người nghèo.

Với Đức Lêô XIII, một học thuyết xã hội đã xuất hiện, khởi đi từ những vấn đề của con người và sau đó chạm đến các vấn đề quốc tế. Không phải ngẫu nhiên mà Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII, trong Thông điệp Mater et Magistra năm 1961, đã nói đến những mất cân bằng toàn cầu và cách thức chúng trở thành mối đe dọa đối với hòa bình. Cũng không phải tình cờ mà Thánh Giáo hoàng Phaolô VI, trong Thông điệp Populorum Progressio năm 1967, đã nhấn mạnh rằng “phát triển là tên gọi mới của hòa bình.”

Rerum Novarum nói đến những điều gì

Đức Lêô XIII đã nói về điều gì trong Rerum Novarum? Phần đầu tiên được dành riêng cho vấn đề tư hữu. Đức Giáo hoàng bác bỏ luận điểm “chế độ tài sản chung do chủ nghĩa xã hội đề xuất” vì điều đó “xúc phạm đến các quyền tự nhiên của mỗi cá nhân.”

Đức Lêô XIII cũng đề cập đến vấn đề mục đích chung của của cải, trong đó nhấn mạnh rằng chính việc sử dụng tốt hay xấu đối với của cải mới là điều quyết định vấn đề, bởi lẽ “sự giàu có không giải thoát con người khỏi đau khổ.” Thông điệp sau đó bàn đến vấn đề nghèo đói, nhấn mạnh rằng “nhân đức là sản nghiệp chung, ai cũng có thể đạt được như nhau, dù là người quyền quý hay kẻ thấp hèn, người giàu cũng như người vô sản,” điều này rất quan trọng để hiểu rằng mọi người đều bình đẳng trước mặt Thiên Chúa.

Đức Lêô XIII cũng đề cập đến chủ đề tình huynh đệ, chủ đề mà sau này Đức Thánh cha Phanxicô đã dành trọn một thông điệp để khai triển, và nhấn mạnh rằng sống tình huynh đệ có nghĩa là nhìn nhận “những ân huệ của tự nhiên và ân sủng là gia sản chung của toàn thể nhân loại,” bởi vì nếu tất cả mọi người đều là con cái, thì tất cả cũng là “những người thừa kế của Thiên Chúa và đồng thừa kế với Chúa Giêsu Kitô. Đây là lý tưởng về các quyền lợi và bổn phận được chứa đựng trong Tin Mừng.”

Đức Lêô XIII nói về một Giáo hội đang hiện diện giữa lòng thế giới và do đó ưu tiên cải thiện những điều kiện sống cũng như làm cho lao động trở nên xứng hợp với phẩm giá hơn. Chính vì vậy, Rerum Novarum dành nhiều chú ý đến những điều kiện lao động khắc nghiệt của giới công nhân công nghiệp, nhấn mạnh rằng “đòi hỏi con người phải làm việc quá nhiều đến mức tinh thần bị suy sụp vì lao lực và cơ thể bị suy kiệt thì không công bằng cũng chẳng nhân đạo.”

Đức Lêô XIII cũng khẳng định rằng “tiền lương không được thấp hơn mức đủ để người lao động sinh sống,” và đồng thời, người lao động cũng phải học cách tiết kiệm.

Chủ đề lớn ở đây là thiết lập một trật tự xã hội công bằng, với một con đường trung tâm: con đường bác ái.

Đức Lêô XIII viết: “Mỗi người hãy thi hành phần việc của mình và đừng trì hoãn, vì sự trì hoãn có thể khiến cho việc chữa lành một sự dữ vốn đã trầm trọng càng trở nên khó khăn hơn. Các chính phủ hãy hướng tới mục tiêu này bằng những luật lệ tốt đẹp và những biện pháp khôn ngoan; các nhà tư bản và giới chủ sử dụng lao động luôn ghi nhớ bổn phận của mình; và giới vô sản, những người bị ảnh hưởng trực tiếp, hãy làm những gì có thể trong giới hạn của công lý.”

Bảy giai đoạn của giáo huấn xã hội

Kể từ Rerum Novarum, đã có 12 thông điệp xã hội, nếu tính cả Laudato Si và Fratelli Tutti của Đức Thánh cha Phanxicô. Tất cả đều quy chiếu về Rerum Novarum, cập nhật tư duy để đáp ứng với những phát triển mới, giải quyết các thách đố xã hội mới, và làm phong phú thêm một tư tưởng với sứ mạng trả lời những câu hỏi của thời đại.

Đức Giám mục danh dự Mario Toso của giáo phận Faenza-Modigliana, Ý, một trong những chuyên gia hàng đầu của Giáo hội về học thuyết xã hội, nhấn mạnh rằng: “Học thuyết xã hội của Giáo hội cung cấp những chìa khóa diễn giải giúp các ngành khoa học khác nhau đối thoại với nhau để đóng góp cho tri thức, hòa bình và việc hiện thực hóa Nước Thiên Chúa. Học thuyết xã hội không phải là tri thức suy diễn; không phải điều bị áp đặt bởi người khác; cũng không phải là một học thuyết quá phức tạp. Học thuyết Xã hội là một tri thức mở.”

Ông Ernesto Preziosi, người nhiều năm giữ chức giám đốc quan hệ đối ngoại (quản lý vùng sở tại của đại học) tại Đại học Công giáo Thánh Tâm ở Milan, nhấn mạnh rằng trọng tâm của học thuyết xã hội Công giáo chính là “việc loan báo Tin Mừng.”

Ông Preziosi xác định có bảy giai đoạn trong tiến trình phát triển của học thuyết xã hội.

Giai đoạn thứ nhất bắt đầu từ Rerum Novarum vào những năm 1920 và 1930, khi giáo huấn xã hội trở thành đặc quyền của một phong trào mang tính bình dân hơn, và tiếp theo là giai đoạn nảy sinh vào cuối Thế chiến thứ hai, với một hình thái giáo huấn xã hội mới, và cũng va chạm với sự tiến hóa của chủ nghĩa xã hội.

Sau đó là giai đoạn thứ tư, giai đoạn của Công đồng Vatican II, bởi vì, ông Preziosi nói, “Đức Gioan XXIII và Đức Phaolô VI đã thay đổi phương pháp phát triển học thuyết xã hội: đi từ phương pháp diễn dịch sang phương pháp quy nạp.”

Giai đoạn thứ năm diễn ra sau Công đồng và là giai đoạn rất tế nhị, bởi vì “Công đồng mở ra một viễn cảnh mới; Công đồng nhìn nhận sự thay đổi trong phương pháp.” Ngay trong các cuộc tranh luận tại công đồng, việc sử dụng thuật ngữ “học thuyết” đã bị tranh cãi, và người ta bắt đầu nói đến một cách giải thích tự do hơn.

Với Đức Bênêđictô XVI – đây là giai đoạn thứ sáu – “cuộc tranh luận khép lại, vì sự khủng hoảng của các hệ tư tưởng đã nhường chỗ cho một lối tư duy duy nhất,” ông Preziosi giải thích. Chủ nghĩa nhân văn mới, vốn đã hiện diện trong tư tưởng của Thánh Gioan Phaolô II, được nhấn mạnh qua các thông điệp Laborem Exercens, Sollicitudo Rei SocialisCentesimus Annus, những văn kiện đã đưa chủ đề đạo đức xã hội trở lại trung tâm, nhằm vượt qua các ý thức hệ hiện thời.

Sau cùng, giai đoạn thứ bảy, với Đức Giáo hoàng Phanxicô, là giai đoạn của những biến chuyển xã hội lớn lao.

Thông điệp Magnifica Humanitas có khả năng sẽ mở ra một kỷ nguyên mới. Văn kiện này hướng tầm nhìn tới một cuộc cách mạng công nghiệp mới do trí tuệ nhân tạo khởi phát, tới những mất cân bằng toàn cầu phát sinh từ sự phân bổ lao động mới, và tới một thế giới mới mà Giáo hội được mời gọi phải đưa ra câu trả lời. Đây có thể không phải là thông điệp xã hội duy nhất của Đức Lêô XIV, nhưng sẽ là một điểm khởi đầu rất đáng để dõi theo.


[Nguồn: ncregister]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 23/05/2026]


Thứ Tư, 18 tháng 3, 2026

Liên minh Toàn cầu được khởi động: một nền tảng quốc tế về nghiên cứu và hành động cho sinh thái toàn diện, do Giáo hội Công giáo đặt bước tiên phong

Liên minh Toàn cầu được khởi động: một nền tảng quốc tế về nghiên cứu và hành động cho sinh thái toàn diện, do Giáo hội Công giáo đặt bước tiên phong
Sáng kiến, do Trung tâm Giáo dục Bậc cao Laudato Si’ và Đại học Notre Dame dẫn dắt
Ảnh: Centro Di Alta Formazione Laudato Si

Liên minh Toàn cầu được khởi động: một nền tảng quốc tế về nghiên cứu và hành động cho sinh thái toàn diện, do Giáo hội Công giáo bước tiên phong

Sáng kiến này, do Trung tâm Giáo dục Bậc cao Laudato Si’ và Đại học Notre Dame dẫn dắt, đã quy tụ các học giả từ nhiều lãnh vực chuyên môn khác nhau với mục tiêu tăng cường sự hợp tác giữa các đại học trên toàn thế giới, đồng thời định hướng nghiên cứu khoa học vào những tiến trình cụ thể của sự chuyển đổi về môi trường, xã hội và kinh tế; phù hợp với tầm nhìn về việc chăm sóc ngôi nhà chung được đề xuất trong giáo huấn của Đức Thánh Cha Phanxicô và được thúc đẩy bởi Đức Thánh Cha Lêô XIV.


13 tháng Ba, 2026 13:03

ZENIT STAFF


(ZENIT News / Castelgandolfo, 13.03.2026). - Hai ngày đối thoại giữa các nhà nghiên cứu đến từ hơn 60 đại học và 30 quốc gia đã đánh dấu sự ra đời của Liên minh Toàn cầu, một nền tảng quốc tế về sự hợp tác học thuật và khoa học nhằm xây dựng một chương trình nghị sự toàn cầu về nhận thức, nghiên cứu, giáo dục và hành động trong lãnh vực sinh thái học toàn diện, được truyền cảm hứng từ các nguyên tắc của Thông điệp Laudato Si’.

Sáng kiến này, do Trung tâm Giáo dục Bậc cao Laudato Si’ và Đại học Notre Dame dẫn dắt, đã quy tụ các học giả từ nhiều lãnh vực chuyên môn khác nhau với mục tiêu tăng cường sự hợp tác giữa các đại học trên toàn thế giới, đồng thời định hướng nghiên cứu khoa học vào những tiến trình cụ thể của sự chuyển đổi về môi trường, xã hội và kinh tế; phù hợp với tầm nhìn về việc chăm sóc ngôi nhà chung được đề xuất trong giáo huấn của Đức Thánh Cha Phanxicô và được thúc đẩy bởi Đức Thánh Cha Lêô XIV.

Ngày thảo luận đầu tiên được dành ra để trình bày các hoạt động nghiên cứu đang được triển khai tại các đại học thành viên, và xác định những cơ hội mới cho sự hợp tác quốc tế. Các diễn giả nhấn mạnh tầm quan trọng cốt lõi của phương pháp tiếp cận liên ngành, có khả năng kết hợp các ngành khoa học tự nhiên và ứng dụng với triết học, nhân học, khoa học xã hội và thần học.

Các cuộc thảo luận xuất phát từ một số đoạn văn quan trọng nhất trong Thông điệp Laudato Si’, góp phần đào sâu và phát triển di sản văn hóa, khoa học và xã hội của văn kiện này. Công trình học thuật được hiểu như một phần của một tiến trình rộng lớn hơn, nhằm thúc đẩy sự hoán cải sinh thái đích thực. Điều này được thực hiện thông qua các mạng lưới nghiên cứu có khả năng tạo ra tri thức, hỗ trợ các cuộc tranh luận công khai và đóng góp vào việc xây dựng những chính sách cũng như chiến lược phát triển bền vững.

Các cuộc đối thoại dần mở rộng vượt ra ngoài phạm vi môi trường thuần túy để giải quyết những vấn đề thuộc cơ cấu đang ảnh hưởng đến sự cân bằng toàn cầu; bao gồm tài chính khí hậu, việc xóa nợ công, và các động lực của chủ nghĩa tân thực dân.

Những chủ đề này phản ánh tầm nhìn về sinh thái toàn diện được đề xuất trong Laudato Si’, liên kết việc bảo vệ môi trường với các vấn đề công bằng xã hội, trách nhiệm của các hệ thống tài chính và sự chuyển đổi các mô hình kinh tế. Trên thực tế, cuộc khủng hoảng sinh thái không thể tách rời khỏi sự bất bình đẳng kinh tế và các động lực thuộc cơ cấu đang định hình hệ thống phát triển toàn cầu hiện nay.

Từ tầm nhìn này, những thảo luận giữa các tham dự viên đã nhấn mạnh nhu cầu về một phương pháp tiếp cận kết hợp, không chỉ bao gồm cộng đồng nghiên cứu và các thể chế công, mà còn gồm cả khu vực tư nhân, các hệ thống sản xuất, thị trường và các nhà đầu tư — những chủ thể được kêu gọi đóng góp vào việc xây dựng các mô hình kinh tế bền vững hơn, công bằng hơn và hướng tới ích chung.

Borgo Laudato Si’ đã đóng vai trò là bối cảnh mang tính biểu tượng lẫn vận hành cho cuộc gặp gỡ, đem lại cho các tham dự viên một ví dụ cụ thể về cách thức các nguyên tắc của Thông điệp có thể được đưa ra thực hành thông qua những sáng kiến kết hợp các chiều kích môi trường, xã hội, giáo dục và đức tin.

Được thiết kế như một không gian dành cho giáo dục, nghiên cứu và thử nghiệm, Borgo đóng vai trò là một phòng thí nghiệm về sinh thái toàn diện, có khả năng chuyển hóa các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội Công giáo thành những thực hành và mô hình có thể nhân rộng trong các bối cảnh khác. Không gian này đã tạo ra sự quan tâm mạnh mẽ nơi các tham dự viên, những người nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy các lộ trình chuyển đổi tương tự trong các đại học và trung tâm nghiên cứu trên toàn thế giới.

Ngày thảo luận thứ hai đánh dấu bước chuyển từ suy tư sang việc xác định các công cụ vận hành. Các tham dự viên đã thành lập sáu nhóm làm việc liên ngành, có nhiệm vụ phát triển các định hướng nghiên cứu chính của Liên minh Toàn cầu trong những năm tới.

Công việc của họ tập trung đặc biệt vào các ưu tiên chiến lược sau:
  • Loại bỏ các rào cản ngăn cản việc tiếp cận nước sạch, năng lượng và an ninh lương thực.
  • Biến đổi các hệ thống kinh tế hướng tới những mô hình bền vững và công bằng hơn.
  • Phát triển những thực hành tốt nhất và các công cụ để thúc đẩy hành động tập thể.
Đức Hồng y Fabio Baggio, Giám đốc Trung tâm Giáo dục Bậc cao Laudato Si’ nói, “Ngày đầu tiên đã mang lại sự phong phú rất lớn về nội dung và những suy tư chung. Các đại học và trung tâm nghiên cứu đã trình bày những nghiên cứu và dự án trải rộng từ khoa học ứng dụng đến triết học, từ nhân học đến khoa học nhân văn và thần học. Nhiệt huyết này, được sinh ra từ khát vọng chung là phục vụ thiện ích cho nhân loại và chăm sóc thụ tạo, là một dấu chỉ của niềm hy vọng lớn lao. Giờ đây, chúng ta được mời gọi chuyển hóa điều đó thành những mục tiêu cụ thể thông qua các nhóm làm việc sẽ tiếp tục sau hội nghị, khởi đầu một tiến trình hợp tác lâu dài giữa các trung tâm nghiên cứu và các thể chế, nhằm phục vụ việc chăm sóc ngôi nhà chung và thúc đẩy một nền sinh thái toàn diện đích thực.”

Linh mục Robert A. Dowd, C.S.C., Viện trưởng Đại học Notre Dame, cho biết, “Chúng tôi bước ra từ cuộc gặp gỡ đầu tiên này của Liên minh Toàn cầu với một ý thức mới về sứ mạng và niềm hy vọng. Những sáng kiến nghiên cứu và giáo dục liên ngành này phản ánh cam kết của chúng tôi đối với một nền sinh thái toàn diện, vốn nhìn nhận các mối liên hệ sâu xa giữa tính bền vững của môi trường với phẩm giá và sự thăng tiến của con người. Chúng tôi mong đợi nhiều cách thức mà sự hợp tác này sẽ phục vụ ích chung và thúc đẩy việc chăm sóc ngôi nhà chung trong những ngày tới.”

Sự kết thúc của cuộc gặp gỡ đánh dấu bước khởi đầu của một “hành trình hiệp hành” dự kiến sẽ phát triển theo thời gian thông qua các tiến trình nghiên cứu và giáo dục, với tiềm năng tạo ra những tác động tích cực đáng kể ở cấp địa phương, khu vực và toàn cầu. Những hiểu biết sâu sắc được rút ra sẽ góp phần phát triển các chương trình giáo dục mới về sinh thái toàn diện, thiết lập các định hướng nghiên cứu mới về tác động của những chuyển đổi môi trường và xã hội, và thúc đẩy các sáng kiến nâng cao nhận thức hướng đến xã hội dân sự.


[Nguồn: zenit]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 16/3/2026]


Thứ Sáu, 16 tháng 1, 2026

Đức Thánh Cha Lêô XIV nhắm thẳng vào ngôn ngữ kiểu Orwell

Đức Thánh Cha Lêô XIV nhắm thẳng vào ngôn ngữ kiểu Orwell

Đức Thánh Cha Lêô XIV nhắm thẳng vào ngôn ngữ kiểu Orwell

Wachiwit - Shutterstock


Daniel Esparza

12/01/26


Đức Thánh Cha cảnh báo rằng “ý nghĩa của từ ngữ đang ngày càng trở nên biến thiên”, ngày càng mơ hồ, và thậm chí trở thành “vũ khí” được sử dụng để lừa dối hoặc trừng phạt đối phương.

Trong diễn văn quan trọng đầu tiên về tình trạng thế giới trước các đại sứ, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã xoáy sâu vào vấn đề ngôn ngữ. Đúng vậy, ngài đã bàn về chiến tranh, chủ nghĩa đa phương và nhân quyền. Nhưng có một đoạn văn đã mang lại sức nặng đặc biệt trong kỷ nguyên AI và truyền thông xã hội: Đức Thánh Cha cảnh báo rằng “ý nghĩa của các từ ngữ ngày càng trở nên biến thiên”, ngày càng mơ hồ, và thậm chí trở thành “vũ khí” được sử dụng để lừa dối hoặc trừng phạt đối phương.

Tiếp đó là một cụm từ đã ngay lập tức lan truyền trên các mặt báo: Ngài cảnh giác rằng “một thứ ngôn ngữ mới kiểu Orwell đang phát triển”, thứ ngôn ngữ mặc dù tự nhận mang tính bao gồm, nhưng rốt cuộc lại loại trừ những ai không tuân theo nó.

“Ngôn ngữ kiểu Orwell” có nghĩa là gì

Khi người ta nói đến “kiểu Orwell”, họ thường ám chỉ loại ngôn ngữ mà George Orwell đã cảnh báo trong tiểu luận năm 1946 mang tên Politics and the English Language (Chính trị và ngôn ngữ Tiếng Anh): những từ ngữ được dùng không phải để làm sáng tỏ thực tại mà để phủ một làn sương mờ mịt lên nó — đó là những cụm từ trừu tượng, uyển ngữ khiến cho những hành vi xấu xa nghe lại có vẻ bình thường, thậm chí là cao quý.

Orwell lập luận rằng văn phong chính trị thường biến những thực tại cụ thể thành những khái niệm khái quát mơ hồ, một thói quen làm cho cả người nói lẫn người nghe dừng suy nghĩ theo cách chính xác.

Orwell đã kịch tính hóa ý tưởng đó trong tác phẩm Nineteen Eighty-Four với khái niệm “Newspeak”, là một hệ thống từ vựng bị kiểm soát nhằm thu hẹp những gì con người có thể nói — và từ đó, thu hẹp cả những gì họ có thể nghĩ. Mục đích không phải là thuyết phục mà là hạn chế: Nếu một xã hội thiếu các từ ngữ để chỉ về sự thật luân lý, sự phản biện hoặc lương tâm, thì những thực tại đó sẽ trở nên khó diễn đạt thành lời, và sau đó càng khó để bảo vệ.

Quan điểm của Đức Lêô không phải là chúng ta đang sống trong cuốn tiểu thuyết của Orwell. Mà là luận lý đó có thể nhận ra: khi các thuật ngữ then chốt mất đi ý nghĩa ổn định, thì sự tranh luận công khai sẽ trở thành một cuộc tranh giành quyền lực.

Đức Giáo hoàng phát biểu trước các nhà ngoại giao rằng “tự do ngôn luận và diễn đạt được bảo đảm chính nhờ tính chắc chắn của ngôn ngữ, và mọi thuật ngữ đều được neo chặt trong sự thật.”

Tại sao việc làm suy yếu ngôn ngữ là một trong những tai họa của thời đại chúng ta

Ngôn ngữ suy yếu không phải là vấn đề về phong cách kém cỏi: Đó là một vấn đề đạo đức.

Nếu từ ngữ tách rời khỏi thực tại, thì trách nhiệm giải trình cũng vuột khỏi tầm tay. “Cái chết của dân thường” có thể được gắn lại cái nhãn là “hệ quả ngoài ý muốn”. Sự cưỡng ép có thể được quảng bá như là “sự chăm sóc”. Sự loại trừ có thể khoác lên chiếc mặt nạ của “sự bao gồm”. Xu hướng này đã được hình thành rõ rệt trong các tình huống đạo đức sinh học, chẳng hạn như phá thai, thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), mang thai hộ và an tử.

Hệ quả có thể đo lường được: nhiều hiểu lầm hơn và ít không gian hơn cho đối thoại chân thành — đúng như những gì Đức Lêô liên kết với sự mong manh của chính nền ngoại giao.

Truyền thống Công giáo rất thẳng thắn về những nguy cơ này. Sách Giáo lý (§2486) dạy rằng việc xuyên tạc chân lý làm “suy yếu các nền tảng” của đời sống chung. Giáo lý cũng mô tả chứng tá Kitô hữu là việc “truyền đạt đức tin bằng lời nói và việc làm”, khẳng định rằng lời nói không bao giờ trung lập về mặt luân lý.

Điều đó đặt lời cảnh báo về “kiểu Orwell” của Đức Lêô vượt lên trên một bình luận văn hóa đơn thuần. Nếu ngôn ngữ trở nên biến thiên — nếu từ ngữ liên tục bị tái định nghĩa cho đến khi không ai còn có thể nói đâu là sự thật — thì lương tâm và tự do sẽ dễ bị áp chế hơn, và những người yếu thế sẽ dễ dàng bị gạt bỏ hơn.

Năm 2026, khi AI có thể tạo ra những văn bản hoàn hảo chỉ trong vài giây, bài kiểm tra tinh thần trở nên đơn giản hơn và cũng khắc nghiệt hơn: chúng ta sẽ chọn những từ ngữ nói lên sự thật, hay những từ ngữ giúp chúng ta né tránh sự thật ấy?


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 13/1/2026]


Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2025

Nguồn gốc tôn giáo của lời chúc “Merry Christmas!”

Nguồn gốc tôn giáo của lời chúc “Merry Christmas!”

Nguồn gốc tôn giáo của lời chúc “Merry Christmas!”

Roman Samborskyi | Shutterstock


Cerith Gardiner

22/12/25



Câu chúc được hàng triệu người trên khắp thế giới sử dụng thực ra đã bắt đầu từ nhiều thế kỷ trước, như một phát hiện gần đây cho thấy.

Có một điều gì đó mang tính hiệp nhất thật sự khi chúng ta cất lên lời chúc “Merry Christmas!” Dù chúng ta trao lời chúc ấy cho những người thân yêu hay cho những người không quen trên phố, thật khó để không cảm nhận một sự hân hoan trào dâng.

Khi xét đến nguồn gốc của cách diễn đạt này, một phát hiện mới đây trong kho lưu trữ tại Nhà thờ Chính tòa Hereford ở Anh có thể giúp soi sáng vấn đề.

Cho đến gần đây, theo tờ Northern Wilds, người ta vẫn tin rằng Đức Giám mục Công giáo John Fisher, bị tống ngục năm 1534, chính là người đứng sau việc sử dụng cụm từ này.

Vị Giám mục đã bị tống giam vì từ chối công nhận Vua Henry VIII là Thủ lãnh Tối cao của Giáo hội và hàng Giáo sĩ Anh quốc. Do điều kiện trong ngục tù khắc nghiệt, ngài đã viết thư cho Thomas Cromwell, người ủng hộ công cuộc Cải cách của vua Henry VIII, để xin một số nhu yếu phẩm, và kết thư bằng câu: “Và xin Thiên Chúa, là Chúa chúng ta, ban cho ngài một mùa Giáng Sinh an lành” (And this our Lord God send you a merry Christmas).

Thật không may cho vị giám mục, ngài đã bị xử trảm không lâu sau đó, nhưng đã được Giáo hội Công giáo tôn phong hiển thánh vài thế kỷ sau. Điều đáng chú ý là chính Cromwell sau đó cũng bị chém đầu vì dám bất đồng quan điểm với vị vua chuyên chế Henry VIII.

Theo tường thuật của BBC, dù nguồn gốc này đã được phổ biến trong nhiều năm, nhưng gần đây nó bị đặt lại vấn đề khi một bức thư khác của một vị Giám mục khác được phát hiện.

Vào năm 1520 — tức là 14 năm trước bức thư của Đức Giám mục Fisher — Đức cha Charles Booth của Nhà thờ Chính tòa Hereford đã viết cho người đồng nghiệp là Kinh sĩ William Burghill. Đức cha Booth bắt đầu bức thư với lời chúc: “Tôi cầu xin Thiên Chúa cho ngài được sống trong đức ái trọn hảo và mùa Giáng Sinh vui vẻ” (I praye God ye may be all in good charite and mery this Crystmas).

Mặc dù cách viết chính tả trông có vẻ cổ xưa theo tiêu chuẩn hiện đại, nhưng chúng ta dễ dàng nhận ra cụm từ “merry Christmas”. Có lẽ chúng ta không bao giờ biết ai đã truyền cảm hứng cho Đức cha Booth nói lời ấy, hay chính ngài đã nghĩ ra cách diễn đạt đó, nhưng thật thú vị khi thấy một cụm từ có tuổi đời hàng thế kỷ vẫn được hàng triệu người trên khắp thế giới sử dụng cho đến ngày nay.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 27/12/2025]


Thứ Bảy, 29 tháng 11, 2025

Bạn có biết Li-băng xuất hiện hơn 70 lần trong Kinh Thánh?

Bạn có biết Li-băng xuất hiện hơn 70 lần trong Kinh Thánh?

Bạn có biết Li-băng xuất hiện hơn 70 lần trong Kinh Thánh?

tyson4ik | Shutterstock

Libanon slovi po cedrah.


Camille Dalmas

26/11/25


Từ ngày 30 tháng 11 đến ngày 2 tháng 12, Đức Thánh Cha Lêô XIV sẽ đến thăm Li-băng trong chuyến tông du quốc tế đầu tiên của ngài. “Xứ sở của những cây Tuyết tùng” chiếm một vị trí quan trọng trong Thánh Kinh.

Dù chỉ xuất hiện trong Cựu Ước, Li-băng được nhắc đến 71 lần trong Kinh Thánh. Dãy núi chiếm phần lớn lãnh thổ đất nước này được các ngôn sứ mô tả như một trong những đường biên tự nhiên của miền Đất Hứa mà Thiên Chúa ban cho dân Israel.

“Mọi nơi bàn chân anh em giẫm lên sẽ là của anh em: từ sa mạc và núi Li-băng, từ Sông Cả, là sông Êu-phơ-rát, cho đến Biển Tây” (Đnl 11:24), ông Môsê tuyên bố như vậy sau cuộc xuất hành khỏi Ai Cập.

Người kế vị ông Môsê, là ông Giôsuê, thậm chí đã gộp cả “Ba-an Gát, trong thung lũng Li-băng” vào lãnh thổ này. Dù vị trí chính xác của thành, điểm cực bắc các vùng đất của dân Do Thái, vẫn chưa được xác định, một số giả thuyết cho rằng nó nằm ở phía nam Thung lũng Bekaa của Li-băng.

Xứ sở của những cây tuyết tùng (hương bá)

Trong Kinh Thánh, Li-băng cũng thường được gắn liền với những rừng tuyết tùng hùng vĩ mọc trên các sườn núi. Được nhắc đến 75 lần, loại cây ngày nay hiện diện trên quốc kỳ Li-băng từng là nguồn tài nguyên kinh tế chủ chốt của vùng Cận Đông thời đó.

Thật vậy, vua Salômôn đã dùng loại gỗ hương bá để xây Đền thờ Giêrusalem, thánh địa linh thiêng nhất của Do Thái giáo thời cổ, cũng như cung điện của vị quân vương khôn ngoan này. Để thực hiện các công trình đó, vua Salômôn đã sai hàng chục ngàn người Do Thái đến gặp vua Hiram xứ Tia (Tyre) của Li-băng để vận chuyển những thân gỗ quý giá.

Bạn có biết Li-băng xuất hiện hơn 70 lần trong Kinh Thánh?

Sasca | Shutterstock

Danh tiếng về vẻ đẹp của những cánh rừng tuyết tùng Li-băng được phản chiếu trong những câu thơ thi vị nhất của Kinh Thánh. Như trong Thánh Vịnh 92, nơi mô tả người công chính “lớn mạnh như hương bá Li-băng” và vẫn sinh hoa kết quả dù tuổi đã xế chiều, giống như những loài cây này vẫn “tràn đầy nhựa sống, cành lá xanh rờn” (Tv 92:13-16).

Trong Thánh Vịnh 104, những cánh rừng Li-băng trở thành hình ảnh cho sự tuyệt mỹ của công trình tạo dựng của Thiên Chúa: “Hương bá Li-băng, những cây CHÚA đã trồng, được tràn trề nhựa sống. Bầy chim tước rủ nhau làm ổ...” (Tv 104:16-17).

Hình ảnh của tình yêu và vẻ đẹp

Trong Sách Diễm Ca, sự phong phú của Li-băng vang vọng trong khúc hát tình yêu của tân lang dành cho người mình yêu. Diễn tả tất cả những rung cảm và khao khát, người đàn ông say mê trước vẻ đẹp của vợ mình, ví đôi môi nàng như sữa và mật ong, và nói rằng “Áo em toả hương thơm ngào ngạt tựa hương núi Li-băng” (Dc 4:11).

Người yêu ví hiền thê của mình như một khu vườn cấm, một mạch suối niêm phong, “Em là giếng nước giữa hoa viên, là hồ chứa nước nguồn từ dãy núi Li-băng chảy xuống” (Dc 4:15). Và về phần nàng, nàng chiêm ngắm người mình yêu, ngắm đôi chân chàng, tựa như “đôi trụ bạch ngọc dựng trên đế vàng ròng,” và diện mạo chàng “tựa núi Li-băng, kiêu hùng như ngàn cây hương bá” (Dc 5:15).

Vẻ đẹp của vùng đất Li-băng cũng khơi nguồn cảm hứng cho các ngôn sứ Ben Sira, Hôsê và Na-khum, những người đã ca ngợi hương thơm, tiếng tăm của rượu và sự tinh tế của thảm thực vật nơi đây.

Tấm gương phản chiếu quyền năng của Thiên Chúa

Về phần mình, ngôn sứ Isaia nhìn thấy Li-băng xanh tươi như một minh chứng cho sức mạnh thiên nhiên mà chỉ Thiên Chúa mới có thể thống trị. “Này đây Chúa Thượng là Đức Chúa các đạo binh, dùng uy vũ chặt lá cành: ngọn cao sẽ bị đốn, đỉnh kiêu kỳ bị hạ. Các bụi rậm trong rừng sẽ bị chặt bằng đồ sắt, và núi Li-băng gục ngã bởi một Đấng oai hùng” (Is 10:33-34).

Tương tự, “Chúa đánh gãy ngàn hương bá Li-băng” (Tv 29:5), và quyền năng của Người khiến chúng chao đảo như “đầy dư gạo thóc” (Tv 72:16). Ngôn sứ Giêrêmia cũng khẳng định rằng Thiên Chúa có khả năng biến những đỉnh núi trắng xóa của Li-băng thành sa mạc khô cằn (Gr 22:6).

Một số đoạn văn liên kết Li-băng với đời sống hoang dã, như ngôn sứ Isaia thuật lại sự có mặt của sư tử và báo trên các ngọn núi. Trên các đỉnh núi Li-băng, chúng ta cũng tìm thấy “con phượng hoàng to lớn có cánh rộng, lông dài, mình đầy lông sặc sỡ,” được nhắc đến bởi ngôn sứ Êdêkien, và nói rằng phượng hoàng đậu trên “ngọn cây hương bá” (Êd 17:3).

Sự hùng vĩ tự nhiên tuyệt đẹp ấy thường cúi mình trước sự toàn năng của Thiên Chúa: “Cây rừng Li-băng không đủ đốt của lễ, thú rừng Li-băng chẳng đủ làm lễ vật toàn thiêu”, ngôn sứ I-sai-a quả quyết, để tôn vinh hơn nữa sự vĩ đại của Thiên Chúa, Đấng còn bao la hơn cả “ánh huy hoàng của núi Li-băng” (Is 40:16; Is 35:2).

Và trong Tân Ước thì sao?

Li-băng không được nhắc đến một cách rõ ràng trong Tân Ước. Tuy nhiên, vùng đất này vẫn được đề cập cách gián tiếp.

Thị trấn Cana, nơi Chúa Giê-su thực hiện phép lạ đầu tiên, biến nước thành rượu tại một tiệc cưới, có thể tương ứng với thị trấn Qana ngày nay tại miền nam Li-băng. Tuy nhiên, nó cũng có thể tương ứng với Kafr Cana hoặc Khirbet Cana ở Israel.

Các nhà khảo cổ học vẫn chưa đi đến kết luận cuối cùng, nhưng ông Antonio Andary thuộc Quỹ Maronite ủng hộ giả thuyết về Cana thuộc Li-băng. Ông cũng tin rằng Chúa Giêsu có thể đã đặt chân đến Li-băng trong những dịp khác, đặc biệt là khi Ngài gặp người phụ nữ Canaan, biến cố mà ông tin rằng đã diễn ra gần vùng Xi-đôn (Sidon).

Cuối cùng, ông khẳng định rằng biến cố Hiển Dung có thể đã diễn ra trên đỉnh núi Hebron, một ngọn núi thuộc cao nguyên Golan nằm một phần ở Li-băng và Syria (nhưng đã bị Israel chiếm đóng từ năm 2024). Tuy nhiên, địa điểm theo truyền thống là núi Ta-bo (Tabor) ở Israel.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 27/11/2025]


Thứ Sáu, 14 tháng 11, 2025

Quyển sách mới kể lại những giai thoại trong cuộc đời của Đức Thánh Cha Lêô XIV, trong đó có cả ngày ngài bị báo tin đã tử vong

Quyển sách mới kể lại những giai thoại trong cuộc đời của Đức Thánh Cha Lêô XIV, trong đó có cả ngày ngài bị báo tin đã tử vong

Ông Lovera vẫn còn nhớ như in lần đầu tiên ông gặp vị Giáo hoàng tương lai vào năm 1991 tại Colombia.

Quyển sách mới kể lại những giai thoại trong cuộc đời của Đức Thánh Cha Lêô XIV, trong đó có cả ngày ngài bị báo tin đã tử vong


Ông Armando Lovera tặng Đức Thánh Cha Lêô XIV quyển sách “Từ Cha Robert đến Đức Giáo hoàng Lêô.” Ảnh: Armando Lovera / Armando Lovera)

Victoria Cardiel/CNA

10 tháng Mười Một, 2025


Giọng nói của ông biểu lộ trên hết là lòng tri ân sâu sắc đối với người bạn của mình, Đức Thánh Cha Lêô XIV. Chính từ tình bạn được hun đúc hơn ba thập niên này đã ra đời cuốn sách bằng tiếng Tây Ban Nha mang tựa đề From Robert to Leo, do Nhà xuất bản Mensajero ấn hành. Trong tác phẩm này, ông Armando Lovera, nguyên quán Iquitos, Peru, kể lại nhiều giai thoại ít được biết đến về cuộc đời của vị Giáo hoàng đương nhiệm, chẳng hạn như ngày mà nhiều giáo dân ở Trujillo, Peru, tưởng rằng Linh mục Robert Prevost đã qua đời.

Ông Lovera giải thích trong một cuộc phỏng vấn với ACI Prensa, đối tác tin tức tiếng Tây Ban Nha của CNA: “Thực ra, đó là một thanh niên, một tu sinh Dòng Augustino đầy triển vọng, đã tử nạn trong một vụ tai nạn xe buýt khi đang trên đường về Lima đón năm mới”.

Cha mẹ của người thanh niên này, đến từ một vùng nông thôn phía bắc Trujillo, không có điều kiện để đưa thi thể con trai họ về và đã nhờ “Cha Roberto” giúp đưa thi thể về làng của họ.

Quyển sách mới kể lại những giai thoại trong cuộc đời của Đức Thánh Cha Lêô XIV, trong đó có cả ngày ngài bị báo tin đã tử vong

Ông Armando Lovera và Cha Robert Prevost tại Iquitos, Peru. Ảnh: Armando Lovera

Tác giả kể lại, “Ngài đã lái xe đi về hơn 2.000 kilômét [1.240 dặm] để giúp họ”. Nhưng khi làm các thủ tục [để đưa thi thể về], ông nói tiếp, “họ đã ghi nhầm tên ngài và đưa ngài vào danh sách các nạn nhân,” danh sách này sau đó đã được công bố trên một tờ báo địa phương ở Trujillo.

“Khi biết tin, đặc biệt là những người nghèo nhất trong giáo xứ, họ đã đến nhà Dòng Augustinô trong nước mắt, tay cầm tờ báo, để chia buồn,” ông Lovera thuật lại. Nhưng trước sự ngạc nhiên của họ, chính Linh mục Prevost ra mở cửa.

Ông nói, “Điều gây ấn tượng sâu sắc nhất đối với tôi trong câu chuyện này là sự sẵn sàng mà ngài luôn thể hiện với bạn bè, và mặt khác, là lòng quý mến của mọi người.”

Ông Lovera còn nhớ rõ lần đầu tiên ông gặp vị Giáo hoàng tương lai vào năm 1991 ở Colombia. Tác giả kể, “Thời điểm đó, trong giáo xứ của tôi, giới trẻ khá ồn ào và tùy tiện, và khi nghe nói ngài là một chuyên gia giáo luật, tôi nghĩ, ‘Chắc lại là một quý ông rất nghiêm nghị, khắt khe đây.’ Nhưng ngay khi ngài giới thiệu và chúng tôi trò chuyện, ngài đã xua tan mọi e dè của chúng tôi. Những định kiến tan biến ngay lập tức bởi vì ngài là một người vô cùng dễ gần”.

Quyển sách mới kể lại những giai thoại trong cuộc đời của Đức Thánh Cha Lêô XIV, trong đó có cả ngày ngài bị báo tin đã tử vong

Cha Robert Prevost và Armando Lovera tại Trujillo, Peru, nơi vị Giáo hoàng tương lai Lêô XIV từng làm cha sở trong thập niên 1990. Ảnh: Armando Lovera

Năm sau, 1992, ông Lovera đến nhà đào tạo Dòng Augustinô ở Trujillo, dưới sự hướng dẫn của Linh mục Prevost. Suốt bảy năm, họ cùng chia sẻ đời sống cộng đoàn và các kinh nghiệm mục vụ, từ đó hình thành một tình bạn sâu sắc vượt qua thử thách của thời gian và khoảng cách.

Ông Lovera hồi tưởng, “Tôi nhận thấy nơi ngài một sự ấm áp đến kinh ngạc. Kể từ ngày đó, ngài chỉ đơn giản là Roberto, hoặc Cha Roberto”.

Cha Prevost làm cha sở giáo xứ Đức Mẹ Monserrate ở Trujillo từ năm 1992 đến năm 1998. Ông Lovera nhớ rõ cộng đoàn trong những ngày đầu: “Vợ tôi là người thuộc giáo xứ đó. Chúng tôi chứng kiến [việc xây dựng] khi nó vẫn còn là một bãi cát, và vào các ngày Chúa nhật, chúng tôi phải mang theo ghế đến tham dự Thánh Lễ, với một bàn thờ rất đơn sơ.”

Với sự có mặt của các nhóm nổi dậy có vũ trang trong những khu vực nơi Cha Prevost và các nhà truyền giáo khác thi hành sứ vụ vào những năm 1990, ông Lovera kể lại, “họ được khuyên nên rời đi, nhưng ngài và cộng đoàn của ngài đã quyết định ở lại. Và chứng tá đó đã đánh động sâu sắc đến tôi. Tôi cảm động trước lòng can đảm, ý thức sứ vụ của ngài. Hơn nữa, ngài còn là một nhà toán học. Và tôi thì yêu toán học. Điều đó cũng gắn kết chúng tôi hơn nữa.”

Tình bạn giữa hai người cũng phát triển nhờ âm nhạc, một niềm đam mê chung. Ông nhớ lại, “Cha Roberto rất yêu âm nhạc. Chúng tôi cùng bắt đầu hát nhạc Peru, cũng như các bài thánh ca của Dòng Augustinô. Ngài có giọng hát rất hay và thích hát cùng mọi người”.

Bà Mildred, thân mẫu của Đức Giáo hoàng, là một giọng contralto (giọng nữ trầm) nổi tiếng tại Chicago

Khuynh hướng âm nhạc của Đức Giáo hoàng có nguồn cội sâu xa. Như ông Lovera kể lại trong sách, thân mẫu của ngài Prevost, bà Mildred, là người chơi đàn organ và là một giọng nữ trầm (âm vực nữ thấp nhất) nổi tiếng ở Chicago, từng tham gia Liên hoan Âm nhạc Chicagoland năm 1941. Bà cũng hát bài “Ave Maria” với lòng sùng kính trong các Thánh Lễ Chúa nhật.

Ông Lovera kể rằng, nhiều năm sau, cây đàn organ điện của bà Mildred đã được đưa đến nhà đào tạo Dòng Augustinô do Cha Prevost thành lập ở Trujillo. Khi nghe điều đó “tôi rất ấn tượng. Có điều gì đó từ thân mẫu ngài, từ đức tin của bà, vẫn tiếp tục vang vọng ở đó. Tựa như lời cầu nguyện của bà vẫn tiếp tục ở giữa chúng tôi,” ông giải thích.

Khi Cha Prevost được bổ nhiệm về Chicago năm 1999, tình bạn của họ vẫn được duy trì nhờ công nghệ. Ông Lovera kể, “Chúng tôi trao đổi email. Ngài là một người rất dễ gần. Sự thân tình đó không bao giờ bị mất đi”.

Quyển sách mới kể lại những giai thoại trong cuộc đời của Đức Thánh Cha Lêô XIV, trong đó có cả ngày ngài bị báo tin đã tử vong

Ông Armando cùng vợ và cha Robert Prevost tại Valladolid. Ảnh: Armando Lovera

Qua nhiều năm, ông Lovera dần hiểu rằng sự giản dị của Cha Prevost ẩn chứa một ơn gọi phục vụ sâu sắc. “Ngài chưa bao giờ tìm kiếm các vị trí trong Giáo hội. Điều đó chạm đến tôi rất mạnh. Tôi thường nói, ‘Đây là người giúp tôi nhận ra Thiên Chúa.’ Ngài nổi bật bởi lòng quảng đại, năng lực và khả năng ngôn ngữ.”

Ông kể lại với chút hài hước về phản ứng của ông trước việc người bạn được bầu làm Giáo hoàng: “Thành thật mà nói, tôi vẫn mong ngài là một Giám mục, để không bị mất liên lạc quá nhiều. Rồi đến năm 2021, một số bạn bè nói rằng Cha Roberto sẽ là Giáo hoàng tiếp theo, nhưng tôi nghĩ họ đang phóng đại.”

Tuy nhiên, trong những ngày trước Mật nghị Hồng y, tên của Đức Cha Prevost bắt đầu xuất hiện trong danh sách các ứng viên giáo hoàng được truyền thông công bố, và ông Lovera bắt đầu xem xét khả năng đó.

Ông Lovera giải thích, “Tôi cho rằng nếu họ khám phá ra ngài là người như thế nào, họ sẽ chọn ngài. Và điều đó đã xảy ra”. Hiện tại, ông đang điều phối việc biên tập các văn bản tôn giáo tại Ban Truyền thông Loyola.

Quyển sách mới kể lại những giai thoại trong cuộc đời của Đức Thánh Cha Lêô XIV, trong đó có cả ngày ngài bị báo tin đã tử vong

Ông Armando Lovera và Cha Robert Prevost tại Orlando, Florida. Ảnh: Armando Lovera

Ông Lovera giải thích rằng “mục tiêu của quyển sách là để giới thiệu cho [độc giả] thấy một người bạn sẵn sàng trao tặng tình bạn, và qua đó, là tình bạn với Đấng ban tặng ý nghĩa cho đời sống: Chúa Giêsu.

Ngài Roberto muốn cánh cửa của giáo phận phải luôn rộng mở cho mọi người. Ngài chưa bao giờ hành động như một quan chức xa cách hay một viên chức hành chính. Ngài luôn cư xử như một người anh em giữa những người anh em, với trách nhiệm lãnh đạo và đưa ra quyết định, nhưng luôn có lý lẽ.”

Đối với ông Lovera, đó là điểm nổi bật của vị Giáo hoàng đương nhiệm: “Đức Thánh Cha Lêô XIV không thay đổi bản chất của ngài. Ngài vẫn là vị linh mục dễ gần, vui vẻ và giàu tình huynh đệ mà tôi gặp vào năm 1991. Chỉ khác là bây giờ, sự dễ gần ấy mang trên mình trọng trách và ân sủng của việc hướng dẫn toàn thể Giáo hội.”


[Nguồn: ncregister]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 11/11/2025]


Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2025

5 điểm hướng dẫn của Đức Thánh Cha về trí tuệ nhân tạo (AI) dành cho thiếu niên

5 điểm hướng dẫn của Đức Thánh Cha về trí tuệ nhân tạo (AI) dành cho thiếu niên

5 điểm hướng dẫn của Đức Thánh Cha về trí tuệ nhân tạo (AI) dành cho thiếu niên

Fabio Principe | Fabio Principe


Caitlin Bootsma

04/11/25


Dưới đây là một vài “ý tưởng để suy tư” mà Đức Thánh Cha gửi đến chúng ta. Chúng đáng để suy nghĩ và hành động theo, khi các thiếu niên trưởng thành trong một thế giới bao trùm bởi trí tuệ nhân tạo (AI).

Bạn có nghe con em mình bắt đầu nói: “Tại sao con phải học cái này, khi trí tuệ nhân tạo rồi đây cũng sẽ thay thế công việc này (hoặc thay con)?”

Khi nói đến trí tuệ nhân tạo, chính các thế hệ trẻ là những người với tương lai sẽ được định hình nhiều nhất bởi AI.

Nhưng trong trường hợp các em chưa biết, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã đề cập đến chủ đề AI nhiều lần, đưa ra những cái nhìn sâu sắc có giá trị cho cuộc sống của các em (và của chúng ta!).

Dưới đây là một vài “ý tưởng để suy tư” mà Đức Thánh Cha gửi đến chúng ta. Chúng đáng để suy nghĩ và hành động theo, khi các thiếu niên trưởng thành trong một thế giới thấm đẫm bởi trí tuệ nhân tạo (AI).

Đây mới chỉ là khởi đầu, vì Đức Thánh Cha Lêô đã nói rất nhiều về AI chỉ trong vài tháng. Và ngài đang tiếp nối những giáo huấn khá sâu rộng từ Đức Thánh Cha Phanxicô và chính Tòa Thánh Vatican. Bạn có thể tìm hiểu thêm về điều này tại tab “Trí tuệ Nhân tạo” của chúng tôi.

1. AI chỉ là một công cụ

Thật dễ bị cám dỗ khi xem AI như thể nó là một thực thể riêng biệt, một thứ có thẩm quyền hoặc quyền lực riêng. Tuy nhiên, Đức Thánh Cha Lêô lặp lại lời của Đức Thánh Cha Phanxicô rằng AI chỉ là một công cụ, được tạo ra để con người sử dụng – mà việc sử dụng đó có thể hướng đến điều thiện hoặc điều ác.

Ngài viết:

“Theo định nghĩa, các công cụ quy chiếu về trí tuệ người đã chế tạo ra chúng và phần lớn sức mạnh đạo đức của chúng xuất phát từ ý định của những cá nhân sử dụng chúng. Trong một số trường hợp, AI đã được sử dụng theo những cách tích cực và thật cao quý để thúc đẩy bình đẳng lớn hơn, nhưng đồng thời cũng có khả năng bị lạm dụng vì lợi ích cá nhân, làm tổn hại đến người khác, hoặc tệ hơn, gây xung đột và tính hung hăng. Điều cốt yếu phải nhớ rằng cách bạn sử dụng AI là quan trọng. Bạn, và rất nhiều người khác trên khắp thế giới, sẽ định hình nền văn hóa qua việc chọn cách sử dụng AI.

2. Hãy suy nghĩ trước khi hành động

Đức Thánh Cha Lêô thường dùng từ “phân định” khi nói về AI. Ngài giải thích:

“Tác động của cuộc cách mạng (AI) này thật sâu rộng, làm biến đổi các lãnh vực như giáo dục, công việc, nghệ thuật, chăm sóc sức khỏe, quản trị, quân sự và truyền thông. Sự chuyển đổi mang tính thời đại này đòi hỏi trách nhiệm và sự phân định để bảo đảm rằng AI được phát triển và sử dụng cho ích chung, xây dựng những nhịp cầu đối thoại và thúc đẩy tình huynh đệ, đồng thời bảo đảm rằng nó phục vụ lợi ích của toàn thể nhân loại.”

Nói cách khác, khi bạn bước vào tuổi trưởng thành và sử dụng AI trong công việc, trong các mối tương quan và trong cộng đồng của mình, bạn cần suy nghĩ về cách sử dụng nó để trợ giúp người khác. Đức Thánh Cha Lêô nói rằng trợ giúp người khác, trong trường hợp này, có nghĩa là “bảo vệ phẩm giá bất khả xâm phạm của mỗi con người, và tôn trọng sự phong phú và đa dạng về văn hóa và tinh thần của các dân tộc trên thế giới.”

Ngài nói, việc bạn sử dụng AI và sử dụng nó như thế nào, phải được đánh giá dựa trên thực tế bạn có thúc đẩy ích chung theo cách này hay không.

3. Hãy thành thật

“Là chính mình” trên không gian mạng từ lâu đã là một thách đố – một thách đố sẽ càng trở nên phức tạp hơn với sự phổ biến của AI. Đức Thánh Cha Lêô khuyến khích chúng ta rằng:

“Đây là một thách đố mà chúng ta phải đối mặt: suy ngẫm về tính thành thật trong chứng tá của chúng ta, về khả năng lắng nghe và nói, và về năng lực thấu hiểu và được thấu hiểu của chúng ta. Chúng ta có nhiệm vụ phải cùng nhau làm việc để phát triển một lối tư duy, phát triển một ngôn ngữ của thời đại chúng ta, để lên tiếng cho Tình yêu.”

Khi AI phát triển một ngôn ngữ nhân tạo toàn cầu, bạn có cơ hội để nói bằng tiếng nói được Thiên Chúa ban tặng cho riêng bạn, trao tặng những ân huệ và tài năng của mình cho thế giới.

4. Đừng quên rằng dữ liệu không phải là sự khôn ngoan

Đức Thánh Cha Lêô thừa nhận rằng “Chưa có thế hệ nào có được cơ hội tiếp cận nhanh chóng với lượng thông tin có sẵn thông qua AI như vậy.” Tuy nhiên, việc có nhiều dữ liệu không đồng nghĩa với sự hình thành trí tuệ của riêng bạn. Ngài nói:

“Nhưng một lần nữa, việc tiếp cận dữ liệu – dù rộng lớn đến đâu – cũng không được nhầm lẫn với trí tuệ, vốn tất yếu ‘bao hàm sự mở lòng của con người trước những câu hỏi tối hậu của đời sống, và phản ánh tầm nhìn hướng về Chân và Thiện” (Antiqua et Nova, Số 29). Sau cùng, sự khôn ngoan đích thực hệ tại ở việc nhận ra ý nghĩa đích thực của sự sống, hơn là sự sẵn có của dữ liệu.”

Bạn có đang tìm kiếm chân lý không? Nếu bạn đang hy vọng trưởng thành trong sự khôn ngoan, Đức Thánh Cha Lêô cho rằng việc chỉ dựa vào dữ liệu mà AI cung cấp thì không đủ.

5. Hãy luôn nhớ đến Thiên Chúa

Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, Đức Thánh Cha Lêô nói rằng “rất khó để khám phá sự hiện diện của Thiên Chúa” trong trí tuệ nhân tạo.

Nếu bạn thấy mình tập trung hoàn toàn vào thế giới được định hình bởi AI, nhưng lại quên rằng chính Thiên Chúa đã tạo dựng và chăm sóc thế giới, thì đã đến lúc bạn cần thay đổi cái nhìn.

Khi nhắc lại bổn phận phục vụ ích chung và tìm gặp Thiên Chúa, Đức Thánh Cha nhắc lại những lời trong Kinh Thánh mà chúng ta luôn cần ghi nhớ.

Trong Tin Mừng theo Thánh Máccô, khi một kinh sư hỏi Chúa Giêsu đâu là điều răn trọng nhất trong các điều răn…

Chúa Giêsu đáp: “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó.”

Dĩ nhiên, lời của Chúa Giêsu vẫn phù hợp trong thế giới kỹ thuật số của AI ngày nay, như chúng phù hợp trong thời đó.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 5/11/2025]