Thứ Năm, 18 tháng 6, 2026

Sứ điệp của Đức Thánh Cha Lêô XIV nhân Ngày Thế giới Ông bà và Người Cao tuổi lần thứ Sáu, 15.06.2026

Sứ điệp của Đức Thánh Cha Lêô XIV nhân Ngày Thế giới Ông bà và Người Cao tuổi lần thứ Sáu, 15.06.2026

Sứ điệp của Đức Thánh Cha Lêô XIV nhân Ngày Thế giới Ông bà và Người Cao tuổi lần thứ Sáu, 15.06.2026

Sau đây là toàn văn Sứ điệp của Đức Thánh Cha Lêô XIV nhân Ngày Thế giới Ông bà và Người Cao tuổi lần thứ sáu, sẽ được cử hành vào Chúa nhật thứ tư của tháng Bảy – năm nay là ngày 26 tháng Bảy – với chủ đề: “Ta sẽ không bao giờ quên ngươi” (Is 49:15):


Sứ điệp của Đức Thánh Cha

Ta sẽ không bao giờ quên ngươi (Is 49:15)

Anh chị em thân mến,

Qua ngôn sứ Isaia, Chúa hứa rằng Người sẽ không bao giờ quên bất cứ ai trong chúng ta. Người bảo đảm với chúng ta rằng Người đã ghi khắc khuôn mặt chúng ta trong lòng bàn tay của Người (x. Is 49:16), và tình yêu của Người còn lớn lao hơn tình yêu của người mẹ dành cho con mình (x. Is 49:15). Vị ngôn sứ cho chúng ta thoáng thấy một cuộc đối thoại thân mật và mãnh liệt, trong đó Thiên Chúa ngỏ lời với từng người một cũng như với toàn thể dân Người bằng những lời thân thương. Ngày nay, chúng ta vẫn có thể đọc những lời ấy như đang nói với chính mỗi người chúng ta, và mỗi người đều có thể nghe thấy lời: “Ta sẽ không bao giờ quên ngươi” được nói trực tiếp với mình.

Đây là những lời đổ đầy niềm an ủi và hy vọng trong chúng ta. Đó là câu trả lời cho một cảm giác đau đớn đang dày vò tâm hồn: “Đức Chúa đã bỏ tôi, Chúa Thượng tôi đã quên tôi rồi” (Is 49:14). Trong Kinh Thánh, đặc biệt là trong các Thánh vịnh, biết bao lần lời cầu nguyện bật lên từ nỗi tuyệt vọng của những người cảm thấy cuộc đời mình chẳng còn được ai quan tâm và đang bị bỏ mặc. Đáng tiếc thay, cảm giác đau đớn vì bị lãng quên ấy lại là tình trạng chung của rất nhiều người, và trong số đó có không ít người cao tuổi.

Tình yêu của Thiên Chúa, một tình yêu không quên bất cứ ai, tự hiến như một hành vi công bình và là câu trả lời cho tình trạng vô danh mà đời sống con người quá thường bị chìm lấp trong đó. Đặc biệt, cuộc sống của nhiều người cao tuổi dường như bị bao phủ bởi một tấm màn làm mờ đi những đường nét trên khuôn mặt họ và che phủ họ trong sự lãng quên. Đây là điều xảy ra trong những ngôi nhà nơi sự cô đơn ngự trị, và cả trong các cơ sở chăm sóc, nơi tính độc nhất của mỗi người có nguy cơ bị giản lược thành một con số của giường bệnh hay một căn bệnh.

Việc cử hành Ngày Thế giới Ông bà và Người Cao tuổi là cơ hội để tái khám phá rằng Giáo hội được kêu gọi để trở nên người mẹ của mọi người, và ở bất cứ độ tuổi nào chúng ta cũng luôn có thể nhận ra mình là những người con của Thiên Chúa. Vì thế, ước mong ngày này trở thành nguồn cảm hứng cho mọi người, đặc biệt là người trẻ, để làm sống lại thói quen tốt đẹp là đến thăm ông bà của mình, những người cao tuổi trong gia đình, và thậm chí cả những người không có ai đến thăm. Hãy mang đến cho họ, qua sứ điệp này và qua chính sự hiện diện của anh chị em, sự gần gũi và tình cảm của Đức Giáo hoàng. Hãy làm cho những lời của vị ngôn sứ: “Nhưng Ta sẽ không bao giờ quên ngươi” trở thành hiện thực qua một cuộc gặp gỡ dịu dàng và yêu thương. “Trong một kỷ nguyên chuộng tốc độ và sự phân mảnh, con người vẫn khao khát đón nhận sự chăm sóc và nhìn nhận từ những tâm trí đầy quan tâm, những lời nói chan hòa và những bàn tay có khả năng trao tặng sự dịu dàng. Nền văn hóa kỹ thuật số làm nhân lên các kết nối và mang lại những cơ hội tương tác mới; tuy nhiên, trái tim con người vẫn giữ một nhu cầu không thể xóa bỏ về sự gần gũi đích thực” (Thông điệp, Magnifica Humanitas, 239).

Giáo hội thấu hiểu những đau khổ của các thành viên cao tuổi của mình; Giáo hội biết rất rõ rằng họ quá thường xuyên bị nhìn qua lăng kính của những định kiến và bị coi là một gánh nặng; Giáo hội ý thức rằng một nền kinh tế chạy theo lợi nhuận làm suy yếu các mối ràng buộc gia đình; Giáo hội biết rằng nhiều người cao tuổi bị bỏ lại phía sau bởi những người con buộc phải di cư, hoặc trong một số trường hợp, phải tham gia trong các cuộc chiến tranh. Vì tất cả những lý do này, Giáo hội vui mừng loan báo lời hứa của Chúa: “Nhưng Ta sẽ không bao giờ quên ngươi!”

Thật là niềm vui ở bất cứ độ tuổi nào, nhưng đặc biệt khi chúng ta không còn trẻ nữa, để khám phá ra rằng, như Đức Gioan Phaolô I từng nói, chúng ta là những người đón nhận “tình yêu bất diệt của Thiên Chúa. Chúng ta biết rằng Người luôn dõi mắt nhìn theo chúng ta, ngay cả khi dường như bóng tối đang bao phủ. Người là cha chúng ta; hơn thế nữa, Người là mẹ chúng ta” (Kinh Truyền Tin, ngày 10 tháng 9 năm 1978). Dù việc suy nghĩ như thế có thể không đến theo cách tự nhiên, nhưng sự thật là ngay trong tuổi già chúng ta vẫn luôn là con cái; vì thế, lời mời gọi trở về trong vòng tay của Thiên Chúa – Đấng có tình yêu vừa mang tính phụ tử vừa là mẫu tử – vẫn luôn có giá trị ở mọi độ tuổi.

Đối với nhiều người, việc khám phá ra sự dịu dàng của Thiên Chúa diễn ra trong tiến trình cuộc đời của họ, đôi khi ngay cả ở những giai đoạn cuối cùng. Thật vậy, không như trong quá khứ, ngày càng có nhiều người bước vào tuổi già mà chưa từng có một kinh nghiệm đức tin đích thực. Trong những trường hợp như vậy, tuổi già – bắt đầu với những câu hỏi trở nên cấp bách hơn trong giai đoạn này của cuộc đời – có thể trở thành thời điểm thích hợp để bắt đầu hoặc nối lại một đời sống thiêng liêng. Trên hành trình mới ấy, người ta có thể nhận ra rằng Thiên Chúa, như thánh Augustinô nói, “là người mẹ vì Người âu yếm chăm sóc, vì Người nuôi dưỡng, vì Người cho bú mớm, vì Người che chở” (Chú giải Thánh Vịnh 27, II, 18). Đó là nhận thức giúp chúng ta không cảm thấy xấu hổ trước sự mong manh đang xuất hiện nơi mình, đồng thời hiểu rằng chúng ta luôn cần đến nhau và cần được quan tâm và chăm sóc. Giờ đây, chúng ta hãy hướng về Thiên Chúa, Đấng đến gần chúng ta và là Đấng chúng ta học cách nhận biết qua sự dịu dàng của Người, với niềm tín thác của những người con trong lời cầu nguyện. Không bao giờ là quá muộn để bắt đầu hướng về Người. Đó có thể trở thành một món quà lớn lao cho tất cả mọi người.

Ông bà cao niên thân mến, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói về ông bà như một “dân tộc mới” (Tiếp kiến chung, ngày 23 tháng 2 năm 2022), bởi lẽ số lượng người cao tuổi chưa bao giờ đông đảo như thế trong lịch sử nhân loại. Vì thế, điều quan trọng hơn bao giờ hết là cùng với ông bà, với “dân tộc mới” này, suy tư về ơn gọi của chúng ta khi sự mong manh – người bạn đồng hành của con người ngay từ lúc chào đời – dường như đang chế ngự. Tôi muốn nói với ông bà rằng: đừng sợ sự mong manh! Chính sự yếu đuối ấy lại chứa đựng trong nó một tiềm năng mới soi sáng cả những giai đoạn khác của cuộc đời. Thật vậy, khi “chúng ta nhìn nhận sự mong manh của mình, trái tim chúng ta mở ra để nâng đỡ nhau và để khẩn cầu với Đấng có thể ban tặng điều mà không một quyền lực nhân loại nào có thể bảo đảm: sự hòa giải sâu sắc giữa các tâm hồn, và cùng với đó là nền hòa bình đích thực” (Gặp gỡ cộng đồng Algeria tại Vương cung Thánh đường Đức Mẹ Châu Phi, Alger, ngày 13 tháng 4 năm 2026).

Đây là cách chúng ta có thể sống tuổi già của mình như những Kitô hữu: vừa “mong manh” nhưng đồng thời lại "được kêu gọi”. Thật vậy, một người nam và một người nữ có thể được sinh lại một lần nữa trong tuổi già (x. Ga 3:4-6) và thốt lên cùng vị ngôn sứ: “Giả như các ngươi trở lại và ở yên, hẳn các ngươi đã được cứu thoát; giả như các ngươi bình tĩnh và tin tưởng, ắt các ngươi đã nên hùng mạnh” (Is 30:15). Sức mạnh này có thể trở thành lời kêu gọi không tìm đến những con đường của kiêu ngạo và quyền lực để bảo đảm sự chung sống của con người, nhưng là những con đường của hòa giải và hòa bình đích thực. Trong thời đại này, một thời đại bị ghi dấu nặng nề bởi bạo lực của chiến tranh và bất ổn xã hội, nhiều người tự hỏi thế giới mà con cháu họ lớn lên sẽ như thế nào. Các bạn thân mến, tôi kêu gọi các bạn hãy cùng tôi cầu nguyện tha thiết để hòa bình sớm đến với toàn thế giới.

Anh chị em cao tuổi thân mến, tôi cảm ơn anh chị em vì nâng đỡ tôi mỗi ngày bằng những lời cầu nguyện, đặc biệt khi anh chị em lần chuỗi Mân Côi. Tôi xin chân thành đáp lại với lòng biết ơn và gửi đến anh chị em lời nguyện này: xin Chúa luôn đổi mới chúng ta trong đức tin, đức cậy và đức mến – Người là Đấng không bao giờ quên chúng ta!

Vatican, ngày 15 tháng 6 năm 2026

LÊÔ PP. XIV


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 17/06/2026]


SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV NHÂN NGÀY THẾ GIỚI NGƯỜI NGHÈO LẦN THỨ MƯỜI

SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV NHÂN NGÀY THẾ GIỚI NGƯỜI NGHÈO LẦN THỨ MƯỜI


SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV NHÂN NGÀY THẾ GIỚI NGƯỜI NGHÈO LẦN THỨ MƯỜI

Chúa Nhật XXXIII Thường Niên, ngày 15 tháng 11 năm 2026

___________________________


Chúa là nơi ẩn náu của người nghèo (x. Tv 14:6)

1. Chúa là nơi ẩn náu của người nghèo (x. Tv 14:6). Những lời của Tác giả Thánh vịnh vạch ra cho chúng ta thấy con đường phía trước khi chuẩn bị cho Ngày Thế giới Người Nghèo lần thứ X. Một lần nữa, chúng ta cần trở về với Lời Chúa để tái khẳng định tầm quan trọng của người nghèo trong đời sống Giáo Hội. Những lời của Tác giả Thánh vịnh là chuẩn mực cho đời sống Kitô hữu vì chúng mặc khải dung nhan của Thiên Chúa và nhìn nhận sự nghèo khó của con người. Thật vậy, vào một thời điểm đầy bi kịch trong lịch sử — sự phá hủy Đền thờ Giêrusalem — dân chúng cảm thấy bị tước mất sự hiện diện của Thiên Chúa và trải qua cảnh khốn cùng chưa từng thấy cả về vật chất cũng như luân lý.

Qua mọi thế hệ, Lời này luôn xuất hiện với tất cả tính thời sự của nó. Ngay từ đầu, Lời đã cho thấy sự mâu thuẫn mà ngày nay chúng ta vẫn thường xuyên rơi vào. Thật vậy, nhận định đầu tiên là: “Kẻ ngu si tự nhủ: 'Làm chi có Chúa Trời!' Chúng đã ra hư đốn, làm những điều ghê tởm, chẳng có một ai làm điều thiện." (Tv 14:1). Lời này làm nổi bật sự tương phản giữa những người hành động khôn ngoan với những người, ngược lại, đi qua cuộc đời như thể không có điều gì vĩ đại hơn chính bản thân họ. Thật đáng buồn, chúng ta thấy rằng ngay cả ngày nay, sự bất công xã hội vẫn lan tràn, bắt nguồn từ sự hủ hóa ngạo mạn, vừa đáng lên án vừa mang tính phân biệt đối xử. Việc đánh mất ý thức về tính siêu việt trong đời sống hằng ngày không còn là việc phủ nhận trên lý thuyết về sự hiện diện của Thiên Chúa; trái lại, nó biểu lộ trong việc người ta không còn lưu tâm đến lòng nhân hậu và lòng thương xót của Người khi theo đuổi công lý cá nhân và xã hội.

Người nghèo là những người đầu tiên phải gánh chịu hậu quả, và không phải ngẫu nhiên mà số lượng họ đang gia tăng trong nhiều xã hội. Sự vắng bóng của Thiên Chúa không còn đặt con người bên cạnh nhau trong sự tôn trọng lẫn nhau, nhưng đặt người này lên trên người khác trong một mối tương quan thống trị và áp bức. Vì thế, một luận lý xúc phạm phẩm giá con người của sự lạm dụng và loại trừ được phơi bày rõ ràng; đó là luận lý đẩy con người ra bên lề và hạ nhục họ. Không chỉ các cá nhân mà cả những dân tộc cũng rơi vào tình cảnh ấy. Những lời của Thánh vịnh vẫn còn vang vọng chân thực: “Kẻ sống trên xương máu đồng bào Ta” (Tv 14:4).

2. Ngày nay, tiếng kêu đòi công lý của người nghèo bị dập tắt bởi vô số thủ đoạn ngày càng tinh vi, đến mức làm cho mọi nỗ lực lên tiếng đòi quyền lợi của họ trở nên vô vọng. Thế giới kỹ thuật số làm trầm trọng thêm những định kiến đối với họ và củng cố bức màn vô cảm bao phủ hoàn cảnh khốn cùng của họ. Người nghèo không còn lựa chọn nào khác ngoài việc kêu cầu lên cùng Thiên Chúa (x. Tv 34:7) và dâng lời than van của họ trước nhan Người, vững tin rằng họ sẽ được lắng nghe, bởi vì Thiên Chúa luôn trung tín và giàu lòng thương xót. Ngay cả ngày nay, những người bị áp bức, bị hạ nhục và không có khả năng tự vệ ngày càng xác tín rằng họ phải phó thác bản thân cho Thiên Chúa, với tràn đầy đức tin và hy vọng. Trong sự phó thác hoàn toàn ấy, ý thức về phẩm giá của chính mình lại nảy nở; họ nhận ra những người anh chị em để cùng chia sẻ những ước mơ của mình, và niềm hy vọng âm thầm trở thành hiện thực. Tìm chốn ẩn náu nơi Thiên Chúa nghĩa là tìm được sự bảo vệ đích thực và bền vững — điều mà những người quyền thế không thể bảo đảm và thường muốn khước từ.

Tuy nhiên, người nghèo lại có khả năng nhận ra điều thiết yếu hơn người khác, bởi họ sống bằng chính những điều thiết yếu. Giống như Đức Kitô hơn bất kỳ ai, họ nhận biết Thiên Chúa là nơi nương náu của mình, ngay cả khi hoàn cảnh dường như phủ nhận điều đó; và họ tràn đầy hy vọng vào công lý của Người, một công lý sẽ không trì hoãn. Trong màn đêm của tình trạng bỏ rơi và cô đơn, người nghèo “núp bóng Đấng Quyền Năng tuyệt đối” (x. Tv 91:1). Tất cả những ai sầu khổ, những ai chịu bất công và bị đối xử sai trái, những ai đang đau khổ và đau đớn, những ai cô đơn và không tìm thấy mục đích sống đều có thể tìm được nơi Chúa niềm an ủi và động lực mới.

3. Thiên Chúa là nơi ẩn náu của họ không đơn thuần là một lời hứa; điều đó đã trở thành hiện thực nơi con người của Đức Giêsu Kitô. Thiên Chúa cư ngụ giữa chúng ta qua mầu nhiệm Nhập Thể của Chúa Con, Đấng làm cho nơi nương náu mà chúng ta hằng mong đợi trở nên cụ thể và hữu hình. Chúa Giêsu Kitô thực sự là nơi ẩn náu của Thiên Chúa dành cho người nghèo. Nhờ sự vâng phục Chúa Cha, Người hạ mình xuống tận cùng, nơi có những người rốt hết trong số này hiện diện. Người đến với mọi người và ban cho mỗi người một nơi trú ẩn an toàn: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11:28). Nơi Đức Giêsu, Thiên Chúa không chỉ che chở nhưng còn chia sẻ thân phận nghèo khó của con người cho đến tận thập giá.

Người nghèo trong thời đại chúng ta là những người bị lãng quên và bị gạt ra bên lề: bị tước đoạt không chỉ tấm bánh ăn, mà cả tiếng nói và khuôn mặt. Ước mong họ gặp được Con Thiên Chúa, Đấng đến gần mọi người mà không bỏ quên bất cứ ai. Ước mong họ gặp được Người, trước hết nơi những người mang danh Kitô hữu. Trong Giáo Hội là Thân Thể của Người, chính Đức Giêsu trao ban bánh và tình bằng hữu; Người mang đến ánh sáng và mở ra chân trời hy vọng; Người gọi đích danh mỗi người và phục hồi phẩm giá cho tất cả. Đức Giêsu thành Nadarét là hồng ân Thiên Chúa ban cho người nghèo. Nơi Người, mọi lời hứa đều trở thành hiện thực. Với những ai thiếu nhà ở, việc làm, giáo dục, lương thực hay sức khỏe, một con đường mới được mở ra: chia sẻ như biểu hiện của Nước Thiên Chúa (x. Mt 5:3). Nỗi ám ảnh của những người tích lũy của cải cho riêng mình bị đối lại bởi sự kiên định của Thiên Chúa, qua chứng tá của những con người thật, mở rộng các tâm hồn và đón nhận tất cả vào trong tình yêu của Người.

4. Vì thế, trong Đức Kitô, chúng ta được mời gọi trở nên nghèo khó và trở thành nơi nương náu cho người nghèo. Cộng đoàn Kitô hữu không thể thờ ơ trước biết bao người hôm nay đang đứng ngoài cửa nhưng vẫn vô hình đối với những ai khép kín trong những bức tường của bản thân. Giáo Hội, tự bản chất, được mời gọi trở nên nghèo khó và là nơi ẩn náu cho người nghèo. Chúng ta đừng quên lời chú giải của thánh Augustinô về dụ ngôn người giàu có và anh Lazarô nghèo khổ: “Ngài giữ lại danh tính của người giàu cho riêng mình và nói cho chúng ta biết tên của người nghèo. Tên của người giàu luôn ở trên môi miệng mọi người, nhưng Thiên Chúa giữ lại cho riêng mình; tên người nghèo bị bỏ qua trong im lặng, nhưng Thiên Chúa đã tỏ lộ cho chúng ta biết. … Bạn sẽ chọn điều gì? Trở nên nghèo khó như Lazarô hay giàu có như người kia? Đừng để mình bị đánh lừa! Hãy nghe kết thúc của câu chuyện và nhận ra đâu là lựa chọn sai lầm” (Bài giảng 33A, 4).

Như tôi đã nhắc lại trong Tông huấn Dilexi Te: “Thiên Chúa dành sự ưu ái cho người nghèo: những lời hy vọng và giải phóng của Chúa trước hết được gửi đến họ. Vì thế, ngay cả trong sự nghèo khó hay yếu đuối của mình, không ai cảm thấy bị bỏ rơi. Và Giáo hội, nếu muốn trở thành Giáo hội của Đức Kitô, phải là một Giáo hội của các Mối phúc, một Giáo hội dành chỗ cho những người bé mọn và bước đi nghèo khó cùng với người nghèo, một nơi mà người nghèo có được vị trí ưu tiên” (số 21).

Một số câu hỏi tất yếu được đặt ra, và trong Ngày Thế giới Người nghèo lần thứ X này, chúng ta cần khẩn thiết cho phép những câu hỏi ấy vang vọng trong tâm trí và tâm hồn mình. Chúng ta có phải là dấu chỉ của một Thiên Chúa là nơi ẩn náu cho người nghèo không? Chúng ta có ý thức về sự nghèo khó của chính mình, và chúng ta có chọn nó thay vì sự giàu có bất chính không? Chúng ta có đến những nơi người nghèo đang sống, trải nghiệm tình trạng bị gạt ra bên lề của họ không? Chúng ta có lắng nghe những suy nghĩ và chia sẻ những hy vọng của họ không? Chúng ta có gọi tên họ với sự dịu dàng của Thiên Chúa không? Đức ái của chúng ta có khơi dậy và nâng đỡ trong họ niềm khát khao công lý và sự cứu chuộc không? Những câu hỏi này và nhiều câu hỏi khác đòi hỏi một cuộc xét mình nghiêm túc, để đánh giá xem chúng ta được kêu gọi phải làm nhiều hơn bao nhiêu nữa vì lợi ích của người nghèo và vì sự giải phóng của họ. Khi đó chúng ta sẽ thấy rằng chính người nghèo lại trở thành nơi ẩn náu cho những người khác. Kinh nghiệm nghèo khó làm cho họ đặc biệt nhạy bén với một tình liên đới được đổi mới trước những thách đố.

Thật vậy, tình yêu của Đức Kitô làm cho chúng ta được tham dự vào chính đời sống tình yêu của Thiên Chúa. Theo nghĩa này, người Kitô hữu được mời gọi không chỉ tìm nơi nương náu trong Thiên Chúa, mà còn trở thành nơi nương náu cho người khác trong Thiên Chúa, “không phân biệt giữa những người trợ giúp và những người được trợ giúp, giữa những người dường như trao tặng và những người dường như đón nhận, giữa những người nghèo khó và những người cảm thấy họ cống hiến thời gian, kỹ năng và sự giúp đỡ. Chúng ta là Giáo hội của Chúa, một Giáo hội của người nghèo, tất cả đều quý giá, tất cả đều là những cá nhân, mỗi người là một người mang theo Lời Thiên Chúa duy nhất. Mỗi người là một món quà cho người khác.” (Bài giảng, ngày 17 tháng 8 năm 2025).

5. Kỷ niệm tám trăm năm ngày qua đời của thánh Phanxicô Assisi thúc bách chúng ta nhớ lại việc ngài đã động lòng trắc ẩn thế nào trước những người ăn xin khi đến Rôma hành hương viếng mộ Thánh Tông đồ Phêrô. Để hiểu và cảm nhận nỗi đau khổ của họ, ngài đã cởi bỏ y phục của mình và đổi lấy bộ quần áo rách rưới của một người trong số họ, rồi ngồi xuống ăn xin và dành trọn ngày hôm ấy giữa những người nghèo với tâm hồn đầy niềm vui (x. Fonti Francescane, 1405–1406). Chúng ta mong muốn làm chứng rằng, ngay cả ngày nay, vẫn có thể sống cùng một niềm vui ấy bằng cách đặt mình vào hoàn cảnh của người nghèo và lắng nghe họ hơn là chỉ nói về họ. Những ai có Thiên Chúa là nơi ẩn náu của mình có được sự tự do để thực hiện những chọn lựa mang tính ngôn sứ, làm chứng rằng mọi sự đều có thể được tái hình dung từ gốc rễ, trong sự khiêm nhường và tình huynh đệ là những điều duy nhất có thể chữa lành một thế giới bị thương tổn bởi tính kiêu ngạo.

Tôi tin tưởng rằng Ngày Thế giới Người nghèo lần thứ X này sẽ là một bước tiến quan trọng trong việc tái khám phá khuôn mặt của biết bao anh chị em đang tìm chốn ẩn náu nơi Thiên Chúa và khao khát cảm thấy như đang ở nhà trong các cộng đoàn của chúng ta. Chúng ta hãy trung thành với Lời Chúa, Lời kêu gọi chúng ta hoán cải tâm hồn. Xin Đức Trinh nữ Maria chuyển cầu cho chúng ta, Mẹ là Đấng đã chiêm ngắm tình yêu của Thiên Chúa nơi thân xác bị đóng đinh của Con Mẹ, tình yêu làm cho kẻ đói nghèo được dư đầy và đuổi người giàu có trở về tay không (x. Lc 1:53).

Vatican, ngày 13 tháng 6 năm 2026, lễ nhớ Thánh Antôn Pađua.

LÊÔ PP. XIV


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 16/06/2026]


Kinh Truyền Tin ngày 14.06.2026. Đức Thánh Cha: “Nhìn bằng ánh mắt của Chúa Giêsu, ánh mắt biến đổi thực tại”

Đức Thánh Cha: “Nhìn bằng ánh mắt của Chúa Giêsu, ánh mắt biến đổi thực tại”

Huấn từ của Đức Thánh Cha trước giờ đọc kinh Truyền Tin

Kinh Truyền Tin ngày 14.06.2026. Đức Thánh Cha: “Nhìn bằng ánh mắt của Chúa Giêsu, ánh mắt biến đổi thực tại”


Vào lúc 12 giờ trưa hôm nay, Chúa nhật XI Thường niên, Đức Thánh Cha Lêô XIV xuất hiện tại cửa sổ phòng làm việc của ngài trong Điện Tông tòa Vatican để đọc kinh Truyền Tin cùng các tín hữu và khách hành hương quy tụ tại Quảng trường Thánh Phêrô.

Đức Thánh Cha suy niệm về bài Tin Mừng Chúa nhật liên quan đến sứ mạng của Giáo hội trong việc đem đức ái đến những nơi khốn cùng, đem hy vọng đến những nơi đau khổ, và đem niềm tin đến những nơi nghi nan.

Dưới đây là huấn từ của Đức Thánh Cha trước khi đọc kinh kính Đức Mẹ:


Huấn từ của Đức Thánh Cha


Anh chị em thân mến, chúc anh chị em Chúa nhật hạnh phúc!

Bài Tin Mừng hôm nay (Mt 9:36-10,8) trao cho chúng ta một món quà lớn, bởi vì bản văn này đưa tất cả những ai lắng nghe vào trong ánh nhìn của Chúa Giêsu. Đây là một trình thuật minh chứng cho sự chăm chú trong ánh mắt của Người, đồng thời cho chúng ta biết Người đang quan sát điều gì. Thật vậy, chúng ta đọc thấy rằng Đức Kitô, “thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng” (c. 36). Khi tự biến mình trở thành người anh em của chúng ta, Con Thiên Chúa nhìn vào con người, Người nhìn nhân loại: Người thấy sự áp bức đang đè nặng con người và bạo lực đang cướp đi sức lực của họ. Người thấy những vết thương của các cuộc chiến tranh và sự trống rỗng của chủ nghĩa tiêu thụ. Người thấy những khuôn mặt bị biến thành những chiếc mặt nạ, các gia đình bị tan vỡ bởi sự dữ, và những người trẻ bị lầm lạc bởi các lý tưởng giả tạo. Chúa Giêsu nhìn thấy và yêu thương. Người yêu thương và cùng đau khổ vì chúng ta, với chúng ta: lòng trắc ẩn của Người không chỉ diễn tả sự gần gũi huynh đệ, mà còn là một ý muốn cứu chuộc.

Thật vậy, Người thấu suốt tâm hồn chúng ta và chăm sóc nó; trước biết bao người như “bầy chiên không người chăn dắt” (c. 36), Đức Kitô tự hiến mình cho tất cả mọi người như vị Mục tử Nhân lành và, với tư cách là chủ mùa gặt, Người sai những người thợ gặt ra cánh đồng thế giới (x. c. 38). Công việc họ phải thực hiện là gì? Đó là đem niềm an ủi của Thiên Chúa đến cho những ai đau khổ; đem đức ái đến nơi khốn cùng, đem hy vọng đến nơi đau khổ, và niềm tin đến nơi có sự ngờ vực.

Tin Mừng nhắc đến tên của mười hai “người thợ” đầu tiên; họ là những môn đệ đã trở thành tông đồ, nghĩa là những nhà truyền giáo và những người rao giảng. Trong số đó có Simon gọi là Phêrô, người đứng đầu, và cả Giuđa Ítcariốt, người cuối cùng, để nhắc nhở chúng ta rằng người ta có thể theo Chúa Giêsu nhưng cũng có thể phản bội Người, nhưng Tin Mừng vẫn tiếp tục là lời sống động và chân thật cho mọi người. Tin Mừng vượt qua các thế kỷ vẫn luôn là một, luôn trẻ trung, mới mẻ và giải phóng: “Nước Trời đã đến gần” (Mt 10:7)! Vâng, Nước Trời đã đến gần vì nơi Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa trở thành người lân cận của mỗi người nam, người nữ, của mọi dân tộc và quốc gia. Khi Tin Mừng này được tuyên xưng và thực hành, sự dữ sẽ sụp đổ như một căn bệnh được chấm dứt (x. c. 8), như màn đêm nhường chỗ cho bình minh, như cái chết bị đánh bại bởi Đấng Phục sinh.

Như thế, ánh nhìn của Chúa Giêsu biến đổi thực tại: tràn đầy tình yêu, sáng kiến của Người làm phát sinh một dân mới là Hội thánh, được mời gọi tiếp tục sứ mạng của các Tông đồ: “Anh em đã được cho không thì cũng phải cho không như vậy” (c. 8). Đúng vậy, ân ban của Chúa Giêsu hoàn toàn nhưng không, bởi vì giá trị của nó vượt trên mọi thước đo: không thể nào là đáng được hưởng hay “mua” được ân ban đó. Ân sủng này là tên gọi tuyệt đẹp của lòng thương xót của Thiên Chúa, đến với chúng ta dù chúng ta ở bất cứ đâu, để dẫn đưa chúng ta về với Người. “Anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Mt 9:38).

Anh em thân mến, nhiệm vụ loan báo Tin Mừng được sinh ra từ ân ban của Thiên Chúa, hồng ân mà nơi Đức Kitô trở thành ơn tha thứ cho thế giới, trở thành sự phục vụ những người bé nhỏ và nghèo khó nhất, và trở thành sự dấn thân cho công lý. Chúng ta hãy xin sự trợ giúp của Đức Trinh nữ Maria, Đấng đầy ơn phúc, để chúng ta có thể đáp lại với niềm vui và lòng can đảm trước sứ mạng mà Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta.

_____________________________________________________


Sau kinh Truyền Tin

Anh chị em thân mến,

Trước hết, tôi xin dâng lên Chúa lòng tri ân vì chuyến Tông du mà Người đã cho phép tôi thực hiện đến Tây Ban Nha. Tôi xin cảm ơn người dân Tây Ban Nha đã đón tiếp tôi với lòng nhiệt thành và tận tâm; và cách riêng là Đức Vua. Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn trìu mến đến các giám mục, các cộng đoàn mà tôi đã đến thăm, và toàn thể Giáo hội tại Tây Ban Nha. Xin Thiên Chúa chúc phúc cho Tây Ban Nha!

Tôi cũng nhớ đến một số vị Chân Phước mới: các linh mục giáo phận Venceslao Drbola và Jan Bula, đến từ Moravia; cùng Jan Šwierc và tám bạn đồng hành, là các linh mục thuộc Dòng Salêdiêng Ba Lan. Tất cả các ngài đã được tôn phong Chân phước như những vị tử đạo, vì các ngài là nạn nhân của những cuộc bách hại bởi các chế độ độc tài vì lòng trung thành với Đức Kitô. Ngoài ra, hôm qua tại Mato Grosso, Brazil, Cha Nazareno Lanciotti, linh mục truyền giáo người Rôma cũng đã được tôn phong Chân phước; ngài cũng là một vị tử đạo, vì đã bảo vệ những người nghèo khổ nhất nhân danh Tin Mừng. Xin gương sáng và lời chuyển cầu của những chứng nhân dũng cảm này nâng đỡ sứ mạng của các linh mục và của toàn thể Giáo hội.

Tôi bảo đảm sự gần gũi của tôi với người dân Philippines đang đã bị ảnh hưởng bởi trận động đất mạnh xảy ra cách đây vài ngày. Tôi cầu nguyện cho những người đã qua đời và gia đình của họ, cho những người bị thương và cho tất cả những ai đang đau khổ vì tai ương này.

Và giờ đây, tôi gửi lời chào đến tất cả anh chị em, người Rôma và anh chị em hành hương đến từ nhiều quốc gia khác nhau!

Tôi chào các thành viên của Ủy ban Quốc tế về Đối thoại giữa Giáo hội các Môn đệ Chúa Kitô và Giáo hội Công giáo. Ước mong những suy tư của anh chị em giúp chúng ta ngày càng phát triển trong sự hiệp thông.

Tôi chào anh chị em hành hương đến từ Hoa Kỳ, đặc biệt là các tín hữu đến từ New Jersey và Trường Thánh Tâm Carrollton ở Miami, Florida. Cha chào các ứng viên lớp Thêm sức từ Bolgare, thuộc giáo phận Bergamo; cộng đoàn “Casa de Maria” (Nhà Đức Maria) — những người mà Đức Thánh Cha Phanxicô thường gọi là “giới trẻ của Đấng Vô Nhiễm” — và các nhóm giáo xứ Santa Maria delle Grazie và Santa Francesca Cabrini tại Rôma.

Tôi chúc tất cả anh chị em Chúa nhật hạnh phúc!


[Nguồn: exaudi]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 15/06/2026]