Hiển thị các bài đăng có nhãn Mẹ Teresa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Mẹ Teresa. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 21 tháng 11, 2021

Một lần Mẹ Teresa đến trễ cuộc hẹn với Đức Gioan Phaolô II

Một lần Mẹ Teresa đến trễ cuộc hẹn với Đức Gioan Phaolô II

Một lần Mẹ Teresa đến trễ cuộc hẹn với Đức Gioan Phaolô II

JEAN-CLAUDE DELMAS / AFP

Silvia Lucchetti

19/11/21


Hai vị thánh đã gặp nhau nhiều lần, nhưng có một lần gặp gỡ cho thấy cách Chúa Thánh Thần thực sự hiện diện trong Mẹ Teresa.

Mẹ Teresa và Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã gặp nhau nhiều lần, nhưng có một lần gặp gỡ cho thấy cách Chúa Thánh Thần thực sự hiện diện trong Mẹ Teresa. Câu chuyện được kể lại trong một ấn bản gần đây của tờ bán nguyệt san của Ý Miracoli e misteri (“Những phép lạ và sự huyền nhiệm”) trong một bài báo của Massimiliano Di Paolantonio.

Tác giả kể lại việc Mẹ Teresa đang ngồi trong xe hơi trên đường đến New Delhi để chào Đức Thánh Cha, khi đến một điểm kia, Mẹ chú ý thấy một người mắc bệnh phong cùi đang ở một mình bên vệ đường. Mẹ nói người tài xế cho xe tấp vào lề, bước xuống xe, và bắt đầu chăm sóc người bệnh phong. Mẹ chuyện trò với ông ta rất lâu để an ủi ông, mang lại cho ông ta tình yêu của Thiên Chúa và truyền cho ông niềm hy vọng và sự can đảm. Mẹ tiếp tục lên đường và bị trễ hẹn.

Khi một vị hồng y người Ấn Độ cho Mẹ biết rằng Mẹ đã bắt Đấng Đại diện Chúa Kitô phải đợi, Mẹ bình thản trả lời: “Thưa vâng, con biết, nhưng con đã gặp Đức Kitô trên đường.”

Đức Kitô hiện hữu trong người khác …

Quả thật, ngọn lửa tình yêu của Chúa Giêsu đã hướng dẫn cuộc đời Mẹ Teresa. Nếu Đức Kitô hiện diện trong người lân cận của chúng ta, nếu một người bệnh là Đức Kitô, thì ngay cả Đức giáo hoàng cũng có thể chờ đợi. Chúng ta cần phải linh hoạt hơn với những thời gian biểu của mình và dành thời gian cho một tầm quan trọng khác và tương xứng hơn. Thay vì để nó trở thành một bạo chúa khiến chúng ta cảm thấy như chúng ta không kiểm soát được, trói buộc chúng ta vào một cuộc đua vội vã và phân tán, chúng ta cần sử dụng nó cách hiệu quả, coi trọng từng khoảnh khắc, lấp đầy ý nghĩa và sự bình an cho nó. Khi chúng ta quá lệ thuộc vào thời gian biểu của mình, chúng ta thậm chí không nở được nụ cười với những người chúng ta gặp trên đường — không những trên đường mà ngay cả trong gia đình của mình. Chúng ta hành động như những nô lệ cho thời gian, chứ không phải chủ nhân của nó.

Giống như Mẹ Teresa, chúng ta cần sử dụng thời gian của mình mà không bận tâm.

Chỉ bằng cách dành ưu tiên hàng đầu cho Thiên Chúa, bằng cách đặt Người ở vị trí cao nhất trong cuộc sống của chúng ta và nhận biết sự hiện diện sống động của Người trong những người xung quanh, chúng ta mới có thể đảo ngược lại lối sống tàn phá này. Ngay cả trong những ngày quan trọng nhất, khi chúng ta có các buổi họp cho công việc, bài thi đại học, hoặc đi khám bệnh, thì chiếc đồng hồ chúng ta phải nhìn tới để đánh dấu thời gian của mình luôn luôn là đồng hồ của Đức Kitô.

Nếu chúng ta nhận ra rằng Chúa Giêsu đang ở trong những người khác, đặc biệt gần gũi với chúng ta trong những người chúng ta nhìn thấy hàng ngày và người gặp khó khăn, như Mẹ Teresa, thì chúng ta sẽ dừng lại mà không băn khoăn và lo lắng — ngay cả khi phải trì hoãn lại một nhiệm vụ nào đó. Chúng ta sẽ bình tĩnh lắng nghe, chẳng hạn như một người bạn thổ lộ cõi lòng, đứa con muốn tâm sự với chúng ta về những đau khổ trong chuyện tình cảm, hoặc vợ/chồng của một đồng nghiệp đang nằm bệnh viện. Bởi vì chúng ta gặp gỡ Chúa Kitô ở đó, mỗi ngày.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 20/11/2021]


Thứ Sáu, 10 tháng 9, 2021

Khi Mẹ Teresa dũng cảm nói với một Tổng thống Hoa Kỳ rằng phá thai là giết người

Khi Mẹ Teresa dũng cảm nói với một Tổng thống Hoa Kỳ rằng phá thai là giết người

Khi Mẹ Teresa dũng cảm nói với một Tổng thống Hoa Kỳ rằng phá thai là giết người

Robert Giroux | AFP

Mẹ Teresa, phát biểu trước Tổng thống Bill Clinton của Hoa Kỳ, lên tiếng chỉ trích nghiêm khắc những người ủng hộ sự phá thai.

Zelda Caldwell

04/09/21


Năm năm sau khi Mẹ được tuyên phong thánh, bây giờ những lời nói dũng cảm của Thánh Teresa Calcutta là cần thiết hơn bao giờ hết.

Với việc thông qua luật mới của Texas cấm phá thai sau khi phát hiện tim thai, vấn đề liệu quyền phá thai có tồn tại theo Hiến pháp hay không đã trở thành chủ đề tranh luận gay gắt.

Thật phù hợp khi vào dịp kỷ niệm 5 năm ngày Mẹ được phong thánh, chúng ta cùng hướng về những lời của Mẹ Teresa, người đã từng đưa vấn đề ra theo cách thuyết phục nhất, trước sự hiện diện của một tổng thống Hoa Kỳ, đó là phá thai — luật của đất nước Hoa Kỳ — là sự dữ.

Tại Chương trình National Prayer Breakfast ở Thủ đô Washington, DC, vào ngày 5 tháng Hai năm 1994, Mẹ Teresa đứng trước Tổng thống và Bà Bill Clinton, Phó Tổng thống và Bà Al Gore, cùng với 4.000 người tham dự khác, và gọi phá thai là “giết người”.

Đây là những gì Mẹ nói:

“Tôi cảm thấy rằng kẻ phá hủy hòa bình lớn nhất ngày nay là sự phá thai, bởi vì nó là cuộc chiến tranh chống lại trẻ em, trực tiếp giết chết đứa trẻ vô tội, sát hại bởi chính người mẹ. Và nếu chúng ta chấp nhận rằng một người mẹ có thể giết ngay cả đứa con của mình, thì làm sao chúng ta có thể bảo những người khác không được giết lẫn nhau? Làm cách nào để chúng ta thuyết phục một người phụ nữ không phá thai? Như mọi lúc, chúng ta phải thuyết phục cô ấy bằng tình yêu và chúng ta phải nhắc nhở bản thân rằng yêu thương có nghĩa là sẵn sàng trao hiến cho đến khi đau đớn. Chúa Giêsu đã hiến mạng sống của Ngài vì yêu thương chúng ta. Vì vậy, một người mẹ đang nghĩ đến việc phá thai cần được giúp đỡ để biết yêu thương, nghĩa là cho đến khi nó làm đau đớn các chương trình của cô ấy, hoặc thời gian rảnh rỗi của cô ấy, để tôn trọng sự sống của đứa con của mình. Cha của đứa trẻ đó, dù là ai, cũng phải trao hiến đến khi nó làm đau đớn.

“Khi phá thai, người mẹ không học cách yêu thương mà giết ngay cả chính đứa con của mình để giải quyết vấn đề của bản thân. Và khi phá thai, người cha được cho biết rằng anh ta không phải chịu bất kỳ trách nhiệm nào đối với đứa con mà anh ta đã đưa vào thế giới. Người cha đó có thể sẽ tiếp tục đưa những người phụ nữ khác vào cùng một rắc rối. Vì vậy phá thai dẫn đến việc phá thai nhiều hơn. Bất kỳ quốc gia nào chấp nhận việc phá thai là không dạy người dân của họ biết yêu thương, nhưng là sử dụng mọi hình thức bạo lực để đạt được điều họ muốn. Đây là lý do tại sao kẻ hủy diệt lớn nhất của tình yêu thương và hòa bình là phá thai”.

Mẹ kết thúc bài phát biểu với những lời hy vọng, và một lời nhắc nhở rằng chúng ta được kêu gọi để sử dụng sự tự do của mình cho những mục đích cao cả hơn là việc giết người:

“Nếu chúng ta nhớ rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta, và chúng ta có thể yêu thương người khác như Người yêu thương chúng ta, thì nước Mỹ có thể trở thành một dấu hiệu hòa bình cho thế giới. Từ nơi đây, một dấu hiệu của sự chăm sóc cho những sinh linh yếu đuối nhất — đứa trẻ chưa chào đời — đi vào thế giới. Nếu các bạn trở thành ánh đèn rực sáng của công lý và hòa bình trên thế giới, thì các bạn sẽ thực sự sống đúng với những gì mà những vị sáng lập của đất nước này đã thúc đẩy. Xin Chúa chúc lành cho các bạn!”

Quý vị xem video toàn bài phát biểu của Mẹ:





[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 9/9/2021]


Thứ Ba, 31 tháng 8, 2021

Liên Hợp quốc tôn vinh Mẹ Teresa bằng một con tem bưu chính

Liên Hợp quốc tôn vinh Mẹ Teresa bằng một con tem bưu chính

Con tem in một câu nói nổi tiếng của Thánh Teresa Calcutta: “Không phải tất cả chúng ta đều có thể làm được những điều vĩ đại. Nhưng chúng ta có thể làm những điều nhỏ bé với tình yêu lớn lao”.

Liên Hợp quốc tôn vinh Mẹ Teresa bằng một con tem bưu chính

Con tem bưu chính của LHQ tôn vinh Mẹ Teresa Calcutta (photo: United Nations Postal Administration)


Ines Murzaku

Blogs

26 tháng Tám, 2021


Một tem bưu chính của Liên Hợp quốc để tôn vinh một vị thánh Công giáo?

Đúng. Vào ngày 12 tháng Tám, Liên Hợp Quốc đã phát hành một con tem kỷ niệm để tôn vinh Mẹ Teresa, một trong những người phụ nữ và nhà thừa sai Công giáo nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20. Ở bên phải con tem xuất hiện một trong những câu nói nổi tiếng nhất của Mẹ Teresa: “Không phải tất cả chúng ta đều có thể làm được những điều vĩ đại. Nhưng chúng ta có thể làm những điều nhỏ bé với tình yêu lớn lao”.


“Trong hơn 45 năm, Mẹ đã phục vụ người nghèo, người bệnh, trẻ mồ côi và người hấp hối, đồng thời dẫn dắt việc mở rộng của Dòng Thừa sai Bác ái, đầu tiên là ở Ấn Độ và sau đó ở các quốc gia khác, bao gồm cả việc xây dựng các nhà tế bần và nhà ở cho người nghèo và người vô gia cư.”

Liên Hợp quốc là tổ chức phi chính phủ duy nhất trên thế giới có đặc quyền phát hành tem thư riêng. Kể từ năm 1951, Cơ quan Bưu chính của LHQ đã phát hành tem bưu chính, theo đề xuất năm 1947 của Argentina. Một thỏa thuận đã đạt được với các cơ quan bưu chính của Hoa Kỳ yêu cầu tem phải có mệnh giá bằng tiền của Hoa Kỳ và được sử dụng duy nhất tại Trụ sở Liên Hợp quốc.

Các thỏa thuận sau đó giữa Liên Hợp quốc, Thụy Sĩ và Áo đã cho phép tem của Liên Hợp quốc được phát hành bằng đồng franc Thụy Sĩ và đồng schilling của Áo (sau này là đồng Euro). Do đó, Liên Hợp quốc là cơ quan bưu chính duy nhất phát hành tem bằng ba loại tiền tệ khác nhau — đồng Mỹ kim, đồng franc Thụy Sĩ và đồng Euro.

Tem bưu chính của LHQ là những sứ giả, dựa trên những mục tiêu của LHQ, các chủ đề phổ quát hoặc các ngày kỷ niệm của những người nam và nữ, những người đã có ảnh hưởng đến lịch sử.

Đây không phải là lần đầu tiên LHQ tôn vinh Mẹ Teresa vì đã phục vụ người nghèo nhất trong số những người nghèo. Năm 2012, Liên Hợp quốc đã chọn Ngày 5 tháng Chín là Ngày Bác ái Quốc tế, tập trung vào việc giúp đỡ những người gặp khó khăn thông qua các hoạt động từ thiện và thiện nguyện. Việc lựa chọn ngày đó không phải là ngẫu nhiên, LHQ giải thích:

“Ngày 5 tháng Chín được chọn để kỷ niệm ngày qua đời của Mẹ Teresa Calcutta… Trong hơn 45 năm, Mẹ đã phục vụ người nghèo, người bệnh, trẻ mồ côi và người hấp hối, đồng thời dẫn dắt việc mở rộng của Dòng Thừa sai Bác ái, đầu tiên là ở Ấn Độ và sau đó ở các quốc gia khác, bao gồm cả việc xây dựng các nhà tế bần và nhà ở cho người nghèo và người vô gia cư. Công cuộc của Mẹ Teresa đã được công nhận và ca ngợi trên khắp thế giới và Mẹ đã nhận được một số giải thưởng và danh hiệu, trong đó có giải Nobel Hòa bình. Mẹ Teresa qua đời vào ngày 5 tháng Chín năm 1997, hưởng thọ 87 tuổi.”

Hai sự công nhận của Liên Hợp quốc đối với Mẹ Teresa — tem thư “Làm những việc nhỏ bé với tình yêu lớn lao” và sự công nhận Ngày Bác ái Quốc tế — bổ sung cho nhau. Tôi xin giải thích.

Đối với Mẹ Teresa, yếu tố quan trọng nhất chính là tình yêu và sự dấn thân mà một người kiên trì trên con đường đi theo tiếng gọi của mình, và đây là điểm then chốt của thông điệp và công cuộc trong cuộc sống của Mẹ. Cho dù có một tiếng gọi với những cách thức diễn đạt khác nhau, nhưng phương châm của Mẹ vẫn luôn là một — làm những việc nhỏ bé với một tình yêu lớn lao, và sống theo tiếng gọi của bạn mọi lúc mọi nơi với sự dấn thân nhiệt thành. Mẹ đã trải qua cơn khát mãnh liệt đó với một tình yêu tương tự — tình yêu của mẹ dành cho những người nghèo nhất trong số những người nghèo, những người chị em, những người anh em và các thành viên trong gia đình Mẹ thật mãnh liệt. Mẹ đã yêu cho đến khi đau đớn, và trong cuộc đời của mẹ, mẹ đã làm thỏa mãn tất cả những sự yêu thương này bằng cách phản chiếu lại mẫu gương ban đầu là Chúa Giêsu.

Phương châm “Làm những việc nhỏ bé với tình yêu lớn lao” nhắc đến sự dấn thân trọn đời của Mẹ theo gương Thánh Têrêsa thành Lisieux (1873-1897), vị thánh cùng tên của Mẹ Teresa. Con đường nhỏ bé của Thánh Têrêsa — nhắc nhở chúng ta rằng những điều bình thường trong cuộc sống, khi được thực hiện bằng tình yêu phi thường, sẽ được biến đổi thành một điều gì đó phi thường — đã trở thành nguyên tắc của Mẹ Teresa trong cuộc sống. Mẹ luôn sẵn sàng đóng góp phần nhỏ bé của mình để giảm bớt đau khổ và vác thập giá, như mẹ đã nói trong chuyến thăm Ethiopia bị nạn đói hoành hành năm 1984. Mẹ không ngần ngại thực hiện phần việc nhỏ bé của mình để giúp đỡ quốc gia đói khát nhất thế giới:

“Ethiopia là một đồi Canvê rộng mở, không phải là một địa ngục mở. Bạn và tôi có thể thực hiện phần việc nhỏ bé của mình và rồi sự sống sẽ được cứu thoát.”

Khi làm “những việc nhỏ bé với tình yêu lớn lao,” Mẹ Teresa đã trở thành một trong những người bảo vệ mạnh mẽ nhất cho quyền con người, mà đối với mẹ bắt đầu từ quyền được sống, đó quyền cơ bản nhất trong số các quyền con người. Đối với Mẹ, Chúa Giêsu đã đồng hóa với những người nghèo, người bị gạt ra bên lề, người bị bệnh phong, các thai nhi chưa sinh, những người bé mọn và không có tiếng nói — Mẹ là người ở tuyến đầu để bảo vệ quyền của những người này. Vì vậy, sự bảo vệ mạnh mẽ của Mẹ đối với sự sống từ khi thụ thai cho đến khi chết tự nhiên là một vấn đề nhân phẩm và nhân quyền mang tính Kitô luận sâu sắc và lấy Đức Kitô làm trung tâm. Mẹ biết rằng người nam, người nữ và trẻ em (đã được sinh ra và chưa được sinh ra) được tạo dựng cho những điều tuyệt vời — để yêu thương và được yêu thương — và Chúa Giêsu Kitô là nền tảng và là nguồn gốc của mọi quyền.

Danh hiệu quán quân về nhân quyền và phẩm giá con người của Mẹ Teresa đã đưa đến cho mẹ một vị trí danh dự tại Cổng vòm Nhân quyền của Nhà thờ Chính tòa Quốc gia (Episcopal) ở Washington D.C. Cổng vòm Nhân quyền của Nhà thờ Chính tòa dành để tôn vinh những cá nhân “đã có những hoạt động quan trọng, sâu sắc, và thay đổi cuộc sống trong cuộc đấu tranh cho nhân quyền, sự công bằng xã hội, quyền công dân và phúc lợi của con người”.

Ngoài ra, nhân đức bác ái thần học là một bước đi tiến tới sự hoàn thiện của người Kitô hữu. Yêu thương và bác ái luôn song hành cùng nhau. Bác ái là tình yêu của Thiên Chúa, trong đó con người tham gia vào các hoạt động của Thiên Chúa, hoặc yêu thương như tình yêu của Thiên Chúa.

Nếu phương châm của Mẹ Teresa áp dụng vào đức ái, thì Mẹ đã làm những việc nhỏ bé với lòng bác ái cao cả, yêu thương những người mẹ phục vụ và noi gương tình yêu hy sinh và vị tha của Chúa Kitô. Mẹ yêu mến Thiên Chúa trên tất cả mọi sự và yêu thương con người vì Chúa. Mọi người đều có thể trở thành nhà thừa sai bác ái bằng tình yêu thương và sự phục vụ khiêm nhường, khám phá ra dung nhan của Chúa Giêsu dưới hình hài đau khổ của những người thiếu thốn. Do đó, yêu thương và bác ái gắn kết với nhau và trở thành dấu ấn xác định sứ mệnh của Thánh Teresa Calcutta là làm những việc nhỏ bé với tình yêu và lòng bác ái lớn lao. Cả cuộc đời Mẹ luôn trung thành với hai điều này.

Tem thư kỷ niệm của LHQ đưa ra cho thế giới một cơ hội — vốn đang rất cần những điều nhỏ bé được thực hiện với tình yêu thương và lòng bác ái cao cả — phản ánh phương châm và Sứ mệnh của Mẹ Teresa. Có lẽ con tem bưu chính sẽ giúp đánh thức chúng ta thoát khỏi sự tự mãn và làm những việc nhỏ bé — nhỏ bé như viết một lá thư, dán tem lên thư và gửi nó đi — với tình yêu thương lớn lao.


[Nguồn: ncregister]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 31/8/2021]


Thứ Ba, 20 tháng 9, 2016

Thánh Teresa Calcutta và mộ của nhà độc tài

Thánh Teresa Calcutta và mộ của nhà độc tài

09 tháng 9, 2016 12:00 EST
Mother Teresa
Thánh Teresa Calcutta năm 1979. (CNS photo/KNA)
Những thập kỷ lịch sử bị giấu kín ẩn sau Bức Màn Sắt (Iron Curtain) là một kho chôn giấu những câu chuyện đang chờ được kể ra, những anh hùng và các thánh đang chờ được tôn vinh.
Một trong những câu chuyện này liên quan đến Thánh Teresa Calcutta, một sự kiện rất ít người biết. Tôi biết được chuyện này nhiều năm trước từ một nhà văn người Albania tên Marcel Hila, tôi đã hỏi ông xin thông tin cho một bài báo tôi viết về Pjeter Arbnori, một người Công giáo được nhiều người biết đến như là “Mandela của vùng Balkans” vì vẫn còn sống sót sau gần 29 năm trong nhà tù chính trị của cộng sản Liên xô. Tôi biết ông Arbnori đã gặp Mẹ Teresa, vì thế tôi nhờ bạn tôi là Marcel hỏi liệu ông có thể kể cho tôi nghe về chuyện đó. Marcel không có thông tin gì về tình bạn giữa Mẹ Teresa và Arbnori, ngoài việc hai người có gặp nhau ở New York, nhưng ông lại có chuyện khác để kể cho tôi, không phải về Arbnori nhưng về Mẹ Teresa.
Chuyện của ông bắt đầu tháng 9 năm 1985, khi Marcel là một lính được đưa vào một đơn vị không vũ trang và trang bị rất thiếu thốn — trang bị thấp nhất trong quân đội Albania, một đơn vị họ đưa những người được coi là nguy hiểm cho chính thể cộng sản. Nhà độc tài Enver Hoxha của Albania đã chết ngày 11 tháng 4, nhưng chế độ của ông ta vẫn còn tồn tại, và mặc dù không có chiến tranh, họ vẫn tuyển mộ quân đội để xây dựng những công sự, đường hầm và giao thông hào để chuẩn bị cho việc bảo vệ đất nước chống lại “kẻ thù.”
Chính tại đây một ngày kia, một tân binh đến, bị giáng cấp từ Đội Vệ binh Cộng hòa, quân đoàn tinh nhuệ nhất của quân đội. Vì các thành viên của Đội Vệ binh Cộng hòa được chọn lựa do sự trung thành của họ với thể chế, sự giáng chức này trông có vẻ gì đó đáng ngờ với đám lính chân đất trong đơn vị của Marcel. “Tất cả chúng tôi đều sợ rằng anh ta là một gián điệp,” ông nói với tôi, “vì thế chúng tôi giữ im lặng khi có anh ta. Nhưng một ngày kia, trong bữa cơm trưa, tôi quyết định hỏi anh ta xem anh ta đã làm gì mà bị chuyển vào đơn vị của chúng tôi. Anh ta trả lời rất đơn giản rằng anh ta đã có một cuộc cãi lộn với một người lính khác, và anh ta phải ở đây với chúng tôi như một hình phạt. ‘Chà, chắc là rất khó khăn cho anh, vì anh đến từ một quân đoàn danh tiếng, ở đó công việc của anh rất ít và anh có giầy ủng mang. Ở đây chúng ta phải gãy lưng vì công việc, và họ chẳng cho chúng ta giầy để đi.’”
“Tới đây, trước sự ngạc nhiên của mọi người, anh ta cười và kêu lên rằng thật may mắn được rời khỏi Vệ Binh Cộng Hòa, với công việc phải đứng gác tại mộ của Enver Hoxha: ‘Các anh chẳng hình dung nổi nó như thế nào vào ban đêm ở đó đâu! Anh nghe thấy những âm thanh, những tiếng động, những tiếng kêu gào, trái đất run lên dưới chân của anh — nó giống như có những tiếng rền rĩ than van từ dưới vực sâu. Đó là một sự tra tấn. Hơn 20 người trong đơn vị của tôi đã có kết cục là phải vào bệnh viện tâm thần do phải gác ở đó. Được đến đây đã cứu thoát tôi khỏi tất cả những chuyện đó. Đúng là tôi phải làm việc nặng nhọc hơn, nhưng ít nhất tôi không phải nghe những âm thanh của địa ngục đó.’”  
Albania lúc đó vẫn còn dưới gót giầy của một trong những bạo chúa độc ác nhất của thế kỷ 20, và nó làm cho đất nước hoàn toàn bị cô lập khỏi thế giới. Vì thế khi họ nghe anh chàng này huênh hoang về những điềm gở tại ngôi mộ của nhà độc tài rất đáng sợ hãi này, những người lính của đơn vị bị khinh miệt này bỏ tránh xa khỏi cái bàn. Bất kể vì coi thường hay thật lòng, người đàn ông này đại diện cho một mối nguy hiểm tiềm ẩn cho họ dưới sự kiểm soát gắt gao của chế độ, vì thế tất cả họ đều nhanh chóng cho thấy họ cố tình lảng tránh xa khỏi anh ta.
Đây là điều mà Marcel và các bạn đồng liêu của ông biết về những hiện tượng rùng rợn ban đêm, những hiện tượng làm cho thậm chí cả binh lính cũng run lên vì sợ.
Bốn năm sau lần gặp gỡ này, vào tháng 8 năm 1989, Mẹ Teresa đến sân bay Tirana, được một phái đoàn cấp cao đến gặp cùng với bà góa phụ Enver Hoxha, bà này đưa Mẹ thẳng đến mộ của ông chồng đã chết của bà.
Đây là một điều ngạc nhiên lớn cho mọi người, vì trong suốt gần 60 năm, Mẹ Teresa  chưa bao giờ được phép trở về quê hương, và luôn bị từ chối cấp visa cho mẫu thân và em gái của Mẹ đến thăm Mẹ ở Tây phương, thậm chí với mục đích đi chữa bệnh. Do đấy, bất cứ khi nào có tin tức gì đó tuyệt vời về Mẹ trên truyền thông, báo chí bị chính phủ điều khiển luôn đăng những bản tin châm chọc, chĩa những sự lăng mạ vào vị thánh và xem Mẹ như một sự ghê tởm mà cả dân tộc phải xấu hổ.
Vì vậy khi người dân, và đặc biệt các tín hữu Công giáo, đọc báo thấy Mẹ Teresa lại đi giao thiệp với thể chế đó, nó thực sự là một cú nổ khủng khiếp: làm sao Mẹ lại có thể cho phép mình bị lợi dụng để đánh bóng về ký ức của một tay độc tài đã chết?
Và phải đến 4 năm sau nữa, năm 1993, thì Marcel mới nghe thêm về câu chuyện từ cha Dom Gjergji, vị linh mục từ Kosovo người đã đi theo Mẹ Teresa trên chuyến đi về quê hương ở Albania. Cha Dom Gjergji nói với bạn tôi rằng Mẹ đã được Nexhmije Hoxha, vợ của nhà độc tài, mời trở về thăm quê hương, bà này hy vọng rằng sự can thiệp của thánh nhân có thể tống khứ hiện tượng kỳ bí khủng khiếp lan rộng xung quanh khu vực chôn chồng của bà. Lá thư mời Mẹ trở về được Ylli Popa mang đến, ông này là một trong những người trung thành nhất với chế độ, và là người thông dịch của Hoxha.
Ngay khi vừa tới nơi, cha Dom Gjergji kể lại, Mẹ Teresa được đưa ngay lập tức đến ngôi mộ, tại đây Mẹ có cầu nguyện một lát. Sau đó Mẹ được phép đến viếng mộ của thân mẫu và chị gái của Mẹ, các vị đã qua đời năm 1971 và 1974, khi đó Mẹ không được phép về thăm họ.
Vậy lời cầu nguyện chuyển cầu của Mẹ Teresa có được nhậm lời? Hiện tượng kinh dị xung quanh ngôi mộ của nhà độc tài có giảm bớt? Có vẻ là thế, Marcel tường thuật: từ đó đã có sự bình an và yên tĩnh, theo nhận định chung.
Từ đó cánh cửa của Albania vẫn mở cho Mẹ Teresa; Mẹ thậm chí có thể mở các nhà cho dòng Thừa sai Bác ái ở đó. Ngoài những hiện tượng dị thường này, hành động Mẹ đến cầu nguyện tại mộ của một người mà chế độ của ông ta đã gây ra quá nhiều đau khổ cho Mẹ là một chứng tá về sự nên thánh của Thánh Teresa và khả năng tha thứ của Mẹ.

[Nguồn:  catholicworldreport]


[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 15/09/2016]



Thứ Hai, 19 tháng 9, 2016

Tình bạn rất đặc biệt giữa Mẹ Teresa và Công nương Diana

Tình bạn rất đặc biệt giữa Mẹ Teresa và Công nương Diana

Elizabeth Pardi
12 tháng 9, 2016

Hai trong số những người phụ nữ nổi tiếng nhất trong lịch sử, sống ở hai thế giới khác biệt hoàn toàn về tài chính và xã hội, đã bị ràng buộc với nhau vì cùng chung lòng khát khao là đem đến lòng trắc ẩn cho một thế giới đang đói khát tình yêu.

Princess of Wales bows to Mother Teresa in New York, 1997
Công nương xứ Wales cúi chào Mẹ Teresa ở New York, 1997. Mike Segar | Reuters
Có điều gì đó rất đẹp về một tình bạn giữa hai cá nhân có vẻ khác nhau như ngày và đêm. Liệu vị thánh mới được tuyên phong này, người mang lấy cuộc đời nghèo khó, lại có thể có điểm gì chung với công nương hoàng gia xứ Wales? Và chuyện được hé mở, Công nương Diana cùng có một điểm chung với Mẹ Teresa mà một số tờ báo nhỏ từng tiết lộ: một khát khao mang tình yêu đến cho những người không được yêu.

Một trách nhiệm với người nghèo và người bị lãng quên

Vị nữ tu và công nương lần đầu tiên biết nhau năm 1992 tại một nhà dòng ở Roma, theo Mary C. Johnson, một cựu thành viên dòng Thừa sai Bác ái có mặt tại buổi gặp mặt đó. Mary kể lại rằng Mẹ Teresa dẫn Công nương Diana vào phòng riêng của mẹ, tại đây hai vị nói chuyện riêng gần nửa giờ. Họ nói về chuyện gì thì vẫn còn là một bí mật.
Sau đó, cả hai dành thời gian trong nhà nguyện vì, như Johnson nói, “Mẹ nói với tôi rằng Mẹ và Công nương Diana muốn ở riêng cùng với Chúa Giê-su.” Cả hai cùng tháo giầy trước khi đi vào, như truyền thống của dòng Thừa sai Bác ái, và Johnson nhớ lại, “Tôi sẽ không bao giờ quên được hình ảnh của đôi giầy mềm sáng bóng sang trọng bên cạnh đôi xăng-đan mềm của Mẹ … Đôi giầy mềm trông dường như Công nương chỉ đi duy nhất trong dịp này. Mẹ thì đã mang cùng một đôi xăng-đan hơn cả chục năm rồi.”
Tháng 6 năm 1997, hai người lại gặp nhau ở New York. Theo tờ The Independent, Công nương Diana và Mẹ Teresa “bước đi tay trong tay trên các con phố của khu Bronx của New York … Họ ôm nhau, hôn và cùng nhau cầu nguyện trong suốt cuộc gặp gỡ kéo dài 40 phút và Mẹ Teresa chúc lành cho Công nương.” Đó là lần cuối cùng hai vị gặp nhau trước khi họ qua đời.
Tai nạn xe đã lấy đi mạng sống của Công nương 2 tháng sau đó, ngày 31 tháng 8. Mẹ Teresa liền gửi ngay lời chia buồn rằng, “Công nương rất quan tâm đến người nghèo. Công nương rất khắc khoải muốn làm điều gì đó cho họ, và đó là điều thật đẹp. Đó là lý do tại sao Công nương rất thân với tôi.” Mặc dù Công nương Diana, một người Tin lành, được mai táng và cầm theo một cỗ tràng hạt do vị nữ tu tặng, Mẹ Teresa đã không còn sống để tham dự lễ an táng — Mẹ mất chỉ một ngày trước đó.
Tình bạn được mà hai người phụ nữ này chia sẻ là bằng chứng cho thấy rằng tình bạn đích thực và những giá trị chung sẽ vượt ra ngoài phạm vi dáng vẻ hình thức, ý thức của nền giáo dục, và tình trạng xã hội. Mẹ Teresa đã từ bỏ công việc của mình để sống giữa những người nghèo nhất trong những người nghèo suốt hầu hết đời Mẹ. Công nương Diana sinh ra trong một cuộc sống xa hoa và công nương vẫn giữ nó cho đến khi qua đời. Tuy nhiên, công nương chia sẻ niềm đam mê của vị nữ tu là đem tình yêu đến cho những người bị loại bỏ của thế giới. Công nương biết rằng cô không cần phải từ bỏ sự giàu sang hay vị trí hoàng gia của mình để tạo sự khác biệt. Như Mẹ Teresa nói, “Hãy làm việc nhỏ bằng một tình yêu lớn.” Và cùng nhau, theo cách riêng của mỗi người, đó là điều hai người đã làm.

Chia sẻ lòng can đảm và sự kiên cường trước những sự đau khổ quá lớn

Princess of Wales meeting Mother Teresa in Rome.
Công nương xứ Wales gặp Mẹ Teresa trong một lần thăm nhà dòng ở Roma, 1992. PA Archive | Press Association Images
Cả hai người phụ nữ đều không nao núng bởi tình trạng ngặt nghèo ghê gớm của các chứng bệnh mà nhiều người nghèo và người hấp hối đang phải gánh chịu. Mẹ Teresa nổi tiếng về những công việc thường xuyên và ôm lấy những người với những căn bệnh hiểm nghèo nhất. Như tờ USA Today bình luận, “Mẹ không bao giờ lưỡng lự hôn lên đôi bàn tay của những người phong cùi của Ấn độ hay nhặt những con giòi từ những vết thương của những người đang hấp hối tìm thấy trên đường.”
Diana cũng vươn tới theo cách can đảm của riêng công nương, đặc biệt những người đang bị HIV/AIDS. Trong một lần đến thăm Bệnh viện Harlem, công nương đã dừng lại và bế một bệnh nhân AIDS 7 tuổi trong nhiều phút đồng hồ. Việc này diễn ra trong thời điểm hầu hết mọi người còn đang tin rằng loại vi-rút này có thể lây lan quan những tiếp xúc vô tình.
Ngoài ra, Amanda Evinger, một cựu quản trẻ cho dòng Thừa sai Bác ái, tiết lộ rằng Công nương Diana cung cấp một căn nhà đẹp ở thủ đô Washington, D.C., mà các nữ tu của Mẹ Teresa quản lý làm nhà cho các phụ nữ mang thai nhưng chưa cưới cho đến hôm nay.
Họ là hai trong số những phụ nữ nổi tiếng nhất trong lịch sử, sống ở hai thế giới khác biệt hoàn toàn về tài chính và xã hội, đã bị ràng buộc với nhau vì lòng khát khao cùng giống nhau là đem đến lòng trắc ẩn cho một thế giới đang đói khát tình yêu.
Trong quyển sách A Simple Path (Một Con Đường Đơn Giản), Mẹ Teresa nói rằng, “Căn bệnh lớn nhất ở Tây phương ngày nay … là bị bỏ rơi, không được yêu, và không được chăm sóc. Chúng ta có thể chữa trị những căn bệnh thân xác bằng thuốc điều trị, nhưng phương pháp điều trị duy nhất cho sự cô đơn, chán nản và sự tuyệt vọng là yêu thương. Có nhiều người trên  thế giới đang khao khát một miếng bánh ăn nhưng còn có nhiều người hơn đang khao khát một chút tình yêu.”
Những lời nói của Công nương Diana với Martin Bashir của BBC năm 1995 cũng tương tự: “Tôi nghĩ căn bệnh lớn nhất thế giới đang phải gánh chịu ngày nay và trong thời đại này là chứng bệnh người ta cảm thấy không được yêu, và tôi biết tôi có thể cho đi sự yêu thương … Tôi rất hạnh phúc được làm việc đó và tôi muốn làm việc đó.”
Elizabeth Pardi
[Nguồn:  forher.aleteia]
[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 15/09/2016]


Thứ Bảy, 17 tháng 9, 2016

Tôi từ Calcutta trở về và vẫn còn những cơn ác mộng

Tôi từ Calcutta trở về và vẫn còn những cơn ác mộng


'Người nghèo nhất giữa những người nghèo’ không chỉ là một câu khẩu ngữ dễ nhớ nào đó ...


JEFFREY BRUNO

KOLKATA, INDIA - NOVEMBER 12:  Slum dwellers live by a railroad track Kolkata, India. India's slum population is projected to rise to 93.06 million by 2011, or 7.75 percent of the total population, according to a report of an expert committee set up by the housing and urban poverty alleviation ministry.  (Photo by Kuni Takahashi/Getty Images)

Kuni Takahashi/Getty Images
Tôi không muốn viết lên điều này. Có lẽ vì tôi không muốn nghĩ về nó. Từ ngày tôi từ Calcutta trở về, tôi đã cố gắng giũ bỏ khỏi mình vấn đề chính đó là sự mệt mỏi do lệch múi giờ. Tôi đã xem nó như là “buổi đi dạo ở Ấn độ” của tôi. Tôi chiến đấu với mọi sự nhọc mệt và cố gắng cười vào nó, và tôi đã phải giật mình thức dậy lúc nửa đêm vì sợ toát cả mồ hôi, kinh hoàng vì tôi vẫn còn đang ở đây. Tôi đã cố gắng tránh không nói về nó, và thậm chí không muốn lưu trữ những ảnh tôi đã chụp. Có thứ gì đó phải cắt đứt một cách nghiêm túc.
Vì vậy sáng nay, với cố gắng giũ bỏ những gì đã làm tôi khó chịu, tôi chạy đến một trong những con đường rầy xe lửa gian khổ nhất mà tôi biết. Nó phủ đầy cát, đồi dốc và đầy những chướng ngại vật luôn bảo đảm với bạn phải đổ mồ hôi, đau nhức và thỉnh thoảng cả máu. Nó là cách tốt nhất để xả căng thẳng và cũng là có cái nhìn rõ ràng về mọi thứ … và sau cỡ một dặm đường, tôi mới nhận ra vấn đề là gì.
Khi tôi đến Calcutta, một ngày kia một mình lang thang trên các đường phố, tôi bị lạc đường một đôi lần và nhìn thấy những điều mà người Tây phương không hề ngờ tới. Tôi nhìn thấy trẻ em tắm trong các vũng nước tù đầy phân, các gia đình ngủ trên những con đường chỉ có một cái chiếu và tấm bạt vải nhựa hắc ín che làm nhà, người và động vật chung nhau nhặt thức ăn trong các đống thực phẩm của những người bán rong vứt trên đường. Tôi thậm chí nghe câu chuyện một con chó bị giết và xả thịt bán.
Khi tôi bước dạo qua trên các con đường, không thể nào chịu đựng nổi những gì tôi đang nhìn thấy, tôi thậm chí không thể nhấc máy ảnh lên để chụp. Ngay cả trong những giấc ác mộng khủng khiếp nhất của tôi, tôi cũng chưa bao giờ hình dung ra mức độ cùng khổ như vầy có thể tồn tại trong thế giới hiện đại.
Tôi đã viết một loạt bài (wrote a bunch) về những hành động đáp trả mang đầy ân sủng của Dòng Thừa sai Bác ái mà không thực sự giải thích được môi trường mà dòng đang phục vụ. Việc xem phim hoặc xem ảnh về những nơi này là một chuyện, nhưng nó lại hoàn toàn khác khi đi giữa những con người cùng khốn đó. Trong hoàn cảnh này đó là sự đau khổ của tâm trí bị chết lặng, xương cốt bị xụm xuống, sự nghèo đói khốn khổ. Và đối với họ …  đây là cuộc sống.
Không có mạng lưới an toàn, không có hệ thống phúc lợi, không có con đường dẫn tới đâu cả, chẳng có đường thoát, ngoại trừ cái chết. Bây giời tôi mới nhận ra tại sao Đức Ki-tô nói “người nghèo sẽ luôn ở bên anh em …” vì tôi không nghĩ rằng một ai đó có thể lần mò tìm được cách để ‘sửa’ lại điều này.
“Vì ta đói các ngươi cho ăn, ta khát các ngươi cho uống, ta là khách lạ các ngươi cho ta chỗ ở, ta trần truồng các ngươi cho ta quần áo mặc. Ta đau yếu các ngươi đến chăm sóc. ta tù đày các ngươi đến thăm ...
“Quả thật ta nó với các ông, bất cứ điều gì các ông là cho một trong những người anh em bé nhỏ nhất ở đây là các ông làm cho chính ta.”
Bây giờ tôi mới tin rằng Trái tim của Đức Ki-tô ở Calcutta, và phục vụ ở đó ĐÚNG là phục vụ Ngài. Khi Thánh Teresa Calcutta đến phục vụ “người nghèo nhất giữa những người nghèo,” đó không phải là một khẩu ngữ dễ nhớ nào đó … thực sự, đây là những người nghèo nhất trong sự thống khổ tồi tệ và đáng thương.
Bằng cách nhìn lại những trải nghiệm, tôi mới hiểu thật rõ ràng rằng Mẹ đã trên con đường nên thánh ngay từ giây phút mẹ đáp lời theo tiếng gọi, vì cần phải có ơn sủng vượt ra ngoài mọi giải pháp mới sẵn sàng đi vào những nơi này, vào một nơi mà tôi chỉ có thể mô tả là sự nghèo khổ theo không gian ba chiều, và tìm kiếm sự phục vụ Đức Ki-tô.
Một người bạn thân có lần nói với tôi “Nếu cậu không kể cả hai mặt của câu chuyện, thì nó có thể là sự tuyên truyền” … Và có thể là không đúng nếu chỉ nói về những giải thưởng đáng ngạc nhiên cho sự phục vụ cùng với dòng Thừa sai Bác ái ở Ấn độ, vì thế, khi viết đến điều này, tôi hy vọng trình bày được một ít bối cảnh.
Tình nguyện phục vụ là một trong những trải nghiệm của ơn sủng lớn nhất và tràn đầy hồng ân nhất của đời tôi. Thật ngạc nhiên khi trải nghiệm được sự thật nghiệt ngã phản chiếu nỗi đau không thể tưởng tượng nổi và sự hồi đáp của ơn sủng … một sự đấu tranh đang bùng lên ở đó có lẽ cho đến tận cùng của thế giới.
Hãy dừng một giây và tạ ơn vì tất cả những gì bạn có, những điều tốt cũng như xấu … vì trong những con hẻm nhỏ nồng nặc mùi xú uế, nóng và ẩm, và dày đặc khói kia ở Calcutta tồn tại một sự cùng khổ vượt ra ngoài những gì từ ngữ có thể miêu tả … một sự cùng khổ chỉ có thể được trả lời bằng Ơn sủng ...
Thánh Mẹ Teresa, xin hãy khơi nguồn cảm hứng cho những người đã được kêu gọi để đáp lại thử thách phục vụ Đức Ki-tô trong những nơi tối tăm nhất ở đây, để có thể sẽ có thêm nhiều thánh …

Jeffrey Bruno

Jeffrey Bruno là giám đốc nghệ thuật của Aleteia.org.

[Nguồn:  aleteia]


[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 16/09/2016]



Chủ Nhật, 11 tháng 9, 2016

Đại sứ Ray Flynn nhớ lại sự khôn ngoan chính trị của Mẹ Teresa

Đại sứ Ray Flynn nhớ lại sự khôn ngoan chính trị của Mẹ Teresa


Cựu thị trưởng thành phố Boston nói về sự khéo léo của thánh nhân biết cách làm việc để hoàn tất sứ mạng của mẹ

mother teresa

VATICAN CITY — Sự sáng chói về tính thánh thiện của Mẹ Teresa được hàng triệu người người trên thế giới biết đến, nhưng ít ai biết rằng mẹ cũng là người rất sắc sảo trong chính trị.
Người đầu tiên biết được sự thông thái chính trị của Mẹ Teresa là Ray Flynn. Một người sinh ra đã là khiêm nhường (mẹ là nhân viên vệ sinh, và cha là người bốc xếp ở bến tàu),  Raymond Leo Flynn là thị trưởng thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts từ 1984 đến 1993. Sau đó ông được Tổng thống Bill Clinton bổ nhiệm là Đại sứ Hoa kỳ tại Tòa thánh.
Aleteia cùng ngồi với đại sứ Flynn tại Vương cung Thánh đường Thánh Phê-rô buổi sáng Lể Phong Hiển thánh Mẹ Teresa. Ông nhớ lại mối quan hệ của ông với thánh nhân, nói về ý nghĩa đặc biệt của lễ phong thánh của mẹ, và kể lại chi tiết câu chuyện hài hước vui cho thấy cả sự tận hiến của mẹ cho sứ vụ lẫn sự nhạy bén trong chính trị thỉnh thoảng mẹ dùng tới để hoàn tất được công việc.
Đại sứ Flynn, ông và phu nhân của ông đã đến đây tại Roma để dự lễ phong thánh Mẹ Teresa. Ngày này có ý nghĩa thế nào với ông và với gia đình ông?
Nó là một ngày rất đặc biệt cho mọi người mẹ trên thế giới, vì Mẹ Teresa thực sự là tượng trưng cho nét đẹp và sự tinh tuyền của thiên chức làm mẹ trong cách mẹ tiếp cận đến với không biết bao nhiêu trẻ em và những người cần được giúp đỡ. Mẹ là thánh của tất cả mọi người, nhưng theo một cách đặc biệt thì tôi tin rằng mẹ thực sự là thánh nhân cho các người mẹ. Vì thế rất nhiều người mẹ đến đây để tôn vinh một người mẹ khác.
Photo by Francois LE DIASCORN/Gamma-Rapho via Getty Images


Ảnh của Francois LE DIASCORN/Gamma-Rapho via Getty Images
Nhiều người đến Roma dự lễ phong thánh Mẹ Teresa đã gặp hoặc biết mẹ trực tiếp. Xin kể cho chúng tôi về kinh nghiệm riêng của ông khi gặp Mẹ Teresa.
Lần đầu tiên tôi gặp Mẹ Teresa năm 1982 khi mẹ đọc diễn văn trong lễ phát bằng tại trường đại học Harvard, một năm sau khi mẹ nhận giải Nobel Hoà bình. Tôi hoạt động trong phong trào công bằng xã hội của Giáo hội Công giáo và đã tham gia chính trị trên 50 năm, vì vậy họ mời tôi tháp tùng mẹ trong suốt chuyến đi của mẹ.
Former Mayor of Boston Ray Flynn with Mother Teresa at Harvard, 1982
Cựu Thị trưởng thành phố Boston Ray Flynn với Mẹ Teresa tại đại học Harvard, 1982
Trong suốt bài diễn văn lễ tốt nghiệp tại Harvard, mẹ nói về những em bé chưa ra đời và sự phá thai; mẹ nói về người nghèo; mẹ nói về người thiếu thốn. Chuyện làm tôi rất ngạc nhiên là Harvard chào đón mẹ rất nhiệt tình. Họ không phải là giới thính giả chào đón nhiệt tình đối với một người như Mẹ Teresa hay một nhà lãnh đạo tôn giáo, nhưng họ cho mẹ sự chào đón lẫy lừng nhất mà tôi từng thấy trong đời.
Chúng tôi duy trì mối quan hệ liên tục. Mẹ liên lạc với tôi rất nhiều lần rồi sau đó đến Boston và New York. Tôi sang Châu Phi với mẹ và đến Ấn độ cùng mẹ. Và vì thế tôi là một người ngưỡng mộ mẹ vô cùng. Mẹ thường kể cho tôi nghe chuyện những người mà mẹ cố gắng giúp, và tôi chuyển liên lạc cho mẹ đến với những người có thể trợ giúp mẹ. Tôi hiểu mẹ và tôi hiểu sứ vụ của mẹ và tôi ủng hộ mẹ 100%.
Ông có thể kể thêm về chuyến thăm của Mẹ Teresa đến Boston?
Một ngày kia, Đức Hồng y O’Conner giáo phận New York gọi tôi khi tôi còn là thị trưởng Boston. Ngài nói với tôi: “Mẹ Teresa muốn đến Boston thăm ngài.” Thế là tôi nói, “Tuyệt vời.”
Ngày hôm sau, một trong các soeur từ dòng của mẹ đến văn phòng của tôi tại tòa Thị Chính, và soeur nói: “Mẹ Teresa đang đợi ngài tại một nhà ở một khu phố xuống cấp của Boston.” Vậy là tôi và vợ tôi vội đến và ngồi nói chuyện với mẹ gần 3 giờ đồng hồ. Mẹ giải thích rằng mẹ muốn xây nhà cho các bà mẹ không có giá thú và các đứa con nhỏ của họ. Tôi nói với mẹ tôi không thể cấp bất động sản cho mẹ vì tôi bị luật cấm, nhưng tôi sẽ gây quỹ cho mẹ để xây nhà. Nhưng mẹ muốn tới 3 nhà, và mẹ muốn một khu bất động sản có sân chơi sau cho trẻ em, và một khu khác để xây trung tâm chăm sóc sức khỏe.
Tôi phải nhắc lại với mẹ rằng tôi không thể làm được việc đó. Tôi phải có một buổi đấu giá công khai, và nếu tôi có buổi đấu giá công khai, người ta chắc chắn sẽ tới và đấu giá, nó là khu bất động sản khá đẹp vì nó nhìn ra Cảng Boston. Nó tọa lạc trong Boston nơi có Trường Đại học Massachusetts, và nơi hiện nay có thêm Thư viện John F. Kennedy, vì thế nó có giá trị tiềm năng rất lớn.
Nó là một buổi họp khá lâu. Mẹ Teresa tiếp tục nhấn mạnh đến nhu cầu cần có nhà cho các mẹ và trẻ em, trong khi tôi liên tục nhắc đi nhắc lại luật của thành phố. Và như thế, khi cuộc họp có vẻ gần kết thúc — vì tôi nghĩ nó đi vào ngõ cụt — chúng tôi đi ra ngoài và có khoảng 100 ống máy ảnh đang chờ chúng tôi. Như thường lệ, là thị trưởng tôi đến micro để chào những vị khách của thành phố. Nhưng thay vì vậy mẹ tiến thẳng đến micro và cảm ơn người dân thành phố Boston đã bầu chọn “anh chàng rất tuyệt vời” này làm thị trưởng.
Đứng bên cạnh tôi, tôi cũng không biết ông ta được mời, là chủ tịch của ngân hàng lớn nhất của thành phố, cũng như người đứng đầu của AFL-CIO (ND: Liên đoàn Lao động và Đại hội các Tổ chứ Kỹ nghệ Hoa kỳ), đại diện cho các ngành thương mại xây dựng. Họ nhận được các cuộc điện thoại, được cho là từ văn phòng của tôi, mời tôi đến gặp Mẹ Teresa và tham dự vào “một trong những thông cáo quan trọng nhất của lịch sử của thành phố.” Tôi hỏi họ tại sao họ đến đây, và họ trả lời: “Ông đã mời chúng tôi.” Và thế là tất cả chúng tôi bị lôi vào cuộc.
Former Mayor of Boston Ray Flynn with Mother Teresa, June 1988, courtesy of Nancy Lane
Cựu Thị trưởng Boston, Ray Flynn với Mẹ Mother Teresa, tháng 6, 1988, Ảnh của Nancy Lane
Mẹ Teresa lại một lần nữa cảm ơn người dân đã bầu chọn “anh chàng rất tuyệt vời này.” Mẹ cảm ơn những người công nhân nam nữ của tiểu bang đã cống hiến toàn bộ sức lực và thời gian, và để thực hiện công việc hoàn toàn tự nguyện, và mẹ cảm ơn ông chủ tịch ngân hàng đã cấp tài chính cho dự án. Và thế đó. Nhà được xây, và các trẻ em có một căn nhà tuyệt vời.
Trước đây ông có kể chuyện này chưa?
Nó là câu chuyện mà tôi chẳng bao giờ dại mà kể ra. Nhưng tôi có lần kể cho Đức Gioan Phaolo II câu chuyện này, và thế là từ đó, mỗi lần ngài gặp tôi, ngài luôn muốn tôi kể câu chuyện cho các linh mục, v.v.. Và ngài luôn dùng câu: “Ông Ray là thị trưởng, nhưng Mẹ Teresa là một nhà chính trị khôn khéo hơn.” Nó là câu chuyện chúng tôi giữ kín vì một vài lý do, vì đó không phải là vị thánh mà chúng ta tôn vinh hôm nay!
Chúa Giê-su có nói: “Hãy hiền lành như chim bồ câu và khôn ngoan như con rắn!” Nhưng theo một nhận xét nghiêm túc, điều làm nhiều người bị cuốn hút về Mẹ Teresa là sự hiện diện của mẹ. Chị có bình luận gì về vấn đề này không?
Tôi đang ngồi chỉ cách khoảng ít chục xăng-ti-mét thì người ta chụp một trong những tấm ảnh nổi tiếng nhất của mẹ và Đức Gioan Phaolo II. Lòng tôn trọng và sự nồng hậu của hai ngài cho nhau thật không thể tin được; đó là một cách thể hiện tình cảm yêu mến chân thành. Tôi đã từng đi với các đức giáo hoàng, các tổng thống và các thủ tướng, nhưng đó là một mối quan hệ cô cùng chân thành và đặc biệt.
Tôi được làm bạn với cả hai vị thánh, nhưng Mẹ Teresa rất đặc biệt với tôi, vì tôi biết có những vị anh hùng không được ca tụng được đại diện hôm nay ở đây với Mẹ Teresa, không phải là quyền lực.

Diane Montagna

Diane Montagna là phóng viên bản tin tiếng Anh của Aleteia tại Roma.

[Nguồn:  aleteia]



[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 10/09/2016]