Thứ Năm, 28 tháng 5, 2026

Thông điệp ‘Magnifica Humanitas’ về trí tuệ nhân tạo (AI): 6 điều người Công giáo cần biết

Thông điệp ‘Magnifica Humanitas’ về trí tuệ nhân tạo (AI): 6 điều người Công giáo cần biết

Thông điệp ‘Magnifica Humanitas’ về trí tuệ nhân tạo (AI): 6 điều người Công giáo cần biết

Shutterstock I Korosi Francois-Zoltan


Daniel Esparza

25/05/26


AI không thể cảm nhận, yêu thương, hay gánh vác trách nhiệm luân lý — nhưng nó có thể loại trừ, thao túng và tập trung quyền lực. Đức Thánh cha muốn nó phải được quản trị, chứ không chỉ dừng lại ở việc điều tiết.

Trước thông điệp Magnifica Humanitas, chưa từng có vị giáo hoàng nào luận bàn về trí tuệ nhân tạo ở mức độ dài và với những chi tiết kỹ thuật cũng như thần học như vậy. Dưới đây là sáu điều Đức Lêô XIV muốn người Công giáo phải hiểu rõ.


1. AI không phải là trí tuệ con người, và chính sự khác biệt này là điều cốt yếu

Đức Lêô XIV diễn đạt rất chính xác về điểm này. Đoạn 99 khẳng định rằng các hệ thống AI “không trải qua những kinh nghiệm, không có thân xác, không cảm nhận niềm vui hay đau khổ, không trưởng thành qua các mối tương quan, và từ bên trong không biết tình yêu, lao động, tình bạn hoặc trách nhiệm có nghĩa là gì.” Chúng có thể bắt chước ngôn ngữ và mô phỏng sự đồng cảm, nhưng “chúng không hiểu những gì chúng tạo ra.” Đây không phải là một khác biệt kỹ thuật nhỏ bé. Nó là nền tảng cho toàn bộ những gì tiếp theo.


2. AI không bao giờ trung lập về mặt luân lý

Mọi hệ thống đều tích hợp các lựa chọn. Đoạn 104 nêu rõ rằng “mọi công cụ kỹ thuật đều thể hiện cụ thể các lựa chọn và ưu tiên qua những gì nó đo lường, bỏ qua và tối ưu hóa, cũng như cách thức nó phân loại con người và hoàn cảnh.” Đức Lêô XIV viết rằng khi một hệ thống được thiết kế theo cách xét một số sự sống là ít giá trị hơn, nó “đã đưa vào các tiêu chí mâu thuẫn với phẩm giá bất khả xâm phạm của con người.” Đạo đức không thể là một ý nghĩ bổ sung thêm vào sau khi công nghệ đã được xây dựng.


3. Trao quyền quyết định cho các thuật toán đồng nghĩa với việc đánh mất trách nhiệm giải trình

Khi các hệ thống tự động đưa ra những quyết định hệ trọng — về việc làm, tín dụng, hoặc khả năng tiếp cận các dịch vụ — đoạn 103 cảnh báo rằng “sự loại trừ những người dễ bị tổn thương được che đậy dưới một lớp vỏ trung lập và khách quan, khiến cho việc phản đối trở nên khó khăn.” Đức Thánh cha viết rằng lòng trắc ẩn, lòng thương xót và sự tha thứ “dần biến mất khỏi tầm nhìn.” Luôn phải có một ai đó chịu trách nhiệm. Một thuật toán thì không thể.


4. Dữ liệu là công ích

Đây có thể là khẳng định mang tính cách mạng nhất về mặt kinh tế của thông điệp. Đoạn 108 nhấn mạnh rằng dữ liệu “là sản phẩm của nhiều người đóng góp và không được đối xử như một thứ để đem bán hoặc được trao phó cho một số ít người chọn lọc.” Các thuật toán, những nền tảng kỹ thuật số, bằng sáng chế và cơ sở hạ tầng công nghệ đều thuộc phạm vi của nguyên tắc phổ quát của của cải (universal destination of goods). Những gì ngành công nghệ coi là tài sản tư hữu thì Đức Thánh cha xem là thuộc về toàn thể nhân loại, theo một ý nghĩa quan trọng.


5. Những người lao động thầm lặng phải được nhìn nhận

Đức Lêô XIV nhắc nhở chúng ta rằng đằng sau mỗi phản hồi của AI là “một chuỗi dài những tầng trung gian.” Đoạn 173 cho biết phần lớn điều đó phụ thuộc vào “hàng triệu người đang thực hiện các công việc thiết yếu nhưng phần lớn không được nhìn thấy, như dán nhãn dữ liệu, huấn luyện mô hình và kiểm duyệt nội dung, thường phải tiếp xúc với những tài liệu gây khó chịu.” Nhiều người trong số họ là các phụ nữ trẻ làm việc với mức lương tối thiểu. Những người khác khai thác các khoáng sản đất hiếm trong những điều kiện nguy hiểm. “Thân thể của những người này đầy vết sẹo, bị thương tổn và hao mòn để dòng chảy điện toán có thể liên tục không bị gián đoạn.” Không một lời ca ngợi nào về lợi ích của AI có thể bỏ qua điều này.


6. AI phải được giải giới, không chỉ là điều tiết

Đòi hỏi nổi bật nhất của thông điệp này vượt ra ngoài các khung quản trị và hướng dẫn đạo đức. Đoạn 110 kêu gọi AI phải được “giải giới” — giải phóng khỏi “não trạng cạnh tranh vũ trang,” khỏi sự kiểm soát độc quyền, khỏi cuộc đua giành ưu thế địa chính trị và thương mại. “Giải giới không có nghĩa là khước từ công nghệ, mà là ngăn chặn không để nó thống trị nhân loại.” Đoạn 111 trực tiếp gửi đến các nhà phát triển AI: “Mỗi lựa chọn trong thiết kế đều phản ánh một tầm nhìn về con người.” Ngài nhấn mạnh rằng trách nhiệm đó vừa mang tính đạo đức vừa mang tính thiêng liêng.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 26/05/2026]


Tiếp kiến các thành viên của Nhóm Liên Nghị viện về Nhân khẩu học thuộc Nghị viện Châu Âu, 25.05.2026

Tiếp kiến các thành viên của Nhóm Liên Nghị sĩ về Nhân khẩu học thuộc Nghị viện Châu Âu, 25.05.2026

Tiếp kiến các thành viên của Nhóm Liên Nghị viện về Nhân khẩu học thuộc Nghị viện Châu Âu, 25.05.2026

*******

Sáng nay, tại Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh cha Lêô XIV đã tiếp kiến các thành viên của Nhóm Liên Nghị viện về Nhân khẩu học thuộc Nghị viện Châu Âu.

Sau đây là bài diễn văn Đức Thánh cha trước những người hiện diện trong cuộc gặp gỡ:


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.
Bình an cho anh chị em.

Chào tất cả mọi người và xin chào mừng!

Tôi vui mừng được đón tiếp các thành viên của Nhóm Liên Nghị viện về Nhân khẩu học thuộc Nghị viện Châu Âu, cùng với Ủy viên Châu Âu đặc trách khu vực Địa Trung Hải, Bộ trưởng Ý phụ trách Gia đình, Tỷ lệ sinh và Cơ hội Bình đẳng, và Đặc phái viên của Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE) về Thay đổi Nhân khẩu học và An ninh, nhân dịp Hội nghị của quý vị về gia đình và nhân khẩu học.

Với tư cách là những đại diện cho các dân tộc của mình, đồng thời phản ánh sự đa dạng về quan điểm chính trị trong các quốc gia thành viên thuộc Liên minh Châu Âu, sự chú ý của quý vị đến vấn đề nhân khẩu học của lục địa quả thật là điều rất đúng lúc, bởi lẽ vấn đề này biểu thị một thách đố cấp bách với những hệ lụy thực tế đối với hàng triệu con người và gia đình của họ trên khắp “nơi đang dần trở thành 'lục địa già' — không còn là vì lịch sử huy hoàng của mình, nhưng vì sự già nua ngày càng gia tăng”, như Đức Giáo hoàng Phanxicô thường nhấn mạnh (Diễn văn tại Đại hội Toàn thể về Tỷ lệ sinh, ngày 14 tháng 5 năm 2021). Những vấn đề phát sinh từ tình trạng nhân khẩu học phát triển bằng không thì rất nhiều và phức tạp, trong đó không thể không kể đến đại dịch cô đơn. Hơn nữa, các dữ liệu nhân khẩu học không đơn thuần là những con số thống kê, nhưng còn nói lên tư cách làm cha, làm mẹ, và con cái. Và trẻ em chính là tương lai! Tuy nhiên, khi nói đến tương lai là hướng đến sự phát triển toàn diện và bền vững, và điều này bị cản trở nghiêm trọng nếu thiếu sự tình liên đới giữa các thế hệ (x. Toát yếu Học thuyết Xã hội của Giáo hội, số 195). Thật đáng buồn, tình liên đới ấy đòi hỏi một sự cân bằng giữa các thế hệ mà hiện nay đang thiếu vắng ở Châu Âu.

Hơn nữa, trong những thập niên gần đây, chúng ta có thể nhận thấy rằng việc khước từ nguồn cảm hứng Kitô giáo nơi các vị tổ phụ sáng lập nên các thể chế của Liên minh Châu Âu đã đưa đến một thời kỳ cằn cỗi sâu sắc, không chỉ vì quá nhiều người đã bị tước mất quyền được sinh ra, mà còn vì đã có sự thất bại trong việc truyền lại cho giới trẻ những công cụ vật chất và văn hóa mà người trẻ cần có để đối diện với tương lai (x. Đức Giáo hoàng Phanxicô, Diễn văn gửi các Tham dự viên cuộc đối thoại "Suy tư lại về Châu Âu: đóng góp của Kitô giáo cho tương lai của dự án Châu Âu", ngày 28 tháng 10 năm 2017). Kết quả là, không ít lần chúng ta phải đối diện với những tuyên bố mâu thuẫn của các chính sách được cho là thân thiện với gia đình, nhưng đồng thời lại cổ võ sự phân biệt đối xử đối với thiên chức làm mẹ, đề cao phá thai như một quyền, và làm suy yếu chính nền tảng của khát vọng xây dựng gia đình. Thật vui khi có những ngoại lệ tuyệt vời hiện diện với chúng ta hôm nay!

Vì thế, tất cả những vấn đề này cần phải được nghiên cứu và giải quyết cách cấp bách, có sự phối hợp bởi nhiều cơ quan thuộc các lĩnh vực học thuật, chính trị và xã hội. Thách đố nhân khẩu học là một bước ngoặt quyết định đối với tương lai nhân học, xã hội và kinh tế của Châu Âu. Thật vậy, sự dấn thân của quý vị, với các thành viên liên đảng, có thể đóng một vai trò hết sức quan trọng, và là một diễn đàn lý tưởng để tìm kiếm những ý tưởng sáng tạo mà Châu Âu và thế giới đang vô cùng cần đến. Cuộc đối thoại như vậy phải bao gồm không những các định chế và Chính phủ Châu Âu khác nhau, mà còn cần sự tham gia của toàn thể xã hội dân sự, trong đó các Kitô hữu là một phần không thể tách rời.

Nằm ở trung tâm của những thách đố cấp bách này, đồng thời là chìa khóa để đưa ra giải pháp, chính là phẩm giá nền tảng của mọi con người và vai trò của gia đình trong xã hội. Như Thánh Gioan Phaolô II nhắc nhở chúng ta, gia đình là “trường học đầu tiên và không thể thay thế của đời sống xã hội” (Familiaris Consortio, 43), và được xây dựng trên hôn nhân giữa một người nam và một người nữ, một thực tại kết hợp chiều kích cá nhân và cộng đồng. Dưới ánh sáng ấy, các cuộc thảo luận của quý vị cũng có nhiệm vụ thúc đẩy trách nhiệm chung và vai trò tích cực của các gia đình trong đời sống xã hội, chính trị và văn hóa (x. Diễn văn trước các tham dự viên cuộc gặp gỡ do CELAM, Hàn lâm viện Giáo hoàng về Sự sống và Học viện Gioan Phaolô II tổ chức, ngày 19 tháng 9 năm 2025). Bởi vì chỉ bằng cách tôn trọng và thúc đẩy vị trí trung tâm này của gia đình, đồng thời áp dụng nguyên tắc bổ trợ, người ta mới có thể tránh được hai thái cực: sự can thiệp quá mức của Nhà nước và chủ nghĩa cá nhân.

Sau cùng, cách tiếp cận này không nhằm quay trở lại với các mô hình xã hội của quá khứ, nhưng là để cung cấp cho những người nam và nữ của thời đại chúng ta những nguyên tắc bất biến, chắc chắn có thể hướng dẫn họ trong việc trả lời những câu hỏi căn bản được đặt ra trong mọi thời đại: Ý nghĩa và giá trị của sự sống con người là gì? Một xã hội nhân bản đích thực là gì? Và chúng ta muốn trao lại cho các thế hệ tương lai một thế giới như thế nào? Trong viễn tượng đó, các chính sách quốc gia cũng như của Liên minh Châu Âu cần được phát triển và hoạch định trong mối quan hệ đối tác với với xã hội dân sự. Ở đây, tôi muốn lưu ý rằng sự hợp tác của Nhóm Liên nghị viện với Liên đoàn các Hiệp hội Gia đình Công giáo Châu Âu (FAFCE) và với Ủy ban các Hội đồng Giám mục thuộc Liên minh Châu Âu (COMECE) là một mẫu gương tuyệt vời về cách thức các thực thể khác nhau — mỗi bên với lãnh vực chuyên môn riêng — có thể cùng nhau làm việc để bảo đảm cho một sự thay đổi hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho tất cả mọi người. Đây chính là động lực mà các Kitô hữu đang mang đến cho dự án Châu Âu, để các chính sách luôn hướng đến con người trong tính toàn vẹn của họ và không ngừng cổ võ phẩm giá con người. Bằng cách này, một con đường mang tính nhân bản đích thực có thể được mở ra để giải quyết cuộc khủng hoảng nhân khẩu học, hướng đến công ích và sự an sinh của các thế hệ tương lai. Thật vậy, chỉ một mùa xuân tươi mới cho gia đình mới có thể làm tan đi cái giá lạnh mùa đông của những xã hội đang già đi của chúng ta!

Với những suy tư đó, tôi cầu nguyện để quý vị tiếp tục những nỗ lực vô cùng quan trọng của mình để thăng tiến các gia đình và phẩm giá của mọi người. Xin gửi đến từng người trong quý vị lời chúc tốt đẹp chân thành nhất của tôi, và tôi khẩn xin Thiên Chúa toàn năng tuôn đổ muôn vàn phúc lành trên quý vị và những người thân yêu của quý vị. Cảm ơn quý vị.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 26/05/2026]


Thứ Tư, 27 tháng 5, 2026

Kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng “Trong Chúa Nhật lễ Hiện xuống này, chúng ta hãy khẩn cầu Chúa Thánh Thần mở ra mọi cánh cửa còn đóng kín”

“Trong Chúa Nhật lễ Hiện xuống này, chúng ta hãy khẩn cầu Chúa Thánh Thần mở ra mọi cánh cửa còn đóng kín”

Huấn từ của Đức Thánh cha tại giờ đọc kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng

Kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng “Trong Chúa Nhật lễ Hiện xuống này, chúng ta hãy khẩn cầu Chúa Thánh Thần mở ra mọi cánh cửa còn đóng kín”


Trưa hôm nay, Chúa nhật lễ Hiện xuống, Đức Thánh cha Lêô XIV xuất hiện tại cửa sổ phòng làm việc của ngài tại Điện Tông tòa Vatican để cùng đọc kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng với các tín hữu và khách hành hương đang quy tụ tại Quảng trường Thánh Phêrô.

Đức Giáo hoàng mời gọi các khách hành hương khẩn cầu Chúa Thánh Thần, để Ngài mở ra tất cả những cánh cửa vẫn còn đang đóng kín.

Dưới đây là huấn từ của Đức Thánh cha trước khi đọc kinh kính Đức Mẹ:

*******

Huấn từ của Đức Thánh cha


Anh chị em thân mến, chúc anh chị em Chúa nhật hạnh phúc!

Trong đại lễ Hiện xuống này, chúng ta được mời gọi chiêm ngắm hồng ân Chúa Thánh Thần, được tuôn đổ dồi dào trên Hội thánh sơ khai và hôm nay tiếp tục được ban phát cho các chi thể của Giáo hội, như ánh sáng và sức mạnh đồng hành với họ trong từng giây phút của cuộc sống.

Chúng ta hãy suy ngẫm về một hình ảnh của Thần Khí mà phụng vụ hôm nay trao cho chúng ta: Thần Khí mở ra các cánh cửa. Thật vậy, Tin Mừng kể cho chúng ta rằng “nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái” (Ga 20:19), đồng thời, Sách Tông đồ Công vụ cũng cho chúng ta biết rằng Thần Khí ngự đến như một cơn gió mạnh thổi tới (cf. Cv 2:2), mở tung các cánh cửa và thúc bách các môn đệ đi ra ngoài để loan báo Tin Mừng về Đức Kitô Phục sinh.

Hôm nay chúng ta cũng hãy tự hỏi mình: Chúa Thánh Thần mở những cánh cửa nào?

Cánh cửa thứ nhất chính là cửa của Thiên Chúa, theo nghĩa Người mở cho chúng ta lối bước vào mầu nhiệm của Thiên Chúa, như đã được mặc khải nơi Đức Giêsu Kitô. Với ơn Thần Khí của Người, Thiên Chúa ban cho chúng ta đức tin chân thật, giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của Kinh Thánh, tỏ mình ra cho chúng ta như một Đấng gần gũi, và cho phép chúng ta được thông phần vào chính sự sống của Người. Chúa Thánh Thần giúp chúng ta có một kinh nghiệm cá vị về Thiên Chúa; để gặp gỡ Người nơi Chúa Giêsu chứ không chỉ trong việc tuân giữ lề luật; để nhận ra Người trong chính chúng ta và khám phá những dấu chỉ về sự hiện diện của Người trong đời sống thường nhật.

Cánh cửa thứ hai là cánh cửa của Nhà Tiệc Ly, tức là cửa của Giáo hội. Không có lửa của Thần Khí, Giáo hội sẽ mãi là tù nhân của nỗi sợ hãi, sợ hãi trước những thách đố của thế giới, khép kín trong chính mình, và do đó cũng không thể đi vào cuộc đối thoại với những biến chuyển của thời đại. Thần Khí mở các cánh cửa của Giáo hội để Giáo hội có thể chào đón và tiếp nhận mọi người, ngay cả những người đã đóng cánh cửa đối với Thiên Chúa, đối với tha nhân, đối với niềm hy vọng, và đối với niềm vui sống. Như Đức Thánh cha Phanxicô nhắc nhở chúng ta, chúng ta được kêu gọi trở thành “một Giáo hội chúc lành và khích lệ […] một Giáo hội với những cánh cửa rộng mở cho tất cả mọi người” (Bài giảng Thánh lễ khai mạc Phiên họp Toàn thể Thường kỳ của Thượng Hội đồng Giám mục, ngày 4 tháng 10 năm 2023).

Sau cùng, Chúa Thánh Thần mở ra những cánh cửa của tâm hồn chúng ta, giúp chúng ta vượt thắng sự kháng cự, tính ích kỷ, sự ngờ vực và những thành kiến, đồng thời làm cho chúng ta có khả năng sống như những người con của Thiên Chúa và là anh chị em của nhau. Nơi nào Thần Khí của Chúa ngự trị, nơi đó tình huynh đệ được sinh ra giữa các cá nhân, các nhóm và các dân tộc trên địa cầu, và tất cả cùng nói một ngôn ngữ duy nhất của tình yêu, là ngôn ngữ liên kết và hòa hợp mọi khác biệt.

Anh chị em thân mến, ngay cả trong thời đại của chúng ta, đặc biệt trong ngày lễ Hiện xuống này, chúng ta phải khẩn cầu Chúa Thánh Thần mở ra tất cả những cánh cửa còn đang đóng kín. Chúng ta cần tái khám phá Thiên Chúa như một người Cha yêu thương chúng ta; xây dựng một Giáo hội nơi mọi người đều cảm thấy như đang ở nhà mình; và cần vun đắp một thế giới huynh đệ nơi hòa bình ngự trị giữa mọi dân tộc.

Cũng như các môn đệ đầu tiên, chúng ta hãy phó thác bản thân cho sự chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria, Nơi Ngự trị của Chúa Thánh Thần và là Mẹ của Giáo hội.

_____________________


Sau kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng


Anh chị em thân mến:

Hôm nay chúng ta cử hành Ngày Cầu nguyện cho Giáo hội tại Trung Quốc, lễ nhớ Đức Trinh Nữ Maria, Đấng Phù hộ các Giáo hữu, Đấng được tôn kính với lòng sùng mộ sâu sắc tại Đền thánh Sheshan ở Thượng Hải. Chúng ta hãy hiệp ý cầu nguyện cùng với các tín hữu Công giáo Trung Quốc, như một dấu chỉ của lòng yêu thương của chúng ta dành cho họ và của sự hiệp thông giữa họ với Giáo hội hoàn vũ cũng như với Đấng Kế vị Thánh Phêrô. Xin sự chuyển cầu của Nữ Vương Thiên Đàng ban cho cộng đoàn tín hữu tại Trung Quốc ơn hiệp nhất, và ban cho tất cả mọi người sức mạnh để làm chứng cho Tin Mừng giữa những khó khăn thường ngày, để trở nên những hạt giống của hy vọng và hòa bình. Cách riêng, tôi cầu nguyện cho các nạn nhân của vụ tai nạn hầm mỏ mới đây tại miền bắc Trung Quốc được hưởng sự bình an đời đời.

Chúng ta cũng phó dâng cho Đức Maria Rất thánh, Đấng Phù Hộ các Giáo hữu, các cộng đoàn Kitô hữu tại Thánh Địa, tại Lebanon và trên toàn vùng Trung Đông, những nơi đang phải chịu đau khổ vì chiến tranh.

Và giờ đây, tôi gửi lời chào đến tất cả anh chị em, các tín hữu của Roma và anh chị em hành hương đến từ nhiều quốc gia khác nhau.

Cách riêng, tôi chào mừng nhóm anh chị em khuyết tật đến từ Ba Lan, cũng như các anh chị em hành hương đã từ Kelmis, Bỉ, đến đây bằng xe đạp. Xin chúc mừng anh chị em!


[Nguồn: exaudi]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 25/05/2026]


Bài giảng của Đức Thánh cha: Thần Khí được tuôn đổ không ngừng

Bài giảng của Đức Thánh cha: Thần Khí được tuôn đổ không ngừng

Bài giảng của Đức Thánh cha: Thần Khí được tuôn đổ không ngừng

ANDREAS SOLARO | ANDREAS SOLARO 
Đức Lêô ban phép lành cho các tín hữu bằng nước thánh trong lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống.

Kathleen N. Hattrup

24/05/26


"Nơi diễn ra Bữa Tiệc ly và sự phản bội được biến đổi; ngôi nhà mồ của các Tông đồ trở thành cung lòng của sự Phục sinh cho toàn thể Hội thánh."

Hôm nay, Đức Thánh cha Lêô XIV cử hành Thánh lễ tại Đền thờ Thánh Phêrô nhân đại lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống. Ngài tập trung suy niệm về Chúa Thánh Thần như là Thần Khí của bình an, Thần Khí của sứ vụ, và Thần Khí của sự thật.

Ngài cũng cầu xin để Chúa Thánh Thần giải thoát chúng ta khỏi chiến tranh, khỏi cảnh khốn cùng, và khỏi tai họa của tội lỗi.

Dưới đây là toàn văn bài giảng của ngài:

*******

Anh chị em thân mến,

Mùa Phục sinh hôm nay đạt đến sự viên mãn trong Lễ trọng Chúa Thánh Thần Hiện xuống. Để làm nổi bật tính liên tục của biến cố cứu độ này, bài Tin Mừng đưa chúng ta trở lại “ngày thứ nhất trong tuần” (Ga 20:19), tức là ngày mới khi Chúa Giêsu sống lại hiện ra với các môn đệ, cho các ông xem “tay và cạnh sườn Người” (c. 20). Chúa cho thấy thân thể vinh hiển của Người, đặc biệt là những thương tích của Người, những dấu thương của cuộc đóng đinh. Những dấu chỉ của cuộc Thương khó, hùng hồn hơn mọi lời nói, giờ đây đã được biến đổi; Đấng đã chết nay sống muôn đời.

Khi nhìn thấy Chúa, chính các môn đệ cũng được khôi phục sự sống. Các ông đã khóa mình trong Nhà Tiệc ly, bị nỗi sợ hãi chế ngự, nhưng Chúa Giêsu đến và đứng giữa các ông, dù các cửa đều đóng kín, và làm các ông tràn ngập niềm vui. Người vượt thắng cái “chết” của chúng ta, mở tung ngôi mộ và mở toang nó khi chúng ta không còn lối thoát. Đức Kitô đồng hành với hành động ấy bằng những lời: “Bình an cho anh em” (c. 19); và ngay sau đó, Người thổi hơi ban Chúa Thánh Thần trên các môn đệ. Đấng Phục Sinh tràn đầy sự sống. Sau khi chứng tỏ rằng Người đã được phục hồi sự sống như một con người đích thực, Người ban chính sự sống của Thiên Chúa với tư cách là Người Con chí ái của Chúa Cha, Đấng, vì chúng ta, đã trở nên người anh em và Đấng Cứu Chuộc của chúng ta. Trong chính Nhà Tiệc Ly ấy, nơi Người đã thiết lập giao ước mới và vĩnh cửu, Chúa Giêsu tuôn đổ Thần Khí. Nơi diễn ra Bữa Tiệc ly và sự phản bội được biến đổi; ngôi nhà mồ của các Tông đồ trở thành cung lòng của sự Phục sinh cho toàn thể Hội thánh. Vì thế, lễ Hiện xuống là một lễ Vượt qua và là lễ của thân thể Đức Kitô, thân thể mà nhờ ân sủng chính là tất cả chúng ta.

Khi cử hành mầu nhiệm này, tôi muốn tập trung vào ba khía cạnh.

Trước hết, Thần Khí của Đấng Phục sinh là Thần Khí của bình an. Thật vậy, qua Mầu nhiệm Vượt qua của Người, Đức Kitô phục hồi sự bình an giữa Thiên Chúa và nhân loại, và Chúa Thánh Thần đổ tràn bình an đó vào lòng chúng ta, rồi lan tỏa nó khắp thế giới. Bình an này bắt nguồn từ ơn tha thứ và dẫn đưa chúng ta đến việc tha thứ. Nó bắt đầu bằng sự tha thứ do chính Chúa Giêsu ban tặng, Đấng mà chúng ta đã phản bội, lên án và đóng đinh vào thập giá. Đấng Phục sinh khiến chúng ta kinh ngạc bằng tình yêu của Người, khi nói rằng: “Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha” (Ga 20:23). Với những lời này, Chúa Giêsu cho chúng ta tham dự vào công việc thần linh, vì chỉ mình Thiên Chúa mới có quyền tha tội (x. Mc 2:7). Quyền năng này được ban như dấu chỉ của sự hòa giải phổ quát: Chúa tuôn đổ Thần Khí bình an của Người từ đầu này đến đầu kia của lịch sử, vì Đấng đã cứu chuộc mọi người khỏi chết thì không loại trừ một ai. Thật vậy, Chúa Thánh Thần là Chúa và là Đấng ban sự sống ngay từ thuở tạo dựng, khi Người bay lượn trên mặt nước (x. St 1:2); và giờ đây, trong việc đổi mới công trình tạo dựng, Người biến đổi lịch sử thế giới. Lễ Hiện Xuống thực sự xuất hiện như lễ của Giao ước mới, giao ước giữa Thiên Chúa và tất cả các dân tộc trên thế giới. Trong khi tiếng ầm ầm từ trời cao, gió và những lưỡi lửa trong Nhà Tiệc ly gợi nhớ đến những dấu chỉ xưa tại núi Sinai (x. Cv 2:2–3; Xh 19:16–19), thì luật thánh của Thiên Chúa nay được ghi khắc trong tâm hồn chúng ta, được Thần Khí khắc bằng những nét chữ tình yêu nơi thân xác của Đức Kitô và trong thân thể Người là Hội Thánh.

Lề luật ấy là luật của bình an: đó là giới răn kép của tình yêu mà Chúa Thánh Thần nhắc nhở chúng ta qua từng nhịp đập của con tim. Vì thế, với trái tim mình, chúng ta có thể cầu nguyện: Veni Sancte Spiritus – “Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến”, vì Người đã được ban cho chúng ta. Chúng ta có thể khát mong Người, vì Người đã được hứa ban cho chúng ta. Chúng ta có thể đón nhận Người, vì chính Người là vị khách ngọt ngào của tâm hồn.

Điểm thứ hai là Thần Khí của Đấng Phục Sinh là Thần Khí của sứ vụ: “Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em” (Ga 20:21). Vì thế, chúng ta được lôi cuốn vào sứ vụ của Chúa Giêsu, sứ vụ của Đấng từ Thiên Chúa mà đến và trở về cùng Thiên Chúa nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần — Đấng xuất phát từ Chúa Cha và Chúa Con, và cùng được phụng thờ và tôn vinh với Chúa Cha và Chúa Con như một Thiên Chúa duy nhất. Chúa Thánh Thần là đức ái sống động của Đức Kitô, lấp đầy trong chúng ta, thúc đẩy chúng ta và nâng đỡ chúng ta trong sứ vụ (x. 2 Cr 5:14). Khi ban cho các Tông đồ quyền năng giảng dạy (x. Cv 2:4), cũng chính Thần Khí ấy dạy nhân loại lời cứu độ. Giờ đây, khi các Tông đồ đã lãnh nhận hơi thở của Đấng Phục sinh trong chính mình, lời loan báo ấy tuôn trào từ môi miệng các ông, được cất lên qua tiếng nói của Phêrô và những người ở cùng ông. Ngay trong ngày lễ Ngũ Tuần, các Tông đồ đã bắt đầu loan báo Đức Giêsu chịu đóng đinh và đã sống lại. Nói cách khác, “những kỳ công của Thiên Chúa” (Cv 2:11) được tóm kết trong công trình cứu chuộc, vốn khởi đầu bằng đức tin. Thật vậy, công cuộc đầu tiên của Chúa Thánh Thần trong chúng ta là đức tin, nhờ đó chúng ta tuyên xưng: “Đức Giêsu là Chúa!” (1 Cr 12:3). Đức tin này sống động và được thể hiện trong mọi việc lành, trong mọi hành động thương xót và nhân đức. Vì thế, công cuộc của Thiên Chúa chính là mỗi người chúng ta, những người hôm nay từ khắp nơi trên thế giới quy tụ về đây, được mời vào bàn tiệc của Chúa, quy tụ để lắng nghe lời Người và được kêu gọi làm chứng cho lời ở khắp mọi nơi.

Các bạn thân mến, chúng ta quả thật là những cộng sự viên của Tin Mừng: toàn thể Giáo hội là chủ thể chính, chứ không đơn thuần là người bảo hộ Tin Mừng. Nhờ quyền năng của Thần Khí, lời loan báo của chúng ta tràn ngập niềm vui và hy vọng, vì chúng ta — đúng vậy, chính chúng ta — là sự mới mẻ của thế giới, là ánh sáng và là muối cho đời (cf. Mt 5:13–14). Chắc chắn không phải vì công trạng hay đặc quyền của chúng ta, nhưng nhờ lời của Chúa, Đấng thánh hóa người tội lỗi, chữa lành người phong hủi, và biến kẻ chối bỏ Người thành một tông đồ. Như chúng ta có thể thấy rõ, có những thay đổi không mang lại sự sống mới cho thế giới, nhưng lại làm cho thế giới già cỗi đi bởi sai lầm và bạo lực. Tuy nhiên, Chúa Thánh Thần soi sáng tâm trí và truyền ban sức sống mới trong lòng chúng ta. Đó là cách Người biến đổi lịch sử, mở lịch sử ra cho ơn cứu độ, là quà tặng mà Chúa ban cho mọi người. Sứ mạng của Hội Thánh là làm chứng cho lời đề nghị này, nhờ đó biến sự hỗn loạn của thế giới thành sự hiệp thông với Thiên Chúa và giữa chúng ta.

Sứ vụ này bắt đầu bằng việc công bố sự thật về Thiên Chúa và về con người, vì Thần Khí của Đấng Phục Sinh là “Thần Khí sự thật” (Ga 14:17), Đấng mà chính Chúa đã hứa ban cho chúng ta, khi cầu nguyện cho sự hiệp nhất của Hội Thánh Người — một sự hiệp nhất được xây nền trên tình yêu Thiên Chúa, nguồn mạch tình yêu của chúng ta. Chúa Thánh Thần, Đấng đã phán dạy qua các ngôn sứ, luôn thúc đẩy sự hiệp nhất trong sự thật, vì Người ban cho chúng ta sự hiểu biết, sự hòa hợp và tính nhất quán trong đời sống. Như thánh Augustinô dạy: “Chúa Thánh Thần muốn rằng đây phải là dấu chỉ sự hiện diện của Người” (Bài giảng 269, 1): đó là ơn nói các thứ tiếng được hiểu trong cùng một đức tin duy nhất. Đấng Phù Trợ bảo vệ chúng ta khỏi tất cả những gì cản trở sự hiểu biết này, bao gồm tính cục bộ, đạo đức giả và những trào lưu nhất thời làm lu mờ ánh sáng Tin Mừng. Vì thế, sự thật mà Thiên Chúa ban cho chúng ta đứng vững như một lời giải phóng cho mọi dân tộc, một thông điệp biến đổi mọi nền văn hóa từ bên trong.

Thật vậy, Thần Khí của Đấng Phục Sinh không được tuôn đổ một lần và cho tất cả, mà là tuôn đổ không ngừng. Cũng như Bí tích Thánh Thể là sự hiện diện sống động của Đức Kitô, Đấng không ngừng nuôi dưỡng chúng ta, Chúa Thánh Thần cũng ghi dấu ấn của Người trên chúng ta trong Bí tích Rửa tội, giúp chúng ta trở thành Kitô hữu; thiết lập chúng ta làm những chứng nhân trong Bí tích Thêm sức; và thiết lập các thừa tác viên và mục tử cho dân Thiên Chúa trong Bí tích Truyền Chức Thánh. Trong mỗi bí tích, Người là dator munerum, nguồn mạch của sự thánh thiện, Đấng nhân lên các ân ban và đặc sủng qua cầu nguyện, qua các việc bác ái và việc học hỏi lời Thiên Chúa. Như Thánh Tông đồ dạy: “Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung” (1 Cr 12:7). Chính vì lý do đó mà chúng ta là Giáo hội, một thân thể duy nhất sống trong Thiên Chúa và phục vụ thế giới. Nhờ Thần Khí, chúng ta có thể mang lại bình an đích thực cho tất cả mọi người, sự thật giải thoát — chính là Đức Kitô, Chúa chúng ta.

Các bạn thân mến, với trái tim sốt mến, hôm nay chúng ta hãy cầu xin để Thần Khí của Đấng Phục Sinh cứu chúng ta khỏi sự dữ của chiến tranh, điều không thể bị khuất phục bởi một siêu cường, nhưng bởi quyền năng vô biên của tình yêu. Chúng ta hãy cầu xin Người giải thoát nhân loại khỏi cảnh lầm than, là điều không thể cứu chuộc bằng của cải vô tận, mà bằng một ân ban vô biên. Chúng ta hãy cầu xin Người chữa lành chúng ta khỏi tai ương của tội lỗi, nhờ ơn cứu độ được loan báo cho mọi dân tộc nhân danh Chúa Giêsu. Đó là ân sủng đã truyền ban lòng can đảm cho các tông đồ; xin Người cũng ban ơn can đảm ấy cho chúng ta, hôm nay và mãi mãi, nhờ sự chuyển cầu của Đức Maria, Mẹ Giáo hội.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 25/05/2026]


Thứ Ba, 26 tháng 5, 2026

Tiếp kiến các tham dự viên Hội nghị Quốc tế “Gìn giữ tiếng nói và khuôn mặt con người” do Bộ Truyền thông tổ chức, phối hợp với Bộ Văn hóa và Giáo dục, ngày 22.05.2026

Tiếp kiến các tham dự viên Hội nghị Quốc tế “Gìn giữ tiếng nói và khuôn mặt con người” do Bộ Truyền thông tổ chức, phối hợp với Bộ Văn hóa và Giáo dục, ngày 22.05.2026

Tiếp kiến các tham dự viên Hội nghị Quốc tế “Gìn giữ tiếng nói và khuôn mặt con người” do Bộ Truyền thông tổ chức, phối hợp với Bộ Văn hóa và Giáo dục, ngày 22.05.2026

*******

Sáng nay, tại Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh cha Lêô XIV đã tiếp kiến các tham dự viên của Hội nghị Quốc tế “Gìn giữ tiếng nói và khuôn mặt con người”. Hội nghị, do Bộ Truyền thông tổ chức, phối hợp với Bộ Văn hóa và Giáo dục, nhân dịp Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 60, đã diễn ra ngày hôm qua tại Đại học Giáo hoàng Urbaniana.

Sau đây là bài diễn văn của Đức Giáo hoàng gửi tới những người hiện diện trong buổi gặp gỡ:


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.
Bình an cho anh chị em.

Chào tất cả anh chị em và xin chào mừng!

Tôi rất vui mừng được chào đón anh chị em sau Hội nghị Quốc tế diễn ra ngày hôm qua nhân kỷ niệm Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 60. Là những học giả và chuyên gia am hiểu sâu sắc về truyền thông kỹ thuật số, mối bận tâm của anh chị em đối với tương lai của nhân loại đã đưa anh chị em đến Rôma để suy tư về năng lực hiểu biết truyền thông và kỹ thuật số. Khi tham gia vào sáng kiến này, mỗi người trong anh chị em đã mang đến những ân ban và tài năng riêng của mình để góp phần định hướng tương lai của nhân loại trong thời đại được đánh dấu bởi sự tăng trưởng theo cấp số nhân của công nghệ, một vấn đề đặc biệt quan trọng đối với sứ mạng của Giáo hội.

Chính trong bối cảnh sứ mạng phổ quát của Giáo hội mà sự ủng hộ của Giáo hội đối với truyền thông xã hội có thể được hiểu rõ nhất. Trên thực tế, Sắc lệnh của Công đồng Vatican II về các phương tiện truyền thông đại chúng — văn kiện khai sinh Ngày Thế giới Truyền thông — đã mở đầu bằng việc nhắc nhở chúng ta rằng Giáo hội “được Chúa Kitô, Chúa chúng ta, thiết lập để mang ơn cứu độ đến cho mọi người, và vì thế Giáo hội có bổn phận phải rao giảng Tin Mừng” (Inter Mirifica 3). Mối quan tâm hàng đầu của Giáo hội đã, đang và tiếp tục là ơn cứu độ đời đời của mỗi con người. Như chúng ta đọc thấy trong Tin Mừng theo Thánh Gioan: “Mà sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giêsu Kitô” (Ga 17:3).

Do đó, ước muốn cho mọi người “được cứu độ và nhận biết chân lý” (1 Tm 2:4) phải định hướng không riêng các quyết định và hành động của chúng ta, mà còn cả việc sử dụng và định hướng dành cho truyền thông, công nghệ kỹ thuật số và trí tuệ nhân tạo, nhằm bảo đảm rằng các công cụ này được đặt vào việc phục vụ đích thực dành cho con người. Như đã được chứng minh một cách đáng buồn qua việc thúc đẩy và triển khai công nghệ cách tràn lan thiếu kiểm soát với cái giá phải trả là phẩm giá con người, cũng như những tổn hại gây ra khi các chatbot và những công nghệ khác khai thác nhu cầu về các mối tương quan con người của chúng ta, chúng ta thực sự đang trải qua một sự mờ nhạt của ý thức về ý nghĩa của việc là con người (x. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 60). Do đó, điều cấp bách hơn bao giờ hết là phải khôi phục lại sự hiểu biết về ý nghĩa đích thực và sự cao cả của con người như ý định của Thiên Chúa. Theo nghĩa này, thách đố mà chúng ta đang đối mặt hiện nay “không phải là vấn đề công nghệ, mà là vấn đề nhân học” (sđd.), và tôi hy vọng rằng Thông điệp sẽ được ban hành trong ít ngày tới sẽ góp phần trả lời cho thách đố này.

Dưới ánh sáng này, tôi tin tưởng rằng chỉ bằng việc chiêm ngắm Đức Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể, chúng ta mới có thể khôi phục lại không chỉ một cái nhìn đúng đắn về Thiên Chúa, mà còn có thể đạt tới sự hiểu biết sự thật về con người. Bởi vì, “qua việc nhập thể, Con Thiên Chúa đã kết hợp chính Người, theo một cách nào đó, với mỗi con người” (Gaudium et Spes, số 22), nên trái tim con người sẽ không bao giờ có thể thấu hiểu trọn vẹn những nơi sâu kín của chính mình, cũng như không thể hiểu được giá trị của mình nếu tách rời khỏi Trái Tim Đức Kitô. Chính vì vậy, việc gìn giữ đích thực khuôn mặt và tiếng nói của mỗi cá nhân nhất thiết phải bao hàm một cuộc gặp gỡ với Đấng là “hình ảnh của Thiên Chúa vô hình”, đồng thời chính Ngài là con người hoàn hảo (Col 1:15).

Dĩ nhiên, tất cả những điều này phải được ghi nhớ khi thảo luận về các hệ quả của công nghệ kỹ thuật số và vai trò của Giáo hội trong lãnh vực truyền thông xã hội. Công việc như vậy không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhưng chúng ta đã được kêu gọi đem ánh sáng của Đức Kitô đến cho thế giới, soi chiếu mọi chiều kích trong hoạt động của con người (x. Ga 8:12; Mt 5:14-16). Làm sao chúng ta có thể không thực hiện điều đó trong thời đại của mình, nhất là trước một vấn đề đang hiện diện sâu rộng trong xã hội như hiện nay? Vì thế, Giáo hội thấy mình được thúc đẩy phải đóng góp vào nỗ lực hoạch định và triển khai giáo dục về truyền thông, thông tin và trí tuệ nhân tạo trong các hệ thống giáo dục. Bằng cách này, Giáo hội có thể giúp bảo đảm rằng con người đạt được các kỹ năng tư duy phản biện và công nghệ góp phần vào ơn cứu độ của những người sử dụng chúng (x. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 60; Inter Mirifica 3).

Tôi chắc chắn rằng tất cả chúng ta đều đặc biệt lo ngại về những hệ quả có thể xảy ra từ việc sử dụng công nghệ kỹ thuật số và trí tuệ nhân tạo, không chỉ đối với sự phát triển thể chất và trí tuệ của trẻ em và người trẻ, mà còn đối với đời sống thiêng liêng của họ. Về phương diện này, mọi người, nhưng đặc biệt là người trẻ, “cần học biết tiết độ và kỷ luật trong việc sử dụng” những công nghệ đó (Inter Mirifica, số 10), với sự hỗ trợ hướng dẫn của cha mẹ và các nhà giáo dục. Hơn nữa, dưới ánh sáng sứ mạng của Giáo hội và trước những quan niệm sai lầm hiện nay về Thiên Chúa và con người, giáo dục về năng lực kỹ thuật số cũng phải bao gồm việc giáo dục chân lý về Thiên Chúa và về con người. Đặc biệt, người trẻ luôn rộng mở trước chân lý này và khao khát khám phá ý nghĩa của cuộc sống. Vì vậy, chúng ta phải giúp họ gặp gỡ Đức Kitô hằng sống và dạy họ biết tích hợp việc sử dụng công nghệ vào trong một lối sống Kitô hữu toàn diện.

Anh chị em thân mến, đây là một vấn đề đặc biệt gần gũi với tâm hồn tôi và gần gũi với tâm hồn của Giáo hội. Quả thật, như một người Mẹ, Giáo hội chăm lo đến đời sống của các con cái mình, mong muốn hướng dẫn họ đến sự trưởng thành viên mãn (x. Êp 4:13). Tôi hy vọng rằng những suy tư này sẽ dẫn đến niềm tin tưởng vào công nghệ như thành quả của thiên tài của con người, trong sự hòa hợp với công trình sáng tạo của Thiên Chúa.

Cảm ơn anh chị em vì những nỗ lực trong hiện tại và tương lai, tôi khẩn cầu Thiên Chúa tuôn đổ muôn phúc lành của sự khôn ngoan, niềm vui và bình an, trên anh chị em và gia đình. Cảm ơn anh chị em.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 23/05/2026]


Kết nối các dấu mốc từ thông điệp 'Rerum Novarum' đến 'Magnifica Humanitas'

Kết nối các dấu mốc từ thông điệp 'Rerum Novarum' đến 'Magnifica Humanitas'

PHÂN TÍCH: Đã có bảy giai đoạn phát triển trong suốt 135 năm kể từ khi Đức Thánh cha Lêô XIII ban hành văn kiện mang tính đột phá của ngài.

Kết nối các dấu mốc từ thông điệp 'Rerum Novarum' đến 'Magnifica Humanitas'

Andrea Gagliarducci

Vatican 21 Tháng Năm, 2026


Việc Đức Giáo hoàng Lêô XIV quyết định chính thức ký ban hành Thông điệp Magnifica Humanitas vào ngày 15 tháng 5 không phải là điều ngẫu nhiên.

Chính vào ngày này năm 1891, vị tiền nhiệm cùng tước hiệu với ngài, Đức Lêô XIII, đã ký thông điệp Rerum Novarum, thông điệp xã hội đầu tiên trong lịch sử Giáo hội Công giáo. Ngày nay, Đức Lêô XIV vẫn muốn phản ánh về “những điều mới mẻ” (ý nghĩa của Rerum Novarum), tức là những thách đố mới do xã hội đương đại đặt ra.

Nhưng tại sao cần phải nhìn lại Rerum Novarum? Và học thuyết xã hội của Giáo hội đã phát triển như thế nào trong suốt 135 năm kể từ khi thông điệp được công bố?

Khi Đức Lêô XIII đề cập đến “những điều mới mẻ” của thời đại bấy giờ, ngài phải đưa ra câu trả lời của Kitô giáo trước hai hiện tượng lớn: tư tưởng xã hội chủ nghĩa trao cho người nghèo niềm hy vọng bằng cách kêu gọi họ tham gia vào cuộc đấu tranh giai cấp; và tư tưởng Khai sáng đã dẫn đến một cuộc tấn công chưa từng có nhắm vào Giáo hội. Thêm vào đó, ngài cũng phải đối diện với các vấn đề của cuộc Cách mạng Công nghiệp, sự thay đổi nhanh chóng của thế giới lao động đang tạo ra sự mất cân bằng xã hội sâu sắc giữa người giàu và người nghèo.

Với Đức Lêô XIII, một học thuyết xã hội đã xuất hiện, khởi đi từ những vấn đề của con người và sau đó chạm đến các vấn đề quốc tế. Không phải ngẫu nhiên mà Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII, trong Thông điệp Mater et Magistra năm 1961, đã nói đến những mất cân bằng toàn cầu và cách thức chúng trở thành mối đe dọa đối với hòa bình. Cũng không phải tình cờ mà Thánh Giáo hoàng Phaolô VI, trong Thông điệp Populorum Progressio năm 1967, đã nhấn mạnh rằng “phát triển là tên gọi mới của hòa bình.”

Rerum Novarum nói đến những điều gì

Đức Lêô XIII đã nói về điều gì trong Rerum Novarum? Phần đầu tiên được dành riêng cho vấn đề tư hữu. Đức Giáo hoàng bác bỏ luận điểm “chế độ tài sản chung do chủ nghĩa xã hội đề xuất” vì điều đó “xúc phạm đến các quyền tự nhiên của mỗi cá nhân.”

Đức Lêô XIII cũng đề cập đến vấn đề mục đích chung của của cải, trong đó nhấn mạnh rằng chính việc sử dụng tốt hay xấu đối với của cải mới là điều quyết định vấn đề, bởi lẽ “sự giàu có không giải thoát con người khỏi đau khổ.” Thông điệp sau đó bàn đến vấn đề nghèo đói, nhấn mạnh rằng “nhân đức là sản nghiệp chung, ai cũng có thể đạt được như nhau, dù là người quyền quý hay kẻ thấp hèn, người giàu cũng như người vô sản,” điều này rất quan trọng để hiểu rằng mọi người đều bình đẳng trước mặt Thiên Chúa.

Đức Lêô XIII cũng đề cập đến chủ đề tình huynh đệ, chủ đề mà sau này Đức Thánh cha Phanxicô đã dành trọn một thông điệp để khai triển, và nhấn mạnh rằng sống tình huynh đệ có nghĩa là nhìn nhận “những ân huệ của tự nhiên và ân sủng là gia sản chung của toàn thể nhân loại,” bởi vì nếu tất cả mọi người đều là con cái, thì tất cả cũng là “những người thừa kế của Thiên Chúa và đồng thừa kế với Chúa Giêsu Kitô. Đây là lý tưởng về các quyền lợi và bổn phận được chứa đựng trong Tin Mừng.”

Đức Lêô XIII nói về một Giáo hội đang hiện diện giữa lòng thế giới và do đó ưu tiên cải thiện những điều kiện sống cũng như làm cho lao động trở nên xứng hợp với phẩm giá hơn. Chính vì vậy, Rerum Novarum dành nhiều chú ý đến những điều kiện lao động khắc nghiệt của giới công nhân công nghiệp, nhấn mạnh rằng “đòi hỏi con người phải làm việc quá nhiều đến mức tinh thần bị suy sụp vì lao lực và cơ thể bị suy kiệt thì không công bằng cũng chẳng nhân đạo.”

Đức Lêô XIII cũng khẳng định rằng “tiền lương không được thấp hơn mức đủ để người lao động sinh sống,” và đồng thời, người lao động cũng phải học cách tiết kiệm.

Chủ đề lớn ở đây là thiết lập một trật tự xã hội công bằng, với một con đường trung tâm: con đường bác ái.

Đức Lêô XIII viết: “Mỗi người hãy thi hành phần việc của mình và đừng trì hoãn, vì sự trì hoãn có thể khiến cho việc chữa lành một sự dữ vốn đã trầm trọng càng trở nên khó khăn hơn. Các chính phủ hãy hướng tới mục tiêu này bằng những luật lệ tốt đẹp và những biện pháp khôn ngoan; các nhà tư bản và giới chủ sử dụng lao động luôn ghi nhớ bổn phận của mình; và giới vô sản, những người bị ảnh hưởng trực tiếp, hãy làm những gì có thể trong giới hạn của công lý.”

Bảy giai đoạn của giáo huấn xã hội

Kể từ Rerum Novarum, đã có 12 thông điệp xã hội, nếu tính cả Laudato Si và Fratelli Tutti của Đức Thánh cha Phanxicô. Tất cả đều quy chiếu về Rerum Novarum, cập nhật tư duy để đáp ứng với những phát triển mới, giải quyết các thách đố xã hội mới, và làm phong phú thêm một tư tưởng với sứ mạng trả lời những câu hỏi của thời đại.

Đức Giám mục danh dự Mario Toso của giáo phận Faenza-Modigliana, Ý, một trong những chuyên gia hàng đầu của Giáo hội về học thuyết xã hội, nhấn mạnh rằng: “Học thuyết xã hội của Giáo hội cung cấp những chìa khóa diễn giải giúp các ngành khoa học khác nhau đối thoại với nhau để đóng góp cho tri thức, hòa bình và việc hiện thực hóa Nước Thiên Chúa. Học thuyết xã hội không phải là tri thức suy diễn; không phải điều bị áp đặt bởi người khác; cũng không phải là một học thuyết quá phức tạp. Học thuyết Xã hội là một tri thức mở.”

Ông Ernesto Preziosi, người nhiều năm giữ chức giám đốc quan hệ đối ngoại (quản lý vùng sở tại của đại học) tại Đại học Công giáo Thánh Tâm ở Milan, nhấn mạnh rằng trọng tâm của học thuyết xã hội Công giáo chính là “việc loan báo Tin Mừng.”

Ông Preziosi xác định có bảy giai đoạn trong tiến trình phát triển của học thuyết xã hội.

Giai đoạn thứ nhất bắt đầu từ Rerum Novarum vào những năm 1920 và 1930, khi giáo huấn xã hội trở thành đặc quyền của một phong trào mang tính bình dân hơn, và tiếp theo là giai đoạn nảy sinh vào cuối Thế chiến thứ hai, với một hình thái giáo huấn xã hội mới, và cũng va chạm với sự tiến hóa của chủ nghĩa xã hội.

Sau đó là giai đoạn thứ tư, giai đoạn của Công đồng Vatican II, bởi vì, ông Preziosi nói, “Đức Gioan XXIII và Đức Phaolô VI đã thay đổi phương pháp phát triển học thuyết xã hội: đi từ phương pháp diễn dịch sang phương pháp quy nạp.”

Giai đoạn thứ năm diễn ra sau Công đồng và là giai đoạn rất tế nhị, bởi vì “Công đồng mở ra một viễn cảnh mới; Công đồng nhìn nhận sự thay đổi trong phương pháp.” Ngay trong các cuộc tranh luận tại công đồng, việc sử dụng thuật ngữ “học thuyết” đã bị tranh cãi, và người ta bắt đầu nói đến một cách giải thích tự do hơn.

Với Đức Bênêđictô XVI – đây là giai đoạn thứ sáu – “cuộc tranh luận khép lại, vì sự khủng hoảng của các hệ tư tưởng đã nhường chỗ cho một lối tư duy duy nhất,” ông Preziosi giải thích. Chủ nghĩa nhân văn mới, vốn đã hiện diện trong tư tưởng của Thánh Gioan Phaolô II, được nhấn mạnh qua các thông điệp Laborem Exercens, Sollicitudo Rei SocialisCentesimus Annus, những văn kiện đã đưa chủ đề đạo đức xã hội trở lại trung tâm, nhằm vượt qua các ý thức hệ hiện thời.

Sau cùng, giai đoạn thứ bảy, với Đức Giáo hoàng Phanxicô, là giai đoạn của những biến chuyển xã hội lớn lao.

Thông điệp Magnifica Humanitas có khả năng sẽ mở ra một kỷ nguyên mới. Văn kiện này hướng tầm nhìn tới một cuộc cách mạng công nghiệp mới do trí tuệ nhân tạo khởi phát, tới những mất cân bằng toàn cầu phát sinh từ sự phân bổ lao động mới, và tới một thế giới mới mà Giáo hội được mời gọi phải đưa ra câu trả lời. Đây có thể không phải là thông điệp xã hội duy nhất của Đức Lêô XIV, nhưng sẽ là một điểm khởi đầu rất đáng để dõi theo.


[Nguồn: ncregister]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 23/05/2026]


Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2026

Tiếp kiến các tham dự viên cuộc họp các điều phối viên của những Hiệp hội giáo dân, các Phong trào Giáo hội và Cộng đoàn mới, do Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống tổ chức, 21.05.2026

Tiếp kiến các tham dự viên cuộc họp các điều phối viên của những Hiệp hội giáo dân, các Phong trào Giáo hội và Cộng đoàn mới, do Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống tổ chức, 21.05.2026

Tiếp kiến các tham dự viên cuộc họp các điều phối viên của những Hiệp hội giáo dân, các Phong trào Giáo hội và Cộng đoàn mới, do Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống tổ chức, 21.05.2026

*******

Sáng nay, tại Hội trường Thượng Hội đồng mới, Đức Thánh cha Lêô XIV đã tiếp kiến các tham dự viên cuộc họp thường niên của các điều phối viên những Hiệp hội giáo dân, các Phong trào Giáo hội và Cộng đoàn mới, do Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống tổ chức, diễn ra từ ngày 21 đến ngày 22 tháng 5 năm 2026.

Sau đây là diễn văn của Đức Thánh cha trước những người hiện diện trong buổi gặp gỡ:


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.
Bình an cho anh chị em!

Anh chị em thân mến, chào tất cả anh chị em!

Thật là niềm vui lớn khi được gặp gỡ anh chị em sáng nay, để chia sẻ đôi lời, cùng một vài suy tư, nhưng trên hết là để cùng nhau suy nghĩ về tầm quan trọng của những đặc sủng của Chúa Thánh Thần, đặc biệt trong những ngày cận kề lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống này.

Tôi rất vui mừng được một lần nữa chào đón anh chị em trong năm nay, khi cuộc họp của anh chị em bắt đầu. Anh chị em đang đảm nhận những trách vụ lãnh đạo ở cấp độ quốc tế trong nhiều tổ chức giáo dân khác nhau, và anh chị em đã được Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống mời gọi nhằm củng cố những mối dây hiệp thông giữa anh chị em, đồng thời cùng nhau suy tư về chủ đề quản trị một cộng đoàn giáo hội.

Trong mọi thực thể xã hội, luôn cần có những con người và cơ cấu thích hợp để hướng dẫn và điều phối đời sống chung. Xét từ nguồn gốc, thuật ngữ “quản trị” quy chiếu về hành động “cầm lái”, “điều khiển một con tàu”. Vì thế, đây là việc xác định một hướng đi vững chắc, để cộng đoàn có thể trở thành nơi phát triển cho những người thuộc cộng đoàn. Vì thế, trong Giáo hội cũng vậy, có những người được trao phó trách vụ quản trị.

Tuy nhiên, trong Giáo hội, việc quản trị không đơn thuần phát sinh từ sự cần thiết của việc điều phối nhu cầu tôn giáo của các thành viên. Giáo hội được Đức Kitô thiết lập như một dấu chỉ trường tồn cho ý muốn cứu độ phổ quát của Người, và là nơi, theo thánh ý Thiên Chúa, để mọi người thuộc mọi thời đại có thể đón nhận những hoa trái của ơn Cứu chuộc và cảm nghiệm đời sống mới mà Đức Kitô ban cho chúng ta. Theo nghĩa này, bản chất của Giáo hội mang tính bí tích: Giáo hội vừa có chiều kích hữu hình và định chế với những cơ cấu của mình, đồng thời cũng là dấu chỉ hữu hiệu của sự hiệp thông, nhờ đó chúng ta được tham dự vào chính sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa.

Những đặc tính riêng biệt này của Giáo hội tất yếu cũng phải hiện diện trong việc quản trị của Giáo hội, việc không bao giờ đơn thuần chỉ mang tính kỹ thuật; trái lại, tự bản chất, nó mang định hướng cứu độ, nghĩa là phải được định hướng đến lợi ích thiêng liêng của các tín hữu. Thật vậy, Thánh Phaolô đã xếp việc này vào hàng các đặc sủng, ngài viết: “những người được ơn làm phép lạ, được những đặc sủng để chữa bệnh, để giúp đỡ người khác, để quản trị, để nói các thứ tiếng lạ” (1 Cr 12:28).

Với những tiền đề ấy, giờ đây chúng ta hướng sự chú ý đến các hiệp hội giáo dân và các phong trào giáo hội. Ở đây, việc quản trị thường được ủy thác cho giáo dân và diễn tả sự tham dự vào munus (chức vụ vương đế) của Đức Kitô nhận được qua Bí tích Rửa tội. Việc quản trị này là để phục vụ các tín hữu khác và đời sống của hiệp hội, và là hoa trái của những cuộc bỏ phiếu tự do, điều cần được hiểu như một biểu hiện của việc phân định chung: cho phép tiếng nói của mọi người được bày tỏ một cách tự do.

Như chúng ta đã nói, nếu việc quản trị là một ân ban đặc biệt của Chúa Thánh Thần, mà các thành viên của cộng đoàn nhận biết nơi một số anh chị em cùng chung đức tin, thì ít nhất có ba hệ quả phát sinh từ đây. Thứ nhất là việc quản trị phải mang lại lợi ích cho mọi người (cf. 1 Cr 12:7), nghĩa là để mưu cầu thiện ích cho cộng đoàn, cho hiệp hội và cho toàn thể Giáo hội. Do đó, việc quản trị không bao giờ được phép bị khai thác cho các lợi ích cá nhân hoặc các hình thức danh vọng và quyền lực theo kiểu thế gian. Hệ quả thứ hai là việc quản trị không bao giờ được áp đặt từ trên xuống, nhưng phải là một ân ban được cộng đoàn nhận biết và đón nhận cách tự do; vì thế, các cuộc bỏ phiếu tự do có tầm quan trọng rất lớn để hiện thực hóa việc này. Hệ quả thứ ba, như mọi đặc sủng khác, là việc quản trị một hiệp hội cũng phải phục tùng sự phân định của các mục tử, là những vị có trách nhiệm giám sát tính xác thực và việc sử dụng đúng đắn các đặc sủng (x. Lumen gentium, 12; Iuvenescit Ecclesia, 9 và 17).

Một số đặc điểm luôn phải hiện diện trong việc quản trị: lắng nghe lẫn nhau, đồng trách nhiệm, minh bạch, sự gần gũi huynh đệ và phân định cộng đoàn (x. Diễn văn gửi các tham dự viên Tổng Tu nghị của Dòng Đạo binh Chúa Kitô, ngày 19 tháng 2 năm 2026). Thêm vào đó, tôi cũng muốn nhắc lại rằng “thay vì tập trung mọi sự vào riêng mình, việc quản trị tốt sẽ thúc đẩy nguyên tắc bổ trợ và sự tham gia có trách nhiệm của tất cả các thành viên trong cộng đoàn” (sđd.). Đây là những chỉ dẫn đơn giản, nhưng là những điều luôn phải được ghi nhớ trong khi thực thi quyền bính.

Các bạn thân mến, các hiệp hội và phong trào của các bạn có những nguồn gốc khác nhau, có lịch sử, căn tính và lý tưởng rất rõ rệt. Do đó, những người quản trị các tổ chức này đảm nhận một nhiệm vụ tế nhị: một mặt, họ được kêu gọi gìn giữ và phát huy ký ức về một di sản sống động; mặt khác, họ có một vai trò “ngôn sứ”, bao gồm việc lắng nghe những nhu cầu mục vụ hiện tại để hiểu cách đáp ứng trước những thách đố mới cũng như những cảm thức về văn hóa, xã hội và thiêng liêng của thời đại chúng ta. Thật vậy, chỉ bằng cách đó, chúng ta mới có thể là Kitô hữu, là môn đệ và là nhà truyền giáo trong xã hội và Giáo hội ngày nay. Do đó, một phần nhiệm vụ ngôn sứ của những người lãnh đạo là thúc đẩy sự rộng mở của hiệp hội hoặc phong trào — và của mỗi thành viên — trước các hoàn cảnh lịch sử. Quả thật, sự thuộc về trở nên chân thực và sinh hoa trái khi nó không chỉ giới hạn ở việc tham gia các hoạt động nội bộ của nhóm, nhưng còn biết đọc ra những dấu chỉ thời đại và hướng ra bên ngoài, hướng tới mọi người, hướng tới nền văn hóa đương thời và tới những cánh đồng truyền giáo còn chưa được khai phá.

Một yếu tố khác có tầm quan trọng sống còn là sự hiệp thông. Những người quản trị được đòi hỏi phải có một sự nhạy bén đặc biệt trong việc gìn giữ, phát triển và củng cố sự hiệp thông. Điều này áp dụng cả cho đời sống trong hiệp hội hoặc phong trào, và sự hiệp thông với các thực tại Giáo hội khác và với toàn thể Giáo hội. Những ai thực thi sứ mạng lãnh đạo trong Giáo hội phải học cách lắng nghe và đón nhận các ý kiến khác nhau, những định hướng văn hóa và thiêng liêng khác nhau, cùng những tính khí riêng khác nhau, luôn tìm cách gìn giữ lợi ích lớn hơn đó là sự hiệp thông, đặc biệt trong các quyết định cần thiết và thường là khó khăn. Điều này đòi hỏi một chứng tá về sự hiền hậu, từ bỏ cái tôi và có tình yêu vị tha đối với anh chị em và cộng đoàn, làm gương sáng cho mọi người.

Ở đây, tôi muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của chiều kích hiệp thông này với toàn thể Giáo hội. Đôi khi chúng ta thấy có những nhóm khép kín và nghĩ rằng thực tại riêng của họ là duy nhất, hoặc họ chính là Giáo hội, nhưng Giáo hội là tất cả chúng ta, Giáo hội rộng lớn hơn rất nhiều! Vì vậy, các phong trào của chúng ta phải nỗ lực sống hiệp thông thực sự với toàn thể Giáo hội, ở cấp giáo phận. Vì thế, Đức giám mục là một nhân vật quy chiếu rất quan trọng, và nếu một nhóm nói rằng: “Không, chúng tôi không hiệp thông với vị giám mục này, chúng tôi muốn một vị khác”, thì điều đó không thể chấp nhận được. Chúng ta phải cố gắng sống hiệp thông với toàn thể Giáo hội, ở cấp giáo phận cũng như ở cấp hoàn vũ.

Dưới ánh sáng này, chúng ta có thể hiểu rõ hơn ý nghĩa của sự trung thành với đặc sủng sáng lập, cấu thành một điểm quy chiếu không thể thiếu cho việc quản trị một cộng đoàn giáo hội. Mọi đặc sủng đích thực tự bản chất đã chứa đựng sự trung thành và rộng mở đối với Giáo hội. Do đó, quản trị cách trung thành với đặc sủng sáng lập có nghĩa là tìm kiếm nơi đặc sủng đó nguồn cảm hứng để mở lòng ra với hành trình mà Giáo hội đang thực hiện trong hiện tại, không cố thủ trong các mô hình của quá khứ — dù tích cực đến đâu — nhưng cho phép bản thân được chất vấn bởi các thực tại và thách đố mới, trong cuộc đối thoại với tất cả các thành viên khác của thân thể giáo hội.

Các bạn thân mến, cảm ơn tất cả các bạn và những gì các bạn đang thực hiện. Các hiệp hội tín hữu và các phong trào giáo hội là một ân ban vô giá dành cho Giáo hội. Có một sự phong phú rất lớn giữa các bạn: biết bao con người được đào tạo vững vàng và rất nhiều nhà loan báo Tin Mừng nhiệt thành; biết bao người trẻ và các ơn gọi đa dạng cho thiên chức linh mục và đời sống hôn nhân. Sự đa dạng của các đặc sủng, các ân ban và phương pháp tông đồ được phát triển qua nhiều năm cho phép các bạn hiện diện trong các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, đời sống xã hội và lao động, mang ánh sáng Tin Mừng đến khắp mọi nơi. Hãy trân trọng và, nhờ ân sủng của Thiên Chúa, hãy nuôi dưỡng tất cả những ân ban này! Giáo hội luôn nâng đỡ và đồng hành với các bạn.

Tôi ban phép lành cho anh chị em, và khẩn cầu Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Giáo hội, chuyển cầu cho tất cả anh chị em.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 22/05/2026]


Tiếp kiến các Đại sứ Bangladesh, Chad, Mauritius, Namibia, Rwanda, Sierra Leone, Sri Lanka và Yemen cạnh Tòa Thánh, nhân dịp trình Quốc thư, ngày 21.05.2026

Tiếp kiến các Đại sứ Bangladesh, Chad, Mauritius, Namibia, Rwanda, Sierra Leone, Sri Lanka và Yemen cạnh Tòa Thánh, nhân dịp trình Quốc thư, ngày 21.05.2026

Tiếp kiến các Đại sứ Bangladesh, Chad, Mauritius, Namibia, Rwanda, Sierra Leone, Sri Lanka và Yemen cạnh Tòa Thánh, nhân dịp trình Quốc thư, ngày 21.05.2026

*******

Sáng nay, tại Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh cha Lêô XIV đã tiếp kiến các Đại sứ của Bangladesh, Chad, Mauritius, Namibia, Rwanda, Sierra Leone, Sri Lanka và Yemen bên cạnh Tòa Thánh, nhân dịp họ trình quốc thư.

Dưới đây là diễn văn của Đức Thánh cha trước các tân Đại sứ:


Diễn văn của Đức Thánh cha


Kính thưa quý vị Đại sứ,
Thưa quý bà và quý ông,

Tôi thân ái chào mừng tất cả quý vị nhân dịp trình quốc thư ủy nhiệm quý vị làm Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền bên cạnh Tòa Thánh thay mặt cho quốc gia của quý vị: Sierra Leone, Bangladesh, Yemen, Rwanda, Namibia, Mauritius, Chad và Sri Lanka. Xin quý vị vui lòng chuyển lời chào trân trọng của tôi đến các vị Nguyên thủ Quốc gia của quý vị, cùng với sự bảo đảm về lời cầu nguyện của tôi dành cho các ngài và cho đồng bào của quý vị.

Tôi đặc biệt vui mừng được tiếp đón quý vị khi Giáo hội đang tiến gần đến Đại lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống, nhắc nhớ lại biến cố Chúa Thánh Thần ngự xuống trên các môn đệ, biến đổi nỗi sợ hãi thành lòng can đảm và sự chia rẽ thành hiệp nhất bằng cách ban ơn cho các ông nói được ngôn ngữ của tất mọi dân tộc. Tôi hy vọng rằng một viễn tượng tương tự về sự hiệp nhất có thể truyền cảm hứng cho thế giới ngoại giao, nơi các mối quan hệ mang tính xây dựng giữa các quốc gia được phát triển nhờ sự cởi mở chân thành, thúc đẩy sự tôn trọng lẫn nhau và ý thức chung về trách nhiệm.

Về phương diện này, tôi xin lặp lại lời kêu gọi tôi đã đưa ra trong Diễn văn trước các Thành viên Ngoại giao đoàn vào tháng Giêng năm nay. Trong một thời đại khi “hòa bình được tìm kiếm bằng vũ khí như một điều kiện để khẳng định quyền thống trị của mình”, thì nhu cầu cấp bách là phải trở lại với “một nền ngoại giao thúc đẩy đối thoại và tìm kiếm sự đồng thuận” ở mọi cấp độ — song phương, khu vực và đa phương. Cuộc đối thoại như vậy, “được thúc đẩy bởi việc chân thành tìm kiếm những con đường dẫn đến hòa bình”, đòi hỏi rằng ngôn từ một lần nữa phải diễn tả những thực tại rõ ràng, không có sự bóp méo hoặc mang tính thù nghịch. Chỉ khi đó, những hiểu lầm mới có thể được vượt qua và niềm tin mới được tái thiết trong bối cảnh của các mối quan hệ quốc tế.

Tuy nhiên, đối thoại lịch sự và rõ ràng, dù là điều thiết yếu, vẫn phải đi đôi với sự hoán cải nội tâm sâu sắc hơn: đó là sự sẵn sàng gạt bỏ các lợi ích riêng vì lợi ích chung. Không một quốc gia, không một xã hội, cũng không một trật tự quốc tế nào có thể tự nhận là công chính và nhân đạo nếu chỉ đo lường thành công của mình bằng quyền lực hay sự thịnh vượng, trong khi lại lãng quên những người sống bên lề. Thật vậy, tình yêu của Đức Kitô dành cho những người rốt hết và những người bị lãng quên thúc bách chúng ta gạt bỏ mọi hình thức ích kỷ khiến cho người nghèo và những người dễ bị tổn thương trở nên vô hình (x. Tông huấn Dilexi Te, ngày 4 tháng 10 năm 2025, số 9).

Tinh thần liên đới cho đi này phải trở thành động lực thúc đẩy cho sự phục vụ của các nhà ngoại giao, đồng thời củng cố các tổ chức quốc tế, nhằm tạo ra những không gian cho sự gặp gỡ và trung gian hòa giải. Các tổ chức này vẫn là những công cụ không thể thiếu để giải quyết các tranh chấp và thúc đẩy sự hợp tác. Trong thời điểm khi những căng thẳng địa chính trị tiếp tục làm phân mảnh thế giới của chúng ta nhiều hơn, cần phải làm cho các định chế này có tính đại diện nhiều hơn, hiệu quả hơn và hướng tới sự hiệp nhất của đại gia đình nhân loại.

Sự phục vụ của quý vị với tư cách đại sứ là một nhịp cầu nối quý giá của lòng tin và sự hợp tác giữa đất nước của quý vị và Tòa thánh. Tôi cầu nguyện để những nỗ lực chung của chúng ta sẽ góp phần làm sống lại cam kết đối với sự dấn thân song phương và đa phương, đồng thời giúp hướng sự chú ý đến những người thường bị lãng quên bên lề của các xã hội chúng ta. Bằng cách này, chúng ta có thể cùng nhau làm việc để đặt những nền móng vững chắc hơn cho một thế giới công bằng, huynh đệ và hòa bình hơn.

Khi quý vị đảm nhận các trọng trách mới của mình, tôi bảo đảm với quý vị về sự sẵn sàng hỗ trợ của Phủ Quốc vụ khanh, cùng với các Bộ thuộc Giáo triều Rôma.

Ước mong sứ mạng của quý vị góp phần củng cố đối thoại, đào sâu sự hiểu biết lẫn nhau, và đóng góp cho nền hòa bình mà thế giới chúng ta đang hết sức cần đến. Tôi khẩn cầu muôn phúc lành của Thiên Chúa tuôn đổ trên quý vị, trên những người thân yêu của quý vị, và đất nước mà quý vị đại diện, tin tưởng rằng Người sẽ hướng dẫn và nâng đỡ quý vị trong sứ mạng cao quý của mình. Xin chân thành cảm ơn quý vị!


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 22/05/2026]


Cuộc gặp gỡ giữa Đức Thánh cha Lêô XIV và Đức Thượng phụ Aram I, Giáo hội Armenia Tông truyền – Toà Thượng phụ Cilicia, Lebanon, 18.05.2026

Cuộc gặp gỡ giữa Đức Thánh cha Lêô XIV và Đức Thượng phụ Aram I, Giáo hội Armenia Tông truyền – Toà Thượng phụ Cilicia, Lebanon, 18.05.2026

Cuộc gặp gỡ giữa Đức Thánh cha Lêô XIV và Đức Thượng phụ Aram I, Giáo hội Armenia Tông truyền – Toà Thượng phụ Cilicia, Lebanon, 18.05.2026

*******
Sáng nay, Đức Thánh cha Lêô XIV tiếp kiến Đức Thượng phụ Aram I của Giáo hội Armenia Tông truyền – Tòa Thượng phụ Cilicia, Lebanon.

Trong cuộc gặp gỡ, sau buổi hội đàm riêng và phần giới thiệu phái đoàn, Đức Thượng phụ Aram I và Đức Giáo hoàng Lêô XIV đã lần lượt đọc diễn văn của các ngài, tiếp đó là nghi thức tặng quà.

Sau cùng là giây phút cầu nguyện chung tại Nhà nguyện Urban VIII thuộc Điện Tông tòa Vatican.

Sau đây là diễn văn của Đức Thánh cha gửi đến Đức Aram I:

Diễn văn của Đức Thánh cha

Kính thưa Đức Thượng phụ, hiền huynh thân mến,

“Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giêsu Kitô ban cho anh em ân sủng và bình an.!” (Ep 1:2) Với lời chào của Thánh Tông đồ Phaolô, tôi hân hoan chào đón Đức Thượng phụ cùng các thành viên trong phái đoàn của ngài khi bắt đầu chuyến viếng thăm Giáo hội Rôma.

Có thể có một mối dây liên kết thiêng liêng nào lớn lao hơn giữa các Giáo hội của chúng ta ngoài Thánh Tông đồ Phaolô thành Tarsô, vị thánh sinh quán tại Cilicia, nơi đặt Tòa Thượng phụ của ngài, và đã lãnh nhận triều thiên tử đạo ngay tại chính Rôma này? Tôi xin phó thác chuyến hành hương đến Rôma của các vị cho Thánh Phaolô, vị Tông đồ kiệt xuất của sự hiệp thông giữa các Giáo hội. Nhưng làm sao tôi có thể không nhắc đến các vị đại thánh của Hội thánh, những người đã dấn thân vì sự hiệp nhất Kitô giáo? Tâm trí tôi hướng về Thánh Nerses the Gracious, Thượng phụ của Cilicia, người có thể được xem là một vị tiên phong của phong trào đại kết – và việc ngài vừa được ghi danh vào Sổ bộ các Thánh Tử đạo Rôma gần đây là một minh chứng khác cho “tinh thần đại kết của các thánh”, đã liên kết các Giáo hội của chúng ta.

Tọa lạc tại nơi giao thoa của các dân tộc và nền văn hóa khác nhau, Toà Thượng phụ Cilicia từ lâu đã ghi dấu ấn đặc trưng bởi ơn gọi đại kết, nhất là trong mối tương quan với Giáo hội Rôma. Mối tương quan đặc biệt này giữa các Giáo hội của chúng ta, vốn phát triển sâu đậm trong thời Trung cổ, đã chứng kiến những bước tiến triển mới ở thế kỷ XX và nhất là sau Công đồng Vatican II.

Tôi luôn nhớ đến vị tiền nhiệm khả kính của ngài, Đức Thượng phụ Khoren I, là vị Thượng phụ đầu tiên của một Giáo hội Chính thống giáo Đông phương đến viếng thăm Rôma sau Công đồng, ngay từ tháng 5 năm 1967. Thưa Đức Thượng phụ, bản thân ngài cũng nổi bật với lòng nhiệt thành đại kết không mệt mỏi, cả ở cấp độ địa phương, với tư cách là một trong những vị sáng lập Hội đồng các Giáo hội Trung Đông, và ở cấp độ quốc tế trong khuôn khổ Hội đồng các Giáo hội Thế giới, nơi ngài đã đảm nhiệm nhiều trọng trách.

Tôi hết sức tri ân những nỗ lực của Đức Thượng phụ trong việc thúc đẩy mối quan hệ với Giáo hội Công giáo, cũng như sự gần gũi của hiền huynh với Giáo hội Rôma, nơi ngài đến viếng thăm lần đầu tiên trên cương vị Thượng phụ trong Tuần lễ Cầu nguyện cho sự Hiệp nhất Kitô giáo vào tháng Giêng năm 1997, và kể từ đó đã nhiều lần làm vinh dự cho chúng tôi bằng sự hiện diện của ngài.

Tôi đặc biệt cảm ơn Đức Thượng phụ vì sự dấn thân cá nhân trong việc thúc đẩy đối thoại thần học giữa các Giáo hội của chúng ta, một tiến trình đã được thực hiện từ năm 2003 trong khuôn khổ của Ủy ban Quốc tế hỗn hợp về Đối thoại Thần học giữa Giáo hội Công giáo và các Giáo hội Chính thống Đông phương. Cuộc đối thoại này, được hưởng lợi ích từ sự đóng góp quý báu của các đại biểu Armenia, đã công bố ba văn kiện có ý nghĩa quan trọng về bản chất và sứ mạng của Giáo hội, về sự hiệp thông trong Hội thánh sơ khai và về các bí tích. Tôi chân thành hy vọng rằng, dù có nhiều những khó khăn gần đây, cuộc đối thoại này sẽ tiếp tục với một sức sống mới, vì không thể có sự phục hồi hiệp thông giữa các Giáo hội của chúng ta nếu không có sự hiệp nhất trong đức tin.

Sự hiện diện của Đức Thượng phụ giữa chúng tôi gợi nhớ về đất nước quê hương thân yêu của ngài, và nơi tôi đã có niềm vui được viếng thăm vào tháng Mười Hai năm trước. Vùng đất Lebanon này, vô cùng thân thương với trái tim tôi, vốn từ lâu đã chứng minh cho toàn thế giới thấy rằng những con người thuộc các nền văn hóa và tôn giáo đa dạng hoàn toàn có thể cùng chung sống như một quốc gia duy nhất, hiện đang tiếp tục phải đối mặt với những thử thách nghiêm trọng. Trong thời điểm khi sự thống nhất và toàn vẹn của đất nước của ngài một lần nữa bị đe dọa, các Giáo hội chúng ta được kêu gọi thắt chặt hơn nữa những mối dây huynh đệ, không chỉ để liên kết các Kitô hữu với nhau, mà còn với những anh chị em thuộc các cộng đồng khác trên cùng một quê hương chung. Thưa Đức Thượng phụ, tôi xin bảo đảm với ngài về lời cầu nguyện hằng ngày của tôi, cũng như về mối quan tâm sâu xa mà tôi dành cho người dân Lebanon và cho các Giáo hội tại Trung Đông, là chủ đề mà Đức Thượng phụ sẽ dành riêng một hội nghị để suy tư trong thời gian lưu lại Rôma.

Trong những ngày hướng tới lễ trọng Chúa Thánh Thần Hiện xuống, khi chúng ta chuẩn bị sống lại mầu nhiệm và phép lạ của việc Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Giáo hội sơ khai, tôi thật cảm kích vì sau cuộc gặp gỡ này, tôi có thể cùng với Đức Thượng phụ cầu nguyện với Chúa Thánh Thần, là Chúa và là Đấng ban sự sống, để Người ban cho chúng ta ơn hiệp nhất, ban tặng cho chúng ta nền hòa bình bền vững, và canh tân bộ mặt trái đất.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 19/05/2026]