Thứ Tư, 24 tháng 6, 2026

SỨ ĐIỆP VIDEO CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIVNHÂN DỊP KỶ NIỆM NĂM MƯƠI NĂMCÁC HỘI NGHỊ GIỚI TRẺ MÙA HÈ STEUBENVILLEMÙA HÈ NĂM 2026, HOA KỲ

SỨ ĐIỆP VIDEO CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIVNHÂN DỊP KỶ NIỆM NĂM MƯƠI NĂMCÁC HỘI NGHỊ GIỚI TRẺ MÙA HÈ STEUBENVILLEMÙA HÈ NĂM 2026, HOA KỲ

SỨ ĐIỆP VIDEO CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV
NHÂN DỊP KỶ NIỆM NĂM MƯƠI NĂM
CÁC HỘI NGHỊ GIỚI TRẺ MÙA HÈ STEUBENVILLE
MÙA HÈ NĂM 2026, HOA KỲ

[Đại học Phanxicô Steubenville, Ohio, ngày 10–12 tháng 7 năm 2026]


_________________________________


Các bạn thân mến,

Cha rất vui mừng được gửi lời chào đến tất cả các bạn khi các bạn quy tụ tại nhiều địa điểm khác nhau để tham dự những Hội nghị Giới trẻ Mùa hè Steubenville trong năm đánh dấu kỷ niệm năm mươi năm những cuộc gặp gỡ này. Như các con biết, năm nay chúng ta cũng đang kỷ niệm tám trăm năm ngày Thánh Phanxicô qua đời. Vì sự kiện này được tổ chức bởi Đại học Phanxicô Steubenville, nên cha nghĩ thật thích hợp để suy tư về sứ điệp mà Thánh Phanxicô muốn gửi đến người trẻ hôm nay. Cha nghĩ ngài có thể nói với chúng ta về nhiều điều, nhưng đặc biệt là về sự bình an đích thực và niềm vui trọn hảo, vì những chủ đề này là một phần quan trọng trong cuộc đời của ngài. Nếu các con gặp Thánh Phanxicô trên các nẻo đường của thành Assisi vào thế kỷ thứ mười ba, có thể ngài sẽ nhìn các con cùng với một nụ cười hiền hòa, đầy yêu thương và nói: “Pace e bene”, nghĩa là “Bình an và thiện hảo”. Đó là cách Thánh Phanxicô thường chào mọi người, và lời chào ấy diễn tả một trong những khát vọng trong tâm hồn ngài. Chúng ta cũng hãy tự hỏi mình: tôi có ước mong bình an đích thực cho những người tiếp xúc với tôi không? Tôi có đối xử với người khác theo cách mang lại bình an cho họ không? Giờ đây, các con có thể nói rằng điều đó không phải luôn dễ dàng. Đôi khi, cách cư xử của chúng ta, ngay cả đối với những người mà chúng ta yêu thương nhất, lại có thể mang đến sự thất vọng và xung đột hơn là bình an. Chúng ta phải nhớ rằng Thánh Phanxicô có thể gieo rắc bình an không phải nhờ những nỗ lực riêng của ngài, nhưng bởi vì ngài mang trong mình nguồn mạch của sự bình an đích thực. Cha đã nhiều lần nhắc lại rằng bình an là một món quà của Thiên Chúa, một món quà mà chúng ta nhận được khi mời Chúa ngự vào tâm hồn mình. Khi ấy, chúng ta được mời gọi trở thành những khí cụ bình an của Người, đem bình an này đến cho gia đình, cộng đoàn, quốc gia của chúng ta và cho toàn thế giới. Vì thế, Cha mời gọi các con hãy tận dụng những giây phút thinh lặng trong kỳ đại hội này để khám phá sự bình an của Đức Kitô mà Người đã hứa ban cho các môn đệ của Người (x. Ga 14:27).

Thánh Phanxicô cũng được biết đến là một người rất vui tươi. Ngài vui sướng trước vẻ đẹp của công trình tạo dựng, trước lòng nhân hậu và lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, cũng như trước sự hoán cải của những người tội lỗi. Tuy nhiên, có lẽ các con sẽ ngạc nhiên khi biết cách ngài giải thích thế nào là niềm vui trọn hảo. Một buổi tối mùa đông, khi đang trên đường trở về Assisi cùng với Sư huynh Lêô, một trong những thành viên đầu tiên của Dòng Phanxicô, Thánh Phanxicô bắt đầu kể một danh sách dài những điều xem ra là “tốt đẹp” nhưng không dẫn đến niềm vui trọn hảo. Đến một thời điểm, Sư huynh Lêô cuối cùng phải thốt lên: “Thưa Cha Phanxicô, con xin cha dạy cho con biết thế nào là niềm vui trọn hảo!”. Trong câu trả lời của mình, thánh nhân đã mô tả một hoàn cảnh bi đát gồm việc phải chịu đựng giá lạnh, đói khát và bị khước từ – hoàn toàn trái ngược với điều người ta mong đợi – rồi nói thêm rằng nếu những khó khăn như thế được đón nhận với lòng kiên nhẫn, không oán thán và với tình yêu mến Thiên Chúa, thì “đó chính là niềm vui trọn hảo”.

Có thể chúng ta tự hỏi: liệu thực sự có thể có niềm vui trong những hoàn cảnh khó khăn như thế không? Điều đó chỉ có thể xảy ra nếu đời sống của chúng ta được đặt nền tảng trên mối tương quan với Thiên Chúa như một Người Cha đầy yêu thương. Thật vậy, niềm vui của Thánh Phanxicô – niềm vui mà Thánh Phanxicô đang nói đến – không thể tìm thấy nơi các thiết bị điện tử, trong việc dành hàng giờ trước màn hình hay liên tục lướt mạng xã hội không ngơi tay mỗi ngày. Những hoạt động này thường làm lãng phí thời gian quý giá lẽ ra có thể được sử dụng cho những giây phút cầu nguyện trong thinh lặng, vun đắp những tình bạn chân thực, dành thời gian chất lượng cho gia đình, tìm hiểu sâu xa hơn về đức tin của chúng ta, học tập hoặc chơi thể thao. Niềm vui cũng không bao giờ tìm được qua việc sử dụng ma túy, lạm dụng rượu bia, lối sống buông thả, những mối quan hệ hời hợt, sự ám ảnh về hình ảnh bản thân, hay bất cứ hành vi gây hại nào. Đáng ngạc nhiên là niềm vui ấy cũng không thể tìm thấy nơi của cải vật chất như sự giàu có, sắc đẹp, danh tiếng hay thậm chí là sức khỏe, vì một ngày nào đó chúng ta sẽ phải bỏ lại tất cả những điều này phía sau.

Chỉ có tình yêu của Thiên Chúa mới có thể ban cho chúng ta niềm vui đích thực và trọn hảo. Nếu chúng ta có niềm xác tín sâu xa rằng Thiên Chúa chăm sóc chúng ta như những người con yêu dấu của Người, thì chúng ta sẽ không xao động hay nản lòng, ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn. Nhiều người trong các con đã được nghe từ khi còn nhỏ rằng Thiên Chúa yêu thương các con. Nhưng các con có thực sự tin điều đó không? Các con thật quý giá trước mắt Thiên Chúa! (x. Is 43:4) Các con được Người yêu thương vô điều kiện! Các con có chắc chắn về điều ấy không? Nếu các con vun trồng mối tương quan tín thác với Người, qua việc cầu nguyện thường xuyên, qua việc lãnh nhận các bí tích, nếu các con phó thác bản thân trong tay Người, thì những lo âu, buồn phiền và cô đơn sẽ dần tan biến khi ân sủng của Người đổ đầy trong các con và khi tình yêu của Người đốt cháy tâm hồn các con. Đây chính là bí quyết để có thể đối diện với những hoàn cảnh thử thách bằng một nụ cười. Hãy mở lòng để khám phá thực tại này.

Vì vậy, sứ điệp của Thánh Phanxicô, và của cha, thật đơn giản: bình an đích thực và niềm vui trọn hảo là những ân ban từ Thiên Chúa đến khi chúng ta mở lòng ra với Người và tin tưởng vào quyền năng biến đổi của Người. Chúng ta có thể dâng lên Người điều gì để đáp lại tình yêu cao cả và những món quà quảng đại như vậy? Không có gì khác ngoài chính bản thân chúng ta! Hôm nay, Chúa cần những nhà truyền giáo để loan báo Lời cho những ai chưa biết Người; cần những người nam và người nữ thánh thiện để xây dựng các gia đình Công giáo đầy yêu thương; cần những linh mục để trở thành những người cha linh hướng và những thừa tác viên của các bí tích; đồng thời cần những tu sĩ nam nữ để trở nên chứng nhân cho niềm vui đích thực của vương quốc của Người. Nếu các con cảm nhận rằng Chúa có thể đang mời gọi mình bước vào một trong những ơn gọi này, đừng khép kín lòng mình hoặc quay lưng đi trong sợ hãi, nhưng hãy tiến lên một bước và thưa với Chúa rằng: “Dạ, con đây, xin sai con đi!” (Is 6:8). Đồng thời, đừng ngại nói về điều này với một ai đó, với một người bạn đáng tin cậy, một linh mục hay một nữ tu.

Cha chúc tất cả các con có một đại hội sinh hoa kết trái, và cầu nguyện cho các con trong những ngày này được đổ đầy tình yêu của Đức Kitô, cũng như được gặp gỡ những bạn trẻ khác, những người cũng khao khát dâng hiến trọn vẹn đời mình cho Người, và nhờ đó tìm được hạnh phúc đích thực. Phó thác tất cả các con cho sự chuyển cầu từ mẫu của Đức Mẹ, Đấng làm cho chúng ta vui mừng, cha hân hoan khẩn cầu những ơn lành của Chúa là sự bình an và sức mạnh tuôn đổ xuống trên mỗi người các con.

Và xin Thiên Chúa toàn năng chúc lành cho tất cả các con: ✠ nhân danh Cha, và ✠ Con, và ✠ Thánh Thần. Amen.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 21/06/2026]


Bốn thế kỷ phục vụ Tin Mừng: Cung điện Bộ Truyền bá Đức tin và Học viện Urbano

Bốn thế kỷ phục vụ Tin Mừng: Cung điện Bộ Truyền bá Đức tin và Học viện Urbano

Bốn thế kỷ phục vụ Tin Mừng: Dinh thự Bộ Truyền bá Đức tin và Học viện Urbano


Thứ Tư, 17 Tháng Sáu, 2026

Marie-Lucile Kubacki


Rôma (Hãng tin Fides) – “Dinh thự Bộ Truyền bá Đức tin (Palazzo di Propaganda Fide) không chỉ là một công trình kiến trúc của Rôma, nhưng trong suốt bốn thế kỷ qua, nơi đây còn hiện thực hóa sự dấn thân cụ thể của Giáo hội Công giáo Rôma trong việc loan báo Tin Mừng trên khắp thế giới”, Đức Hồng y Luis Antonio Gokim Tagle, Quyền Tổng trưởng Bộ Loan báo Tin Mừng, khẳng định như trên tại ngày hội thảo nghiên cứu với chủ đề: "Việc hiến tặng Dinh thự Bộ Truyền bá Đức tin: 1626–2026", diễn ra ngày 11 tháng 6 tại Học viện Giáo hoàng Urbanô “de Propaganda Fide” theo sáng kiến của Văn khố Lịch sử thuộc Bộ Loan báo Tin Mừng.

Từ sự hiến tặng của Đức ông Vives đến Bộ Loan báo Tin Mừng ngày nay

Trong bài phát biểu khai mạc, Đức Hồng y Tagle, Quyền Tổng trưởng Bộ Loan báo Tin Mừng, Phân bộ Phúc Âm hóa tiên khởi và các Giáo hội địa phương mới, đã liên kết lễ kỷ niệm bốn trăm năm ngày Dinh thự Ferratini được hiến tặng cho Bộ Truyền bá Đức tin với dịp kỷ niệm một trăm năm Học viện Urbanô được chuyển đến địa điểm hiện nay trên đồi Janiculum thành một tiến trình phát triển duy nhất, bắt đầu từ việc Đức Giáo hoàng Grêgôriô XV thành lập Thánh Bộ Truyền bá Đức Tin vào ngày 6 tháng 1 năm 1622. Đức Hồng y nói: “Tòa nhà này trước hết mang ý nghĩa lịch sử và tôn giáo, vì nó gắn bó mật thiết với công cuộc truyền bá đức tin và vì thế gắn liền với sứ mạng loan báo Tin Mừng. Cho dù có những suy tư thần học và những thay đổi trong tầm nhìn mục vụ diễn ra sau Công đồng Vaticanô II cũng như những cuộc cải cách từ các Hiệp ước, sứ mạng ấy vẫn tiếp nối công cuộc của Thánh Bộ nguyên thủy do Đức Grêgôriô XV thiết lập ngày 6 tháng 1 năm 1622.”

Đức Hồng y nói tiếp, “Trong hơn bốn thế kỷ, các Giáo hoàng đã cải tổ Giáo triều Rôma, và theo đó cũng cải tổ Thánh Bộ Truyền giáo, nhằm đáp ứng những nhu cầu không ngừng thay đổi của Giáo hội và thế giới. Cuộc cải tổ gần đây nhất là Tông hiến Praedicate Evangelium của Đức cố Giáo hoàng Phanxicô, qua đó thiết lập Bộ Loan báo Tin Mừng. Dưới sự hướng dẫn của Đức Giáo hoàng Lêô XIV, Bộ hiện đang hoạt động để loan truyền Tin Mừng trên toàn thế giới. Một trong hai phân bộ của Bộ, Phân bộ Phúc Âm hóa tiên khởi và các Giáo hội địa phương mới, vẫn đặt trụ sở tại ‘Dinh thự Bộ Truyền bá Đức tin’.”

Tòa nhà, trước đây mang tên Dinh thự  Ferratini, đã được Đức ông Juan Bautista Vives, một vị giám chức người Tây Ban Nha, dâng tặng cho Tòa Thánh ngày 1 tháng 6 năm 1626 với một điều kiện duy nhất: thành lập tại đây một học viện truyền giáo. Theo nguyện vọng của Đức ông Vives và theo văn kiện hiến tặng, tòa nhà này trở thành trụ sở của một học viện truyền giáo, được Đức Giáo hoàng Urbanô VIII chính thức thiết lập theo giáo luật vào ngày 1 tháng 8 năm 1627 qua sắc chỉ Immortalis Dei Filius. Theo các nghiên cứu hiện nay, học viện bắt đầu hoạt động vào năm 1633, một năm sau khi Đức ông Vives qua đời ngày 22 tháng 2 năm 1632. Cơ sở này được đặt tên là “Học viện Urbano de Propaganda Fide” và ngay từ đầu đã được định hướng đón nhận sinh viên thuộc mọi dân tộc và quốc gia, để họ có thể trở thành các nhà truyền giáo, những người rao giảng Tin Mừng và những người thiết lập các giáo hội địa phương. Cũng vào năm 1633, tòa nhà trở thành trụ sở chính thức của Thánh Bộ Truyền bá Đức Tin (Sacra Congregatio de Propaganda Fide).

Chân dung Đức ông Juan Bautista Vives

Hai phiên làm việc của Ngày Nghiên cứu được điều phối lần lượt bởi Giáo sư Pierantonio Piatti, Thư ký Ủy ban Giáo hoàng về Khoa học Lịch sử, và Linh mục Dòng Tên người Bồ Đào Nha Nuno da Silva Gonçalves, Giám đốc tạp chí La Civiltà Cattolica và Giáo sư tại Khoa Lịch sử và Di sản Văn hóa Giáo hội thuộc Đại học Giáo hoàng Grêgôriô. Chân dung Đức ông Vives là tâm điểm của nhiều tham luận, giúp mang lại những cái nhìn sâu sắc về nhân vật mà sự hiến tặng của ngài đã tạo nền tảng cho cả một cấu trúc định chế. Linh mục Flavio Belluomini, nhân viên lưu trữ Văn khố Lịch sử của Bộ Truyền bá Đức tin, đã chứng minh qua các tài liệu lưu trữ rằng kế hoạch thành lập một học viện truyền giáo bắt đầu được hình thành ngay trong những cuộc họp đầu tiên của Propaganda Fide vào tháng 1 năm 1622; đồng thời cho thấy tòa nhà của Đức ông Vives, cho dù có một cuộc tranh chấp kéo dài về quyền sở hữu Dinh thự Ferratini, dần dần được định hình là trụ sở của Thánh Bộ Truyền bá Đức Tin.

Đức ông José Jaime Brosel Gavila, Viện trưởng Nhà thờ Quốc gia Tây Ban Nha Santa Maria ở Monserrato tại Rôma và Viện trưởng Viện Lịch sử Giáo hội Tây Ban Nha, đã hoàn thiện bức chân dung ấy bằng cách đặt Đức ông Vives trong bối cảnh các mạng lưới chính trị và giáo hội đầu thế kỷ XVII. Đức ông nhận định: “Chúng ta đang đứng trước một nhân vật phi thường, có tầm quan trọng đặc biệt và sự phức tạp đáng ngạc nhiên; lịch sử con người của ngài và lịch sử Giáo hội vẫn cần một công trình tiểu sử phê bình thỏa đáng với vai trò của ngài trong lịch sử định chế truyền giáo của Giáo hội.” Ngài nói thêm: “Đức ông Vives từng là đại diện của Vua Philip III và của Tòa Pháp đình Tây Ban Nha; là đại sứ của Vương quốc Congo bên cạnh Tòa Thánh; nhiếp chính tại Rôma cho các Đại Công tước Hà Lan; đồng thời là giám chức của Thánh Bộ Truyền bá Đức tin non trẻ ngay từ những ngày đầu thành lập.”

Với tư cách là Viện trưởng Nhà thờ Quốc gia Tây Ban Nha, Đức ông Brosel cho biết ngài là “người gìn giữ phần mộ của Đức ông Vives”: theo di nguyện cuối cùng, Đức Giám mục Vives được an táng “không bia mộ trong khu cung thánh của chúng tôi”. Tuy nhiên, vị trí chính xác của ngôi mộ vẫn chưa được xác định; “ngay cả những cuộc khảo sát mới đây nhất bằng công nghệ radar cũng chưa thể giúp chúng tôi xác định được nơi đó.”

Với tư cách là Viện trưởng Viện Lịch sử Giáo hội Tây Ban Nha, ngài nói thêm rằng ngài tự xem mình “là người gìn giữ ký ức của ngài Vives theo một nghĩa nào đó”. Ngày 18 tháng 6 năm ngoái, một dự án nghiên cứu về Đức ông Juan Bautista Vives, do Giáo sư Francisco Juan Martín Rojas dẫn đầu, đã được giới thiệu tại trụ sở của Viện dưới sự chủ tọa của Đức Hồng y Tagle; những kết quả nghiên cứu ban đầu sẽ được trình bày tại một hội nghị dự kiến tổ chức vào tháng 12. Đức ông Brosel nhắc lại rằng Đức ông Vives “đã từng cố gắng thành lập một học viện đầu tiên gần Quảng trường Popolo nhằm hoán cải những người Tin Lành, một học viện thứ hai dành cho các linh mục triều muốn trở thành nhà truyền giáo, và học viện tại Dinh thự Ferratini là học viện thứ ba”. Ngài trích dẫn một lá thư cuối năm 1625 gửi Đức Giáo hoàng Urbanô VIII, trong đó Đức ông Vives tái diễn giải việc mua tòa nhà như một hành động phục vụ công cuộc truyền bá đức tin. Trong thư, Đức ông viết rằng ngài đã mua Cung điện Ferratini “để phục vụ việc truyền bá đức tin” và hy vọng dự án mới sẽ “gia tăng đáng kể số lượng tín hữu”, từ đó báo trước sự hình thành của Học viện Urbano tương lai. Theo Đức ông Brosel, cách tốt nhất để tôn vinh ký ức của Đức ông Vives là “tiếp tục nghiên cứu ngài với sự nghiêm túc khoa học, nhờ đó bảo vệ ngài khỏi sự lãng quên cũng như việc thêu dệt những huyền thoại, để chân dung của ngài có thể một lần nữa có vị trí xứng đáng trong lịch sử các tổ chức truyền giáo của Giáo hội”.

Học viện Urbano: cải tổ mà không làm mất đi căn tính

Liên quan đến Học viện Urbano, Cha Armando Nugnes, viện trưởng của học viện mô tả việc hiến tặng năm 1626 vừa là một hành vi pháp lý vừa là một cử chỉ thiêng liêng, được thúc đẩy bởi lòng nhiệt thành truyền giáo của Đức ông Vives và những cộng sự của ngài, với mục đích thành lập một “học viện giáo hoàng” dành riêng cho giới giáo sĩ truyền giáo. “Sự hiến tặng này trước hết là một biểu hiện cụ thể của lòng nhiệt thành truyền giáo của Đức ông Vives và tất cả những người chia sẻ dự án đầy tham vọng của ngài”, Cha giải thích, đồng thời nhấn mạnh rằng học viện được thành lập “như một loại học viện giáo hoàng dành cho các sứ vụ truyền giáo”, và chỉ từ năm 1641 trở đi mới được đặt dưới quyền tài phán của Thánh Bộ được thành lập năm 1622.

Cha Nugnes nhấn mạnh rằng, theo định nghĩa, chủng viện vừa là một cộng đoàn vừa là ngôi nhà, và nhắc lại rằng “chủng viện vừa là nhà, là gia đình, đồng thời là cộng đoàn”; và nòng cốt ban đầu của Dinh thự Ferratini đã được biến đổi về căn bản qua các thế kỷ nhằm đáp ứng nhu cầu của một cộng đoàn ngày càng phát triển. Tiến trình ấy đạt đến đỉnh điểm cách đây một thế kỷ với quyết định bắt đầu chuyển học viện lên đồi Janiculum, nơi khuôn viên mới được chính thức khánh thành vào năm 1931.

Đối với cha Nugnes, sự trùng hợp của các ngày kỷ niệm là việc hiến tặng và chuyển địa điểm là một dấu chỉ hùng hồn của sự liên tục “về pháp lý, thiêng liêng và vật chất” của Học viện Urbano. Ngài lưu ý rằng học viện có khả năng cải tổ các cấu trúc và chương trình đào tạo mà không bao giờ đánh mất căn tính của mình, khác với một số định chế khác của Rôma như Học viện Rôma. Ngài nhắc lại rằng Học viện Urbanô là một trong số rất ít cơ sở giáo dục mà từ đó đã sản sinh ra các định chế khác – như Đại học Urbaniana và các học viện khác của Bộ Truyền bá Đức tin – mà không “đánh mất căn tính và quyền tự chủ của chính mình”. Theo ngài, đây là một trường hợp duy nhất, đặc biệt khi so sánh với Học viện Rôma. Ngài nói thêm rằng, trong khuôn khổ khiêm tốn của mình, học viện đã và vẫn là “một sự phản chiếu sống động của Giáo hội luôn không ngừng canh tân, không phải để chạy theo những trào lưu của thời đại, nhưng để ngày càng trung thành hơn với mệnh lệnh truyền giáo của Chúa”. Vị viện trưởng mô tả cộng đoàn đa văn hóa và đa nghi lễ ngày nay như một nơi “mà ở đó người ta có thể trực tiếp cảm nghiệm rằng bản chất của sứ vụ nằm trong một sự trao đổi phong phú các ân ban: truyền giáo không bao giờ chỉ mang tính một chiều”. Trong đời sống hằng ngày của chủng viện, “tiếp cận truyền giáo chỉ có thể tồn tại trong đối thoại, như Công đồng Vaticanô II đã gợi mở và như Thánh Gioan Phaolô II đã khẳng định rõ ràng trong thông điệp Redemptoris missio”.

Dưới ánh sáng của truyền thống này, những cuộc cải tổ đang chờ đón Học viện Urbanô trong tương lai “không thể thực hiện nếu thiếu chiều kích hiệp hành”, bởi vì – như Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nhiều lần nhấn mạnh – “tính hiệp hành là con đường mà Thiên Chúa mong đợi nơi Giáo hội hôm nay”. Ngài khẳng định rằng bất kỳ sự điều chỉnh nào về cơ cấu, hình thức pháp lý và các vấn đề kinh tế đều phải “đặt cộng đoàn thực sự, với tất cả sự phong phú và những nhu cầu của nó, vào vị trí trung tâm”.

Khủng hoảng không gian và cuộc di dời đến “Ngọn đồi của sự tĩnh lặng”

Một trong những chủ đề trung tâm của ngày hội thảo là sự nhận thức chậm rãi nhưng không thể đảo ngược rằng cung điện của Borromini tại Quảng trường Tây Ban Nha không còn khả năng một mình gánh vác gánh nặng ngày càng lớn của Bộ Truyền giáo và một học viện không ngừng phát triển trong thế kỷ XX.

Cha Belluomini đã chứng minh mối liên kết chặt chẽ giữa Thánh Bộ và Học viện là yếu tố cốt lõi của dự án ban đầu: hai định chế này được hình dung như “hai cánh tay của Đức Giáo hoàng”, một cánh tay dành cho việc điều phối trung ương đối với các sứ vụ truyền giáo, cánh tay còn lại dành cho việc đào tạo các linh mục được sai đến ad gentes (các dân tộc). Dựa trên hồ sơ từ cuối thế kỷ XIX, Luca Balducci từ Thư viện Đại học Urbaniana đã tái hiện lại những nỗ lực mở rộng liên tiếp nhưng thất bại — từ việc kết nối với một tòa nhà trên phố Via dei Due Macelli đến kế hoạch xây dựng một đường hầm ngầm giữa Cung điện Mignanelli và Bộ Truyền giáo, cho đến việc tìm kiếm các tòa nhà thay thế — và nhận định gay gắt từ một báo cáo năm 1924 mô tả các phòng ngủ tạm bợ, không gian chật hẹp cho 126 chủng sinh, và ô nhiễm tiếng ồn không ngừng từ các tuyến xe điện và giao thông.

Trong bối cảnh ấy, việc lựa chọn đồi Janiculum – nơi mà Martial và Giosuè Carducci ca ngợi như một “ngọn đồi của sự tĩnh lặng” nhìn xuống thành phố – xuất hiện không phải là một sự đặc sắc về thẩm mỹ, nhưng là câu trả lời cho nhu cầu về một nơi thích hợp hơn cho việc học tập, cầu nguyện và đời sống cộng đoàn, đồng thời mở ra một cuộc đối thoại thị giác đặc biệt với mái vòm của Đền thờ Thánh Phêrô. Ông Balducci mô tả chi tiết các cuộc thương lượng nhằm mua một phần khu bệnh viện cũ Santa Maria della Pietà, những cuộc đàm phán trung gian phức tạp với Học viện Bắc Mỹ liên quan đến việc phân chia khu đất Villa Gabrielli, những yêu cầu khảo cổ và địa kỹ thuật đối với khu vực phía bắc được giao cho cho Bộ Truyền giáo, cũng như cam kết tài chính của các giám mục Hoa Kỳ. Ông đặc biệt nhắc đến Đức Hồng y George B. Mundelein, Tổng Giám mục Chicago, người đã vay được một khoản tín dụng ngân hàng đáng kể để tài trợ cho trụ sở mới và Thư viện Tưởng niệm Mundelein, để lại một di sản vẫn còn hiện diện trong khu phức hợp Đại học Urbaniana ngày nay.

Kiến trúc như một sự diễn đạt thần học

Các bài thuyết trình về lịch sử nghệ thuật và kiến trúc đã chứng minh rằng lịch sử của Bộ Truyền giáo có thể được truy nguyên không chỉ trong các tài liệu lưu trữ mà còn trong đá và ánh sáng. Giáo sư Marisa Tabarrini (Đại học Sapienza, Rôma) đã trình bày sự chồng lớp kiến trúc của tòa nhà tại Quảng trường Tây Ban Nha: phần trung tâm Ferratini từ thế kỷ XVI, những can thiệp của kiến trúc sư Gaspare De Vecchi và Gian Lorenzo Bernini – với cánh nhà của học viện, hội trường và Nhà nguyện Ba Vua đầu tiên – và cuối cùng là cuộc tái thiết lớn của Borromini, với việc khép kín toàn bộ tòa nhà, tạo ra các hành lang hai tầng và triển khai những hệ thống tuần hoàn và chiếu sáng có mức độ tinh vi đáng kể.

Trong bài tham luận do cô Silvia Calogero đọc thay, Giáo sư Joseph Connors (Đại học Notre Dame) đã trình bày một bản vi lịch sử để dẫn chứng: sự chuyển đổi từ “nhà nguyện nhỏ” Ba Vua do Bernini thiết kế (1634, nhanh chóng được lấp đầy với lăng mộ của các đại ân nhân) sang “nhà nguyện lớn” của Borromini (1660–1667) trong bối cảnh những nhu cầu phụng vụ, tài chính và nội bộ. Lấy cảm hứng từ các mô hình của kiến trúc sư Giacomo della Porta, từ sự biến đổi của kiểu thức hình bầu dục và từ mái vòm gân nổi (ribbed vault), nơi Chúa Thánh Thần dường như ngự xuống qua kết cấu ánh sáng, giáo sư Connors minh họa điều mà ông gọi là “nghịch lý Borromini”: một kiểu kiến trúc dựa trên những chuyên luận lớn và trên các hình mẫu cổ điển lẫn hiện đại, nhưng lại hoàn toàn độc đáo.

Giáo sư Connors so sánh mặt tiền của “Dinh thự Bộ Truyền bá Đức tin” với mặt tiền do Bernini — người đương thời và là đối thủ của Borromini — thiết kế cho nhà thờ Sant’Andrea, và nhận xét: “Kiến trúc sư Bernini trình bày thời Phục hưng của ông; ông hướng đến người chiêm ngắm có học thức, những người nghĩ đến Cung điện các Tòa án (Palazzo dei Tribunali) của Bramante và Cung điện Thượng nghị sĩ (Palazzo Senatorio) trên đồi Capitoline. Ông tuân theo ý niệm về hệ thống phẩm trật bằng cách đặt các yếu tố chính trên một kết cấu cao hơn, trong khi kiểm soát không gian bằng những cánh nhà thấp hai bên, làm cho nó trở nên sống động với các bức tượng như các diễn viên trên sân khấu. Ngược lại, mặt tiền Bộ Truyền giáo của Borromini hoàn toàn khác biệt. Ông không đặt nó ở trên cao, mà đặt ở ngang tầm mắt của người qua đường. Ông không xác định đường chân trời bằng bức tượng, mà bằng một khung vòm cong. Người ta không cần phải lùi lại để chiêm ngắm nó; trái lại, chính khung cong đó uốn vào phía trong, kéo người xem đi dọc theo con phố. Bernini làm cho kiến trúc của mình trở nên sống động bằng những nhân vật như các diễn viên trên sân khấu. Còn Borromini, ngược lại, chọn một kiểu kiến trúc thuần khiết, nhưng vẫn tạo nên được hiệu quả đầy kịch tính.”

Môi trường thử nghiệm cho các vùng truyền giáo trong thế kỷ XXI

Qua các tham luận nối tiếp nhau, hội nghị đã phác họa một bức tranh mạch lạc: bức tranh về một tổng thể thống nhất – tòa nhà, thánh bộ và học viện – ngay từ đầu đã được hình thành như một “ngôi nhà giáo hoàng dành cho công cuộc truyền bá đức tin”, nơi luôn kết hợp sự quản lý tập trung các xứ truyền giáo và việc đào tạo phân cấp dành cho hàng giáo sĩ địa phương. Việc công bố một chương trình nghiên cứu kéo dài nhiều năm, được bổ sung bằng một ngày nghiên cứu mới vào tháng 12 về nguồn gốc của Bộ Truyền bá Đức tin và một hội nghị quốc tế vào năm 2027 để đánh dấu kỷ niệm 400 năm ngày thành lập Học viện Urbano, cho thấy Bộ Loan báo Tin Mừng tiếp tục kín múc từ di sản lịch sử phong phú này, vốn được nhìn nhận không phải như một di sản bất biến, nhưng như một công trình liên tục được xây dựng nhằm phục vụ sứ mạng của Giáo hội.

(Hãng tin Fides, 17/6/2026)


[Nguồn: fides.org]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 18/06/2026]