Đức Lêô XIV: “Thiên Chúa không bao giờ làm nhụt chí con người hay dập tắt tiềm năng của họ!”
Trong bài giáo lý ngày 4 tháng 2 năm 2026, Đức Thánh Cha suy tư về Hiến chế ‘Dei Verbum’ của Công đồng Vatican II và đưa ra lời kêu gọi khẩn thiết cho hòa bình tại Ukraine.
Tại buổi Tiếp kiến chung sáng nay được tổ chức trong Hội trường Phaolô VI, Đức Thánh Cha Lêô XIV tiếp tục loạt bài giáo lý về Công đồng Vatican II, tập trung suy tư về Hiến chế Tín lý Dei Verbum về Mặc khải Thiên Chúa. Trước hàng ngàn tín hữu, Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng Kinh Thánh phải được đọc trong sự nhìn nhận hai chiều kích: vừa mang tính thần linh, vừa mang tính nhân loại sâu sắc.
“Lời Thiên Chúa, được diễn tả bằng ngôn ngữ của loài người, đã trở nên giống như lời nói của con người, cũng như Ngôi Lời vĩnh cửu đã trở nên giống như con người,” ngài nhắc lại khi trích dẫn nguyên văn văn kiện Công đồng. Đức Thánh Cha khẳng định rằng Thiên Chúa là tác giả chính của Kinh Thánh, nhưng các tác giả thánh là “những tác giả đích thực,” chứ không phải là những khí cụ thụ động. Trong một khoảnh khắc nhấn mạnh cách đặc biệt, ngài thốt lên: “Thiên Chúa không bao giờ làm nhụt chí con người hay dập tắt tiềm năng của họ!”, bác bỏ mọi quan điểm trình bày ơn linh hứng của Thiên Chúa như là hủy bỏ sự tự do và khả năng sáng tạo của con người.
Đức Lêô XIV cảnh báo rằng việc đọc Kinh Thánh cách đúng đắn đòi hỏi sự chú tâm đến những bối cảnh lịch sử, văn hóa và văn chương của các bản văn. Bỏ đi những tiêu chuẩn này có thể dẫn đến chủ nghĩa chính thống cực đoan, phản bội ý nghĩa thực sự của Lời Chúa. Áp dụng giáo huấn này vào việc loan báo Tin Mừng hôm nay, ngài chỉ ra rằng nếu sứ điệp mất đi tính gắn kết với những đau khổ, hy vọng và thực tại cụ thể của con người, hoặc được diễn tả bằng ngôn ngữ lỗi thời, thì sứ điệp ấy sẽ trở nên vô hiệu. Nhắc lại lời của vị tiền nhiệm là Đức Phanxicô trong Tông huấn Evangelii Gaudium, ngài kêu gọi việc tái khám phá sự tươi mới của Tin Mừng qua những phương pháp sáng tạo và những cách diễn đạt mới mẻ, có khả năng chạm đến trái tim của thế giới đương đại.
Đức Thánh Cha nhắc nhở mọi người rằng Kinh Thánh không phải là một bản văn của quá khứ, mà là Lời hằng sống, đặc biệt trong Phụng vụ, giúp soi sáng đời sống hiện tại của các tín hữu. Trích lời Thánh Augustinô, ngài khẳng định: “Ai không xây dựng tình yêu Thiên Chúa và tha nhân trên nền tảng Kinh Thánh thì người ấy vẫn chưa hiểu Kinh Thánh.” Đây không đơn thuần là một thông điệp nhân ái, mà là việc loan báo về sự sống viên mãn và vĩnh cửu trong Đức Giêsu Kitô.
Kết thúc bài giáo lý, Đức Thánh Cha đưa ra lời mời gọi tha thiết: “Chúng ta hãy cảm tạ Chúa, vì với lòng nhân hậu của Người, Người đã không để đời sống chúng ta thiếu thốn lương thực thiết yếu là Lời Người; và chúng ta hãy cầu nguyện để lời nói của chúng ta, và hơn thế nữa là đời sống của chúng ta, không làm lu mờ tình yêu Thiên Chúa được thuật lại trong đó.”
Cuối buổi tiếp kiến, Đức Lêô XIV bày tỏ sự gần gũi với Ukraine, quốc gia đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi các đợt oanh kích mới nhắm vào cơ sở hạ tầng năng lượng giữa mùa đông giá rét. “Tôi động viên mọi người hãy nâng đỡ anh chị em chúng ta tại Ukraine bằng lời cầu nguyện, vì họ đang phải chịu đựng biết bao đau khổ do hậu quả của các cuộc oanh kích,” ngài nói, đồng thời cảm ơn cách đặc biệt các giáo phận Công giáo tại Ba Lan và các quốc gia khác vì những sáng kiến liên đới nhằm giúp đỡ người dân đối phó với cái lạnh khắc nghiệt.
Đức Thánh Cha cũng đề cập đến việc hết hạn của Hiệp ước New START, hiệp ước hạn chế vũ khí hạt nhân chiến lược giữa Hoa Kỳ và Nga, và lặp lại lời kêu gọi giải trừ quân bị và đối thoại: “Cần phải cấp bách thay thế luận lý của sự sợ hãi và mất lòng tin bằng một đạo đức chung hướng tới công ích, và làm cho hòa bình trở thành gia sản được tất cả mọi người bảo vệ.”
Toàn văn bài giáo lý:
__________________________
ĐỨC LÊÔ XIV
TIẾP KIẾN CHUNG
Thứ Tư, ngày 4 tháng 2 năm 2026
____________________
Giáo lý: Các Văn kiện của Công đồng Vatican II. I. Hiến chế Tín lý Dei Verbum. 4. Kinh Thánh: Lời Thiên Chúa trong lời loài người.
Anh chị em thân mến, chào anh chị em!
Hiến chế Công đồng Dei Verbum, mà chúng ta đang suy tư trong những tuần này, đã chỉ ra rằng Kinh Thánh, khi được đọc trong Truyền thống sống động của Giáo hội, là một không gian ưu tiên cho cuộc gặp gỡ, nơi Thiên Chúa tiếp tục nói với con người thuộc mọi thời đại, để nhờ việc lắng nghe, họ có thể nhận biết và yêu mến Người. Tuy nhiên, các bản văn Kinh Thánh không được viết bằng một ngôn ngữ thiên giới hay siêu nhân. Thật vậy, như cuộc sống thường nhật dạy chúng ta, hai người nói hai ngôn ngữ khác nhau thì không thể hiểu nhau, không thể đối thoại và không thể thiết lập một mối tương quan. Trong một số trường hợp, việc làm cho người khác hiểu được mình là hành động đầu tiên của tình yêu. Đó là lý do tại sao Thiên Chúa chọn nói bằng ngôn ngữ của con người, và do đó, nhiều tác giả khác nhau, được linh hứng bởi Chúa Thánh Thần, đã viết nên các bản văn Kinh Thánh. Như văn kiện Công đồng nhắc nhở, “lời của Thiên Chúa, được diễn đạt bằng ngôn ngữ loài người, đã trở nên giống như lời nói của con người, cũng như Ngôi Lời của Chúa Cha hằng hữu, khi mặc lấy xác phàm yếu đuối của con người, đã trở nên giống như con người” (DV, 13). Vì thế, không chỉ trong nội dung mà cả trong ngôn ngữ, Kinh Thánh mạc khải sự hạ mình đầy thương xót của Thiên Chúa đối với con người và mong muốn được gần gũi với họ.
Suốt dòng lịch sử Giáo hội, mối tương quan giữa Tác giả thần linh và các tác giả nhân loại của những bản văn thánh đã được nghiên cứu. Trong nhiều thế kỷ, nhiều nhà thần học đã quan tâm đến việc bảo vệ ơn linh hứng thần linh của Kinh Thánh, đến mức gần như coi các tác giả nhân loại chỉ là những khí cụ thụ động của Chúa Thánh Thần. Trong thời gian gần đây, suy tư đã đánh giá lại sự đóng góp của các tác giả thánh trong việc soạn thảo những bản văn thánh, đến mức văn kiện Công đồng gọi Thiên Chúa là “tác giả” chính của Kinh Thánh, nhưng cũng gọi các thánh sử là “những tác giả đích thực” của các sách thánh (x. DV, 11). Như một nhà chú giải lỗi lạc của thế kỷ trước đã nhận sát: “giảm thiểu hoạt động của con người xuống thành hoạt động của một người chép tay đơn thuần không phải là cách để tôn vinh hoạt động của Thiên Chúa”. [1] Thiên Chúa không bao giờ làm nhụt chí con người và tiềm năng của họ!
Vì thế, nếu Kinh Thánh là lời của Thiên Chúa trong lời của loài người, thì bất kỳ cách tiếp cận nào bỏ qua hoặc phủ nhận một trong hai chiều kích này đều là phiến diện. Do đó, việc giải thích đúng đắn các bản văn thánh không thể bỏ qua môi trường lịch sử trong đó chúng được hình thành và các thể loại văn chương đã được sử dụng; trái lại, khước từ việc nghiên cứu những lời của loài người mà Thiên Chúa đã dùng có nguy cơ dẫn đến những cách đọc Kinh Thánh theo lối chính thống cực đoan hoặc duy linh, phản lại ý nghĩa của Kinh Thánh. Nguyên tắc này cũng áp dụng cho việc loan báo Lời Chúa: nếu Lời ấy mất đi sự gắn kết với thực tại, với những hy vọng và đau khổ của con người, nếu một ngôn ngữ khó hiểu, thiếu tính truyền thông hoặc lỗi thời được sử dụng, Lời sẽ trở nên vô hiệu. Trong mọi thời đại, Giáo hội được kêu gọi trình bày lại Lời Chúa bằng một ngôn ngữ có khả năng nhập thể vào lịch sử và chạm tới tâm hồn con người. Như Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc nhở chúng ta: “Mỗi khi chúng ta nỗ lực trở về với nguồn mạch và tái khám phá sự tươi mới nguyên thủy của Tin Mừng, những con đường mới sẽ xuất hiện, những con đường sáng tạo mới mở ra, với những hình thức diễn đạt khác nhau, những dấu chỉ và lời nói hùng hồn hơn với ý nghĩa mới cho thế giới hôm nay”. [2]
Ngược lại, cũng là sự phiến diện không kém là cách đọc Kinh Thánh bỏ qua nguồn gốc thần linh và cuối cùng chỉ hiểu đó như một giáo huấn thuần túy con người, như một điều gì đó chỉ để nghiên cứu dưới góc độ kỹ thuật hoặc như một văn bản “chỉ thuộc về quá khứ”. [3] Thay vào đó, đặc biệt là khi được công bố trong bối cảnh phụng vụ, Kinh Thánh có mục đích nói với các tín hữu hôm nay, chạm đến cuộc sống hiện tại của họ với những vấn đề của nó, soi sáng các bước đi cần thực hiện và những quyết định cần đưa ra. Điều này chỉ có thể xảy ra khi các tín hữu đọc và giải thích các bản văn thánh dưới sự hướng dẫn của cùng một Thần Khí đã linh hứng cho các bản văn ấy (x. DV, 12).
Theo nghĩa đó, Kinh Thánh nuôi dưỡng đời sống và đức ái của các tín hữu, như Thánh Augustinô nhắc lại: “Bất cứ ai... nghĩ rằng mình hiểu Kinh Thánh... nhưng lại đưa ra một cách giải thích không dẫn đến việc xây dựng tình yêu với Thiên Chúa và với tha nhân, thì người ấy vẫn chưa hiểu Kinh Thánh như phải hiểu”. [4] Nguồn gốc thần linh của Kinh Thánh cũng nhắc nhở rằng Tin Mừng, được trao phó cho chứng tá của những người đã chịu phép Rửa, tuy bao trùm mọi chiều kích của đời sống và thực tại, nhưng vẫn vượt trên họ: không thể giản lược Tin Mừng thành một sứ điệp nhân ái hoặc xã hội thuần túy, nhưng là lời loan báo vui mừng về sự sống viên mãn và vĩnh cửu mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta trong Đức Giêsu.
Anh chị em thân mến, chúng ta hãy cảm tạ Chúa, vì với lòng nhân hậu của Người, Người đã không để đời sống chúng ta thiếu thốn lương thực thiết yếu là Lời Người; và chúng ta hãy cầu nguyện để lời nói của chúng ta, và hơn thế nữa là đời sống của chúng ta, không làm lu mờ tình yêu Thiên Chúa được thuật lại trong đó.
___________________________________________________________________
[1] L. Alonso Schökel, La parola ispirata. La Bibbia alla luce della scienza del linguaggio ( The Inspired Word. The Scripture in the Light of Language and Literature), Brescia 1987, 70.
[2] Francis, Apostolic Exhortation Evangelii gaudium (24 November 2013), 11.
[3] Benedict XVI, Post-synodal Apostolic Exhortation Verbum Domini (30 September 2010), 35.
[4] St. Augustine, De doctrina christiana I, 36, 40.
***
LỜI KÊU GỌI
Tôi kêu gọi mọi người hãy nâng đỡ anh chị em chúng ta tại Ukraine bằng lời cầu nguyện, vì họ đang phải chịu đựng biết bao đau khổ do hậu quả của các cuộc oanh kích. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn các giáo phận Công giáo tại Ba Lan và các quốc gia khác vì những sáng kiến liên đới nhằm giúp đỡ người dân đối phó với cái lạnh khắc nghiệt.
Ngày mai đánh dấu việc Hiệp ước New START, được ký năm 2010 giữa Tổng thống Hoa Kỳ và Liên bang Nga, chính thức hết hạn, từng đại diện cho một bước tiến quan trọng trong việc kiềm chế sự phổ biến vũ khí hạt nhân. Khi bày tỏ sự động viên đối với mọi nỗ lực mang tính xây dựng cho việc giải trừ quân bị và tin tưởng lẫn nhau, tôi khẩn thiết kêu gọi rằng công cụ này không bị bỏ rơi, mà không tìm cách bảo đảm sự tiếp nối cụ thể và hiệu quả. Tình hình hiện tại đòi hỏi mọi nỗ lực có thể để ngăn chặn một cuộc chạy đua vũ trang mới có khả năng đe dọa thêm nền hòa bình giữa các quốc gia. Hơn bao giờ hết, cần phải cấp bách thay thế luận lý của sự sợ hãi và mất lòng tin bằng một đạo đức chung hướng tới công ích, và làm cho hòa bình trở thành gia sản được tất cả mọi người bảo vệ.
_____________________________
Lời chào đặc biệt bằng tiếng Anh
Tôi chào mừng tất cả anh chị em hành hương và du khách nói tiếng Anh tham dự buổi Tiếp kiến hôm nay, đặc biệt là các nhóm đến từ Ireland, Đan Mạch, Nhật Bản, Hàn Quốc và Hoa Kỳ. Cách riêng, cha chào các học sinh đến từ Trường Trung học Junshin và các sinh viên cùng giảng viên từ Đại học Phanxicô Steubenville. Tôi khẩn xin niềm vui và bình an của Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta tuôn đổ xuống trên tất cả anh chị em và gia đình. Xin Chúa chúc phúc cho anh chị em!
[Nguồn: exaudi]
[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 5/2/2026]