Hiển thị các bài đăng có nhãn Phỏng vấn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phỏng vấn. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2026

Vị giám mục hàng đầu châu Âu nói với Crux Now: sự sợ hãi người nhập cư cho thấy cuộc khủng hoảng bản sắc của châu Âu

Vị giám mục hàng đầu châu Âu nói với Crux Now: sự sợ hãi người nhập cư cho thấy cuộc khủng hoảng bản sắc của châu Âu

Fionn Shiner
Ngày 10 tháng 9 năm 2026

Vị giám mục hàng đầu châu Âu nói với Crux Now: sự sợ hãi người nhập cư cho thấy cuộc khủng hoảng bản sắc của châu Âu


Chủ tịch các Hội đồng Giám mục Liên minh châu Âu (EU) cho biết sự gia tăng nỗi sợ hãi và thái độ thù địch đối với người nhập cư là dấu hiệu cho thấy châu Âu đã đánh mất ý thức về những giá trị mà mình đại diện.

Trong bối cảnh việc trợ tử đang lan rộng trên khắp châu lục và niềm tin vào Thiên Chúa tiếp tục giảm sút, Đức cha Mariano Crociata, Giám mục giáo phận Latina-Terracina-Sezze-Priverno của Ý, Chủ tịch Ủy ban các Hội đồng Giám mục Liên minh châu Âu (COMECE), đã trao đổi với Crux Now trong một cuộc phỏng vấn đề cập đến nhiều vấn đề.

Ngài cho rằng châu Âu đang đứng trước nguy cơ đánh mất các giá trị của mình, không phải do di dân, mà do chính các công dân của lục địa này.

Ngài nói, “Những người thuộc các nền văn hóa và tôn giáo khác nhau cần được đón nhận và hội nhập vào một môi trường và bối cảnh xã hội, nơi họ có thể học cách sống chung trong sự tôn trọng lẫn nhau."

Đức cha Crociata nói thêm: “Tuy nhiên, nếu chính chúng ta không biết mình là ai, bỏ qua căn tính của mình và không bảo vệ những gì thực sự quan trọng cũng như những gì mang lại ý nghĩa cho đời sống công dân chung của chúng ta, thì chẳng cần người khác phải lấy đi những giá trị làm nền tảng của chúng ta, bởi chính chúng ta sẽ tự từ bỏ chúng.”

Đức cha Crociata nhấn mạnh các giá trị cốt lõi của châu Âu cần được bảo vệ bao gồm “ý thức về nhân phẩm của mỗi con người” vốn tạo nên “nền tảng của sự chung sống văn minh”, cùng với “tự do, bình đẳng và liên đới, cũng như dân chủ và pháp quyền.”

Ngài nói ngài tin tưởng rằng “những thay đổi sâu xa và mang tính quyết định nhất đang diễn ra trong các xã hội phương Tây của chúng ta không phải là do sự hiện diện của những người nhập cư và người nước ngoài mang đến.”

Thay vào đó, Đức cha Crociata lập luận rằng “điều sẽ định hình cách sâu sắc nhất các xã hội của chúng ta là cách thức chính chúng ta đã chọn và vẫn tiếp tục chọn lối sống của mình, cách chúng ta chung sống với nhau và tương lai mà chúng ta mong muốn xây dựng.”

“Nỗi sợ người khác là dấu hiệu của sự yếu đuối nơi chính chúng ta,” ngài nói.

Đức cha Crociata nói với Crux Now sau khi các quy định mới của EU về người di cư được thông qua trong mùa hè, trong đó có việc kéo dài thời gian tạm giữ di dân và đẩy nhanh tiến trình trục xuất.

Khi đó, Đức cha Crociata đã chỉ trích luật này và nhắc lại mối quan ngại của ngài về “cách thức những di dân và người tị nạn có thể bị đối xử, việc thiếu tôn trọng phẩm giá của họ khi đến nơi, cũng như những trường hợp đẩy trả và di chuyển mang tính chất trục xuất.

“Chúng tôi đã nói điều này nhiều lần trong suốt những năm qua, nhưng chúng tôi sẽ không bao giờ mệt mỏi phải nhắc lại: chúng ta đang nói về con người, chứ không phải những con số,” ngài nói, đồng thời thêm rằng “cần có sự phân định và đánh giá cẩn trọng về hoàn cảnh của những người đến.”

Dưới đây là toàn văn cuộc phỏng vấn của Crux Now với Đức cha Mariano Crociata…


Crux Now: Trong tuyên bố của Đức cha sau khi các quy định mới của EU được công bố, Đức cha nói về việc tôn trọng các giá trị nền tảng của châu Âu. Đó là những giá trị nào? Tại sao chúng quan trọng?

ĐGM Mariano Crociata: Các giá trị nền tảng của Liên minh châu Âu sở dĩ mang tính chất như vậy không chỉ vì chúng đã được tuyên bố và chia sẻ bởi thế hệ đã khai sinh ra Cộng đồng châu Âu, mà còn vì chúng được công nhận và hệ thống hóa thành luật trong các văn kiện được thông qua và phê chuẩn bởi các quốc gia thành viên EU ngày nay, cụ thể là Hiệp ước về Liên minh Châu Âu và Hiến chương về các Quyền Cơ bản của Liên minh Châu Âu.

Những giá trị này nói đến phẩm giá con người, tự do, bình đẳng và liên đới, cũng như nền dân chủ và pháp quyền.

Ý thức về phẩm giá của mỗi con người và sự tôn trọng phẩm giá ấy là nền tảng của sự chung sống văn minh; lãng quên những điều này, hoặc tệ hơn nữa, khinh miệt chúng, chắc chắn sẽ dẫn đến sự suy thoái và tình trạng phi nhân hóa.

Mọi thất bại trong việc tôn trọng một con người khác, sớm hay muộn, sẽ quay trở lại tác động đến chính những người đã thực hiện hành vi ấy.


Đức cha sẽ nói gì với những nhà phê bình cho rằng các giá trị của châu Âu cũng đang bị đe dọa bởi sự gia tăng số những người đến từ các nền văn hóa có thể không chia sẻ chung các giá trị đó?

Trước hết, các giá trị này có thể bị đe dọa bởi chính các công dân. Nếu họ thực sự tin vào những giá trị đó, họ sẽ làm những gì cần thiết để bảo vệ và đảm bảo chúng tiếp tục được gìn giữ cách vững chắc.

Những người có nguồn gốc văn hóa và tôn giáo khác nhau cần được đón nhận và hội nhập vào một môi trường và bối cảnh xã hội, nơi họ có thể học cách sống chung trong sự tôn trọng lẫn nhau.

Tuy nhiên, nếu chính chúng ta không biết mình là ai, bỏ qua căn tính của mình và không bảo vệ những gì thực sự quan trọng cũng như những gì mang lại ý nghĩa cho đời sống công dân chung của chúng ta, thì chẳng cần người khác phải lấy đi những giá trị làm nền tảng của chúng ta, bởi chính chúng ta sẽ tự từ bỏ chúng.

Ngược lại, nếu những giá trị này vẫn bén rễ vững chắc bên trong và giữa chúng ta, thì việc chung sống với những người thuộc các nền văn hóa và tôn giáo khác nhau sẽ chỉ đặt những giá trị ấy vào thử thách, cũng như khả năng đối thoại và sự tôn trọng mà chúng ta có thể thiết lập với mọi người và dành cho mọi người.


Cụ thể điều gì trong các quy định mới của EU khiến Đức cha lo ngại?

Điều đáng quan ngại là cách thức những di dân và người tị nạn có thể bị đối xử, việc thiếu tôn trọng phẩm giá của họ khi đến nơi, cũng như những trường hợp đẩy trả và di chuyển mang tính chất trục xuất.

Chúng tôi đã nói điều này nhiều lần trong suốt những năm qua, nhưng chúng tôi sẽ không bao giờ mệt mỏi khi nhắc lại: chúng ta đang nói về con người, chứ không phải những con số.

Chắc chắn cần có sự phân định và đánh giá cẩn trọng về hoàn cảnh của những người đến. Cũng đúng là không thể tổ chức việc tiếp nhận nếu không có các tiêu chí, cũng như không tính đến khả năng và điều kiện của các quốc gia tiếp nhận. Đó chính là lý do tại sao điều đang được đặt ra là khả năng của chúng ta trong việc quản lý vấn đề di cư một cách tổng thể.

Sự chần chừ, bất an và sợ hãi vốn là đặc trưng trong chính sách của các quốc gia chúng ta đối với người di dân cuối cùng đã quay ngược chống lại chính chúng ta, bởi vì chúng ta đã tự tước đi cơ hội phát triển một phương cách tiếp cận có tính phối hợp, xuyên quốc gia, đủ khả năng ngăn chặn dòng người ồ ạt và hỗn loạn, đã và đang bị những kẻ buôn người vô lương tâm lợi dụng.

Chúng ta phải bắt đầu từ tiền đề rằng chúng ta cần phải đối diện với hiện tượng mang tính thời đại này. Ý tưởng cho rằng chúng ta có thể đơn giản ngăn chặn nó bằng cách đóng cửa các biên giới là một ảo tưởng, chỉ dẫn đến việc lãng phí thời gian và nguồn lực.

Các quốc gia xuất xứ cũng phải gánh vác những nghĩa vụ đối với chính công dân của họ, những người đang chạy trốn khỏi các hoàn cảnh không phù hợp với phẩm giá con người của họ.

Và những quốc gia quá cảnh cũng phải tránh việc công cụ hóa người di cư và những tình huống vi phạm các quyền cơ bản nhất của họ.


Giáo hội công nhận cả quyền di cư lẫn quyền của các quốc gia trong việc quản lý biên giới của họ. Nếu hai quyền này xung đột, các chính phủ nên cân nhắc hài hòa những quyền ấy như thế nào?

Trước hết, tôi muốn nhấn mạnh rằng quyền đầu tiên của mỗi người là được sống trong phẩm giá và an toàn tại chính quê hương của mình. Khi điều này không xảy ra, con người có quyền tìm kiếm những nơi mà họ có thể có được cả hai điều đó.

Từ xưa đến nay, và ngày nay còn hơn thế nữa, sự dịch chuyển luôn là một đặc tính của thân phận con người.

Trong thời đại khi con người vượt qua mọi ranh giới có thể có, không chỉ trong tâm trí mà còn thông qua truyền thông dưới mọi hình thức vô hạn của nó, mỗi quốc gia hoặc nhóm quốc gia có thể thực thi quyền quản lý biên giới của họ không chỉ bằng việc thi hành luật pháp hiện hành, mà còn bằng cách xác lập các thỏa thuận và thiết lập quan hệ với những quốc gia nơi người di cư xuất phát hoặc với các quốc gia quá cảnh.

Chẳng hạn, một thực hành tốt là thiết lập những con đường đến nơi an toàn và hợp pháp. Bằng cách này, sự tôn trọng con người có thể được dung hòa với sự tôn trọng biên giới cũng như việc duy trì trật tự và sự gắn kết xã hội.

Tính hợp pháp và đối thoại thể chế phải không ngừng tìm kiếm và xác định điểm cân bằng giữa hai loại quyền này.


Sau cuộc khủng hoảng Ceuta, các giám mục Tây Ban Nha cảnh báo rằng người di cư có thể bị sử dụng như những quân cờ trong trò chơi địa chính trị rộng lớn hơn. Các chính phủ châu Âu nên ứng phó với điều này như thế nào?

Điểm then chốt được làm nổi bật bởi tình huống này chính là việc sử dụng con người, đối xử với họ như những công cụ và thậm chí đặt sự sống còn của họ vào tình trạng nguy hiểm vì những mục đích chính trị hoặc chiến lược.

Khi điều này thực sự xảy ra, đánh giá về mặt đạo đức chỉ có thể là bác bỏ và lên án.

Chúng ta phải dứt khoát về điểm này. Điều đang bị đe dọa ngày nay chính là sự hiểu biết về mặt luân lý của những nguyên tắc căn bản làm nền tảng cho đời sống chung của chúng ta, thậm chí từ trước khi Liên minh châu Âu được thành lập.

Không bao giờ có thể giản lược một con người thành một phương tiện hay một vật thể để sử dụng cho những mục đích khác.

Mức độ căng thẳng và hỗn loạn về chính trị và quân sự mà chúng ta đang chứng kiến ngày nay khiến chúng ta có nguy cơ nhắm mắt làm ngơ trước những hành vi không thể chấp nhận được, hoặc thậm chí rơi vào cám dỗ biện minh cho điều không thể biện minh.


Đức Giáo hoàng Phanxicô thường nói về “văn hóa vứt bỏ” góp phần tạo nên thái độ thờ ơ trước hoàn cảnh khốn cùng của người nhập cư. Giáo hội có thể giúp chuyển biến một văn hóa từ não trạng này sang một văn hóa nhìn nhận phẩm giá vốn có của mỗi con người như thế nào?

Trong lĩnh vực này, tôi tin rằng Giáo hội đã và đang làm nhiều điều từ những góc độ khác nhau.

Khó khăn nằm ở chính lối tư duy không xuất phát từ các tác nhân văn hóa cụ thể, mà đúng hơn là từ một lối sống lan rộng cách tự phát, thông qua một dạng vận động xã hội mang tính phân tử.

Chúng ta phải tiếp tục đóng góp phần của mình, với sự tin tưởng và quyết tâm, đồng thời bảo đảm rằng những não trạng và thực hành hợp thức hóa việc loại trừ và vứt bỏ con người một cách bất công không bén rễ giữa chúng ta, với tư cách là những người tín hữu và trong các cộng đoàn giáo hội của chúng ta.


Dường như nỗi sợ hãi về vấn đề di cư là một yếu tố then chốt đứng sau sự phát triển của nhiều phong trào dân túy mới ở châu Âu. Đức Cha sẽ nói gì với một người cho biết họ cảm thấy sợ hãi trước sự thay đổi nhanh chóng mà tình trạng di cư đã mang đến cho cộng đồng địa phương của họ?

Tôi tin rằng những biến chuyển sâu sắc và mang tính quyết định nhất đang diễn ra trong các xã hội phương Tây của chúng ta không phải do sự hiện diện của người nhập cư và người nước ngoài mang đến.

Chắc chắn họ sẽ có tác động trong thời gian dài, nhưng điều sẽ định hình sâu sắc nhất các xã hội của chúng ta là cách thức chính chúng ta đã chọn và vẫn đang tiếp tục chọn là lối sống của mình, cách chúng ta chung sống với nhau và tương lai mà chúng ta mong muốn xây dựng.

Nỗi sợ người khác là dấu hiệu của sự yếu đuối nơi chính chúng ta.

Chúng ta cần hy vọng rằng những biến đổi sâu sắc hiện đang diễn ra, trong đó di cư chỉ là một khía cạnh, sẽ đưa tất cả chúng ta đến một sự suy tư nghiêm túc và một tái khám phá đích thực về điều làm cho cuộc sống của chúng ta và các cộng đồng công dân châu Âu của chúng ta trở nên có giá trị.


[Nguồn: cruxnow]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 11/09/2026]


Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2026

Đức Tổng Giám mục Anh quốc nói với Crux Now: xu hướng thúc đẩy trợ tử xuất phát từ nhu cầu muốn quản lý

Đức Tổng Giám mục Anh quốc nói với Crux Now: xu hướng thúc đẩy trợ tử xuất phát từ nhu cầu muốn quản lý

Fionn Shiner
Ngày 1 tháng 9 năm 2026


Đức Tổng Giám mục Anh quốc nói với Crux Now: xu hướng thúc đẩy trợ tử xuất phát từ nhu cầu muốn quản lý


Vị Tổng Giám mục phụ trách các vấn đề về sự sống tại Anh và xứ Wales cho rằng việc chăm sóc xã hội và chăm sóc giảm nhẹ tốt hơn sẽ góp phần rất lớn giúp con người tìm lại cảm thức về sự sống như một hồng ân, đồng thời chống lại nỗi sợ hãi về việc mất khả năng kiểm soát mà những thử thách ở cuối đời chắc chắn sẽ mang đến.

Đức Tổng Giám mục John Sherrington của Liverpool, Giám mục phụ trách các vấn đề về sự sống thuộc Hội đồng Giám mục Anh và xứ Wales, đưa ra nhận định trên trong cuộc phỏng vấn gồm hai phần về nhiều vấn đề với Crux Now (Phần 1 tại đây).

Ngài nói: “Con người ai cũng sợ chết, ai cũng sợ đau đớn, và thật khó để chấp nhận việc phải sống trong tình trạng khuyết tật nghiêm trọng; vì lý do đó, tôi nghĩ người ta đang biện luận để ủng hộ trợ tử”.

Đức Tổng Giám mục Sherrington nói: “Điều chúng ta cần làm là định hình lại cuộc đối thoại để giúp mọi người hiểu rằng việc sống chung với khuyết tật hoặc trong tình trạng khuyết tật cũng là một phần quan trọng của sự sống – và có lẽ nếu chúng ta có thể cung cấp dịch vụ chăm sóc xã hội và chăm sóc giảm nhẹ tốt hơn, thì nhiều người sẽ lựa chọn điều đó.”

Đức Tổng Giám mục Sherrington nói: “Có nỗi sợ hãi về việc mất khả năng kiểm soát, có nỗi sợ hãi về việc mất sự tự chủ”.

Ngài nói rằng “chính từ ‘tự chủ’ đó đang tạo đà lập luận cho nhiều người, bởi vì chúng ta đang sống trong một bối cảnh mà việc tự mình ra luật cho mình (self-law), làm chủ cuộc đời mình, được coi là điều vô cùng quan trọng.”

Ngài nói thêm: “Việc tự mình làm luật đó, sự tự chủ ấy, được mở rộng đến khả năng tự kết thúc sự sống của mình. Vì vậy, đó là một cách nhìn khác đang định hình việc đưa ra quyết định của nhiều người: tôi làm chủ cuộc đời tôi và vì thế tôi có thể lựa chọn phải làm gì với nó.”

Crux Now đã trao đổi với Đức Tổng Giám mục Sherrington trong bối cảnh một nỗ lực lập pháp mới nhằm hợp pháp hóa trợ tử tại Vương quốc Anh đang tiến tới cuộc bỏ phiếu mang tính quyết định.

Phiên thảo luận lần thứ hai về dự luật Người trưởng thành mắc bệnh giai đoạn cuối (Cuối đời) sẽ diễn ra vào ngày 11 tháng 9 tại Hạ viện, sau khi bà Lauren Edwards, một nghị sĩ thuộc Đảng Lao động, trình lại dự luật vào tháng 6.

Một dự luật gần như tương tự do Nghị sĩ Đảng Lao động Kim Leadbeater trình vượt qua giai đoạn bỏ phiếu cuối cùng tại Hạ viện vào tháng 6 năm 2025, nhưng đã hết thời hạn vào tháng 4 năm nay sau khi có hơn 1.200 khoản sửa đổi được đưa ra tại Thượng viện.

Mặc dù Đức Tổng Giám mục Sherrington đã thể hiện rõ sự phản đối dự luật dựa trên những cơ sở nguyên tắc lẫn thực tiễn, ngài nói với Crux Now rằng điểm tốt trong cuộc tranh luận là vấn đề này đã làm sáng tỏ những câu hỏi nền tảng về bản chất con người.

Ngài nói: “Điểm tốt về cuộc tranh luận này là nó đã làm nổi bật một trong những câu hỏi căn bản nhất về đời sống con người chúng ta, về cái chết và chúng ta sẽ chết như thế nào. Việc chúng ta đang thảo luận về nó lúc này vẫn tốt hơn việc trước đây chúng ta không thảo luận, và có lẽ thậm chí không muốn nói đến nó.”

Dưới đây là phần thứ hai trong cuộc phỏng vấn của Crux Now với Đức Tổng Giám mục John Sherrington của Liverpool, đã được biên tập để bảo đảm tính rõ ràng và độ dài …


Crux Now: Một cuộc thăm dò gần đây cho thấy đa số người được hỏi cho rằng vấn đề trợ tử không nên được đưa ra xem xét lại nếu không có sự thẩm tra đầy đủ của cả hai viện. Tuy nhiên, cũng có những cuộc thăm dò cho thấy sự ủng hộ rộng rãi đối với trợ tử tại Vương quốc Anh. Trước hết, Đức Tổng Giám mục cho rằng kết quả nào phản ánh chính xác hơn? Và thứ hai, cách thức cuộc tranh luận này được tiến hành có khiến công chúng trở nên hoài nghi hơn về vấn đề trợ tử không?

Đức Tổng Giám mục John Sherrington: Con người ai cũng sợ chết, ai cũng sợ đau đớn, và thật khó để chấp nhận việc phải sống trong tình trạng khuyết tật nghiêm trọng; vì lý do đó, tôi nghĩ người ta đang biện luận để ủng hộ trợ tử.

Điều chúng ta cần làm là định hình lại cuộc đối thoại để giúp mọi người hiểu rằng việc sống chung với khiếm khuyết hoặc trong tình trạng khuyết tật cũng là một phần quan trọng của sự sống. Và có lẽ nếu chúng ta có thể cung cấp dịch vụ chăm sóc xã hội và chăm sóc giảm nhẹ tốt hơn, thì nhiều người sẽ lựa chọn nó.

Điểm tốt về cuộc tranh luận này là nó đã làm nổi bật một trong những câu hỏi căn bản nhất về đời sống con người chúng ta, về cái chết và về cách chúng ta sẽ chết như thế nào.

Việc chúng ta đang thảo luận về nó lúc này vẫn tốt hơn việc trước đây chúng ta không thảo luận, và có lẽ thậm chí không muốn nói đến nó.

Nhìn chung, chúng ta cần tiếp tục xem xét những vấn đề của dự luật này, đồng thời lắng nghe tiếng nói của những người dễ bị tổn thương, dù là vì nguy cơ bị ép buộc, hay của những người đang sống trong tình trạng khuyết tật và kiên quyết phản đối điều này.

Một cuộc tranh luận rộng lớn hơn nhiều đang nổi lên, không chỉ xoay quanh riêng dự luật này, và điều đó rất quan trọng.


Đã có dự luật Leadbeater mà bà Edwards đưa trở lại nghị trình. Gần đây, Pháp cũng đã thông qua vấn đề trợ tử sau một quá trình kéo dài. Theo Đức Tổng Giám mục, sự nhiệt tình muốn đưa những dự luật như thế này thành luật xuất phát từ đâu?

Có nỗi sợ hãi về việc mất khả năng kiểm soát, có nỗi sợ hãi về mất sự tự chủ.

Chính từ tự chủ đó đang tạo đà cho lập luận của nhiều người, bởi vì chúng ta đang sống trong một bối cảnh mà việc tự mình ra luật cho mình (self-law), làm chủ cuộc đời mình, được coi là điều vô cùng quan trọng.

Và việc tự mình làm luật đó, sự tự chủ ấy, được mở rộng đến khả năng tự kết thúc sự sống của mình.

Vì vậy, đó là một cách nhìn khác đang định hình việc đưa ra quyết định của nhiều người: tôi làm chủ cuộc đời tôi và vì thế tôi có thể lựa chọn phải làm gì với nó.

Trái lại, quan điểm Kitô giáo – và quan điểm của những người thuộc nhiều tín ngưỡng khác – cho rằng chúng ta đón nhận sự sống như một hồng ân.

Chúng ta nhận thức rằng mình phải tôn trọng sự sống đó, trân trọng sự sống ấy và đối xử tốt với sự sống đó; đồng thời chắc chắn phải nhận ra những giới hạn của các can thiệp y khoa, nhưng luôn luôn cần phải chăm sóc sự sống.

Quan điểm về sự sống như một hồng ân và việc chăm sóc là một cách nhìn khác, rõ ràng rất khác với cách nhìn tập trung vào sự tự chủ cá nhân.

Quan điểm về sự sống là một hồng ân cũng nhìn nhận sâu sắc hơn nhiều về tính tương thuộc giữa con người với con người. Không phải chỉ là cá nhân một mình tôi.

Chúng ta có sự tương thuộc lẫn nhau, và vì thế nhu cầu được chăm sóc là một phần của bản chất con người, cho dù điều đó thật khó khăn. Chúng ta không dễ dàng chấp nhận điều ấy.


Vậy Đức Tổng Giám mục có cho rằng trợ tử là biểu hiện của một nguyên nhân sâu xa hơn không?

Đó là một khía cạnh của cuộc tranh luận sâu xa hơn rất nhiều về bản chất con người, về sự kiểm soát, về việc nhìn nhận tính tương thuộc, và sau cùng là về ý nghĩa của việc từ bỏ sự kiểm soát.

Nếu nhìn vào Tin Mừng theo thánh Marcô, Chúa Giêsu hoạt động, Người rao giảng, Người giảng dạy, Người chữa lành.

Rồi đến một thời điểm Người bị bắt và trở nên thụ động: Người bị đánh đòn, bị điệu đi, phải vác thập giá, chịu đóng đinh. Trên thập giá, Chúa Giêsu phó dâng mạng sống mình cho Thiên Chúa: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”

Dưới góc độ mạc khải, Chúa Giêsu đang dạy chúng ta một điều rất căn bản về bản chất con người.

Có những lúc chúng ta phải phó thác cho Thiên Chúa và cho Chúa Cha; điều đó hoàn toàn khác với việc tự mình quyết định kết thúc cuộc đời mình.


Thánh Gioan Phaolô II đã nhiều lần nói về văn hóa sự chết và Đức Giáo hoàng Phanxicô nói về văn hóa vứt bỏ. Đức Tổng Giám mục có nghĩ rằng trợ tử phù hợp với những khuôn mẫu tư tưởng đó không?

Đôi khi tôi nghĩ chúng ta đã đơn giản hóa vấn đề nếu cố gắng đặt mọi sự vào các khuôn mẫu. Theo cách nói của Đức Giáo hoàng Phanxicô, điều chúng ta nhận ra là sự thiếu hiểu biết về món quà sự sống.

Vì thế, chúng ta cần tái khám phá giá trị của món quà sự sống được ban tặng cho chúng ta, và xây dựng một văn hóa sự sống cùng với nền văn minh tình thương.

Điều này ảnh hưởng đến cách chúng ta sống, cách chúng ta tương quan với nhau, cách chúng ta chăm sóc lẫn nhau, và cách chúng ta xây dựng tình liên đới giữa con người với nhau.

Mối nguy hại của một xã hội đề cao chủ nghĩa cá nhân là những ai không được coi là tốt đẹp như người khác vì họ thiếu một số năng lực nào đó, hoặc có thể đang sống trong tình trạng khuyết tật, thì không được coi trọng bằng những người khác.

Theo nghĩa đó, chúng ta có thể nhanh chóng tiến tới một xã hội vứt bỏ.

“Văn hóa sự chết” là một hình ảnh hết sức mạnh mẽ. Tôi nghĩ có thể có những yếu tố của văn hóa đó bên trong con người, nhưng đồng thời cũng có những yếu tố của văn hóa sự sống.

Vì vậy, chúng ta cần tiếp tục hướng tới những điều tốt lành; đến sự thiện hảo bẩm sinh trong con người và hiện diện trong tất cả mọi người, nhằm phát triển việc bảo vệ sự sống và văn minh tình thương của chúng ta.

Cho nên, với thuật ngữ về các "văn hóa", người ta rất dễ đổ lỗi cho người khác mà không nhận ra rằng hai văn hóa đó có thể cùng tồn tại bên trong mỗi con người.


Giáo hội có thể làm gì để hướng tới việc xây dựng văn minh tình thương mà Đức Tổng Giám mục vừa nói đến?

Tôi nhìn thấy những mẫu gương tuyệt vời về tình yêu quảng đại và sự hy sinh trong các gia đình, cách mà nhiều gia đình chăm sóc những người già, những thành viên đau bệnh của họ, dù họ có ở trong Giáo hội hay không.

Tất cả những điều đó đều là dấu chỉ của một nền văn minh tình thương. Tôi cũng nhìn thấy điều này qua sự phục vụ quảng đại và tuyệt vời tại các viện dưỡng lão, trong ngành y tế, trong Dịch vụ Y tế Quốc gia (NHS), và tại các cơ sở chăm sóc cuối đời.

Chứng tá tuyệt vời cho sự sống ấy cần được nhìn nhận và công bố.

Tôi cũng nhận thấy nơi các vị tuyên úy bệnh viện, dù là giáo sĩ hay giáo dân, đang thực hiện một công việc tuyệt vời trong việc chăm sóc người bệnh; cũng như các giáo sĩ trong việc cử hành các bí tích, đồng hành với con người trong cơn bệnh tật đang bước gần tới cái chết – tất cả đều là những dấu chỉ của vương quốc mà chúng ta mong đợi.

Tôi vừa trở về từ Lộ Đức, nơi những người sống chung với bệnh tật là trung tâm của đời sống.

Tôi thường nghĩ rằng Lộ Đức là một biểu tượng tuyệt vời cho việc chăm sóc người bệnh, cho mẫu vương quốc mà Chúa Giêsu mong muốn.

Những người dễ bị tổn thương, đau bệnh và khuyết tật nằm ở trung tâm mọi hoạt động, mọi sự chăm sóc của con người. Họ được đối xử bình đẳng, thậm chí còn được đối xử tốt hơn những người khác, và được sống cuộc đời cách trọn vẹn.

Vì thế, có một hình ảnh và biểu tượng tuyệt vời tại Lộ Đức khi những người hành hương quy tụ về để nhận thức về món quà sự sống và cử hành văn minh tình thương.


Có điều gì khác mà Đức Giám mục muốn bổ sung, hoặc có điều gì đặc biệt ngài muốn nói mà chúng ta chưa đề cập đến không?

Điều quan trọng là tất cả những ai đọc bài viết này và đang sống tại một đơn vị bầu cử tại Vương quốc Anh hãy liên lạc với nghị sĩ đại diện cho mình.

Điều quan trọng là nếu nghị sĩ của các bạn đã bỏ phiếu chống lại dự luật Leadbeater, hãy cảm ơn họ và khuyến khích họ tiếp tục làm như vậy, đồng thời giải thích tại sao điều đó càng trở nên quan trọng hơn.

Nếu nghị sĩ của quý vị đã bỏ phiếu ủng hộ dự luật, điều quan trọng là hãy đề nghị họ bỏ phiếu chống lại nó, đặc biệt vì chúng ta cần một cuộc tranh luận rộng lớn hơn về việc chăm sóc xã hội và chăm sóc giảm nhẹ, cũng như vì tất cả những lý do khác mà tôi đã nêu.

Do đó, việc mọi người thực thi quyền chính trị của mình qua sự liên lạc với nghị sĩ về những vấn đề này là vô cùng quan trọng.

Và dĩ nhiên, xin các bạn hãy cầu nguyện.


[Nguồn: cruxnow]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 02/09/2026]


Tuyên phong Chân phước Đức Cha Fulton Sheen/I – Đức ông Roger Landry (PMS Hoa Kỳ): Chân phước Fulton Sheen và hiện tại của sứ mạng

Tuyên phong Chân phước Đức Cha Fulton Sheen/I – Đức ông Roger Landry (PMS Hoa Kỳ): Chân phước Fulton Sheen và hiện tại của sứ mạng

Pascale Rizk
Thứ Ba, ngày 1 tháng 9 năm 2026

Tuyên phong Chân phước Đức Cha Fulton Sheen/I – Đức ông Roger Landry (PMS Hoa Kỳ): Chân phước Fulton Sheen và hiện tại của sứ mạng

Rôma (Hãng Thông tấn Fides) – Lòng nhiệt thành truyền giáo thấm đượm toàn bộ cuộc đời và công việc của Đức Tổng Giám mục Fulton J. Sheen không phải là một nỗ lực hay chiến lược. Nó cũng không được thúc đẩy bởi tham vọng chinh phục. Mọi sự nơi ngài đơn giản tuôn chảy từ vai trò ngài là một “tông đồ nhiệt thành của Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ thế giới”. Ngài là một môn đệ trở nên tinh tế và thực tế chính bởi đức tin, một đức tin nhìn nhận rằng nếu không có tình yêu của Đức Kitô, thì ngay cả những chiến lược và phương tiện loan báo Tin Mừng tinh vi nhất rốt cuộc cũng chỉ như “thanh la phèng phèng, chũm chọe xoang xoảng”, như lời Thánh Phaolô viết trong Thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô.

Tầm nhìn truyền giáo của Đức Tổng Giám mục Sheen và tính thời sự của tầm nhìn ấy được Đức ông Roger J. Landry, Giám đốc Quốc gia các Hội Giáo hoàng Truyền giáo tại Hoa Kỳ, làm nổi bật lên khi ngài suy tư về cuộc đời và di sản của vị Tổng Giám mục người Mỹ, người sẽ được tuyên phong Chân phước vào ngày 24 tháng 9 tại Saint Louis, Missouri, trong một Thánh lễ trọng thể do Đức Hồng y Luis Antonio Tagle chủ sự.

Dưới đây, chúng tôi đăng toàn văn cuộc phỏng vấn qua video mà Đức ông Roger J. Landry đã dành cho Fides trong kỳ Đại hội Toàn thể gần đây nhất của các Hội Giáo hoàng Truyền giáo.

Chính Đấng Đáng kính Fulton J. Sheen đã dẫn dắt các Hội Giáo hoàng Truyền giáo tại Hoa Kỳ từ năm 1950 đến năm 1966.


Di sản của Đức Tổng Giám mục Fulton J. Sheen cụ thể có ý nghĩa gì đối với căn tính truyền giáo của Giáo hội tại Hoa Kỳ ngày nay?

Đức Tổng Giám mục Fulton Sheen, sắp được tuyên phong Chân phước. Toàn bộ cuộc đời ngài được định hình bởi tình yêu cháy bỏng dành cho Chúa Giêsu Kitô. Điều ngài đã làm là cố gắng phụng sự Chúa Giêsu cách trọn vẹn và dẫn đưa số người nhiều nhất theo khả năng ngài có thể đến việc nhận biết Chúa Giêsu, cảm nhận được Chúa Giêsu yêu thương, đáp lại tình yêu ấy, và cố gắng lan tỏa tình yêu dành cho Người.

Đó là lý do tại sao ngài miệt mài học tập và trở thành một trong những linh mục có học vấn uyên bác nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Đó là lý do tại sao ngài đã dành hết sức cho việc giảng thuyết, và tại sao ngài có thể làm cho các tòa giảng bừng cháy bằng ngọn lửa của Chúa Thánh Thần khi truyền đạt tình yêu của ngài dành cho Chúa Giêsu. Đó cũng là một trong những lý do khiến mỗi buổi sáng, trong suốt 61 năm đời linh mục, ngài dành trọn một giờ chầu trước Thánh Thể Chúa. Và đó là lý do tại sao ngài có thể nói rằng tình yêu lớn nhất của ngài luôn dành cho các sứ mạng của Giáo hội. Ngài đã cho đi tất cả những gì có thể, quá nhiều năng lượng, quá nhiều tài năng, quá nhiều tiền bạc mà ngài quyên góp được qua các hoạt động khác nhau, để cố gắng loan truyền đức tin trên toàn cầu.

Mọi sự đều phát xuất từ sự thật rằng ngài là một người môn đệ đạo đức và một tông đồ nhiệt thành của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ thế giới.


Những khía cạnh nào trong đời sống thiêng liêng cá nhân của ngài mà Đức ông thấy có ý nghĩa nhất đối với các nhà truyền giáo đang thi hành sứ vụ ngày nay, và khía cạnh nào chạm đến cá nhân Đức ông cách sâu xa nhất, và tại sao?

Đối với các nhà truyền giáo, Đức Fulton Sheen không chỉ là một nhà truyền giáo vĩ đại mà ngài còn đào tạo toàn thể Giáo hội từ chính hiệu quả của sứ mạng. Tôi muốn nói hai điều về đời sống đạo đức của ngài mà tất cả chúng ta đều có thể noi theo.

Thứ nhất, ngài nhìn nhận sự hiện diện thật của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể một cách rất nghiêm túc. Đối với ngài, Thánh Thể không phải là một sự vật, mà là một người. Việc ưu tiên dành thời gian bên Chúa Giêsu mỗi ngày là điều hiển nhiên đối với ngài. Sứ mạng của Giáo hội không chỉ là mang lời Tin Mừng đến tận cùng trái đất. Sứ mạng ấy cũng không chỉ là thành lập các nhà thờ. Sứ mạng của Giáo hội là đưa Chúa Giêsu Kitô đến tận cùng trái đất. Đấng đang sống với chúng ta, Thiên Chúa ở cùng chúng ta, vẫn đang ở cùng chúng ta trong Bí tích Thánh Thể, với thân mình, máu, linh hồn và thần tính của Người. Do đó, lòng mến của Đức Fulton Sheen dành cho Thánh Thể đã thực sự truyền cảm hứng cho linh đạo truyền giáo của ngài, để các nhà thờ được xây dựng không chỉ như những công trình kiến trúc hay cơ sở vật chất, nhưng là những nhà thờ trở thành Thân thể Mầu nhiệm nhờ Chúa Giêsu hoạt động trong Bí tích Thánh Thể.

Điểm vĩ đại thứ hai mà tôi muốn nói về Đức cha Sheen là ngài đã dốc sức cho nghệ thuật truyền thông. Ngài biết rằng chỉ có đức tin thôi thì chưa đủ, chỉ có ước muốn loan truyền đức tin cũng chưa đủ. Ngài cần phải đạt hiệu quả trong việc loan truyền đức tin. Ngài cần phải cho thấy ngọn lửa tình yêu mà Thiên Chúa dành cho chúng ta qua lời nói của ngài khi rao giảng Tin Mừng. Đức Fulton Sheen luôn có điều đó. Và một trong những ảnh hưởng lớn nhất trong cuộc đời ngài là ngài đã khuyến khích sử dụng không chỉ một vài phương tiện truyền thông, cả cũ và mới, như những tòa giảng, để nhiệt thành chia sẻ kho tàng đức tin của chúng ta. Vì vậy, đó là hai điều mà tôi nghĩ ngài đã dạy toàn thể Giáo hội về cách thực thi sứ mạng một cách hiệu quả.

Đối với tôi, điều mạnh mẽ nhất nơi Đức Fulton J. Sheen chính là tình yêu của ngài đối với chức linh mục. Đức Fulton Sheen là một “linh mục của các linh mục”, và cuối cùng khi nghỉ hưu, ngài đã dành thập niên cuối đời để giảng ba buổi tĩnh tâm tuần cho các linh mục mỗi tháng, bởi vì ngài muốn đào tạo các anh em linh mục có một trái tim truyền giáo thực sự giống Chúa Kitô, để họ có thể ra đi như muối và men, và biến đổi toàn thế giới.

Tôi bắt đầu nghe những băng cassette của Đức Fulton Sheen khi tôi 18 tuổi, trong những chuyến lái xe đường dài, và tư tưởng của ngài thấm sâu vào tâm trí tôi, ngọn lửa của ngài thấm sâu vào trái tim tôi. Và bây giờ, với tư cách là người kế nhiệm ngài, tôi nghĩ rằng, ngài là vị Giám đốc Quốc gia thứ năm của tổ chức này, tôi không chỉ có gương sáng của ngài để noi theo, một “cẩm nang” của ngài để thực hiện, mà còn có lời chuyển cầu đầy quyền năng của ngài từ bên hữu đời đời của Chúa Giêsu. Vì thế, tôi thực sự yêu mến Đức Fulton Sheen.


Những “nhà truyền giáo kỹ thuật số” ngày nay có thể học được gì từ Đức Tổng Giám mục Fulton J. Sheen, không chỉ về phương diện kỹ thuật, mà còn về nền tảng thiêng liêng? Theo cách phê bình, Đức Tổng Giám mục sẽ nghĩ gì về những ảo tưởng của kỷ nguyên truyền thông của chúng ta?

Ngài sẽ nghĩ gì, và ngài sẽ đưa ra những lời phê bình nào trước những gì đang diễn ra ngày nay trong thế giới truyền thông kỹ thuật số và giữa những nhà truyền giáo kỹ thuật số? Đức Tổng Giám mục sẽ khuyến khích tất cả các nhà truyền giáo kỹ thuật số và những người có ảnh hưởng ngày nay trước hết và trên hết phải bắt đầu từ Chúa Giêsu.

Nếu họ không có kinh nghiệm về tình yêu cá nhân của Chúa dành cho họ, nếu họ không thực sự cố gắng lớn lên trong đức tin, đức cậy và đức mến trong mối tương quan cá nhân với Chúa Giêsu, thì theo lời của thánh Phaolô nói với tín hữu Côrintô, họ sẽ chỉ là những thanh la phèng phèng và chũm chọe xoang xoảng. Muốn sinh nhiều hoa trái, họ phải gắn kết với Chúa Giêsu như những cành nho liền với cây nho. Và đó sẽ là lời khuyên đầu tiên mà Đức Fulton Sheen muốn gửi gắm.

Đối với Đức Fulton Sheen, phương tiện không phải là điều quan trọng. Điều quan trọng là thông điệp được truyền tải qua bất cứ phương tiện nào mà ngài sử dụng, dù là sách báo, đài phát thanh, truyền hình, hay theo cách gọi ngày nay là video, podcast, thậm chí trí tuệ nhân tạo, v.v..

Đức cha Fulton Sheen luôn tập trung vào thông điệp đó, và thông điệp ấy... là những gì Thiên Chúa muốn thực hiện nơi chúng ta; Người muốn sống cuộc đời kết hiệp với chúng ta; Người không chỉ chịu đau khổ, chịu chết và sống lại vì chúng ta, mà còn tiếp tục đồng hành với chúng ta hôm nay. Đức Kitô đã sống lại, Người vẫn hiện diện với chúng ta.

Và chân lý đó được Đức Fulton Sheen thấu hiểu rất sâu sắc; ngài sống mỗi ngày, bắt đầu bằng một giờ trước Chúa Giêsu Phục sinh trong Nhà tạm tại các nhà nguyện riêng của ngài.

Đối với trí tuệ nhân tạo, trước hết Đức Fulton Sheen sẽ nhìn thấy tiềm năng to lớn của nó. Thứ hai, ngài sẽ muốn bảo đảm rằng... phương tiện có khả năng to lớn đó để giúp Giáo hội và giúp nhân loại sẽ không quay ngược lại làm hại nhân loại. Chúng ta không được trở thành những tín đồ của trí tuệ nhân tạo, để rồi cuối cùng bị nó thống trị.

Nhưng chúng ta phải thực thi quyền quản trị đối với những công trình do tay chúng ta làm nên, đối với sức sáng tạo mà Người đã khơi nguồn, như Chúa đã truyền dạy chúng ta trong sách Sáng Thế. Vì vậy, Đức Fulton Sheen trước hết sẽ nhìn thấy những khả năng trong những phương tiện mới mà Thiên Chúa đặt trước mắt chúng ta, nhưng đồng thời, ngài cũng sẽ kêu gọi mọi người nhận biết rằng ma quỷ thực sự có thể lợi dụng chính những phương tiện đó.

Vì thế, chúng ta phải cảnh giác để bảo đảm rằng chúng luôn được quy hướng về Thiên Chúa; vì nếu không được quy hướng về Thiên Chúa, thì những phương tiện đó, và cả chúng ta qua chúng, sẽ trở nên hỗn loạn. Như anh nói, ngài Fulton Sheen xây dựng hoạt động truyền giáo của mình dựa trên sức mạnh thánh mỗi ngày trước Thánh Thể.


Đức Tổng Giám mục Fulton Sheen đã xây dựng toàn bộ hoạt động truyền giáo của mình trên một giờ chầu mỗi ngày trước Thánh Thể. Năm 2024, Đức ông đã đi bộ 65 ngày kiệu rước Thánh Thể xuyên khắp Hoa Kỳ. Mối liên hệ trọng yếu giữa Thánh Thể và sứ vụ truyền giáo là gì?

Như Đức Hồng y Tagle, Quyền Tổng trưởng Bộ Loan báo Tin Mừng, đã nói với Giáo hội tại Hoa Kỳ trong Đại hội Thánh Thể Toàn quốc năm 2024 ở Indianapolis: “Chúa Giêsu Thánh Thể tự bản chất là truyền giáo”. Người trao ban thân mình và máu Người cho chúng ta, rồi Người nói: “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”. Điều đó không chỉ đơn thuần có nghĩa là cử hành Thánh lễ để tưởng nhớ Người, nhưng còn có nghĩa là làm cho đời sống của chúng ta thực sự là đời sống Thánh Thể. Nghĩa là chúng ta, giống như Chúa Giêsu, được mời gọi trở thành tấm bánh được bẻ ra cho người khác. Chúng ta phải có khả năng nói với người khác: đây là thân mình tôi, đây là máu tôi, đây là những vết chai sần của tôi, đây là mồ hôi của tôi, đây là những giọt nước mắt của tôi, đây là trái tim tôi; tất cả những gì tôi là và những gì tôi có, tôi trao tặng vì yêu thương bạn.

Một đời sống Thánh Thể không trở thành sứ mạng, như thánh Gioan Phaolô II từng nói với chúng ta, thì tự bản chất đã bị phân mảnh, đã bị bẻ gãy. Nhưng cũng như chúng ta đón nhận tình yêu tuôn đổ của Chúa dành cho mình khi chúng ta có thể lãnh nhận Chúa Giêsu cách xứng đáng trong Hiệp lễ, thì Chúa Giêsu giờ đây ở trong chúng ta muốn chúng ta tiếp tục sự hiệp thông với Người bằng cách tham dự vào sứ mạng của Người vì ơn cứu độ thế giới.

Đó là một trong những lý do tại sao việc cử hành mỗi Thánh lễ kết thúc bằng việc Thiên Chúa ban phép lành cho chúng ta, rồi nói: Hãy ra đi loan báo Tin Mừng của Chúa. “Ite, missa est” có nghĩa là mục tiêu của Giáo hội đã được đặt ra, và vì thế, Đức Kitô, Đấng làm cho chúng ta trở nên Thân thể của Người, sai chúng ta ra đi cùng với Người, để được Người biến đổi, nhờ Bí tích Thánh Thể, chúng ta cũng có thể biến đổi toàn thế giới.


Đức Giáo hoàng Lêô XIV thường được mô tả là một vị Giáo hoàng truyền giáo; nhưng vượt trên những khẩu hiệu, Đức ông phân tích thế nào về quan điểm và tầm nhìn truyền giáo của Đức Thánh Cha?

Đức Giáo hoàng Lêô đã phục vụ 22 năm với tư cách là chủng sinh, linh mục và giám mục truyền giáo tại Peru. Sau đó, trong 12 năm, ngài đã đến 50 quốc gia khác nhau với tư cách là Bề trên Tổng quyền Dòng Thánh Augustinô. Như vậy, một nửa cuộc đời ngài là một nhà truyền giáo. Khi được bầu chọn vào ngày 8 tháng 5 năm 2025, ngài là vị giáo hoàng đầu tiên kể từ Thánh Phêrô đã dành một phần cuộc đời mình rời xa quê hương, đi đến những nơi xa xôi để loan báo Tin Mừng cho những người chưa được nghe về Chúa Giêsu, như Đức Lêô đã làm giữa những vùng núi phía bắc Peru. Vì thế, ngài mang kinh nghiệm ấy, mang theo cuốn hộ chiếu dày đặc dấu mộc ấy cùng ngài đến Tòa Phêrô.

Và cũng như Thánh Giáo hoàng Piô X là vị Giáo hoàng đầu tiên sau nhiều thế kỷ từng là một cha sở, rồi dùng kinh nghiệm mục vụ ấy để biến đổi sứ vụ giáo hoàng, thì Đức Giáo hoàng Lêô, vị Giáo hoàng truyền giáo (missio ad gentes) đầu tiên kể từ Simon Barjona, quê ở Betsaida thuộc Galilê, đã đi ngang dọc khắp thế giới để củng cố các anh chị em mình trong đức tin, và mang kinh nghiệm ấy theo ngài đến Điện Tông tòa.

Vì thế không ngạc nhiên khi trong bài giảng khởi đầu sứ vụ, ngài không chỉ chào hỏi những người dân tại Chiclayo, nơi ngài từng là giám mục truyền giáo, mà ngài còn nói rằng chúng ta phải cùng nhau tìm kiếm những phương cách để trở thành một Giáo hội truyền giáo.

Khi suy nghĩ về điều làm cho kinh nghiệm truyền giáo của ngài trở nên độc đáo, đó là ngài... nhận ra rằng công cuộc truyền giáo là nỗ lực chung của toàn thể Giáo hội; rằng đó không phải là công việc của một nhà truyền giáo đơn lẻ, cũng không phải là công việc của một số ít người trong một dòng truyền giáo, nhưng để sứ mạng của Giáo hội thành công, cần có sự chung tay của tất cả mọi người.

Và ngay từ những lời đầu tiên với tư cách là Đấng kế vị thứ 267 của Thánh Phêrô, ngài đã kêu gọi tất cả chúng ta cùng với ngài, với sự nhiệt thành truyền giáo, mang món quà vĩ đại nhất của thế giới, là Chúa Giêsu Kitô – chính Chúa Kitô – đến cho mọi người, cho tất cả 8,1 tỷ người đang sống hôm nay, những người mà Chúa Giêsu đã yêu thương hiến mạng sống mình.

Đó là điều làm cho Ngài trở nên đặc biệt, và chúng ta thật có phúc, không chỉ vì có một vị Giáo hoàng người Mỹ, tôi có thể nói điều đó với tư cách là một người Mỹ, mà còn vì có một vị Giáo hoàng truyền giáo thực sự, một khát vọng lan truyền đức tin đã thấm sâu vào tận xương tủy ngài.

(Hãng thông tấn Fides, 1/9/2026)


[Nguồn: fides.org]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 02/09/2026]


Thứ Năm, 3 tháng 9, 2026

‘Đất đai của họ bị dòm ngó’: Đức Hồng y vùng Amazon lên án nạn bạo lực nhằm vào các dân tộc bản địa

‘Đất đai của họ bị dòm ngó’: Đức Hồng y vùng Amazon lên án bạo lực nhằm vào các dân tộc bản địa

Eduardo Campos Lima
Ngày 30 tháng 8 năm 2026

‘Đất đai của họ bị dòm ngó’: Đức Hồng y vùng Amazon lên án nạn bạo lực nhằm vào các dân tộc bản địa

Ảnh tư liệu chụp Đức Giám mục Leonardo Steiner đang phát biểu tại Brasília ngày 13 tháng 3 năm 2013. (Ảnh AP/Eraldo Peres, tư liệu)

SÃO PAULO – Đức Hồng y Tổng Giám mục Manaus lên án sự gia tăng đáng báo động của tình trạng bạo lực nhằm vào người bản địa tại Brazil, trong bối cảnh các cộng đồng bản địa đang phải đối mặt với nhiều mưu toan đẩy họ ra khỏi phần đất ít ỏi còn lại của những vùng lãnh thổ tổ tiên, và đẩy họ ngày càng sâu hơn vào tình trạng bị gạt ra bên lề xã hội.

Đức Hồng y Leonardo Steiner nói với Crux Now, “Xã hội chúng tôi đang trải qua những căng thẳng rất lớn liên quan đến phẩm giá con người, và dĩ nhiên, người bản địa phải chịu đau khổ vì đất đai của họ đang bị dòm ngó.”

Là một tu sĩ Phanxicô từ năm 1976 và trở thành giám mục từ năm 2005, Đức cha Steiner được Đức Thánh Cha Phanxicô bổ nhiệm lãnh đạo Tổng Giáo phận Manaus vào năm 2019. Đức Phanxicô nâng ngài lên bậc Hồng y – vị Hồng y đầu tiên của vùng Amazon – vào năm 2022.

Trong cuộc phỏng vấn riêng về nhiều vấn đề với Crux Now, Đức Steiner cũng chia sẻ quan điểm của ngài về cuộc bầu cử sắp tới, ca ngợi những thành tựu của chính quyền Tổng thống Lula da Silva và tiếc nuối trước sự cản trở từ phía lập pháp, đặc biệt là đối với các biện pháp ủng hộ quyền lợi và phẩm giá của người bản địa.

Đức Hồng y chia sẻ với Crux Now, “Chính quyền của ông [Lula da Silva] đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên phương diện kinh tế và xã hội, nhưng nếu cơ cấu Quốc hội khác đi, chính phủ đã có thể làm được nhiều hơn thế, đặc biệt là trong các vấn đề liên quan đến người bản địa.”

“Tại Quốc hội, chỉ có một vài đại biểu và nghị sĩ thực sự quan tâm đến việc bảo vệ quyền lợi của người bản địa,” Đức Steiner nói.

Đức Hồng y nói với Crux Now rằng ngài hy vọng sẽ có sự thay đổi trong cơ quan lập pháp quốc gia, vốn “đã trở thành nơi các nhóm lợi ích kinh tế chỉ nghĩ đến bản thân và không còn là nơi suy nghĩ về Brazil,” ngài nói.

Cơ quan lập pháp quốc gia Brazil gồm hai viện – Thượng viện và Hạ viện – và có cơ cấu chính trị phức tạp, với hàng chục đảng phái đang nắm giữ hoặc tranh giành ghế.

Ngài nói, “Nếu không thay đổi cơ cấu Quốc hội sẽ rất khó tạo ra những thay đổi rộng lớn hơn về vấn đề này [quyền của người bản địa].”

Đầu tháng này, CIMI đã công bố một báo cáo thường niên ghi nhận sự gia tăng đáng báo động của tình trạng bạo lực gây chết người nhằm vào người bản địa.

258 người bản địa đã bị sát hại trong năm 2025, so với 211 trường hợp được CIMI ghi nhận năm 2024. Các vụ việc khác liên quan đến việc gây thương tích thân thể, mưu sát và các hành vi bạo lực tái diễn cũng gia tăng.

Số vụ tranh chấp đất đai đã lên tới 169.

‘Đất đai của họ bị dòm ngó’: Đức Hồng y vùng Amazon lên án nạn bạo lực nhằm vào các dân tộc bản địa

Người Pataxó biểu tình tại Brasília năm 2024. (Ảnh: Tiago Miotto/CIMI)

Hiện đang diễn ra một cuộc tranh chấp pháp lý liên quan đến việc phân định ranh giới và chính thức công nhận các lãnh thổ truyền thống của người bản địa tại Brazil, nay rơi vào bế tắc.

Các đại địa chủ và các nhà chính trị được họ ủng hộ cho rằng ngày nay chỉ những lãnh thổ thực sự có các nhóm bản địa sinh sống vào thời điểm Hiến pháp hiện hành được ban hành năm 1988 mới có thể được công nhận chính thức là đất của người bản địa.

Lập trường của họ, được gọi là luận điểm giới hạn thời gian, đã vấp phải sự phản đối từ ngành tư pháp.

Tòa án Tối cao đã phán quyết luận điểm giới hạn thời gian là vi hiến vào năm 2023, nhưng chỉ vài tháng sau, Quốc hội đã thông qua Đạo luật 14.701, trong đó đưa vào cùng một khuôn khổ pháp lý. Kể từ đó, các thẩm phán Tòa án Tối cao đã xem xét tính hợp hiến của Đạo luật 14.701, nhưng vẫn chưa đưa ra quyết định cuối cùng.

Đức Hồng y Steiner nói với Crux Now, “Tôi hy vọng rằng đến cuối năm nay hoặc đầu năm tới, Tòa án Tối cao sẽ đưa ra lập trường và giải thoát chúng tôi khỏi cuộc đấu tranh này, một cuộc đấu tranh điên rồ đã kéo dài nhiều năm”.

Dưới đây là toàn văn ghi chép cuộc trò chuyện của Crux Now với Đức Hồng y Leonardo Steiner, Tổng Giám mục Manaus…

Crux Now: Thưa Đức Hồng y Steiner, báo cáo của CIMI không chỉ đề cập đến các vụ án mạng, hành hung và những hình thức bạo lực khác, mà còn ghi nhận những vụ việc kinh hoàng, chẳng hạn một thanh niên bản địa bị dí sắt nung đỏ đóng dấu trên người tại một trang trại, giống như người ta đóng dấu lên gia súc. Làm sao chúng ta lại đi đến chỗ đối xử với người bản địa một cách vô nhân như vậy?

Đức Hồng y Leonardo Steiner: Có một định kiến thực sự.

Trên thực tế, chúng tôi đã thảo luận về việc đưa một yếu tố mới vào báo cáo năm tới: vấn đề khinh miệt và định kiến đối với các dân tộc bản địa, là điều đang ngày càng gia tăng.

Đóng dấu lên một con người là hành vi thú tính. Gọi đó là vô nhân vẫn chưa đủ. Nó còn có nghĩa là đối xử với một con người như một thứ có thể sở hữu.

Để một con người trở thành tài sản của ai đó – chúng ta đang quay trở lại thời kỳ nô lệ, điều cũng thật bất ngờ là người bản địa ở Brazil cũng đã phải chịu đựng trong những ngày đầu thành lập đất nước.

Người bản địa đã và đang bị đối xử theo cách không phải là con người.

Xã hội chúng tôi đang trải qua những căng thẳng rất lớn liên quan đến phẩm giá con người.

Chẳng hạn, trong lời nói của người ta có rất nhiều sự hung hãn. Phẩm giá của người khác không được tôn trọng. Một người đối lập luôn bị đối xử như một kẻ thù phải bị loại trừ.

Và dĩ nhiên, người bản địa phải chịu đau khổ vì đất đai của họ đang bị dòm ngó. Có một lòng tham rất lớn nhắm vào đất đai của họ.

Đức Hồng y có cho rằng sự thù ghét đối với người bản địa mà chúng ta thấy trong các tầng lớp quyền lực của xã hội ở Brazil và các quốc gia Mỹ Latinh khác đang gia tăng, hay đơn giản là nó đã tìm được những cách để bộc lộ công khai hơn trong những năm gần đây?

Sự thù ghét này không chỉ nhằm vào các dân tộc bản địa. Nó còn nhằm vào người nghèo.

Hãy nhìn những gì đang xảy ra ở châu Phi, châu Á và Mỹ Latinh.

Đôi khi người ta có cảm tưởng rằng người nghèo không được xem là con người. Trong khi Tin Mừng dạy chúng ta rằng mỗi người đều là con cái của Thiên Chúa và có một phẩm giá mà không ai có quyền chà đạp.

Đó là lý do tại sao ở CIMI, chúng tôi không ngại nói những điều cần phải nói.

Đôi khi chúng tôi bị tấn công. Điều đó không quan trọng. Điều quan trọng là chúng tôi đứng bên cạnh những người con này của Thiên Chúa và lối sống mà họ mong muốn.

Tôi đã đến nhiều làng bản của người bản địa. Họ không muốn điều gì khác. Họ chỉ muốn tiếp tục sống theo cách họ vẫn sống, ngay cả khi họ tiếp thu một số công nghệ của chúng ta.

Họ muốn một lối sống trong đó con người tôn trọng lẫn nhau, sống với nhau, cùng hát với nhau và cùng tham dự các nghi thức của họ. Dưới góc nhìn của tư duy đương đại, cách suy nghĩ này bị coi là sự lười biếng.

Ngày nay, nhiều người nghĩ rằng chúng ta luôn cần phải tạo ra lợi nhuận. Điều đó đặc biệt lộ rõ nét dưới thời chính quyền trước đây [của Tổng thống Jair Bolsonaro, từ 2019 đến 2022].

Nhưng ở gốc rễ của tất cả, một vấn đề rất đơn giản luôn ở đó: đất đai.

Đức Hồng y có nghĩ rằng Tòa án Tối cao sẽ sớm đưa ra phán quyết về luận thuyết thời điểm giới hạn không?

Tôi có cảm giác rằng có lẽ đến cuối năm nay hoặc đầu năm tới, chúng ta có thể đi đến một kết luận nào đó.

Liệu nó có lợi cho người bản địa hay không, tôi không biết.

Lá phiếu phán quyết mà Thẩm phán [Luiz Edson] Fachin đưa ra thật tuyệt vời. Và theo những gì tôi đọc được, Thẩm phán Cármen Lúcia Antunes Rocha cùng Thẩm phán Cristiano Zanin đã đứng về phía lập trường đó với ông.

Trở lại năm 2023, Tòa án Tối cao đã phán quyết rằng luận điểm giới hạn thời gian là vô hiệu. Dĩ nhiên, sau đó Đạo luật 14.701 đã được ban hành, và Quốc hội thậm chí còn đe dọa đưa luận điểm giới hạn thời gian vào Hiến pháp.

Nhưng điều đó không thể thực hiện được, bởi vì có những quy định trong Hiến pháp không thể sửa đổi.

Tôi hy vọng rằng đến cuối năm nay hoặc đầu năm tới, Tòa án Tối cao sẽ đưa ra lập trường và giải thoát chúng tôi khỏi cuộc đấu tranh này, một cuộc đấu tranh điên rồ đã kéo dài nhiều năm.

CIMI đã làm việc rất vất vả về vấn đề này, và điều đó cũng đã tổn hại rất nhiều cho chính chúng tôi.

Đức Hồng y đánh giá thế nào về thành tựu của chính quyền ông Lula da Silva đối với các quyền của người bản địa khi nhiệm kỳ của chính phủ này sắp kết thúc vào tháng 12?

Chính phủ của ông [Lula da Silva] đã đạt được nhiều thành tựu trên phương diện kinh tế và xã hội, nhưng nếu cơ cấu Quốc hội khác đi, chính phủ đã có thể làm được nhiều hơn thế, đặc biệt là trong các vấn đề liên quan đến người bản địa.

Chẳng hạn, chính phủ đã có một nỗ lực lớn trong trường hợp của người Yanomami [những người đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng nhân đạo và tình trạng lãnh thổ của họ bị xâm lấn trên quy mô lớn vào tháng 1 năm 2023], bằng cách tăng cường sự hiện diện của Nhà nước và trấn áp hoạt động khai thác mỏ bất hợp pháp.

Một số lãnh thổ của người bản địa đã được phân định ranh giới chính thức. Chính phủ tiền nhiệm từng hứa không phân ranh giới bất kỳ vùng đất nào của người bản địa, và trên thực tế họ đã không phân định vùng đất nào.

Chính phủ cũng thành lập Bộ các Dân tộc Bản địa, một bước đi quan trọng và đầy khó khăn, và chính phủ luôn vấp phải một rào cản tại Quốc hội.

Nếu không thay đổi cơ cấu Quốc hội, sẽ rất khó tạo ra những thay đổi rộng lớn hơn về vấn đề này.

Vào tháng 10, Brazil sẽ tổ chức bầu cử [cử tri sẽ bầu các thành viên Quốc hội, các thượng nghị sĩ, thống đốc bang và tổng thống; Tổng thống Lula da Silva, người đang tái ứng cử, sẽ đối đầu với con trai của ông Jair Bolsonaro là Flávio Bolsonaro]. Đức Hồng y hy vọng sẽ nhìn thấy điều gì trong bốn năm tới?

Tôi hy vọng sẽ có sự thay đổi trong Quốc hội, vốn đã trở thành nơi các nhóm lợi ích kinh tế chỉ nghĩ đến bản thân và không còn là nơi suy nghĩ về Brazil.

Tại Quốc hội, chỉ có một vài đại biểu và nghị sĩ thực sự quan tâm đến việc bảo vệ quyền lợi của người bản địa. Không có nhiều.

Điều này thậm chí đã gây sức ép lên chính chúng tôi tại CIMI. Nó cũng buộc người bản địa phải lên tiếng ngày càng mạnh mẽ hơn, để xem liệu chúng tôi có thể được lắng nghe hay không, để xem liệu người ta có công nhận phẩm giá của họ hay không.

Nhưng điều đó rất khó khăn.

Có vẻ như họ không muốn lắng nghe. Trong Giáo hội, chúng tôi ngày càng cố gắng lắng nghe các dân tộc bản địa, nhưng trong xã hội Brazil, điều này gần như đã biến mất.

Kể từ Thượng Hội đồng về Vùng Amazon năm 2019, Đức Hồng y có cho rằng đã có tiến bộ hướng tới một Giáo hội biết lắng nghe các dân tộc bản địa và hoạt động với họ theo một cách thức ít mang tính thứ bậc hơn không?

Chúng tôi đã tiến được nhiều bước.

Tại São Gabriel da Cachoeira, bang Amazonas, các bản văn phụng vụ đang được dịch sang ba ngôn ngữ khác nhau.

Tại chủng viện, chúng tôi luôn tìm cách lắng nghe và đưa vào phụng vụ một số cử chỉ có thể giúp diễn tả các văn hóa bản địa.

Dĩ nhiên, Thượng Hội đồng là sự thể hiện những gì đã được thực hiện – ít nhất là tại nhiều Giáo hội địa phương.

Nhưng Tông huấn Querida Amazonia và Thượng Hội đồng đã đem lại một động lực mới. Đó là những hạt giống được gieo xuống đất và đang dần sinh hoa kết quả.

Mỗi dân tộc bản địa đều có cách sống riêng, ngôn ngữ riêng và văn hóa riêng. Xã hội lại gộp tất cả họ vào làm một.

Tại chủng viện, chúng tôi có những người đến từ các nhóm bản địa khác nhau, và họ suy nghĩ theo những cách khác nhau.

Chúng tôi tổ chức các cuộc gặp gỡ giữa họ để mỗi người có thể giải thích về dân tộc của họ như thế nào, họ suy nghĩ ra sao và họ sống đức tin như thế nào.

Là Giáo hội, chúng tôi cẩn trọng không đối xử với tất cả mọi người theo cách họ giống nhau, nhưng tìm cách gặp gỡ từng dân tộc riêng, luôn đón nhận họ, như Đức Thánh Cha Phanxicô mong muốn.

Có nhiều yếu tố trong Phụng vụ mà qua đó, người ta có thể thể hiện sự tôn trọng đối với người khác và sự tôn trọng đối với văn hóa của họ.

Việc Đức Thánh Cha Lêô XIV đã trải qua nhiều năm làm việc tại Peru, tiếp xúc với các dân tộc vùng Andes, bao gồm những người chỉ nói tiếng Quechua, có làm cho triều đại giáo hoàng của ngài nhạy cảm hơn đối với các vấn đề của người bản địa không?

Khi tôi ở Roma, một tờ báo địa phương đã hỏi tôi có thể mong đợi điều gì từ Đức Giáo hoàng, và tôi đã nói: “Đức Giáo hoàng của chúng ta đến từ giữa những người nghèo. Không ai từng sống giữa những người nghèo mà khi trở về lại vẫn như cũ. Họ luôn trở về trong tình trạng được biến đổi.”

Và chúng tôi cảm nhận được điều này nơi Đức Giáo hoàng.

Ngài ân cần, ngài đơn sơ, ngài tìm kiếm những gì tốt đẹp cho Giáo hội, và ngài cố gắng lắng nghe mọi người.

Tôi nghĩ ngài đang tiếp nối triều đại giáo hoàng của Đức Phanxicô. Dĩ nhiên, theo cách riêng của ngài. Nhưng ngài đang dẫn dắt Giáo hội trên những con đường của Tin Mừng.


[Nguồn: cruxnow]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 01/09/2026]


Thứ Năm, 27 tháng 8, 2026

Một ngày tại Bưu điện Vatican: cổng kết nối ra thế giới

Một ngày tại Bưu điện Vatican: cổng kết nối ra thế giới

Ngày 20 tháng 8 năm 2026

Một ngày tại Bưu điện Vatican: cổng kết nối ra thế giới
Phỏng vấn ông Stefano Rossi và Ermanno Croci, các nhân viên Phòng Thư đi của Sở Bưu chính và Tem thư thuộc Phủ Thống đốc Thành quốc Vatican

Cách hàng cột Bernini tại Quảng trường Thánh Phêrô chỉ vài bước chân là một nơi mà mỗi ngày, hàng ngàn mảnh ghép của cuộc sống con người — bưu thiếp, thư từ, bưu kiện và thư bảo đảm — bắt đầu hành trình đến mọi miền trên thế giới. Đây không phải là một bưu điện bình thường: đây là Bưu điện của quốc gia nhỏ nhất thế giới.

Ông Stefano Rossi và Ermanno Croci làm việc tại đây, chịu trách nhiệm xử lý thư từ tại Phòng Thư đi. Trong cuộc phỏng vấn với trang web của Thành quốc Vatican, họ chia sẻ kinh nghiệm của mình. Họ được giao một nhiệm vụ rất đặc biệt: tự tay xử lý các thông điệp của những người hành hương từ khắp nơi trên thế giới, thư từ chính thức của Tòa Thánh, và các tài liệu liên quan đến những sự kiện lịch sử như Năm Thánh hoặc việc bầu chọn tân giáo hoàng. Làm việc tại đây có nghĩa là mỗi ngày trở thành một mắt xích trong chuỗi liên kết Vatican với toàn thế giới.

Xin các ông chia sẻ về quá trình công tác và cơ duyên nào đưa các ông đến với vị trí hiện tại?

Ông Stefano giải thích, “Hành trình nghề nghiệp của chúng tôi tại Bưu điện Vatican đã bắt đầu từ nhiều năm trước. Tôi khởi đầu sự nghiệp với vai trò là nhân viên vận hành hệ thống thư tín bằng ống khí nén và nhân viên tổng đài điện thoại — một chi tiết tự nó đã nói lên rất nhiều điều về cách nơi đây gìn giữ những công nghệ và truyền thống mà ở nhiều nơi khác đã biến mất từ lâu.” Ông Ermanno nói thêm rằng ông bắt đầu làm việc tại bộ phận thu gom thư, qua đó tích lũy được nhiều kinh nghiệm thực tế. “Đó là một hành trình không ngừng phát triển về chuyên môn, giúp chúng tôi có được sự hiểu biết sâu xa về cơ cấu tổ chức và cách thức vận hành của một định chế không giống bất kỳ nơi nào khác trên thế giới.”

Theo các ông, những kỹ năng nào là cần thiết đối với một nhân viên xử lý thư từ hiện nay?

“Hơn bao giờ hết, ngày nay chúng tôi tin rằng việc đào tạo chuyên môn vững vàng và am hiểu tường tận về các quy trình nội bộ là điều cốt yếu để thực hiện công việc này một cách hiệu quả. Công việc của chúng tôi đòi hỏi sự chính xác, độ tin cậy và sự chú ý cao độ đến từng chi tiết, vì mỗi công đoạn đều ảnh hưởng đến sự vận hành thông suốt của toàn bộ quy trình bưu chính.

“Bên cạnh những kỹ năng chuyên môn này, tính chính xác, tinh thần trách nhiệm và năng lực tổ chức là những phẩm chất nền tảng để bảo đảm một dịch vụ hiệu quả. Khả năng ứng phó nhanh với những tình huống ngoài dự kiến cũng rất quan trọng. Chỉ với tinh thần hợp tác chặt chẽ, chúng tôi mới có thể cung cấp một dịch vụ đáp ứng các tiêu chuẩn đề ra.”

Một ngày làm việc điển hình của các ông diễn ra như thế nào?

“Ngày làm việc của chúng tôi bắt đầu lúc 7 giờ 30 sáng với việc tổ chức các chuyến gửi đi và chuẩn bị những lô thư từ gửi đến các quốc gia trên khắp thế giới. Trong quy trình đầu ngày này, các hoạt động trong ngày được lập kế hoạch, và nhân viên được phân công vào các dịch vụ khác nhau, nhằm bảo đảm phân bổ khối lượng công việc cân đối và mọi hoạt động được tiến hành thông suốt. Sự phối hợp là một khía cạnh căn bản trong công việc của chúng tôi: mỗi dịch vụ đều liên kết chặt chẽ với các dịch vụ khác và đòi hỏi sự hoạch định cẩn thận để tránh bị chậm trễ hoặc ứ đọng. Mục tiêu là bảo đảm mọi bưu phẩm đều được xử lý nhanh chóng và chính xác.

“Trong suốt ngày làm việc, chúng tôi thu gom và phân loại hàng ngàn bưu thiếp mà những người hành hương và du khách gửi qua Bưu điện Vatican mỗi ngày, rồi chuyển chúng đến những điểm đến theo địa chỉ. Đồng thời, chúng tôi xử lý các chuyển phát thư nhanh, giám sát việc xử lý và gửi đi, cũng như thư bảo đảm, được ghi nhận, kiểm tra và chuyển tiếp với sự cẩn trọng cao nhất.

“Một phần quan trọng khác trong công việc của chúng tôi là cung cấp dịch vụ bưu chính cho thư từ do các cơ quan khác nhau của Tòa Thánh gửi đến Bưu điện Tòa Thánh. Chúng tôi cũng chuẩn bị các chứng từ hải quan cho những bưu phẩm chứa sách hoặc hàng hóa được gửi đến các quốc gia Châu Âu cũng như ngoài Châu Âu; đây là một bước quan trọng nhằm bảo đảm các bưu phẩm được lưu chuyển thông suốt và tuân thủ các quy định quốc tế.

“Nhìn chung, những hoạt động này khiến ngày làm việc của chúng tôi vừa bận rộn vừa đa dạng: từng thành viên trong đội ngũ nhân viên đều góp phần qua công việc của mình để bảo đảm một dịch vụ hiệu quả và đáng tin cậy.”

Những trách nhiệm chính trong công việc của các ông là gì?

“Trách nhiệm chính của chúng tôi bao gồm điều phối các hoạt động của phòng và giám sát toàn bộ quy trình thu gom và xử lý thư từ. Mỗi ngày đòi hỏi phải hoạch định nguồn lực một cách cẩn thận để mọi hoạt động có thể được thực hiện cách chính xác và trong những khung thời gian quy định.

“Chúng tôi bảo đảm mọi hoạt động đều được tiến hành theo các quy trình đã thiết lập, đồng thời can thiệp kịp thời bất cứ khi nào phát sinh khó khăn hoặc những tình huống bất ngờ. Nhiệm vụ của chúng tôi là bảo đảm mọi bưu phẩm — từ một tấm bưu thiếp đơn thuần cho đến những lô hàng phức tạp nhất — đều được xử lý với sự cẩn trọng và chuẩn xác tối đa về thời gian.”

Các ông thường xuyên sử dụng những công cụ hoặc công nghệ nào nhiều nhất?

“Trong số những công cụ chúng tôi sử dụng hằng ngày, chủ yếu là máy vi tính và máy đóng dấu bưu chính; cả hai đều không thể thiếu trong việc quản lý các hoạt động hành chính. Hệ thống công nghệ thông tin cho phép chúng tôi quản lý các công đoạn khác nhau của quá trình xử lý thư từ, từ việc đăng ký bưu phẩm đến việc theo dõi các hành trình chuyển phát, đồng thời hỗ trợ toàn bộ các hoạt động tổ chức của phòng.

“Máy quét (scanner) cũng đóng một vai trò quan trọng, được sử dụng để kiểm tra và xác minh thư đến và thư đi, qua đó cho phép quản lý các bưu phẩm một cách chính xác và an toàn hơn. Trong khi đó, máy đóng cước bưu chính rất cần thiết để áp dụng đúng các mức cước, đặc biệt đối với thư từ do các cơ quan khác nhau ủy thác cho chúng tôi.

“Đây chắc chắn là những công cụ hiện đại, nhưng tại đây, chúng cùng tồn tại với những phương thức và kinh nghiệm chuyên môn được truyền lại qua thời gian. Thiết bị này cung cấp sự hỗ trợ không thể thiếu, nhưng luôn cần đến kinh nghiệm và sự chú tâm của đội ngũ nhân viên chúng tôi. Đó chính là bản chất của một bưu điện không giống bất kỳ nơi nào khác: công nghệ phục vụ con người, chứ không phải ngược lại.”

Các ông làm thế nào để bảo đảm tính hiệu quả và đúng giờ trong việc thu gom và phân loại thư từ?

“Tất cả phụ thuộc vào việc đồng bộ hóa thời điểm thư từ đến phòng của chúng tôi với các công đoạn xử lý tiếp theo. Mỗi bước được tổ chức theo trình tự và phối hợp với nhau nhằm giảm thiểu thời gian chờ đợi và bảo đảm thư từ được tiếp nhận và phân loại mà không bị chậm trễ.

“Việc hoạch định nội bộ cho phép phân bổ khối lượng công việc đồng đều giữa các nhân viên, đồng thời giúp chúng tôi nhanh chóng điều chỉnh cách thức tổ chức của phòng theo những yêu cầu của từng ngày. Sự cộng tác giữa các bộ phận khác nhau và việc liên lạc liên tục cũng cho phép chúng tôi ứng phó kịp thời với những thời điểm cao điểm của công việc hoặc những tình huống bất ngờ.”

Công việc của các ông đóng góp như thế nào vào hoạt động chung của hoạt động bưu chính?

“Đóng góp của chúng tôi vào hoạt động của toàn bộ chuỗi bưu chính là bảo đảm thư từ được chuyển đến các địa chỉ khác nhau một cách nhanh chóng, chính xác và có hệ thống. Mỗi công đoạn — từ thu gom, phân loại đến chuẩn bị các bưu phẩm — đều nhằm rút ngắn thời gian xử lý và bảo đảm các bưu phẩm được chuyển đúng tuyến.

“Theo nghĩa đó, chúng tôi có thể tự hào nói rằng vai trò của chúng tôi là một mắt xích then chốt trong chuỗi hậu cần (logistics), vì công việc này cho phép chúng tôi tổ chức và tối ưu hóa dòng luân chuyển thư từ trước khi chúng được chuyển sang các dịch vụ tiếp theo. Sự chú trọng đến tính chính xác và việc tuân thủ các quy trình bảo đảm mỗi bưu phẩm đến đích trong thời gian ngắn nhất có thể và trong tình trạng nguyên vẹn.”

Sự chuyển đổi số đã làm thay đổi công việc của các ông như thế nào trong những năm gần đây?

“Sự chuyển đổi số đã mang lại những thay đổi đáng kể, làm cho nhiều quy trình trở nên thuận tiện và nhanh chóng hơn so với trước đây. Việc đưa vào vận hành các hệ thống công nghệ thông tin ngày càng tiên tiến đã đơn giản hóa nhiều công đoạn vận hành, rút ngắn thời gian xử lý và cải thiện khả năng truy xuất hành trình của thư từ trong suốt quá trình vận chuyển.

“Đặc biệt, khả năng số hóa một số quy trình đã giúp thực hiện các công việc hằng ngày nhanh chóng hơn và góp phần giảm thiểu biên độ sai sót, qua đó nâng cao độ chính xác trong việc kiểm tra và lưu trữ hồ sơ. Việc liên lạc nội bộ giữa các phòng khác nhau cũng trở nên thông suốt và tức thời hơn.

“Tuy nhiên, có một khía cạnh mà chúng tôi cho rằng không thay đổi: vai trò của người vận hành. Kinh nghiệm và khả năng xử lý những tình huống khác nhau vẫn là yếu tố cốt lõi để bảo đảm chất lượng dịch vụ. Tóm lại, cuộc cách mạng kỹ thuật số không thay thế lao động của con người; nó làm cho công việc ấy hiệu quả hơn mà không làm giảm giá trị của chính nó.”

Những cải tiến nào đã nâng cao chất lượng dịch vụ nhiều nhất?

“Việc cơ giới hóa từng bước các hoạt động vận hành là thay đổi đáng kể nhất. Máy móc và các hệ thống tự động đã tối ưu hóa việc phân loại, dán cước và đăng ký bưu phẩm, rút ngắn thời gian xử lý và nâng cao độ chính xác. Kết quả là toàn bộ quy trình bưu chính trở nên thông suốt hơn, có khả năng bảo đảm tính đúng giờ ngay cả trong những giai đoạn đỉnh điểm.”

Các ông có nghĩ rằng vai trò của nhân viên xử lý thư từ sẽ tiếp tục thay đổi trong những năm tới không?

“Công nghệ chắc chắn sẽ tiếp tục phát triển, nhưng chừng nào còn nhu cầu gửi và nhận thư từ vật lý — và đối với một nơi như Vatican, một điểm đến hành hương của hàng triệu người, nhu cầu đó dường như không có dấu hiệu sẽ biến mất — thì chức năng căn bản trong vai trò của chúng tôi về bản chất vẫn sẽ giữ nguyên.

“Việc quản lý thư từ vẫn đòi hỏi kỹ năng tổ chức, sự chú ý đến từng chi tiết và khả năng giám sát, những điều khó có thể được tự động hóa hoàn toàn. Ngay cả trong bối cảnh đổi mới công nghệ ngày càng mạnh mẽ, sự đóng góp của con người vẫn là thiết yếu để bảo đảm tính chính xác, độ tin cậy và chất lượng dịch vụ. Do đó, thực tế hơn là hình dung về một sự tiến hóa của vai trò này thay vì một sự biến đổi hoàn toàn, với các công cụ ngày càng tiên tiến hỗ trợ các hoạt động hằng ngày trong khi vai trò trung tâm của người vận hành vẫn là không thể thiếu.”

Những khía cạnh nào là nhạy cảm nhất xét về phương diện an ninh?

“An ninh là một khía cạnh nền tảng trong công việc của chúng tôi. Việc đào tạo nhân viên chuyên nghiệp là nền tảng cốt lõi để bảo đảm mọi thao tác được thực hiện cách chuẩn xác. Việc huấn luyện tốt sẽ giúp giảm biên độ sai sót và cho phép nhân viên xử lý cách thành thục các tình huống khác nhau có thể phát sinh trong ngày làm việc.

“Một yếu tố nền tảng khác là tính thận trọng trong việc xử lý thư từ. Làm việc với tính cẩn mật, chuyên nghiệp và tinh thần trách nhiệm là điều cốt yếu để bảo vệ người sử dụng và bảo đảm sự vận hành đúng cách của dịch vụ.”

Các ông có nhận thấy hoạt động gia tăng đáng kể sau Năm Thánh 2025 và cuộc bầu chọn tân giáo hoàng không?

“Là Bưu điện Vatican, chúng tôi đã chứng kiến sự gia tăng đáng kể các hoạt động cả trong thời gian Năm Thánh lẫn dịp bầu chọn giáo hoàng mới. Đây là những thời điểm có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống của Tòa Thánh và dẫn đến sự gia tăng lớn về khối lượng thư từ.

“Đó là những thời điểm chúng tôi thực sự cảm nhận được đặc ân — đồng thời là trách nhiệm — được làm việc tại một nơi, theo đúng nghĩa đen, là trung tâm của thế giới đối với hàng trăm triệu tín hữu. Dòng người hành hương và du khách từ khắp các châu lục đổ về làm tăng đáng kể khối lượng bưu thiếp, thư từ và bưu phẩm. Dù khối lượng công việc tăng lên nhiều, kinh nghiệm của đội ngũ nhân viên và cơ cấu tổ chức của chúng tôi cho phép chúng tôi quản lý những thời điểm đặc biệt này, đồng thời tiếp tục bảo đảm mọi hoạt động được thực hiện đúng cách, với sự an tâm âm thầm khi biết rằng mỗi ngày, chúng tôi đang lặng lẽ đóng góp vào một phần nhỏ của lịch sử theo cách của riêng mình.”


[Nguồn: vaticanstate.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 24/08/2026]