Hiển thị các bài đăng có nhãn Đức Thánh Cha Phanxico. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đức Thánh Cha Phanxico. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 20 tháng 5, 2026

Tiếp kiến Ban lãnh đạo và Nhân viên của một số Định chế Ngân hàng Ý, 16.05.2026

Tiếp kiến Ban lãnh đạo và Nhân viên của một số Định chế Ngân hàng Ý, 16.05.2026

Tiếp kiến Ban lãnh đạo và Nhân viên của một số Định chế Ngân hàng Ý, 16.05.2026

*******

Sáng nay, tại Điện Tông Tòa Vatican, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã tiếp kiến ban lãnh đạo và nhân viên của các định chế ngân hàng khác nhau của Ý.

Sau đây là bài diễn văn của Đức Thánh cha gửi tới những người hiện diện trong cuộc gặp gỡ:


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.

Bình an cho anh chị em!

Anh chị em thân mến, xin chào mừng.

Tôi thân ái gửi lời chào đến Đức Tổng Giám mục cùng tất cả anh chị em. Tôi rất vui mừng có cuộc gặp gỡ này, vì đây là cơ hội để chúng ta cùng nhau suy tư về vai trò của các ngân hàng và các tổ chức tín dụng trong xã hội của chúng ta.

Các định chế mà anh chị em đại diện có nguồn gốc khác nhau, nhưng đều được liên kết với nhau bởi nhu cầu hỗ trợ tinh thần doanh nghiệp cũng như tài chính công và tư, trong những thời điểm và bối cảnh khác nhau suốt chiều dài lịch sử nước Ý. Những khởi đầu của các định chế này, được đánh dấu bởi lòng can đảm và óc sáng tạo, là chứng tá cho tính bổ trợ giữa tiết kiệm và đầu tư, giữa công và tư, nhằm hiện thực hóa công ích và vì sự tăng trưởng kinh tế lành mạnh.

Thật vậy, các định chế tài chính của anh chị em, bằng nhiều cách thức khác nhau, đã thúc đẩy việc chia sẻ và tái phân phối của cải một cách công bằng giữa những cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức, giúp cho những lợi ích của nó trở nên dễ tiếp cận hơn với mọi người và trân trọng sự đóng góp của mỗi người. Đây là một chức năng xã hội rất phù hợp với sứ mạng được Thiên Chúa ủy thác cho nhân loại là trở thành những người quản lý công trình tạo dựng, nhờ đó “mọi hoạt động của con người… đều được kêu gọi trổ sinh hoa trái, sử dụng một cách quảng đại và công bằng các ân huệ mà Thiên Chúa ban cho tất cả mọi người, và nuôi dưỡng với niềm tín thác sống động những hạt giống tốt lành được gieo trong toàn thể công trình sáng tạo như một lời hứa về sự sung mãn” (Bộ Giáo lý Đức tin – Bộ Thúc đẩy sự Phát triển Con người Toàn diện, Oeconomicae et pecuniariae quaestiones, ngày 6 tháng 1 năm 2018, số 4).

Chính nhờ năng lực xây dựng ấy mà hệ thống ngân hàng, qua nhiều thế kỷ, đã đứng ở trung tâm của những tiến trình phát triển kinh tế và xã hội lớn, trở thành một thực thể ngày càng phức hợp và đa diện, có khả năng ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống con người. Sự tập trung nguồn vốn và tính sẵn có của đội ngũ chuyên môn lành nghề đã cung cấp cho hệ thống này nguồn lực kinh tế to lớn, kéo theo khả năng hai mặt: hoặc trở thành nhân tố thúc đẩy sự chia sẻ công bằng vì lợi ích tổng thể, hoặc ngược lại, trở thành thế lực chủ trương tích lũy ích kỷ, nguồn gốc của bất bình đẳng và khốn cùng.

Trong bối cảnh rộng lớn hơn này, lịch sử của anh chị em là minh chứng cho thấy những người tham gia thị trường tài chính không những có khả năng làm việc thiện bằng hành động cách ngay chính, mà còn bằng cách thông tin và giáo dục người dân cũng như các cộng đồng nơi họ hoạt động về việc sử dụng các nguồn lực một cách thận trọng và hợp chuẩn mực đạo đức – nơi mà sự nhạy bén, trí tuệ, sự liêm chính và bác ái được kết hợp với nhau – và bằng cách thúc đẩy “những tiêu chuẩn nhân văn… [trong đó] lợi nhuận và tình liên đới không đối nghịch nhau” (sđd. số 11). Điều đó cũng cho thấy cách thức hành động này, theo thời gian, bảo đảm sự tăng trưởng lành mạnh và bền vững của các cơ cấu, các mô hình xã hội và các mối tương quan.

Tinh thần của những nền tảng của anh chị em đóng vai trò như một lời nhắc nhở mọi người cách đặc biệt rằng điều đầu tiên đi vào một ngân hàng không phải là vốn, nhưng là con người; và đằng sau những con số là những người nam, người nữ, là những gia đình đang cần được trợ giúp. Vì lý do đó, trong một bối cảnh khi mức độ tin học hóa ngày càng cao của các công cụ đang đặt ra những hình thức trung gian ngày càng phức tạp và nhân tạo trong những mối tương quan liên vị, anh chị em, những người thừa kế của một truyền thống cao đẹp về việc chăm sóc con người, được kêu gọi bảo đảm rằng những người sử dụng các dịch vụ của anh chị em không cảm thấy bị bỏ mặc trước sự lạnh lùng của các hệ thống thuật toán — cho dù chúng có hiệu quả và chính xác về mặt toán học đến đâu — nhưng đằng sau những công cụ kỹ thuật ấy, họ vẫn cảm nhận được, hôm nay cũng như trong quá khứ, sự hiện diện của những con người sẵn sàng lắng nghe và tha thiết thực thi điều thiện.

Các ngân hàng có thể nắm giữ tầm ảnh hưởng lớn đối với sự tiến hóa về cơ cấu của một xã hội, và sự phát triển văn hóa của xã hội đó. Vì thế, sự hiện diện của anh chị em thật quý giá: để nhắc nhở những ai quá dễ dàng thu mình trong các giá trị vật chất thuần túy, đến mức nhầm lẫn giữa mục đích và phương tiện trong cuộc sống, rằng ngay cả trong các vấn đề tài chính, chúng ta cũng phải luôn đặt con người vào trung tâm, và “trên cột trụ ấy xây dựng những cơ cấu xã hội thay thế mà chúng ta cần” (x. Đức Phanxicô, Diễn văn trước các tham dự viên Cuộc gặp gỡ Thế giới các Phong trào Bình dân, ngày 28 tháng 10 năm 2014; x. Thông điệp Laudato si’, ngày 24 tháng 5 năm 2015, số 189).

Cam kết của anh chị em trong lãnh vực này thật sống động và có ý nghĩa, như được minh chứng qua nhiều dự án nhân đạo và văn hóa mà anh chị em đang thúc đẩy. Tôi khuyến khích anh chị em tiếp tục làm việc theo cách này, giữ cho ơn gọi của anh chị em luôn sống động như những tổ chức tương trợ lẫn nhau, và không ngừng hướng sự dấn thân của mình về một nền đạo đức liên đới. Đó là hạt giống mà từ đó anh chị em được sinh ra và là gốc rễ vững chắc, bám sâu – dù thường ẩn khuất – nhờ đó mà cây tổ chức của anh chị em tiếp tục lớn mạnh và sinh hoa trái.

Trung thành với nguồn cội của mình, xin đừng bao giờ quên đức ái; trái lại, hãy làm cho đức ái ngày càng trở thành nguyên tắc chỉ đạo cho các lựa chọn chiến lược của anh chị em! Cảm ơn những gì anh chị em đang làm. Tôi luôn nhớ tới anh chị em trong lời cầu nguyện, phó thác anh chị em cho sự chuyển cầu của Đức Maria, và tôi ban phép lành cho anh chị em. Cảm ơn anh chị em.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 17/05/2026]


Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026

Tiếp kiến các thành viên của Đảng Nhân dân Châu Âu thuộc Nghị viện Châu Âu, 25.04.2026

Tiếp kiến các thành viên của Đảng Nhân dân Châu Âu thuộc Nghị viện Châu Âu, 25.04.2026

Tiếp kiến các thành viên của Đảng Nhân dân Châu Âu thuộc Nghị viện Châu Âu, 25.04.2026

*******

Sáng nay, tại Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã tiếp kiến các thành viên của Đảng Nhân dân Châu Âu thuộc Nghị viện Châu Âu, và dưới đây là diễn văn của ngài:


Diễn văn của Đức Thánh Cha:


Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần,

Bình an cho anh chị em,

Thưa quý vị Nghị sĩ,
Thưa quý ông và quý bà,

Tôi thân ái chào mừng tất cả quý vị đến với cuộc gặp gỡ này. Cách riêng, tôi xin chào ông Manfred Weber, Chủ tịch, và bà Mairead McGuinness, Đặc phái viên của Liên minh Châu Âu phụ trách thúc đẩy tự do tôn giáo và tín ngưỡng bên ngoài khối Liên minh Châu Âu.

Cuộc gặp gỡ của chúng ta tiếp nối những buổi gặp gỡ đã được thực hiện với những vị tiền nhiệm của tôi là Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô IIĐức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, cũng như Sứ điệp mà Đức Giáo hoàng Phanxicô gửi đến quý vị vào tháng 6 năm 2023, khi ngài không thể đích thân tiếp kiến quý vị do phải nhập viện. Vì vậy, tôi rất vui mừng được tiếp tục cuộc đối thoại này với Đảng Nhân dân Châu Âu, một đảng kín múc nguồn cảm hứng chính trị từ những nhân vật như ông Adenauer, De Gasperi và Schuman, những người được xem là các vị sáng lập nên Châu Âu hiện đại.

Như Đức Bênêđictô XVI đã nói cách đây hai mươi năm, tôi cũng “đánh giá cao việc Nhóm của quý vị nhìn nhận di sản Kitô giáo của Châu Âu.” [1] Dự án Châu Âu trổi lên từ đống tro tàn của Thế chiến Thứ hai, chắc chắn được hình thành từ nhu cầu thực tiễn nhằm ngăn chặn một cuộc xung đột tương tự tái diễn. Tuy nhiên, dự án này cũng thấm đẫm một tầm nhìn lý tưởng, đó là khao khát thúc đẩy sự hợp tác nhằm vượt qua nhiều thế kỷ chia rẽ, và giúp các dân tộc trên lục địa tái khám phá di sản nhân văn, văn hóa và tôn giáo mà họ cùng chia sẻ. Các vị sáng lập đã được truyền cảm hứng bởi đức tin cá nhân của họ, và xem các nguyên tắc Kitô giáo là yếu tố chung và hiệp nhất, có thể giúp chấm dứt tinh thần báo thù và xung đột đã dẫn đến cuộc Thế chiến Thứ hai.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã diễn tả ý tưởng này bằng một cụm từ đơn sơ mà sâu sắc: “hiệp nhất lớn lao hơn xung đột.” [2] Thật vậy, việc tìm kiếm sự hiệp nhất đòi hỏi lòng can đảm để vượt lên trên bề mặt của xung đột và nhìn thấy nơi tha nhân phẩm giá sâu xa nhất của họ. [3] Như thế, con người có thể xây dựng điều mới mẻ và mang tính xây dựng, trong khi xung đột chỉ làm trầm trọng thêm những khác biệt, nuôi dưỡng việc theo đuổi và khẳng định quyền lực, và cuối cùng dẫn đến sự hủy diệt.

Nhiệm vụ hàng đầu của mọi hành động chính trị là đưa ra một tầm nhìn lý tưởng, vì chính trị đòi hỏi một cái nhìn rộng mở về tương lai, không sợ hãi khi phải đưa ra những lựa chọn khó khăn, thậm chí không được ưa thích nhưng lại là cần thiết cho ích chung. Theo nghĩa này, chính trị là “hình thức cao nhất của đức ái” [4] bởi vì nó có thể dấn thân trọn vẹn cho việc xây dựng lợi ích chung.

Tuy nhiên, theo đuổi một lý tưởng không có nghĩa là tôn sùng một hệ tư tưởng. Thật vậy, hệ tư tưởng luôn là kết quả của việc bóp méo thực tại và là một dạng sức mạnh áp đặt lên thực tại ấy. Mọi hệ tư tưởng đều làm méo mó các ý tưởng và áp đặt con người vào chương trình hành động của riêng nó, bóp nghẹt những khát vọng chân chính của họ, khao khát tự do, hạnh phúc cũng như an sinh cá nhân và xã hội. Chính Châu Âu hiện đại đã trỗi dậy từ việc thừa nhận sự thất bại của các dự án thuộc hệ tư tưởng từng tàn phá và chia cắt lục địa này.

Như ông De Gasperi đã nhận định, theo đuổi một lý tưởng có nghĩa là đặt nhân vị ở vị trí trung tâm, “với tinh thần huynh đệ Phúc Âm, với sự tôn trọng luật pháp được kế thừa từ thời xa xưa, với việc cảm thụ cái đẹp được tinh luyện qua nhiều thế kỷ, và sự dấn thân cho sự thật và công lý đã được rèn giũa qua hàng thiên niên kỷ kinh nghiệm.” [5]

Đây chính là khuôn khổ mà chính trị vẫn có thể được thực thi ngày nay, và là nơi hoạt động chính trị phải được dẫn đưa trở lại. Đảng của quý vị được gọi là Đảng Nhân dân Châu Âu. Nhân dân nằm ở trung tâm sự cam kết của quý vị, và quý vị không thể gạt họ sang một bên. Họ không đơn thuần là những người thụ động tiếp nhận các đề xuất và quyết định chính trị; trên hết, họ được mời gọi trở thành những chủ thể tích cực cùng chia sẻ trách nhiệm đối với mọi hành động chính trị. Sự hiện diện giữa nhân dân và lôi cuốn họ vào tiến trình chính trị là phương thuốc giải tốt nhất cho chủ nghĩa dân túy vốn chỉ tìm kiếm sự tán thành dễ dãi, và cho chủ nghĩa tinh hoa có khuynh hướng hành động mà không có sự đồng thuận. Cả hai đều là những khuynh hướng phổ biến trong bối cảnh chính trị ngày nay. Một nền chính trị thực sự mang tính “nhân dân” đòi hỏi thời gian, các dự án chung và tình yêu đối với sự thật.

Một trong những vấn đề chính của chính trị trong những năm gần đây là sự suy giảm không ngừng tính hài hòa, hợp tác và gắn kết tương hỗ giữa nhân dân và các đại diện của họ. Cần phải tái lập một cảm thức đích thực về “nhân dân”, thông qua sự tiếp xúc trực tiếp giữa công dân và những người đại diện của họ, để đáp ứng cách hữu hiệu những vấn đề cụ thể của người dân dưới ánh sáng của một tầm nhìn lý tưởng. Chúng ta có thể nói theo cách ẩn dụ rằng, trong kỷ nguyên của “sự khải hoàn của kỹ thuật số”, hành động chính trị thực sự hướng tới ích chung đòi hỏi việc trở lại với phương thức “tương tác trực tiếp” (analogue).

Có lẽ đây chính là phương thuốc đích thực cho một nền chính trị thường xuyên chỉ lớn tiếng, chỉ dừng lại ở các khẩu hiệu và không có khả năng đáp ứng nhu cầu thực tế của người dân. Hơn nữa, để vượt qua sự bất bình đối với chính trị, cần phải giành lại lòng dân bằng cách tiếp cận trực tiếp với họ, và xây dựng lại mạng lưới các mối tương quan tại chính những nơi họ sống, để mỗi người có thể cảm nhận mình thuộc về một cộng đồng và sẻ chia tương lai của cộng đồng đó.

Điều này có ý nghĩa gì trong thực tế đối với những người đặt nền tảng hành động của họ trên các giá trị Kitô giáo - dân chủ? Trước hết, nó có nghĩa là tái khám phá và đón nhận di sản Kitô giáo mà từ đó quý vị đã khởi đi, đồng thời vẫn duy trì sự phân biệt cần thiết giữa chứng tá tôn giáo mang tính ngôn sứ – dành riêng cho cộng đoàn giáo hội – và chứng tá Kitô giáo được thể hiện qua các lựa chọn chính trị cụ thể. [6] Là một người Kitô hữu trong chính trị không có nghĩa là thể hiện việc lớn tiếng tuyên xưng đức tin; thay vào đó, nó có nghĩa là cho phép Tin Mừng hướng dẫn những quyết định cần được đưa ra, kể cả những quyết định có thể không dễ đạt được sự đồng thuận. Điều đó cũng có nghĩa là nỗ lực bảo tồn mối liên hệ giữa luật tự nhiên và luật thực định (positive law), giữa nguồn cội Kitô giáo và hành động chính trị.

Là một Kitô hữu dấn thân trong chính trị đòi hỏi một cái nhìn thực tế khởi đi từ những mối quan tâm cụ thể của người dân. Tầm nhìn này trước hết phải tìm cách thúc đẩy các điều kiện lao động xứng đáng, khuyến khích sự sáng tạo và tài năng của con người trước một thị trường đang ngày càng trở nên phi nhân và không đưa đến sự viên mãn. Một quan điểm như thế phải giúp con người vượt qua nỗi sợ hãi khi lập gia đình và sinh con, một nỗi sợ dường như đặc biệt phổ biến ở Châu Âu. Nó cũng cần phải giải quyết các nguyên nhân gốc rễ của hiện tượng di cư, chăm sóc những người đang đau khổ, đồng thời lưu tâm đến khả năng thực tế trong việc đón nhận và hội nhập người di cư vào xã hội. Cũng vậy, nó đòi hỏi phải đối diện, mà không đi theo con đường hệ tư tưởng, với những thách đố lớn của thời đại chúng ta, chẳng hạn như việc chăm sóc công trình tạo dựng và trí tuệ nhân tạo. Trí tuệ nhân tạo mang lại những cơ hội lớn, nhưng cũng ẩn chứa rất nhiều hiểm họa.

Là một Kitô hữu dấn thân trong chính trị cũng có nghĩa là đầu tư cho tự do, không phải một thứ tự do bị giản lược thành những sở thích cá nhân đơn thuần, mà là một tự do bén rễ trong sự thật, vốn bảo vệ tự do tôn giáo cũng như tự do tư tưởng và lương tâm ở mọi nơi và trong mọi hoàn cảnh. Đồng thời, phải tránh cổ võ cho một sự “đoản mạch quyền con người” [7], bởi vì điều đó cuối cùng sẽ nhường chỗ cho sức mạnh áp đặt và áp bức.

Tôi để lại cho quý vị những điểm suy tư vắn tắt trên, với hy vọng rằng chúng sẽ trở thành điểm khởi đầu cho những suy tư trong công việc của quý vị. Tôi xin gửi đến quý vị những lời chúc tốt đẹp cho sự phục vụ của quý vị dành cho người dân Châu Âu, và tôi ban Phép lành Tòa Thánh cho quý vị.

Cảm ơn quý vị!"

______________________


[2] FRANCIS, Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium, 228: AAS 105 (2013), 1113.

[3] Cf. ibid.

[4] PIUS XI, Audience with the Leaders of the Catholic University Federation (18 December 1927).

[5] A. DE GASPERI, Europe, Our Homeland. Address to the European Parliamentary Conference, 21 April 1954 in: Alcide De Gasperi e la politica internazionale, Rome 1990, vol. III, 437-440.

[6] Cf. MARIALUISA L. SERGIO in: ALCIDE DE GASPERI, Diario 1930-1943, Bologna 2018, 24.




[Nguồn:vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 26/4/2026]


Thứ Hai, 3 tháng 11, 2025

Tiếp kiến các Thành viên “Ban Cố vấn Thanh niên Quốc tế” (IYAB) thuộc Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống, ngày 31.10.2025

Tiếp kiến các Thành viên “Ban Cố vấn Thanh niên Quốc tế” (IYAB) thuộc Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống, ngày 31.10.2025

Tiếp kiến các Thành viên “Ban Cố vấn Thanh niên Quốc tế” (IYAB) thuộc Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống, ngày 31.10.2025

*******

Sáng nay, tại Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã tiếp kiến các thành viên của Ban Cố vấn Thanh niên Quốc tế (IYAB), trực thuộc Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống.

Sau đây là bài diễn văn của Đức Thánh Cha gửi đến những người hiện diện:


Diễn Văn của Đức Thánh Cha

___________________________________


Các con giới trẻ thân mến, chào mừng các con!

Các con đã được mời gọi để trở thành một phần của Ban Cố vấn Thanh niên Quốc tế (IYAB). Được liên kết với Bộ Giáo dân, Gia đình, và Sự sống, mục đích của Ban Cố vấn này là giúp Tòa Thánh chú ý đến “quan điểm của giới trẻ” về những vấn đề khác nhau trong trọng tâm sứ mạng của Hội Thánh. Cha cảm ơn sự sẵn lòng của các con, và những nỗ lực trong những ngày qua trong việc đối thoại và suy tư, với ý hướng đóng góp cho các cộng sự viên của Đức Giáo hoàng tại Giáo triều Roma. Cha muốn chia sẻ với các con ba suy tư ngắn gọn về sự Tham gia, tính Hiệp hành và Sứ vụ.

Sự Tham gia

Để hoàn thành nhiệm vụ của mình, trước hết, các con được mời gọi nhận biết rằng các con đang tham gia vào đời sống và sứ mạng của Giáo hội. Như các con đã biết rõ, đây là một sứ mạng phổ quát, nghĩa là sứ mạng này hướng đến mọi người từ khắp nơi trên thế giới, từ mọi nền văn hóa và hoàn cảnh xã hội. Nguồn cội của sự tham gia đích thực trong đời sống Giáo hội xuất phát từ đâu? Cha nói rằng nó nảy sinh từ việc gần gũi với Trái tim của Chúa Kitô. Vì vậy, nguồn cội của nó là thiêng liêng, chứ không phải ý thức hệ hay chính trị.

Ngay trước khi chịu chết, Chúa Giêsu đã cầu nguyện với Chúa Cha, như được thuật lại trong Tin Mừng Thánh Gioan với những lời này: “Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một” (Ga 17:20-21). Chúa Giêsu không chỉ quan tâm đến nhóm nhỏ các môn đệ đang ở trước mặt Ngài; Ngài nhìn xa hơn. Tư tưởng của Ngài hướng về tất cả mọi người, kể cả những người ở xa và những người sẽ đến trong tương lai. Ngài mong muốn mọi người mở lòng đón nhận sứ điệp cứu độ mà các môn đệ của Ngài sẽ mang đến, và để mọi người khám phá ra trong đó sự hiệp nhất trong đức tin và tình yêu thương lẫn nhau. Tóm lại, Chúa luôn mang cả thế giới trong tim Ngài. Đây chính là nguồn mạch của sự tham gia.

Những ai ở gần Chúa Giêsu trở thành bạn hữu của Ngài qua cầu nguyện, các Bí tích và đời sống hằng ngày, thì cũng bắt đầu cảm nhận như Ngài cảm nhận. Họ bắt đầu mang cả thế giới trong tim: không điều gì là xa lạ với họ và họ không thờ ơ với ai. Họ cảm thông và xúc động trước những đau khổ, nhu cầu và khát vọng của người khác. Từ đó nảy sinh ước muốn tham gia, trở thành một phần của sứ mạng phổ quát của Giáo hội, vốn hướng đến tất cả mọi người. Sự dấn thân này cũng là dấu hiệu của sự trưởng thành nhân bản và thiêng liêng. Trong khi trẻ em chỉ quan tâm đến nhu cầu của riêng mình, thì người trưởng thành phải biết cách chia sẻ những vấn đề của người khác và xem đó là của chính mình.

Các con cũng được mời gọi đạt tới sự trưởng thành ấy và được mời gọi “đắm mình” trong Đức Kitô, để các con có thể cảm nhận như Ngài cảm nhận, và nhìn như Ngài nhìn. Cách riêng, các con quan tâm đến những hy vọng, ước mơ và khó khăn của người trẻ, của tất cả thanh niên trong thời đại chúng ta. Cha thúc giục các con hãy nhìn họ với lòng trắc ẩn như Chúa Kitô và cố gắng hình dung cách thức mà Giáo hội, được soi dẫn bởi đức tin, có thể đi ra để gặp gỡ họ.


Tính Hiệp hành

Khía cạnh thứ hai là tính hiệp hành. Các con biết rằng tính hiệp hành là một trong những cách để thực hiện bản chất hiệp thông của Hội Thánh. Theo hình ảnh của Thiên Chúa Ba Ngôi, Giáo hội cũng là sự hiệp thông của các cá nhân, của các tín hữu thuộc mọi lứa tuổi, ngôn ngữ và dân tộc, cùng nhau lữ hành, làm phong phú lẫn nhau và chia sẻ các ân sủng thiêng liêng của mình.

Vì vậy, trong Giáo hội hiệp hành, chúng ta muốn lắng nghe điều mà Chúa Thánh Thần nói với người trẻ; chúng ta muốn đón nhận các đặc sủng của tuổi trẻ, những hồng ân đặc thù của lứa tuổi và sự nhạy bén của họ. Trong Giáo hội hiệp hành, người trẻ cũng được mời gọi lên tiếng thay mặt cho những bạn bè đồng trang lứa. Qua các con, chúng ta muốn lắng nghe tiếng nói của những người yếu thế, người nghèo và người cô đơn, người tị nạn và những người đang phải chật vật để hòa nhập vào xã hội, hoặc để tiếp cận những cơ hội giáo dục. Những tiếng nói này quá thường xuyên bị nhấn chìm bởi tiếng ồn ào của những người quyền thế, những người thành đạt và những người sống trong các thực tại “đặc quyền”.

Đồng thời, đối với giới trẻ, Giáo hội hiệp hành cũng là một thách đố, hay chúng ta có thể nói đó là một chất xúc tác, vì nó khuyến khích họ không sống đức tin cách cô lập. Các con biết rằng trong những năm gần đây, nhiều bạn trẻ đã tiếp cận đức tin qua những phương tiện truyền thông xã hội, qua những chương trình thành công và các chứng nhân Kitô hữu nổi tiếng trên mạng. Nhưng nguy cơ là một đức tin được khám phá trực tuyến bị giới hạn trong những kinh nghiệm cá nhân, là những điều có thể an ủi về mặt lý trí và cảm xúc, nhưng không bao giờ được “nhập thể”. Những kinh nghiệm như vậy vẫn là “phi nhập thể”, tách rời khỏi “thân thể Giáo hội”. Những kinh nghiệm ấy cũng không được sống cùng với người khác trong các hoàn cảnh, các mối tương quan hay sự chia sẻ ngoài đời thực. Rất thường khi, các thuật toán của phương tiện truyền thông xã hội chỉ đơn thuần tạo ra một bộ cộng hưởng cho các cá nhân, nắm bắt các sở thích và thị hiếu cá nhân, rồi khuếch đại và làm phong phú thêm với những đề xuất hấp dẫn, và “gửi chúng trở lại”. Tuy nhiên, mọi người vẫn cô đơn với chính mình, trở thành tù nhân của những khuynh hướng và hình ảnh của bản thân.

Theo nghĩa này, những kinh nghiệm sống hiệp hành sẽ vượt qua các rào cản của cái tôi, và khuyến khích người trẻ trở thành những thành viên tích cực của gia đình Chúa Giêsu Kitô. Chúng cho phép chúng ta “sống đức tin cùng nhau và thể hiện tình yêu của chúng ta bằng việc sống trong cộng đoàn và chia sẻ tình cảm, thời gian, đức tin và những gian nan của chúng ta với những bạn trẻ khác. Giáo hội cung cấp nhiều cơ hội khác nhau để sống đức tin trong cộng đoàn, vì mọi sự đều dễ dàng hơn khi chúng ta cùng nhau thực hiện” (Tông huấn Hậu Thượng Hội Đồng Christus Vivit, 164).


Sứ vụ

Khía cạnh cuối cùng là sứ vụ. Tính hiệp hành đích thực luôn dẫn đến sứ vụ. Thật vậy, hành động của Chúa Thánh Thần nằm ở trung tâm của tính hiệp hành. Nó không phải là vấn đề của những quy tắc cho các cuộc họp. Nhưng, đó là việc tạo không gian cho hành động của Thiên Chúa bằng cách lắng nghe Thánh Thần. Chúa Thánh Thần luôn tìm cách dẫn đưa chúng ta đến sự thật toàn vẹn (x. Ga 16:13), để chúng ta ngày càng đón nhận Chúa Giêsu sâu sắc hơn, Đấng là Sự thật. Chúa Thánh Thần nhắc chúng ta nhớ mọi lời Chúa Giêsu đã nói với (x. Ga 14:26), và làm cho lời của Ngài trở nên sống động hôm nay. Vì thế, Thánh Thần hướng dẫn chúng ta đến với sứ vụ.

Các con cũng sẽ có cơ hội cảm nghiệm cách thức mà việc cầu nguyện chung, lắng nghe và thảo luận có thể giúp các con hiểu rõ hơn cách làm cho Tin Mừng hiện diện trong thế giới hôm nay. Thực vậy, việc phân định trong Giáo hội về sứ vụ có nghĩa là, trong mọi thời đại, hiểu được các phương thế để mang Tin Mừng đến cho tất cả mọi người.

Tất cả những điều này đòi hỏi người trẻ các con phải có trái tim rộng mở, sẵn sàng lắng nghe những “sự linh hứng” của Chúa Thánh Thần lẫn những “khát vọng” sâu thẳm của mỗi người. Các con phải có cái nhìn vượt lên trên vẻ bề ngoài để tìm kiếm những câu trả lời thực sự mang lại ý nghĩa cho đời sống. Các con phải có trái tim rộng mở trước lời mời gọi của Thiên Chúa, không chăm chú vào các kế hoạch riêng, và biết thấu hiểu và cảm thông trước khi đưa ra phán đoán. Khái niệm về sứ vụ cũng bao hàm việc thoát khỏi nỗi sợ hãi, vì Chúa thích mời gọi chúng ta bước đi trên những con đường mới. Theo nghĩa đó, là thanh niên, các con có thể trở thành những người lãnh đạo của tính sáng tạo và lòng can đảm.

Vì vậy, cha cảm ơn sự đóng góp mà các con sẽ mang lại cho sứ vụ, điều sẽ mang đến năng lượng và động lực mới cho trái tim truyền giáo của Giáo hội. Tổ chức của các con, trên thực tế, là một phần của hoạt động thiêng liêng rộng lớn, bao gồm Ngày Giới trẻ Thế giới, mục vụ giới trẻ và các phong trào giới trẻ mới, tất cả giữ cho Hội Thánh tươi trẻ luôn mãi.

Các con thân mến, các con đại diện cho nhiều bạn bè đồng trang lứa, và qua các con, họ cũng có thể “nói” với Giáo hội. Hãy tin rằng tiếng nói của các con sẽ được lắng nghe và được xem xét nghiêm túc. Sự hiện diện và đóng góp của các con là vô giá. Nguyện xin Chúa Thánh Thần hướng dẫn, soi sáng và củng cố các con trong niềm vui của chứng tá Kitô giáo.

Và giờ đây, cha ban phép lành cho các con.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 2/11/2025]


Thứ Hai, 6 tháng 10, 2025

Tiếp Kiến các Tham dự viên Hội nghị “Người Tị nạn và Di dân trong Ngôi nhà chung của Chúng ta” – ngày 02 tháng 10 năm 2025

Tiếp Kiến các Tham dự viên Hội nghị “Người Tị nạn và Di dân trong Ngôi nhà chung của Chúng ta” – ngày 02 tháng 10 năm 2025

Tiếp Kiến các Tham dự viên Hội nghị “Người Tị nạn và Di dân trong Ngôi nhà chung của Chúng ta” – ngày 02 tháng 10 năm 2025

*******

Sáng nay, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã tiếp kiến các tham dự viên hội nghị quốc tế với chủ đề: “Người Tị nạn và Di dân trong Ngôi nhà chung của chúng ta” tại Điện Tông tòa Vatican.

Sau đây là diễn văn của Đức Thánh Cha gửi đến những người hiện diện:

____________________________________


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Chúng ta hãy bắt đầu, Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần. Bình an ở cùng anh chị em!

Chào tất cả anh chị em, và xin chào mừng! Tôi rất vui được chào đón anh chị em đến Vatican trong khuôn khổ hội nghị với chủ đề: “Người Tị nạn và Di dân trong Ngôi nhà chung của chúng ta.” Tôi xin cảm ơn những anh chị em đã tổ chức các ngày thảo luận, suy tư và cộng tác này, cũng như từng người trong anh chị em vì sự hiện diện cũng như những đóng góp của anh chị em cho sáng kiến này.

Thời gian quý vị cùng nhau quy tụ tại đây khởi đầu một dự án kéo dài ba năm với mục tiêu tạo ra những “kế hoạch hành động” tập trung vào bốn trụ cột cốt lõi: giảng dạy, nghiên cứu, phục vụ và cổ võ. Bằng cách này, anh chị em đang đáp lại lời kêu gọi của Đức Thánh Cha Phanxicô đối với các cộng đồng học thuật hỗ trợ để đáp ứng nhu cầu của những anh chị em di tản của chúng ta, bằng cách tập trung vào những lãnh vực chuyên môn của mình (x. Diễn văn trước những Tham dự viên Cuộc họp về người Tị nạn do Đại học Giáo hoàng Grêgôriô tổ chức, ngày 29 tháng Chín, năm 2022).

Những trụ cột này là một phần của cùng một sứ mạng: tập hợp các tiếng nói hàng đầu từ nhiều ngành học khác nhau nhằm ứng phó với những thách đố cấp bách hiện nay, do số lượng người di cư và tị nạn ngày càng tăng, ước tính hiện có hơn 100 triệu người. Tôi cầu nguyện cho những nỗ lực của anh chị em có thể mang lại những ý tưởng và hướng tiếp cận mới cho vấn đề này, luôn tìm cách đặt phẩm giá của từng con người vào trung tâm của mọi giải pháp.

Khi anh chị em tiếp tục cuộc họp, tôi muốn đề xuất hai chủ đề mà anh chị em có thể cân nhắc lồng ghép vào các kế hoạch hành động: hòa giải và hy vọng.

Một trong những trở ngại thường nảy sinh khi đối diện với những khó khăn có quy mô lớn như vậy là thái độ thờ ơ, cả về phía các thể chế và các cá nhân. Vị tiền nhiệm đáng kính của tôi đã nói đến “toàn cầu hóa sự thờ ơ”, khi chúng ta trở nên quen với những đau khổ của người khác và không còn cố gắng xoa dịu những nỗi đau ấy nữa. Từ đó có thể dẫn đến điều mà trước đây tôi đã nói đến là “toàn cầu hóa sự bất lực”, khi chúng ta có nguy cơ trở nên bất động, im lặng, có thể là buồn bã, nghĩ rằng chẳng thể làm được gì khi phải đối diện với nỗi đau khổ vô tội (x. Sứ điệp video nhân dịp trình dự án “Những cử chỉ chào đón” để ứng cử vào Danh sách Di sản Văn hóa Phi vật thể của UNESCO, ngày 12 tháng Chín năm 2025).

Cũng như Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói về văn hóa gặp gỡ như phương thuốc giải cho toàn cầu hóa sự thờ ơ, chúng ta cũng phải hành động để đối phó với toàn cầu hóa sự bất lực bằng cách thúc đẩy một văn hóa hòa giải. Trong hình thức gặp gỡ tha nhân cách đặc biệt này, chúng ta “gặp nhau bằng cách chữa lành các vết thương của chúng ta, tha thứ cho nhau về những điều xấu chúng ta đã làm và cả những điều chúng ta không làm, nhưng chúng ta vẫn phải chịu hậu quả của nó” (sđd.). Điều này đòi hỏi sự kiên nhẫn, thiện chí lắng nghe, khả năng cảm thông với nỗi đau của người khác, và thừa nhận rằng chúng ta có cùng những ước mơ và cùng những niềm hy vọng.

Vì lẽ đó, tôi khuyến khích anh chị em đề xuất những cách thức cụ thể để thúc đẩy những cử chỉ và chính sách hòa giải, đặc biệt tại các vùng đất mang những vết thương sâu sắc do xung đột kéo dài. Đây không phải là một nhiệm vụ dễ dàng, nhưng nếu muốn những nỗ lực hướng tới một sự thay đổi lâu dài được thành công, chúng phải có những cách thức chạm đến trái tim và tâm trí.

Khi xây dựng các kế hoạch hành động, điều quan trọng là phải nhớ rằng những di dân và người tị nạn có thể là những chứng nhân của niềm hy vọng, qua sức chịu đựng kiên cường của họ và lòng tin cậy vào Thiên Chúa (x. Sứ điệp Ngày Thế giới Di dân và người Tị nạn 111). Họ vẫn luôn giữ vững sức mạnh của mình khi tìm kiếm một tương lai tốt đẹp hơn, bất chấp những trở ngại mà họ gặp phải. Khi chúng ta chuẩn bị cử hành Năm Thánh Di dânNăm thánh Truyền giáo trong Năm Thánh này, tôi khuyến khích anh chị em làm nổi bật những tấm gương hy vọng như vậy trong các cộng đồng mà anh chị em phục vụ. Bằng cách này, họ có thể trở thành nguồn cảm hứng cho những người khác và hỗ trợ phát triển những cách thức để giải quyết những thử thách mà họ đã phải đối mặt trong chính cuộc đời mình.

Với những tâm tình này, tôi chúc anh chị em một hội nghị thành công tốt đẹp, và cầu xin rằng anh chị em được Chúa Thánh Thần soi sáng để tiếp tục nỗ lực tìm kiếm các giải pháp toàn diện để thúc đẩy một văn hóa gặp gỡ, hòa giải, và tình liên đới huynh đệ vì lợi ích của tất cả mọi người. Tôi chúc lành cho từng người trong anh chị em, và cho tất cả những ai cộng tác trong sứ mạng của anh chị em. Chân thành cảm ơn anh chị em.

Chúng ta hãy cùng cầu nguyện như Chúa Giêsu đã dạy chúng ta: Lạy Cha chúng con…


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 5/10/2025]


Thứ Bảy, 28 tháng 6, 2025

Tiếp kiến các Tham dự viên Hội nghị Khoáng đại của Hội Hỗ trợ các Giáo hội Đông Phương (ROACO), 26.06.2025

Tiếp kiến các Tham dự viên Hội nghị Khoáng đại của Hội Hỗ trợ các Giáo hội Đông Phương (ROACO), 26.06.2025

Tiếp kiến các Tham dự viên Hội nghị Khoáng đại của Hội Hỗ trợ các Giáo hội Đông Phương (ROACO), 26.06.2025

*******

Sáng nay, tại Hội trường Clementine trong Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã tiếp kiến các tham dự viên Hội nghị Khoáng đại của Hội Hỗ trợ các Giáo hội Đông phương (ROACO).

Sau đây là diễn văn của Đức Thánh Cha:

________________________________


Diễn văn của Đức Thánh Cha

Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.

Bình an cho anh chị em!

Thưa Đức Hồng y đáng kính, thưa quý Đức Cha,

Quý Cha, anh chị em thân mến,

Bình an cho anh chị em! Tôi nồng nhiệt chào đón anh chị em và rất vui được gặp gỡ anh chị em trong dịp kết thúc Hội nghị Khoáng đại. Tôi xin gửi lời chào Đức Hồng y Gugerotti đáng kính, các vị Bề trên khác trong Thánh Bộ, các vị hữu trách, cùng toàn thể anh chị em là thành viên của các Cơ quan ROACO.

“Ai vui vẻ dâng hiến thì được Thiên Chúa yêu thương” (2 Cr 9:7). Tôi nhận ra rằng, với anh chị em, việc hỗ trợ các Giáo Hội Đông phương không đơn thuần là nhiệm vụ, mà là một sứ vụ được thi hành nhân danh Tin Mừng, mà như chính từ Tin Mừng chỉ ra, là sự loan báo niềm vui, trước hết làm vui lòng chính Trái Tim của Thiên Chúa, Đấng không bao giờ để mình thua kém về lòng quảng đại. Tôi xin cảm ơn anh chị em, vì cùng với các ân nhân, anh chị em đang gieo những hạt giống hy vọng trên vùng đất Kitô giáo Đông phương, nơi ngày nay đang bị tàn phá hơn bao giờ hết bởi chiến tranh, bị cướp đoạt bởi các lợi ích riêng, và bị bao phủ bởi đám mây hận thù khiến không khí trở nên ngột ngạt và độc hại. Anh chị em đang cung cấp một luồng dưỡng khí cho các Giáo hội Đông phương, vốn đã quá mệt mỏi bởi những xung đột đang diễn ra. Đối với nhiều người, nghèo về phương tiện nhưng giàu đức tin, anh chị em là ánh sáng tỏa rạng giữa bóng tối của hận thù. Tôi hết lòng xin anh chị em tiếp tục làm tất cả những gì có thể để giúp các Giáo Hội này, những Giáo hội vô cùng quý báu và chịu biết bao đau khổ.

Lịch sử của các Giáo hội Công Giáo Đông Phương thường mang dấu ấn của đau khổ và bạo lực. Thật đáng buồn, đã có những trường hợp bị áp bức và hiểu lầm ngay trong chính cộng đồng Công giáo, đôi khi không thừa nhận và đánh giá cao giá trị của các truyền thống ngoài truyền thống của Tây phương. Tuy nhiên, ngày nay, xung đột bạo lực dường như đang hoành hành ở Kitô giáo Đông phương với mức độ độc ác chưa từng thấy. Chính Hội nghị thường niên của anh chị em cũng đã bị ảnh hưởng bởi sự vắng mặt của những người đáng lẽ đã đến từ Đất Thánh, nhưng lại không thể thực hiện được hành trình. Con tim chúng ta rỉ máu khi nghĩ đến Ukraine, đến tình hình bi thảm và vô nhân đạo tại Gaza, và toàn vùng Trung Đông đang bị tàn phá bởi chiến tranh lan rộng. Tất cả chúng ta, với lòng nhân của mình, đều được mời gọi xét lại căn nguyên của các cuộc xung đột này, xác định những nguyên nhân thật và cố gắng giải quyết chúng. Nhưng cũng phải loại bỏ những nguyên nhân ngụy tạo, là sản phẩm của sự thao túng cảm xúc và khoa trương, và cố gắng bằng mọi cách để đưa chúng ra ánh sáng. Mọi người không được chết vì tin giả.

Thật đáng lo khi nguyên tắc “lẽ phải trong tay kẻ mạnh” đang thắng thế ở quá nhiều tình huống ngày nay, tất cả chỉ vì mục đích hợp pháp hóa việc theo đuổi lợi ích riêng. Thật đáng lo khi luật pháp quốc tế và luật nhân đạo dường như không còn mang tính ràng buộc nữa, và bị thay thế bởi cái gọi là quyền được ép buộc người khác. Điều đó không xứng hợp với nhân tính của chúng ta, là điều xấu hổ cho toàn thể nhân loại và cho các nhà lãnh đạo quốc gia. Sau bao thế kỷ lịch sử, làm sao người ta có thể tin rằng hành động chiến tranh để mang lại hoà bình lại không phản tác dụng với chính những người gây chiến? Làm sao chúng ta còn có thể nghĩ rằng chúng ta đang đặt nền móng cho tương lai mà không cần đến sự cộng tác và tầm nhìn toàn cầu được truyền cảm hứng bởi ích chung? Làm sao chúng ta có thể tiếp tục phản bội khát vọng hoà bình của các dân tộc trên thế giới bằng sự tuyên truyền về việc gia tăng vũ khí, như thể ưu thế quân sự sẽ giải quyết được vấn đề, thay vì chỉ làm tăng thêm hận thù và mong muốn báo thù lớn hơn? Người ta đang bắt đầu nhận thấy số tiền khổng lồ cuối cùng đang chảy vào túi của những kẻ buôn bán cái chết, số tiền đó có thể được dùng để xây các bệnh viện và trường học mới, thì nay lại được dùng để phá huỷ những gì đã tồn tại!

Tôi tự hỏi: là Kitô hữu, ngoài việc cảm thấy phẫn nộ, lên tiếng và xắn tay áo lên để xây dựng hoà bình và cổ võ đối thoại, chúng ta còn có thể làm gì hơn nữa? Tôi tin rằng trước hết và trên hết, chúng ta thực sự cần cầu nguyện. Chúng ta phải biến mọi bản tin bi thảm, mọi đoạn phim thời sự mà chúng ta xem, trở thành lời kêu cầu trước Chúa. Và sau đó là đưa ra sự giúp đỡ, giống như anh chị em đang thực hiện, và như nhiều người khác có thể làm được thông qua anh chị em.

Nhưng còn hơn thế nữa, và tôi nói điều này với sự lưu tâm cách đặc biệt đến Kitô giáo Đông phương: đó là chứng tá. Chúng ta được kêu gọi trung thành với Chúa Giêsu, mà không để mình rơi vào cạm bẫy của quyền lực. Chúng ta được mời gọi noi gương Đức Kitô, Đấng đã chiến thắng sự dữ bằng tình yêu Người đã hiến dâng trên Thánh Giá, và cho thấy một cách trị vì hoàn toàn khác biệt với cách của Hêrôđê và Philatô. Hêrôđê, vì sợ bị phế truất, đã sát hại các hài nhi, và ngay cả hôm nay các trẻ em vẫn tiếp tục bị bom đạn xé xác. Philatô thì rửa tay, giống như chúng ta có nguy cơ làm mỗi ngày, cho đến khi chúng ta tiến đến điểm không thể quay lại.

Chúng ta hãy nhìn lên Chúa Giêsu, Đấng kêu gọi chúng ta chữa lành các vết thương lịch sử bằng chính quyền năng dịu dàng của Thập giá vinh quang của Người, Thập giá tuôn tràn sức mạnh tha thứ, hy vọng khởi đầu mới, và quyết tâm giữ vững sự trung thực và minh bạch giữa biển cả hủ hóa. Chúng ta hãy noi gương Đức Kitô, Đấng giải thoát con tim khỏi hận thù, và cho thấy cách thoát khỏi não trạng chia rẽ và trả thù bằng chính tấm gương của mình. Tôi cảm ơn và ôm lấy trong tâm hồn tất cả các Kitô hữu Đông phương đang đáp lại sự dữ bằng việc thiện. Anh chị em thân mến, cảm ơn anh chị em vì chứng tá anh chị em đang thể hiện, nhất là khi anh chị em ở lại trên chính quê hương mình như những người môn đệ và chứng nhân của Đức Kitô.

Các bạn ROACO thân mến, trong công việc của mình, các bạn đã chứng kiến tận mắt biết bao đau thương do chiến tranh và khủng bố gây ra – và ở đây, tôi nghĩ đến cuộc tấn công kinh hoàng gần đây nhắm vào Nhà thờ Thánh Êlia tại Damas – nhưng các bạn cũng thấy những hạt giống Tin Mừng đang bén rễ trong sa mạc. Các bạn gặp gỡ Dân Thiên Chúa, những người kiên trì ngước mắt hướng lên trời, cầu nguyện với Thiên Chúa và yêu thương người lân cận. Các bạn cảm nghiệm vẻ đẹp và ân sủng của các truyền thống Đông phương, của phụng vụ làm cho Thiên Chúa hiện diện trong không gian và thời gian, của những bài thánh ca tuổi đời hàng thế kỷ thấm đượm lời ngợi khen, tôn vinh và mầu nhiệm, khơi dậy lời khẩn cầu tha thứ không ngơi cho nhân loại. Các bạn đã gặp những con người, thường là không tên tuổi, nhưng lại gia nhập hàng ngũ vĩ đại của các vị tử đạo và thánh nhân của Đông phương. Giữa đêm tối của xung đột, các bạn là những chứng nhân cho ánh sáng Đông phương.

Tôi ước mong ánh sáng của sự khôn ngoan và ơn cứu độ này được biết đến nhiều hơn trong Giáo Hội Công Giáo, nơi mà phần lớn nó vẫn chưa được biết, và nơi mà đức tin đang đứng trước nguy cơ không có sức sống ở nhiều nơi, cũng bởi niềm hy vọng được Thánh Gioan Phaolô II đã nhiều lần bày tỏ vẫn chưa được thực hiện. Bốn mươi năm trước, ngài nói: “Giáo Hội cần học lại cách thở bằng hai lá phổi: Đông phương và Tây phương” (Huấn từ trước Hồng y Đoàn, ngày 28 tháng 6 năm 1985). Tuy nhiên, Kitô giáo Đông phương chỉ có thể được bảo tồn nếu được yêu thương, và nó chỉ có thể được yêu thương nếu được biết đến. Vì thế, cần thiết phải thực hiện lời kêu gọi rõ ràng của Huấn quyền để làm quen với kho tàng của các Giáo hội ấy, chẳng hạn bằng cách tổ chức những khoá học căn bản về các Giáo Hội Đông phương tại các Chủng viện, Khoa Thần học và Đại học Công Giáo (x. Thánh Gioan Phaolô II, Tông thư Orientale Lumen, 24; Bộ Giáo dục Công Giáo, Thư luân lưu Eu égard au développement, 9-14). Cũng cần có sự gặp gỡ và chia sẻ hoạt động mục vụ, vì ngày nay, người Công Giáo Đông phương không còn là những người anh em họ xa của chúng ta cử hành những nghi lễ xa lạ nữa, mà là những người hàng xóm cạnh chúng ta, do hoàn cảnh di dân bắt buộc. Cảm thức về sự thánh thiêng, đức tin sâu sắc của họ, được củng cố trong đau khổ, và linh đạo của họ thấm đẫm những mầu nhiệm thiêng liêng có thể giúp ích cho cơn khát Thiên Chúa, tiềm ẩn nhưng vẫn hiện hữu ở Tây phương.

Chúng ta cùng phó thác sự lớn lên chung trong đức tin này cho sự chuyển cầu của Mẹ Thiên Chúa Rất Thánh và hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô, những đấng đã nối kết Đông và Tây. Tôi ban phép lành cho anh chị em và động viên anh chị em kiên vững trong đức ái, được thôi thúc bởi niềm hy vọng của Đức Kitô.

Cảm ơn anh chị em.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 26/6/2025]


Thứ Hai, 28 tháng 4, 2025

Lễ an táng Đức Thánh Cha Phanxicô qua những con số

Lễ an táng Đức Thánh Cha Phanxicô qua những con số

Lễ an táng Đức Thánh Cha Phanxicô qua những con số

Antoine Mekary | ALETEIA


I.Media

26/04/25


Thế giới lại một lần nữa đoàn kết quanh Vị Đại diện của Chúa Kitô, khi Giáo hội cầu nguyện cho sự an nghỉ đời đời của ngài.

Lễ an táng Đức Thánh Cha Phanxicô vào ngày 26 tháng 4 tại Quảng trường Thánh Peter đã hiệp nhất thế giới trong tang lễ. Sau đây là một vài con số:

Hơn 160 đoàn đại biểu chính phủ đã đến dự, bao gồm 54 nguyên thủ quốc gia, 12 quốc vương đương nhiệm và 15 vị đứng đầu nhà nước. Ngoài ra, 9 tổ chức quốc tế và Liên minh Châu Âu cũng có mặt.

Gần 100 vị đại diện của các tín ngưỡng và tôn giáo khác hiện diện.

4.000 linh mục đồng tế trong Thánh lễ, cùng với 220 hồng y và 750 giám mục hoặc tổng giám mục.

Hơn 4.700 nhà báo xin được cấp phép tường thuật sự kiện này, cùng với 600 nhà báo được cấp phép thường trực tại Tòa thánh.

250.000 người đã đến viếng Đức Thánh Cha Phanxicô trước linh cữu của ngài tại Vương cung thánh đường Thánh Phêrô từ ngày 23 đến ngày 25 tháng 4.

Dự kiến ​​có 200.000 người tham dự lễ an táng (khoảng 50.000 người ở trong Quảng trường Thánh Phêrô, 150.000 người ở khu vực xung quanh).


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 27/4/2025]


Toàn văn bài giảng của Đức Hồng y Re tại lễ an táng Đức Thánh Cha Phanxicô

Toàn văn bài giảng của Đức Hồng y Re tại lễ an táng Đức Thánh Cha Phanxicô

Toàn văn bài giảng của Đức Hồng y Re tại lễ an táng Đức Thánh Cha Phanxicô

Antoine Mekary | ALETEIA


Aleteia

26/04/25



Chúng ta được nâng đỡ bởi đức tin vững vàng, đức tin ấy bảo đảm với chúng ta rằng cuộc sống con người không kết thúc trong nấm mộ, nhưng trong nhà của Cha …

Sau đây là bài giảng của Đức Hồng y Giovanni Re, trưởng Hồng y đoàn, tại lễ an táng Đức Thánh Cha Phanxicô.

_______________________________________


Tại Quảng trường Thánh Phêrô uy nghi này, nơi Đức Thánh Cha Phanxicô đã cử hành Thánh Lễ không biết bao nhiêu lần và chủ trì các cuộc gặp gỡ trọng đại trong suốt 12 năm qua, chúng ta quy tụ với tâm hồn sầu thương để cầu nguyện bên thi hài của ngài. Tuy nhiên, chúng ta được nâng đỡ bởi đức tin vững vàng, đức tin ấy bảo đảm với chúng ta rằng cuộc sống con người không kết thúc trong nấm mộ, nhưng trong nhà của Cha, trong đời sống hạnh phúc vô tận.

Thay mặt cho Hồng y đoàn, tôi xin chân thành cảm ơn sự hiện diện của tất cả các vị nơi đây. Với lòng xúc động sâu sắc, tôi xin gửi lời chào trân trọng và lời cảm ơn chân thành đến các vị Nguyên thủ quốc gia, các Vị Đứng đầu các Chính phủ và các Phái đoàn đến từ nhiều quốc gia để bày tỏ tình cảm, sự tôn kính và lòng kính trọng đối với Đức Thánh Cha quá cố của chúng tôi.

Sự tuôn trào tình cảm mà chúng ta chứng kiến ​​trong những ngày vừa qua sau khi ngài từ giã cõi thế để bước vào sự sống đời đời cho chúng ta thấy triều đại giáo hoàng của Đức Thánh Cha Phanxicô đã chạm đến tâm trí và tâm hồn cách sâu sắc biết nhường nào.

Hình ảnh cuối cùng chúng ta có về ngài, và sẽ còn khắc sâu trong tâm trí chúng ta, là vào Chúa Nhật vừa qua, Chúa Nhật Phục Sinh, khi Đức Thánh Cha Phanxicô, mặc dù có vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, vẫn muốn ban phép lành cho chúng ta từ ban công của Vương cung thánh đường Thánh Phêrô. Sau đó, ngài xuống Quảng trường này để chào thăm đông đảo tín hữu tham dự Thánh lễ Phục sinh trong khi ngài ngồi trên chiếc xe mui trần của Giáo hoàng.

Giờ đây, với lời cầu nguyện, chúng ta phó dâng linh hồn Đức Thánh Cha kính yêu của chúng ta cho Chúa, xin Chúa ban cho ngài hạnh phúc muôn đời trong ánh nhìn rạng ngời và vinh quang của tình yêu bao la của Người.

Chúng ta được soi sáng và hướng dẫn bởi đoạn Tin Mừng, trong đó chính tiếng của Chúa Kitô vang lên, hỏi vị Tông đồ trưởng: “Này anh Simon, anh có mến Thầy không?” Thánh Phêrô đáp lại cách nhanh chóng và chân thành: “Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy” Khi ấy, Chúa Giêsu trao cho ông sứ mệnh cao cả: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy”. Đây sẽ là sứ vụ liên tục của Thánh Phêrô và các đấng kế vị ngài, một sự phục vụ yêu thương theo bước chân của Chúa Kitô, là Thầy và là Chúa của chúng ta, Đấng “đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10:45).

Dù yếu đuối và đau đớn trong những ngày cuối đời, Đức Thánh Cha Phanxicô vẫn chọn bước đi trên con đường tự hiến này cho đến ngày cuối cùng của cuộc đời dương thế. Ngài đã đi theo dấu chân của Chúa, Đấng Chăn chiên Nhân lành, Đấng yêu thương đoàn chiên của mình đến mức hiến dâng mạng sống vì chúng. Và ngài đã làm như vậy với sức mạnh và sự thanh thản, gần gũi với đoàn chiên, Giáo hội của Chúa, ghi khắc trong lòng lời của Chúa Giêsu được Thánh Tông đồ Phaolô nhắc lại: “Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20:35).

Khi Đức Hồng y Bergoglio được Mật nghị bầu chọn vào ngày 13 tháng 3 năm 2013 để kế nhiệm Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, ngài đã có nhiều năm kinh nghiệm sống đời tu trì của Dòng Tên và trên hết, ngài đã được vun đắp thêm kinh nghiệm qua hai mươi mốt năm mục vụ tại Tổng giáo phận Buenos Aires, trước tiên với tư cách là Giám mục Phụ tá, sau đó là Giám mục Phó và trên hết là Tổng giám mục.

Quyết định chọn tước hiệu Phanxicô ngay lập tức cho thấy đường hướng và phong cách mục vụ mà ngài muốn xây dựng cho triều đại giáo hoàng của mình, tìm nguồn cảm hứng từ tinh thần của Thánh Phanxicô Assisi.

Ngài vẫn giữ tính cách và phong cách lãnh đạo mục vụ của mình, và qua tính cách kiên quyết của mình, ngài ngay lập tức để lại dấu ấn trong việc quản lý Giáo hội. Ngài đã thiết lập mối liên hệ trực tiếp với các cá nhân và dân tộc, mong muốn gần gũi với mọi người, đặc biệt chú ý đến những người đang gặp khó khăn, cho đi không giới hạn, nhất là những người bị gạt ra bên lề, những người bé mọn nhất giữa chúng ta. Ngài là một Giáo hoàng giữa mọi người, với trái tim rộng mở đối với mọi người. Ngài cũng là một Giáo hoàng chú ý đến các dấu chỉ của thời đại và những gì Chúa Thánh Thần đang thức tỉnh trong Giáo hội.

Với cách dùng từ và ngôn ngữ đặc trưng, ​​giàu hình ảnh và phép ẩn dụ, ngài luôn tìm cách làm sáng tỏ các vấn đề của thời đại chúng ta bằng sự khôn ngoan của Tin mừng. Ngài đã làm việc đó bằng cách đưa ra câu trả lời được hướng dẫn bởi ánh sáng đức tin và khuyến khích chúng ta sống như những Kitô hữu giữa các thách đố và mâu thuẫn trong những năm gần đây, mà ngài thích mô tả là một “sự thay đổi của thời đại”.

Ngài có sự tự nhiên và cách xưng hô thân mật với mọi người, kể cả những người xa rời Giáo hội.

Giàu tình người ấm áp và nhạy cảm sâu sắc với những thách thức của ngày nay, Đức Thánh Cha Phanxicô đã thực sự chia sẻ những lo âu, đau khổ và hy vọng của thời đại toàn cầu hóa này. Ngài đã hiến dâng chính bản thân bằng cách an ủi và khích lệ chúng ta bằng một thông điệp có khả năng chạm đến trái tim mọi người một cách trực tiếp và ngay lập tức.

Sức cuốn hút trong cách chào đón và lắng nghe của ngài, kết hợp với cách ứng xử hợp với những nhạy cảm của thời đại, đã chạm đến tâm hồn và tìm cách đánh thức lại lương tâm đạo đức và tinh thần. Loan báo Tin mừng là nguyên tắc định hướng trong triều đại giáo hoàng của ngài. Với tầm nhìn truyền giáo rõ ràng, ngài đã loan báo niềm vui của Tin mừng, đó cũng chính là tiêu đề của Tông huấn đầu tiên của ngài, Evangelii gaudium. Đó là niềm vui tràn ngập tâm hồi tất cả những ai tín thác nơi Thiên Chúa với lòng cậy trông và hy vọng.

Kim chỉ nam cho sứ mệnh của ngài còn là niềm xác tín rằng Giáo hội là ngôi nhà cho tất cả mọi người, một ngôi nhà luôn mở rộng cửa. Ngài thường dùng hình ảnh Giáo hội như một “bệnh viện dã chiến” sau một trận chiến, nơi có nhiều người bị thương; một Giáo hội quyết tâm chăm sóc các vấn đề của con người và những nỗi âu lo lớn lao đang giằng xé thế giới đương đại; một Giáo hội biết cúi mình xuống trước mọi người, bất kể niềm tin hay tình trạng của họ, và chữa lành những vết thương của họ.

Những cử chỉ và lời kêu gọi của ngài bênh vực người tị nạn và người di tản thì không sao kể hết. Sự kiên trì của ngài trong việc dấn thân cho người nghèo là liên tục không ngừng.

Thật đáng chú ý khi chuyến tông du đầu tiên của Đức Thánh Cha Phanxicô là đến Lampedusa, hòn đảo biểu tượng cho thảm kịch di cư, với hàng ngàn người thiệt mạng trên biển. Cũng trong tinh thần đó là chuyến đi của ngài đến Lesbos, cùng với Đức Thượng phụ Đại kết và Đức Tổng giám mục Athens, cũng như việc cử hành Thánh lễ tại biên giới giữa Mexico và Hoa Kỳ trong chuyến đi của ngài đến Mexico.

Trong số 47 chuyến Tông du vất vả của ngài, chuyến đi đến Iraq vào năm 2021, bất chấp mọi hiểm nguy, sẽ mãi được ghi nhớ cách đặc biệt. Chuyến Tông du khó khăn ấy trở thành liều thuốc xoa dịu vết thương hở của người dân Iraq, những người đã phải chịu đựng quá nhiều từ những hành động vô nhân của ISIS. Đó cũng là chuyến đi quan trọng cho việc đối thoại liên tôn, một chiều kích quan trọng khác trong công cuộc mục vụ của ngài. Với Chuyến Tông du năm 2024 đến bốn quốc gia ở Châu Á-Châu Đại Dương, Đức Thánh Cha đã đặt chân đến “vùng ngoại vi xa xôi nhất của thế giới”.

Đức Thánh Cha Phanxicô luôn đặt Tin Mừng của lòng thương xót vào trung tâm, không ngừng nhấn mạnh rằng Thiên Chúa không bao giờ mệt mỏi trong việc tha thứ cho chúng ta. Ngài luôn tha thứ, bất chấp hoàn cảnh của người xin tha thứ và trở lại nẻo chính đường ngay.

Ngài kêu gọi tổ chức Năm Thánh Lòng Thương xót ngoại thường để nhấn mạnh rằng lòng thương xót là “trái tim của Tin Mừng”.

Lòng thương xót và niềm vui của Tin Mừng là hai từ khóa đối với Đức Giáo hoàng Phanxicô.

Đối nghịch lại với điều mà ngài gọi là “văn hóa loại trừ”, ngài nói về văn hóa gặp gỡ và liên đới. Chủ đề về tình huynh đệ đã xuyên suốt toàn bộ triều đại giáo hoàng của ngài với những âm vang sống động. Trong Thông điệp Fratelli tutti, ngài mong muốn khơi dậy khát vọng trên toàn thế giới về tình huynh đệ, bởi vì tất cả chúng ta đều là con của cùng một Cha trên trời. Ngài thường nhắc nhở chúng ta một cách mạnh mẽ rằng tất cả chúng ta đều thuộc về cùng một gia đình nhân loại.

Năm 2019, trong chuyến tông du đến Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Đức Thánh Cha Phanxicô đã ký Văn kiện về Tình huynh đệ nhân loại vì Hòa bình thế giới và sự Chung sống, nhắc nhở về tình phụ tử chung của Thiên Chúa. Khi ngỏ lời với mọi người trên toàn thế giới qua Thông điệp Laudato si’, ngài đã nhấn mạnh đến bổn phận và trách nhiệm chung của chúng ta đối với ngôi nhà chung, ngài khẳng định, “Không ai được cứu một mình”.

Trước những cuộc chiến tranh khốc liệt trong những năm gần đây, với bao nỗi kinh hoàng vô nhân và không biết bao cái chết và sự tàn phá, Đức Thánh Cha Phanxicô không ngừng lên tiếng cầu xin hòa bình và kêu gọi lý trí và đàm phán trung thực để tìm ra các giải pháp khả thi. Ngài nói rằng chiến tranh dẫn đến cái chết của con người và sự tàn phá nhà cửa, bệnh viện và trường học. Chiến tranh luôn để lại một thế giới tồi tệ hơn trước: đó luôn là một thất bại đau thương và bi thảm cho tất cả mọi người.

“Xây dựng những cây cầu, đừng dựng lên những bức tường” là lời kêu gọi mà ngài đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần, và việc phục vụ đức tin của ngài với tư cách là Người kế vị Thánh Phêrô luôn gắn liền với việc phục vụ nhân loại trong mọi chiều kích.

Hiệp nhất trong tinh thần với toàn thể Kitô giáo, chúng ta hiện diện đông đảo ở đây để cầu nguyện cho Đức Thánh Cha Phanxicô, xin Thiên Chúa đón nhận ngài vào trong tình yêu vô biên của Người.

Đức Thánh Cha Phanxicô thường kết thúc các bài diễn từ và các cuộc họp của mình bằng câu nói: “Xin đừng quên cầu nguyện cho tôi”.

Kính thưa Đức Thánh Cha Phanxicô, giờ đây chúng con xin ngài cầu nguyện cho chúng con. Xin ngài từ Thiên đàng chúc lành cho Giáo Hội, chúc lành cho Rome và chúc lành cho toàn thế giới, như ngài đã làm vào Chúa Nhật vừa qua từ ban công của Vương cung thánh đường này, trong cái ôm cuối cùng dành cho toàn thể dân Thiên Chúa, cũng như ôm lấy toàn thể nhân loại đang tìm kiếm chân lý với tâm hồn chân thành và giơ cao ngọn đuốc hy vọng.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 27/4/2025]


Chủ Nhật, 27 tháng 4, 2025

12 năm và 12 công cuộc của Đức Thánh Cha Phanxicô: 2013-2025

12 năm và 12 công cuộc của Đức Thánh Cha Phanxicô: 2013-2025

12 năm và 12 công cuộc của Đức Thánh Cha Phanxicô: 2013-2025

Antoine Mekary | ALETEIA


Camille Dalmas

24/04/25


Đức Thánh Cha Phanxicô đã kết thúc cuộc đời trần thế vào ngày 21 tháng 4 năm 2025, ngài đã nỗ lực chèo lái “con thuyền Giáo hội” để có thể hoàn thành tốt hơn sứ mệnh của Giáo hội.

Accepto” (Chấp nhận). Vào lúc 7:05 tối thứ Tư, ngày 13 tháng 3 năm 2013, trước bức bích họa Ngày Chung thẩm trong Nhà nguyện Sistine, Đức Hồng y Jorge Mario Bergoglio đã chấp nhận chức vụ vừa được Chúa Thánh Thần trao phó cho ngài thông qua các hồng y khác.

Không ai có thể biết được cảm xúc đang diễn ra trong tâm trí của vị giám mục người Argentina ngay lúc đó, có lẽ ngoại trừ Đức Benedicto XVI. Từ nơi ở của ngài tại lâu đài Castel Gandolfo, vị giáo hoàng đã từ chức vài ngày trước đang chờ đợi để gặp vị kế nhiệm của mình xuất hiện tại Chính điện của Vương cung thánh đường Thánh Phêrô. Một tháng trước đó, Đức Giáo hoàng đã tuyên bố rằng ngài không còn đủ sức khoẻ để thực hiện thừa tác vụ của Thánh Phêrô.

115 vị hồng y cử tri đã đến bờ bên kia Nam Đại Tây Dương, đến Argentina, để tìm kiếm sức khoẻ đó.

Xuất hiện trước 200.000 tín hữu tập trung tại Quảng trường Thánh Phêrô, vị giáo hoàng vừa chọn tước hiệu Phanxicô đã tiếp quản triều đại của đức giáo hoàng người Đức và khai mạc triều đại giáo hoàng của mình, với một phong cách khác cũng như Đức Bênêđictô khác với Đức Gioan Phaolô II và Đức Gioan Phaolô II lại khác với Đức Phaolô VI.

Bây giờ, khi hành trình nơi trần thế của Đức Thánh Cha Phanxicô đã kết thúc, chúng ta cùng nhìn lại 12 công cuộc lớn do vị giáo hoàng người Argentina này lãnh đạo, mỗi công cuộc tượng trưng cho một năm trong 12 năm ngài ngồi trên Ngai tòa Phêrô. Với những thách đố mà ngài phải đối mặt, chúng thường đòi hỏi một nỗ lực phi thường.


1. Đưa Giáo Hội về các vùng ngoại vi

12 năm và 12 công cuộc của Đức Thánh Cha Phanxicô: 2013-2025
Đức Thánh Cha Phanxicô ở Mosul, Iraq, ngày 7 tháng 3 năm 2021 -/AFP/East News

“Về vị giáo hoàng tiếp theo, chúng ta cần một người giúp Giáo hội thoát khỏi bản thân mình, bắt đầu từ việc chiêm ngắm và tôn thờ Đức Giêsu Kitô, và đi đến những vùng ngoại vi của nhân loại.” Những lời phát biểu này của Đức Hồng y Bergoglio diễn ra chỉ sáu ngày trước khi ngài được bầu chọn lên Ngai tòa Phêrô.

Những lời đó chắc chắn sẽ trở thành cốt lõi cho chương trình của ngài. Vị giáo hoàng người Argentina đầu tiên trong lịch sử tin rằng một Giáo hội tự quy chiếu và tự mãn là một Giáo hội đang chết dần. Đức Thánh Cha Phanxicô liên tục nhắc lại mong muốn của ngài là nhìn thấy những người Kitô hữu rời khỏi chiếc ghế trường kỷ của họ và đi ra đến những khu vực địa lý, xã hội và tinh thần đang khao khát Tin mừng của Chúa Kitô. Ngài gọi những vùng này là vùng ngoại vi của cuộc sống, “nơi ẩn chứa mầu nhiệm của tội lỗi, của đau khổ và bất công ... nơi tìm thấy mọi sự thống khổ”.

Lộ trình này đã đưa Đức Giáo hoàng Phanxicô đến với những người ngoài Kitô giáo, đáng chú ý là trong các tông huấn Laudato si'Fratelli tutti, cũng như đến với người nghèo và những người cùng khổ mà xã hội hiện đại gạt bỏ: người di cư, người già, người khuyết tật, thai nhi chưa chào đời. Lộ trình đó cũng đã đưa ngài đến thăm các quốc gia mà chưa có vị Giám mục nào của Rome từng đặt chân đến trước đây, chẳng hạn như Bán đảo Ả Rập vào tháng Hai năm 2019, Iraq năm 2021Nam Sudan năm 2023.

Lộ trình đó cũng đưa ngài tiếp cận với một số vấn đề theo một góc nhìn về mục vụ hơn là giáo điều. Kêu gọi Giáo hội luôn giữ “cánh cửa rộng mở”, không hoạt động như một “trạm hải quan”, vị “Giáo hoàng của Lòng thương xót” đặc biệt thường chú ý đến những người có những lúc bị bỏ rơi trước cửa nhà thờ. Tuyên bố Fiducia supplicans tháng 12 năm 2023 cho phép chúc phúc cho các đôi đồng tính và các đôi đã ly hôn và tái hôn nên được đọc theo góc nhìn này.

2. Giải quyết khủng hoảng khí hậu

12 năm và 12 công cuộc của Đức Thánh Cha Phanxicô: 2013-2025

Đức Thánh Cha Phanxicô tại Vatican ngày 17 tháng 4 năm 2019 Antoine Mekary | ALETEIA | i.Media

Hiếm có thông điệp nào có tác động lớn như vậy. Laudato si', văn bản của Đức Thánh Cha Phanxicô “về việc chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta”, đã đến được với hàng triệu người xa rời Công giáo nhưng vẫn quan ngại về tính cấp bách của biến đổi khí hậu.

Đức Phanxicô giải thích rằng ngài chọn tước hiệu này để giúp ngài nhớ lại những lời dạy của Poverello (Người nghèo) thành Assisi, Thánh Phanxicô. Ngài muốn làm sống lại toàn bộ giáo huấn của Giáo hội dạy về sinh thái theo một phong cách mới và táo bạo, và gióng lên tiếng kêu cho thế giới, kêu gọi sự hoán cải về thái độ của chúng ta đối với chủ nghĩa tiêu dùng, đối với môi trường và với những thay đổi về khí hậu có ảnh hưởng như thế nào đến những người nghèo nhất.

Ở tuổi gần 87, lo lắng và quan ngại trước việc các nhà lãnh đạo chính trị không hành động, mùa thu năm 2023, ngài đã viết phần tiếp theo của tông huấn Laudato si', tông huấn Laudate Deum, trong đó ngài dành toàn bộ một chương cho COP28 tại Dubai. Ngài cũng tuyên bố ý định tham dự hội nghị để nâng cao nhận thức, nhưng cuối cùng, ngài đã phải hủy vì lý do sức khỏe.

3. Giải quyết cuộc khủng hoảng di cư với lòng trắc ẩn

12 năm và 12 công cuộc của Đức Thánh Cha Phanxicô: 2013-2025

Đức Thánh Cha Phanxicô nhận chiếc áo phao từ một thành viên của SOS Mediterranee, một tổ chức phi chính phủ của Châu Âu chuyên cứu hộ người di cư trên biển Photo by Handout / VATICAN MEDIA / AFP

Ngày 8 tháng 7 năm 2013: chỉ vài tuần sau khi Đức Thánh Cha Phanxicô lên ngôi kế vị Thánh Phêrô, ngài quyết định đến thăm đảo Lampedusa nhỏ của Ý để “khóc thương những người đã chết” vì di cư. Hướng mặt ra biển, sau khoảng thời gian dài suy tư, ngài ném vòng hoa tưởng nhớ hàng ngàn người đã chết chìm ở Địa Trung Hải, một vùng biển trở thành “nghĩa trang khổng lồ” do cuộc khủng hoảng. Thật vậy, theo Liên Hợp Quốc, từ năm 2014 đến năm 2020, hơn 20.000 người di cư đã chết ở Địa Trung Hải. Cử chỉ của ngài là hành động đầu tiên trong rất nhiều hành động khác.

Năm 2015, trong một lời kêu gọi chưa từng có, ngài đề nghị mỗi giáo xứ ở Châu Âu tiếp nhận một gia đình di cư. Một năm sau, khi trở về từ chuyến đi đến đảo Lesvos (Hy Lạp), ngài đã đưa ba gia đình Hồi giáo Syria trở về định cư tại Rome.

Một số người Công giáo cho rằng Đức Thánh Cha ngây thơ về vấn đề nhập cư. Đối với họ, những lời kêu gọi liên tục của ngài về việc chào đón người di cư sẽ đe dọa hòa bình và văn hóa. Đức Giáo hoàng hiểu rõ những chỉ trích nhưng không hề lay chuyển. Người di cư là “hình ảnh của Đức Kitô đang gõ cửa nhà chúng ta”, ngài nhấn mạnh trong chuyến đi tới Maroc năm 2019. Ngài thừa nhận quyền của các quốc gia có biên giới và chỉ ra những điều cần thiết để có thể giúp người di cư hòa nhập vào xã hội, nhưng các chính sách này phải ghi nhớ rằng người di cư là những con người có khuôn mặt, có tên tuổi và những ước mơ.

Năm 2020, ngài tái khẳng định trong tông huấn Fratelli tutti rằng Châu Âu “có đủ khả năng để bảo vệ vị trí trung tâm của nhân vị và tìm ra sự cân bằng thích đáng giữa hai trách nhiệm đạo đức của mình là bảo vệ quyền của công dân và bảo đảm hỗ trợ và chấp nhận người di cư”.

Lên án những người xem xét và đối xử với người di cư theo cách “ít nhân tính hơn”, Đức Giám mục Rome cho rằng, “Với người Kitô giáo, suy nghĩ và hành động theo cách đó là không thể chấp nhận được, vì nó đặt một số ưu tiên cho chính trị lên trên niềm tin sâu sắc của chúng ta”.

Ngài đã nhắc lại lời kêu gọi này trong chuyến đi tới Marseille vào tháng 9 năm 2023. “Phải cứu những người có nguy cơ bị chết chìm vì bị bỏ rơi trên biển. Đó là nghĩa vụ của con người, đó là nghĩa vụ của nền văn minh!” ngài tuyên bố.

4. Phấn đấu vì hòa bình thế giới

12 năm và 12 công cuộc của Đức Thánh Cha Phanxicô: 2013-2025


Cứ vào thời điểm tháng Mười, tên của ngài được nhắc đến khi có những dự đoán về người đoạt giải Nobel Hòa bình. Đức Phanxicô chưa bao giờ nhận được giải thưởng này. Tuy nhiên, đấng kế nhiệm thứ 266 của Thánh Phêrô không bao giờ ngừng làm việc để giải quyết hoặc xoa dịu nhiều cuộc khủng hoảng.

Một ví dụ đó là việc khôi phục quan hệ ngoại giao giữa Cuba và Hoa Kỳ thông qua Tòa thánh vào tháng 12 năm 2014. Ngay từ khi bắt đầu nhiệm kỳ giáo hoàng, ngài nỗ lực xây dựng hòa bình giữa Israel và Palestine. Thật đáng buồn, ngài đã không thể ngăn chặn sự trở lại của cuộc chiến đẫm máu ở Đất Thánh giữa Hamas và Israel.

Trong những thời gian khủng hoảng, chính sách ngoại giao của Đức Phanxicô dựa trên đối thoại, là điều cốt yếu cho sự hòa giải. Ngài không ngần ngại hạ mình, như ngài đã làm trong một ngày vào tháng 4 năm 2019 khi quỳ xuống hôn chân Tổng thống Nam Sudan Salva Kiir, một người Công giáo, và đối thủ của ông là Riek Machar, một người theo phái Trưởng lão, để thúc giục họ tìm ra con đường dẫn đến hòa bình.

Nhiều lần lên án việc sử dụng vũ khí hạt nhân, ngài coi mục tiêu cuối cùng của việc giải trừ hoàn toàn vũ khí hạt nhân là một mệnh lệnh đạo đức và nhân đạo. Lặp lại lời của Đức Phaolô VI - “Không bao giờ chiến tranh nữa!” - ngài đã đặt câu hỏi trong tông huấn Fratelli tutti về khái niệm “chiến tranh chính nghĩa”, một khái niệm mà ngài cho là “rất khó” để bảo vệ ngày nay.

Một ngày sau khi quân đội Nga xâm lược Ukraine vào ngày 24 tháng 2 năm 2022, Đức Thánh Cha Phanxicô đã một mình đến Đại sứ quán Nga tại Tòa thánh để “bày tỏ mối quan ngại của mình”. Cử chỉ chưa từng có này được tiếp nối bằng hàng chục lời kêu gọi hòa bình trong các bài giảng, diễn từ và bài giảng giờ Kinh Truyền tin của ngài. Ngày 8 tháng 12 năm 2022, ngài đã rơi lệ khi cầu nguyện với Đức Mẹ Maria, nhắc đến “dân tộc Ukraine tử đạo”. Với nỗ lực giữ cho cánh cửa đối thoại luôn rộng mở, ngài cho biết ngài đã sẵn sàng đến Moscow để nói chuyện với ông Vladimir Putin.

5. Tiến tới tính hiệp hành


Thánh lễ bế mạc Thượng Hội đồng Giám mục vùng Amazon, ngày 27 tháng 10 năm 2019 Antoine Mekary | ALETEIA

Vào buổi tối ngày đắc cử, tại Chính điện của Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã để lại ấn tượng sâu sắc khi cho thấy mình là một vị giám mục giản dị và nói về Giáo hội Rome như là “giáo hội chủ trì tất cả các Giáo hội trong đức ái”. Theo ông Austen Ivereigh, một trong những người viết tiểu sử của Đức Thánh Cha, việc sử dụng “công thức cũ” này cho thấy vị kế nhiệm mới cho mong muốn của Phêrô là thiết lập “tính đồng nghị trong hành động”.

Giải thích trong tông huấn Evangelii Gaudium đầu tiên của ngài rằng “việc tập trung hoá quá mức, thay vì chứng minh là hữu ích, lại làm phức tạp đời sống Giáo hội và hoạt động truyền giáo của Giáo hội”, ngay từ đầu, vị giáo hoàng người Argentina đã nhân rộng các sáng kiến ​​hướng tới một mô hình quản trị có tính đồng nghị hơn.

Đây là quan điểm của nhóm hội đồng hồng y cố vấn đến từ khắp nơi trên thế giới mà Đức Phanxicô triệu tập để hỗ trợ ngài với mong muốn cải tổ Giáo triều. Ngài cũng muốn trao nhiều quyền tự do hơn cho các hội đồng giám mục, các thiết chế có tính đồng nghị được Công đồng Vatican II hồi sinh.

Ngài đã khởi sự một Thượng hội đồng toàn cầu kéo dài ba năm về chủ đề tính hiệp hành. Bắt đầu từ năm 2021, tiến trình này nhằm mục đích làm cho Giáo hội Công giáo trở nên chào đón hơn, có tính tham gia và truyền giáo hơn, đồng thời ít mang tính giáo quyền và sự tập trung hóa.

Mong muốn thấy vai trò lớn hơn của giáo dân và phụ nữ trong việc quản trị Giáo hội ở cấp giáo xứ, giáo phận và tại Rome, Đức Thánh Cha lần đầu tiên đã bổ nhiệm các thành viên giáo dân vào Thượng hội đồng giám mục.

6. Thay đổi văn hóa giáo hội để giải quyết cuộc khủng hoảng lạm dụng tính dục

12 năm và 12 công cuộc của Đức Thánh Cha Phanxicô: 2013-2025

Đức Thánh Cha Phanxicô tại hội nghị thượng đỉnh về lạm dụng tính dục, tháng 2 năm 2019 Vincenzo PINTO / POOL / AFP

Tiếp nối triều đại của Đức Benedicto XVI, Đức Thánh Cha Phanxicô muốn tiến hành một “cuộc chiến toàn diện” chống lại nạn lạm dụng tính dục trẻ vị thành niên và những người dễ bị tổn thương trong Giáo hội. Một năm sau khi được bầu, ngài đã thành lập một ủy ban với nhiệm vụ đề xuất “những sáng kiến thích hợp nhất” nhằm bảo đảm rằng “những tội ác như đã xảy ra sẽ không bao giờ tái diễn”.

Vào tháng 8 năm 2018, khi những tiết lộ ngày càng nhiều, Đức Giáo hoàng đã công bố một Thư gửi dân Chúa trong đó ngài xác định chủ nghĩa giáo sĩ là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng lạm dụng. Bức thư này được tiếp nối bằng việc triệu tập một hội nghị thượng đỉnh ngoại thường về vấn đề lạm dụng tại Rome vào tháng 2 năm 2019.

Vài tuần sau, tự sắc Vos estis lux mundi được công bố, yêu cầu tất cả các giáo sĩ và tu sĩ phải báo cáo bất kỳ vụ lạm dụng nào mà họ biết được. Tự sắc này cũng yêu cầu mọi giáo phận trên thế giới phải thiết lập “hệ thống ổn định và dễ tiếp cận” để báo cáo các vụ lạm dụng tính dục. Quan trọng hơn, đó là thiết lập một quy trình điều tra đối với các giám mục hoặc bề trên bị nghi ngờ phạm tội hoặc che giấu tội ác.

Vào tháng 12 năm 2019, Đức Giáo hoàng đã bãi bỏ bí mật giáo hoàng đối với các thủ tục liên quan đến tội ấu dâm. Và vào tháng 5 năm 2021, ngài đã thực hiện một sự sửa đổi lớn đối với một chương trong Bộ Giáo luật liên quan đến các hình phạt nghiêm trọng. Các tội ác đối với trẻ vị thành niên đã được đưa vào. Ngoài ra, việc công bố một báo cáo chưa từng có về cựu Hồng y McCarrick — người đã phạm nhiều tội lạm dụng tính dục — đã chứng tỏ mong muốn của giáo hoàng trong việc phơi bày sự thật về những thiếu sót của Tòa thánh trong trường hợp này.

Tuy nhiên, triều đại giáo hoàng gặp phải những thiếu sót, và các nạn nhân thường xuyên lên án sự chậm chạp hoặc thờ ơ ở Rome trong việc thực hiện những cải cách. Chính Đức Phanxicô đã thừa nhận các khuyết điểm này. Ngài thừa nhận “Tôi đã mắc những sai lầm nghiêm trọng” liên quan đến một vụ việc ở Chile, nơi ngài bảo vệ một giám mục bị nghi ngờ bao che cho một linh mục ấu dâm.

Việc Cha Hans Zollner, Dòng Tên, bất ngờ từ chức khỏi Ủy ban Giáo hoàng Bảo vệ Trẻ vị thành niên vào tháng 3 năm 2023 làm dấy lên nghi ngờ về hiệu quả và khả năng quản lý của cơ quan này, do ngài thành lập năm 2014. Tuy nhiên, việc công bố bản báo cáo đầu tiên vào cuối năm 2024 về tình hình cuộc chiến chống lạm dụng trong Giáo hội Công giáo — dù còn dè dặt — cho thấy mong muốn của Vatican trong việc phối hợp các biện pháp bảo vệ trên toàn thế giới.

7. Chống lại chủ nghĩa giáo sĩ

12 năm và 12 công cuộc của Đức Thánh Cha Phanxicô: 2013-2025

Đức Giáo Hoàng Phanxicô bên các hồng y Antoine Mekary / Godong | Ref:624

Ngay từ đầu triều đại giáo hoàng của mình vào năm 2013, Đức Thánh Cha Phanxicô đã cảnh báo các giám mục Mỹ Latinh về chủ nghĩa giáo sĩ. Vào mùa hè năm 2018, sau vụ bê bối lạm dụng tính dục ở Ireland, trong Thư gửi Dân Chúa, ngài kêu gọi chấm dứt cách hiểu không đúng này về thẩm quyền của Giáo hội.

Thật vậy, ngài chứng minh một mối liên hệ rất rõ ràng giữa việc lạm dụng quyền lực, bắt nguồn từ chủ nghĩa giáo sĩ, và lạm dụng tính dục: “Nói ‘không’ với lạm dụng là nói ‘không’ một cách dứt khoát với mọi hình thức của chủ nghĩa giáo sĩ,” ngài viết. Những lời khiển trách của ngài đối với các giáo sĩ xa rời người tín hữu là một trong những chủ đề xuyên suốt trong triều đại giáo hoàng của ngài.

Đồng thời, Đức Phanxicô không ngừng cảnh báo về nguy cơ “giáo sĩ hóa giáo dân”. Quan điểm này có thể giải thích cho quyết định của ngài không tiến hành thêm bước nào trong vấn đề phong chức linh mục cho những người đã lập gia đình sau Thượng hội đồng về Amazon vào tháng 10 năm 2019, mặc dù các kết luận kêu gọi sự cởi mở lớn hơn.

Bên cạnh đó, việc ngài bổ nhiệm một số giáo dân vào các vị trí then chốt cho thấy rõ mong muốn của ngài củng cố vị thế của giáo dân trong cơ cấu. Ngài cũng cho phép giáo dân được bỏ phiếu tại Thượng hội đồng về Tương lai của Giáo hội, một đặc quyền trước đây chỉ dành riêng cho các giám mục.

8. Trao vai trò lớn hơn cho phụ nữ

12 năm và 12 công cuộc của Đức Thánh Cha Phanxicô: 2013-2025

Đức Thánh Cha Phanxicô chào một phụ nữ trong buổi cầu nguyện đại kết với những người di cư tại thành phố Nicosia của Síp Photo by Iakovos HATZISTAVROU / AFP

“Tôi đau khổ [...] khi tôi thấy, trong Giáo hội [...], vai trò phục vụ của người phụ nữ đang trượt dần thành vai trò người hầu,” Đức Giáo hoàng tuyên bố khi khởi đầu triều đại giáo hoàng của ngài vào tháng 8 năm 2013. Vấn đề về vị trí của phụ nữ trong Giáo hội đặc biệt được Đức Giáo hoàng Phanxicô quan tâm, và ngài nhấn mạnh đến sự cần thiết phải phát triển một “thần học về phụ nữ”. Một năm sau, ngài trao Giải thưởng Ratzinger cho một phụ nữ Pháp là bà Anne-Marie Pelletier, một học giả Kinh thánh nghiên cứu về vấn đề này.

Mặc dù Đức Phanxicô đã khép lại cánh cửa đối với việc truyền chức phó tế cho phụ nữ trong tông huấn Querida Amazonia năm 2020, ngài vẫn muốn việc suy tư về chức phó tế nữ được tiếp tục. Ngài ủng hộ các kết luận của Thượng hội đồng về tính Hiệp hành vào cuối năm 2024 đã theo hướng này.

Đức Phanxicô cũng bổ nhiệm một số phụ nữ vào các vị trí cấp cao tại Vatican. Vào tháng 1 năm 2025, ngài bổ nhiệm nữ tu người Ý Simona Brambilla làm Tổng trưởng — người phụ nữ đầu tiên trong lịch sử Giáo triều Rome đảm nhận chức vụ này — đứng đầu Thánh bộ đặc trách đời sống thánh hiến. Cũng trong tháng đó, ngài công bố Sơ Raffaella Petrini sẽ trở thành người đứng đầu Phủ Thống đốc Thị quốc Vatican. Như vậy, hai nữ tu này đảm nhận những vị trí vốn trước đây chỉ dành cho các hồng y.

Việc bổ nhiệm Sơ Nathalie Becquart làm phó tổng thư ký của Thượng Hội đồng Giám mục năm 2021 cũng mang ý nghĩa rất quan trọng. Vị nữ tu người Pháp này trở thành người phụ nữ đầu tiên có quyền bỏ phiếu trong hội đồng này. Cùng năm đó, ngài bổ nhiệm Nữ tu Alessandra Smerilli làm “nhân vật số hai” trong thánh bộ lớn đặc trách về Phục vụ sự Phát triển Con người Toàn diện. Ngài cũng đưa ba phụ nữ vào Thánh bộ Giám mục, cùng với những sự bổ nhiệm quan trọng khác dành cho phụ nữ vào các vị trí tại Vatican.

9. Cải tổ Giáo triều và minh bạch tài chính

12 năm và 12 công cuộc của Đức Thánh Cha Phanxicô: 2013-2025

Lễ công bố Tuyên ngôn “Dignitas Infinita” của Tổng trưởng Bộ Giáo lý Đức tin ngày 8 tháng 4 năm 2024 Antoine Mekary | ALETEIA

“Bệnh Alzheimer về mặt tinh thần”, “buôn chuyện”, “lợi nhuận thế gian”, “tự phô trương…” Trong bài diễn từ nổi tiếng về 15 căn bệnh của Giáo triều Rome được đưa ra vào dịp Giáng sinh năm 2014, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã không nương tay với chính bộ máy điều hành của mình. Thật vậy, sau vụ bê bối Vatileaks gây chấn động triều đại giáo hoàng của Đức Bênêđictô XVI, Hồng y đoàn đã giao phó cho Đức Hồng y Bergoglio nhiệm vụ cải cách hệ thống.

Vị giáo hoàng người Argentina nhanh chóng thực hiện các bước để tiến hành cuộc cải tổ cơ cấu Giáo triều. Để đạt được mục đích này, ngài tập hợp quanh mình một nhóm làm việc nhỏ mang tính đồng nghị gồm các hồng y đến từ khắp nơi trên thế giới.

Ngoài việc cải cách các cơ quan truyền thông của Tòa thánh và hợp nhất các Hội đồng Giáo hoàng, Đức Thánh Cha và hội đồng của ngài đã xử lý vấn đề quản lý tài chính của Vatican. Lộ trình rất rõ ràng: chống tham nhũng và rửa tiền, thúc đẩy tính minh bạch, đồng thời đơn giản hóa và làm rõ các quy trình ra quyết định. Kết quả chẳng hạn như Văn phòng Quốc vụ khanh đầy quyền lực, đã bị tước bỏ tất cả các quỹ tài chánh và tài sản bất động sản mà trước đây vẫn do cơ quan này quản lý.

Với việc cách chức Hồng y Angelo Becciu, nguyên là nhân vật số ba tại Vatican, vào tháng 9 năm 2020, người bị tình nghi biển thủ khi còn giữ chức Phụ tá Quốc vụ khanh, Đức Thánh Cha Phanxicô đã đẩy nhanh tiến trình cải tổ của ngài. Việc mở phiên tòa lịch sử tại Vatican vào tháng 7 năm 2021 liên quan đến vụ bê bối xoay quanh việc mua bán đầy rủi ro một tòa nhà ở London là bằng chứng cho thấy sự thay đổi văn hóa đã diễn ra dưới triều đại giáo hoàng của ngài. Đức Hồng y Becciu cuối cùng đã bị kết án năm năm rưỡi tù trong phiên tòa đầu tiên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2022, sau chín năm làm việc, Đức Giáo hoàng đã chính thức ban hành Tông hiến mới nhằm cập nhật tổ chức Giáo triều Rome. Văn kiện có tựa đề Praedicate Evangelium – “Loan báo Tin mừng” – thay thế cho hiến chế Pastor Bonus do Đức Gioan Phaolô II công bố năm 1988.

Sau đó, Đức Phanxicô phê chuẩn nhiều biện pháp tái cấu trúc được thực hiện trong suốt triều đại giáo hoàng của ngài, cũng như một số quyết định chưa từng có tiền lệ, chẳng hạn như khả năng bổ nhiệm giáo dân, cả nam và nữ, làm người đứng đầu các bộ. Tuy nhiên, giai đoạn cuối của triều đại giáo hoàng ghi đậm cảm giác mệt mỏi và thất vọng giữa các nhân viên Vatican, những người âm thầm chỉ trích cho rằng những cải cách vẫn chưa đủ.

10. Đối thoại với Hồi giáo

12 năm và 12 công cuộc của Đức Thánh Cha Phanxicô: 2013-2025

Đức Thánh Cha Phanxicô bên các nhà lãnh đạo tôn giáo trong một cuộc họp liên tôn tại thành phố cổ Ur, thuộc tỉnh Dhi Qar, miền nam Iraq VINCENZO PINTO | AFP

Có lẽ một trong những trọng tâm chính trong triều đại giáo hoàng của ngài là cuộc đối thoại với Hồi giáo đã đạt đến một cấp độ chưa từng có dưới thời Đức Phanxicô, sau khi mối quan hệ với người Hồi giáo gặp những trở ngại nghiêm trọng do các hiểu lầm phát sinh sau bài diễn từ của Đức Bênêđictô XVI tại Regensburg năm 2006.

Trong một thập niên được đánh dấu bằng chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan và sự tàn bạo của ISIS, đặc biệt là ở Trung Đông, Đức Thánh Cha đã có nhiều cuộc gặp gỡ với các vị chức sắc Hồi giáo. Ngài cho rằng văn hóa gặp gỡ là giải pháp thay thế duy nhất cho “sự man rợ của những kẻ thổi bùng ngọn lửa hận thù”, như ngài giải thích tại một hội nghị hòa bình được tổ chức tại Đại học Al-Azhar ở Ai Cập vào năm 2017.

Kim chỉ nam này đã dẫn bước ngài đến Abu Dhabi (Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất) vào tháng 2 năm 2019, nơi ngài ký một thỏa thuận lịch sử với Đức Đại Imam Al-Tayyeb của Đại học Al-Azhar. Cả hai vị cùng đặt bút ký một văn kiện chưa từng có về “Tình huynh đệ nhân loại”, một bản đúc kết thực thụ về các giá trị chung được tất cả các tôn giáo bảo vệ và sẽ được gửi đến tất cả các nhà lãnh đạo có tầm ảnh hưởng.

Thông điệp thứ ba của Đức Thánh Cha Phanxicô, Fratelli tutti, đánh dấu một bước tiến mang tính quyết định trong đối thoại liên tôn. Ngài nhiều lần trích dẫn lời Đức Đại Imam Ahmed Al Tayyeb, nói rằng chính Đức Đại Imam đã truyền cảm hứng cho thông điệp này, và nhắc lại lời kêu gọi tất cả các tôn giáo cùng lên án bạo lực nhân danh tôn giáo. Ngài nhấn mạnh rằng không ai được phép gây ra bạo lực nhân danh Thiên Chúa. Ngài đã gặp “người anh em” Al Tayyeb lần thứ sáu trong vòng năm năm, trong chuyến tông du đến Bahrain vào năm 2022.

Năm 2021, trong cuộc gặp với Đức Đại giáo chủ al-Sistani tại Iraq, Đức Thánh Cha đã bày tỏ mong muốn đối thoại với Hồi giáo Shiite. Chính trong tinh thần này, ngài đã bổ nhiệm Tổng giám mục Tehran, Dominique Mathieu, làm hồng y vào tháng 12 năm 2024.

11. Đại kết

12 năm và 12 công cuộc của Đức Thánh Cha Phanxicô: 2013-2025

Đức Thánh Cha Phanxicô tại một cuộc họp đại kết ở Hội đồng các Giáo hội Thế giới tại Geneva, vào ngày 21 tháng 6 năm 2018. DENIS BALIBOUSE I POOL I AFP

Đó là một trong những hình ảnh nổi bật trong triều đại giáo hoàng của ngài. Vào ngày 12 tháng 2 năm 2016, gần một ngàn năm sau cuộc Đại ly giáo năm 1054, người đứng đầu Giáo hội Công giáo lần đầu tiên gặp gỡ Đức Thượng phụ Chính thống giáo Moscow. Cuộc gặp gỡ lịch sử này, diễn ra tại sân bay ở Cuba, đã đánh dấu sự ấm lên trong mối quan hệ giữa hai Giáo hội.

Tuy nhiên, chính sách nối lại tình hữu nghị đã bị gián đoạn khi, vào ngày 24 tháng 2 năm 2022, quân đội Nga xâm lược Ukraine, với việc chúc phúc của Đức Thượng phụ Kirill. Trong khi Đức Thánh Cha và Đức Thượng phụ đang có kế hoạch gặp nhau tại Giêrusalem vào tháng 6 cùng năm, thì những bất đồng do cuộc chiến ở Ukraine gây ra đã bùng lên, với việc Đức Thánh Cha Phanxicô được cho là đã khuyên Đức Kirill không trở thành “cậu bé giúp lễ cho ông Putin”. Sự thất bại này trong mối quan hệ với Giáo hội Chính thống giáo Nga chắc chắn là một trong những điều nuối tiếc lớn nhất của Đức Thánh Cha Phanxicô.

Trên một phương diện hoàn toàn khác, Đức Thánh Cha Phanxicô đã đến Stockholm, Thụy Điển, vào năm 2016 để kỷ niệm 500 năm cuộc Cải cách Tin lành. Cùng với các đại diện của Liên đoàn Tin lành Thế giới, ngài đã ký một tuyên bố chung kêu gọi vượt qua “những xung đột trong quá khứ” để hướng tới sự hiệp thông và liên đới sâu sắc hơn.

Năm 2018, ngài đã thực hiện một “cuộc hành hương đại kết” đến Geneva, Thụy Sĩ, nhân dịp kỷ niệm 70 năm thành lập Hội đồng các Giáo hội Thế giới. Tổ chức này quy tụ khoảng 348 Giáo hội Chính thống, Tin lành và Anh giáo và đại diện cho 500 triệu tín đồ.

Phong cách và tính cách của Đức Phanxicô cũng giúp ngài thiết lập những mối liên hệ gần gũi với các anh em Kitô hữu khác, đặc biệt là Đức Thượng phụ Bartholomew của Constantinople, người mà ngài đã gặp khoảng 10 lần và là nguồn cảm hứng cho thông điệp Laudato si' của ngài, và Đức Tổng giám mục Canterbury, Justin Welby, người mà ngài đã cùng cộng tác để giải quyết cuộc xung đột ở Nam Sudan.

Vào cuối năm 2023, việc công bố văn kiện Fiducia Supplicans đã gây ra phản ứng từ phía Giáo hội Cốp, khiến họ tuyên bố sẽ tạm ngưng cuộc đối thoại thần học với Giáo hội Công giáo.

Sự qua đời của đức giáo hoàng để lại cho vị kế nhiệm kế hoạch đến thăm Thổ Nhĩ Kỳ cùng với Đức Thượng phụ Bartholomew, nhân kỷ niệm 1.700 năm Công đồng Nicaea.

12. Đức Thánh Cha Phanxicô và những tranh cãi về phụng vụ

12 năm và 12 công cuộc của Đức Thánh Cha Phanxicô: 2013-2025

Đức Thánh Cha Phanxicô cử hành Thánh Thể ANDREAS SOLARO / POOL / AFP

Ngày 16 tháng 7 năm 2021, vị giáo hoàng người Argentina đã gây nên một làn sóng phản ứng mạnh với tự sắc Traditionis Custodes, bãi bỏ quyết định năm 2007 của Đức Bênêđictô XVI về việc mở rộng khả năng cử hành Thánh lễ theo sách lễ năm 1962, được mô tả là “hình thức ngoại thường của nghi lễ Rôma".

Cách gọi này đã bị Đức Thánh Cha Phanxicô loại bỏ, ngài bày tỏ mối lo ngại rằng phụng vụ đang được sử dụng để gây chia rẽ. Quyết định này đã vấp phải sự bất bình sâu sắc trong một số các thành phần thuộc Giáo hội Công giáo, đặc biệt là tại Pháp và Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, vào tháng 2 năm 2022, Đức Giáo hoàng đã xác nhận quyền của Huynh đoàn Thánh Phêrô được cử hành theo nghi lễ Tridentine, vì cộng đoàn này, luôn trung thành với Giáo hoàng, đã được thành lập cách riêng cho mục đích đó. Đức Thánh Cha muốn để các giám mục tự quyết định theo từng trường hợp cụ thể tùy theo tình hình địa phương. Tuy nhiên, Đức Phanxicô vẫn mong muốn có sự hiệp nhất tối đa trong phụng vụ, theo luật của Sách lễ do Đức Phaolô VI ban hành năm 1969.

Ngày 29 tháng 6 năm 2022, qua tông thư Desidero desideravi, ngài nhắc lại rằng phụng vụ phải bảo đảm “một lời cầu nguyện chung và duy nhất”, có khả năng diễn tả sự hiệp nhất của Giáo hội như Công đồng Vatican II mong muốn.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 25/4/2025]