Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2026

Cầu nguyện cho sự trở lại của nước Anh

Cầu nguyện cho sự trở lại của nước Anh

Giới thiệu ấn bản mới gồm những lời cầu nguyện của Đức Hồng y Nicholas Wiseman và một bài diễn văn của Đức Hồng y Herbert Vaughan, Đức ông John Armitage suy tư về quá khứ Công giáo của nước Anh và những dấu chỉ về một “mùa xuân thứ ba” của sự trở lại với đức tin có thể đang diễn ra.

Cầu nguyện cho sự trở lại của nước Anh

Chi tiết trang bìa quyển sách “Sự trở lại của nước Anh nhờ sức mạnh của lời cầu nguyện” (Ảnh: Catholic Truth Society)

2 tháng 11, 2026


CANTERBURY, Anh Quốc — Giữa lúc nước Anh đang chứng kiến những dấu hiệu hồi sinh của Công giáo, đặc biệt nơi giới trẻ, một quyển sách nhỏ mang tính thời sự vừa được xuất bản, với tựa đề Sự trở lại của nước Anh nhờ sức mạnh của lời cầu nguyện (The Conversion of England by the Power of Prayer).

Cuốn sách giới thiệu một bài diễn văn mang tính cột mốc về chủ đề này của Đức Hồng y Herbert Vaughan, Tổng Giám mục Westminster từ năm 1892 đến năm 1903. Sách cũng gồm những lời cầu nguyện cho sự trở lại của nước Anh được soạn bởi vị tiền nhiệm của ngài là Đức Hồng y Nicholas Wiseman, Tổng Giám mục Westminster từ năm 1850 đến năm 1865.

Những lời nguyện này từng được các chủng sinh tại Chủng viện Anh Quốc (Venerable English College) tại Rôma đọc mỗi ngày cho đến năm 1965, khi chúng được thay thế bằng các lời nguyện ngắn hơn cầu cho sự hiệp nhất Kitô giáo nhân dịp trước chuyến thăm lịch sử tới Roma của Đức Michael Ramsey, Tổng Giám mục Canterbury của Anh giáo. Quyển sách nhỏ này, do Hội Chân lý Công giáo (Catholic Truth Society) xuất bản, đóng vai trò như một lời hiệu triệu gửi đến các tín hữu nước Anh hãy loan báo Tin Mừng trên quê hương, là đất nước nổi tiếng được dâng hiến cho Đức Mẹ Our Lady’s Dowry (Phần Gia nghiệp của Mẹ).

Lời tựa cho hai văn bản được tái bản này được viết bởi Đức ông John Armitage, Bề trên Hội Đức Mẹ Chuộc tội (Guild of Our Lady of Ransom), một tổ chức Công giáo thúc đẩy công cuộc loan báo Tin Mừng và chào đón những người Công giáo tại Anh và xứ Wales đã xa rời Giáo hội trở về.

Trong cuộc phỏng vấn gần đây với Register, Đức ông Armitage, cha sở một giáo xứ ở Đông London và nguyên Giám đốc Đền thánh Đức Mẹ Walsingham, đã điểm lại lịch sử Công giáo phong phú của nước Anh để cho thấy đất nước này luôn mang căn tính Công giáo; đồng thời giải thích ý nghĩa và tầm quan trọng của tước hiệu Our Lady’s Dowry (Phần Gia nghiệp của Đức Mẹ), cũng như chia sẻ suy tư về lý do và cách thức một “mùa xuân thứ ba” của sự trở lại với đức tin có thể đang diễn ra.


Thưa Đức ông Armitage, ngài từng nói rằng nước Anh luôn là một quốc gia Công giáo, ngay cả trong và sau cuộc Cải cách. Đức ông có thể giải thích rõ hơn ý ngài muốn nói qua nhận định đó?

Dấu chỉ công khai đầu tiên của Kitô giáo tại đất nước này là cuộc tử đạo của Thánh Alban, vào khoảng năm 304. Alban là một người lính La Mã, và ngài đã gặp một linh mục Kitô giáo; điều đó trước hết cho chúng ta biết rằng vào thời điểm ấy đã có các linh mục Kitô giáo hiện diện tại Anh, và chúng ta biết rằng đức tin đã đến nước Anh trước hết thông qua sự chiếm đóng của người La Mã. Năm 314, Công đồng Arles [cuộc hội nghị đại biểu đầu tiên của các giám mục Kitô giáo ở Đế quốc Tây La Mã] đã diễn ra và có sự hiện diện của ba giám mục người Anh ở đó — ngài Eborius của York, ngài Restitutus của London, và ngài Adolphus của Colchester — điều này chứng minh cho sự hiện diện của Kitô giáo tại nước Anh thời La Mã.


Vậy tại sao Thánh Augustinô lại được sai đến để truyền giáo cho người Anh vào năm 597?

Đức Giáo hoàng Grêgôriô Cả đã sai các nhà truyền giáo đến nước Anh, bởi vì ở phía nam đất nước này khi đó chưa có những nhà truyền giáo vĩ đại như ở miền bắc. Lúc đó chưa có một nước Anh như chúng ta hiểu ngày nay; đó là Britannia, hay Britain, và chưa có một bản sắc chung nào, ngoại trừ việc gọi chung là Britain. Khi Thánh Augustinô đến miền nam xứ Britain, bao gồm cả Canterbury, dân chúng thờ nhiều thần khác nhau, và thần chính của người Anglo-Saxon thời bấy giờ là Woden.


Vậy đây chính là “mùa xuân thứ nhất” của sự trở lại của nước Anh, theo cách dùng từ của Thánh John Henry Newman?

Đúng vậy, mùa xuân thứ nhất của Giáo hội tại đất nước này bắt đầu với cuộc tử đạo của Thánh Alban; tiếp đến là sứ vụ truyền giáo vĩ đại của Thánh Augustinô và quá trình hình thành bản sắc của nước Anh. Và xin nhớ rằng những nơi đầu tiên góp phần lan tỏa đức tin chính là các đan viện. Đó là lý do tại sao chúng ta có các đan viện trên khắp đất nước này. Chính điều đó đã tạo nên mùa xuân thứ nhất của Kitô giáo tại đây, đưa chúng ta đến với mùa xuân thứ hai.


Tháng 3 năm 2020, ngay trước khi đại dịch COVID-19 bùng phát, nước Anh đã được tái dâng hiến cho Đức Mẹ Our Lady’s Dowry. Chính xác thì tước hiệu Our Lady’s Dowry có nghĩa là gì, và tại sao nó lại quan trọng?

Tước hiệu này có hai ý nghĩa. Một nghĩa là theo cách hiểu của lục địa châu Âu, trong đó của hồi môn (dowry) là món tài sản mà người phụ nữ mang đến cho chồng khi kết hôn. Nhưng đó không phải là trường hợp ở nước Anh. Tại Anh, dowry là tiền hoặc đất đai được dành riêng cho người phụ nữ trong trường hợp người chồng qua đời. Điều này hoàn toàn khác biệt. Nguồn gốc của nó có từ thời các cuộc Thập tự chinh, khi những người đàn ông ra đi và không bao giờ trở về, nhưng người ta không biết điều gì đã xảy ra với họ. Vì thế, dowry trở thành phần tài sản được dành riêng cho người mẹ. Đó là lý do tại sao ở nhiều nơi trên đất nước này, nếu đi về các làng quê, anh sẽ thấy những ngôi nhà được gọi là “dower house” (nhà hồi môn) thuộc về nữ chủ trang viên sau khi chồng bà qua đời. Bà sẽ rời ngôi nhà chính khi người thừa kế chuyển đến, rồi đến sống tại dower house của mình; và bà được gọi là “dowager” (quả phụ được thừa hưởng gia sản). Vì thế, tại Anh, tước hiệu Our Lady’s Dowry có nghĩa là đất nước này được dành riêng cho Mẹ Maria.


Đức ông có thể cho biết về “mùa xuân thứ hai”, tức công cuộc giải phóng Công giáo tại nước Anh?

Anh và tôi đều là sản phẩm của “mùa xuân thứ hai”. Các nhà thờ, trường học, đan viện và nữ tu viện của chúng ta đều là thành quả của mùa xuân thứ hai. Giới cầm quyền Anh từng cố gắng tiêu diệt mùa xuân thứ nhất, hoặc chuyển nó vào Giáo hội Anh giáo, nhưng mùa xuân thứ hai đã bắt đầu với Thượng Hội đồng Tỉnh Westminster đầu tiên vào năm 1852, và đó chính là thời điểm ngài Newman có bài giảng lừng danh về “mùa xuân thứ hai" từ tòa giảng ở Oscott, trong đó ngài nói: “Điều duy nhất tôi biết, đó là nhu cầu của chúng ta tới đâu, sức mạnh của chúng ta cũng sẽ tương xứng đến đó.”


Có thể nói rằng nhu cầu của chúng ta hiện nay lớn hơn bao giờ hết?

Đúng vậy, hoàn toàn chính xác. Điều đó đưa chúng ta đến với thế hệ hiện tại. Nhìn vào lịch sử đất nước này, chúng ta có thể thấy rằng không có gì đứng yên; lịch sử không đứng yên. Bài thánh ca Abide With Me có câu: “Con thấy sự đổi thay và suy tàn ở khắp xung quanh; lạy Chúa, Đấng không hề đổi thay, xin ở lại với con.” Đó chính là nền tảng cốt lõi của Công giáo. Cách duy nhất để bạn hiểu về Công giáo là không có gì thay đổi trong bản thể; mọi sự xung quanh mới thay đổi: lịch sử, văn hóa, chiến tranh, nạn đói, và bất cứ điều gì anh có thể kể ra — tất cả đều thay đổi. Tôi không làm một điều gì mới mẻ mỗi ngày; tôi làm một điều đã có từ ngàn xưa, đó là cử hành Bí tích Thánh Thể. Đây chính là chìa khóa để hiểu điều ấy: “Con thấy sự đổi thay và suy tàn ở khắp xung quanh.” Đó cũng chính là kinh nghiệm của những người trẻ ngày nay, nhưng rồi họ tìm thấy một điều không thay đổi, và khám phá ra rằng điều ấy đã không thay đổi suốt hàng ngàn năm, và thế là họ tự nhủ: “Có lẽ có điều gì đó ở đây.”


Đức ông từng nói, khi trích dẫn Thánh Augustinô, rằng đức tin “vừa cổ xưa, lại vừa luôn mới mẻ.”

Đúng vậy, đó chính là điều làm cho Kitô giáo ở bất kỳ thời đại nào cũng luôn đầy sức sống. Nếu chỉ mang tính cổ xưa, Kitô giáo sẽ đơn thuần trở thành lỗi thời. Nếu Kitô giáo lỗi thời, thì nó sẽ không tồn tại lâu dài. Còn nếu hoàn toàn mới mẻ, à, người ta sẽ không thể tin tưởng nó, vì không ai biết nó sẽ đi về đâu. Chính sự kết hợp giữa cái cổ xưa và cái mới mẻ đã đem lại cho chúng ta đạo Công giáo đầy sức sống.


Vậy Đức ông có cho rằng “mùa xuân thứ ba” hiện đang diễn ra, và có những dấu hiệu cho thấy một sự tái trở lại của nước Anh có thể đang bắt đầu?

Tôi nghĩ không có gì phải nghi ngờ về điều đó, nhưng điều này không chỉ dựa trên các số liệu thống kê, mà dựa trên những gì chúng ta có thể tận mắt chứng kiến và các bằng chứng thực tế. Nếu cách đây ba năm, anh nói với tôi rằng những gì chúng ta hiện đang chứng kiến sẽ xảy ra, tôi đã không tin. Ngay tại giáo xứ này, hiện tại có 22 người vừa ghi danh tham gia RCIA (Nghi thức Khai tâm Kitô giáo cho người trưởng thành), và chỉ có hai người trong số họ được rửa tội; mà hai người này cũng không phải là những người trở lại. Điều này chưa diễn ra trên khắp mọi nơi, nhưng có một cảm nhận chung rằng đang có điều gì đó xảy ra. Hai tuần trước, chúng tôi cũng đã tổ chức cuộc rước kiệu Adoremus [kiệu Thánh Thể qua một khu vực của London], và khi chúng tôi xếp hàng bên ngoài Nhà thờ Chánh tòa Westminster, các chủng sinh hiện diện ở khắp nơi — khắp mọi nơi. Cha Giám đốc Chủng viện Allen Hall [một chủng viện ở London được thành lập năm 1524] nói với tôi rằng nơi đó “hoàn toàn kín chỗ”.


Theo Đức ông, đâu là nét đặc thù của sự phục hồi này?

Trước hết, chúng ta phải nhìn nhận câu nói nổi tiếng của Thánh Augustinô: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, và tâm hồn chúng con khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa.” Nếu phải diễn giải lý do khiến những người trẻ đang tìm về với Giáo hội, tôi cho là chính vì điều này. Luôn có sự khắc khoải này, vì không có điều gì khác mang đến sự thỏa mãn.


Liên quan đến tập sách nhỏ của CTS mà Đức ông viết lời tựa, với tiêu đề The Conversion of England by the Power of Prayer (Sự trở lại của nước Anh nhờ sức mạnh của lời cầu nguyện), Đức ông có thể giải thích những chỉ dẫn nào trong cuốn sách có thể giúp đưa người dân Anh trở về với đức tin?

Phần thứ nhất là những lời cầu nguyện của Đức Hồng y Nicholas Wiseman [Tổng Giám mục Westminster đầu tiên], từ những năm 1850, ngài đã viết những lời này khi mùa xuân thứ hai đang ở trước thềm, và phần thứ hai là một bài diễn văn của Đức Hồng y Herbert Vaughan [Tổng Giám mục thứ ba của Westminster], vào cuối thế kỷ XIX. Vì thế, đây không phải là những nội dung cập nhật mang tính thời sự, nhưng chính là điều vừa cổ xưa, vừa luôn mới mẻ.


Giữa bối cảnh chủ nghĩa thế tục và sự lan rộng của Hồi giáo tại Anh, mức độ lạc quan và hy vọng của Đức ông như thế nào đối với việc cuối cùng đức tin Công giáo sẽ chiếm ưu thế và đất nước này sẽ trở về với đức tin?

Tôi rất bi quan, nhưng tràn đầy hy vọng. […] Tôi là một Kitô hữu, vì thế tôi tràn ngập hy vọng. Niềm hy vọng đưa chúng ta vượt lên trên sự bi quan trước những biến cố xảy ra.


[Nguồn: ncregister]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 06/11/2026]


Sứ điệp video của Đức Thánh Cha nhân dịp Hội nghị quốc tế do Bộ Loan báo Tin Mừng – Phân bộ Loan báo Tin Mừng lần đầu tổ chức, phối hợp với Đại học Giáo hoàng Urbaniana, với chủ đề “Khuôn mặt của Giáo hội hoàn vũ tại Trung Quốc. 100 năm kể từ ngày tấn phong các giám mục Trung Quốc đầu tiên”, 05.11.2026

Sứ điệp video của Đức Thánh Cha nhân dịp Hội nghị quốc tế do Bộ Loan báo Tin Mừng – Phân bộ Loan báo Tin Mừng lần đầu tổ chức, phối hợp với Đại học Giáo hoàng Urbaniana, với chủ đề “Khuôn mặt của Giáo hội hoàn vũ tại Trung Quốc. 100 năm kể từ ngày tấn phong các giám mục Trung Quốc đầu tiên”, 05.11.2026

Sứ điệp video của Đức Thánh Cha nhân dịp Hội nghị quốc tế do Bộ Loan báo Tin Mừng – Phân bộ Loan báo Tin Mừng lần đầu tổ chức, phối hợp với Đại học Giáo hoàng Urbaniana, với chủ đề “Khuôn mặt của Giáo hội hoàn vũ tại Trung Quốc. 100 năm kể từ ngày tấn phong các giám mục Trung Quốc đầu tiên”, 05.11.2026

*******

Sau đây là toàn văn Sứ điệp video Đức Thánh Cha Lêô XIV gửi đến các tham dự viên Hội nghị quốc tế do Bộ Loan báo Tin Mừng – Phân bộ Loan báo Tin Mừng lần đầu tổ chức, phối hợp với Đại học Giáo hoàng Urbaniana, với chủ đề “Khuôn mặt của Giáo hội hoàn vũ tại Trung Quốc. 100 năm kể từ ngày tấn phong các giám mục Trung Quốc đầu tiên”, diễn ra tại Đại học Giáo hoàng Urbaniana:




Anh chị em thân mến,

Tôi rất vui mừng được ngỏ lời cùng tất cả anh chị em, những tham dự viên Hội nghị với chủ đề “Khuôn mặt hoàn vũ của Giáo hội tại Trung Quốc”. Hội nghị dành để tưởng nhớ cuộc đời của các giám mục Công giáo Trung Quốc đầu tiên được tấn phong trong thời hiện đại, các ngài đã được tấn phong lên hàng giám mục do chính Đức Giáo hoàng Piô XI cử hành tại Đền thờ Thánh Phêrô, vào ngày 28 tháng 10 năm 1926.

Việc tấn phong các ngài là một biến cố có ý nghĩa hết sức quan trọng, không chỉ đối với hành trình của Giáo hội Công giáo tại Trung Quốc, mà còn đối với Giáo hội hoàn vũ, như chính chủ đề hội nghị của anh chị em gợi lên.

Các ngài đã lên tàu biển ra đi từ Thượng Hải để đến lãnh nhận sự tấn phong giám mục từ Đấng Kế vị Thánh Phêrô, và chúng ta có thể tóm lược tâm tình đã thôi thúc các ngài trong chuyến hành trình ấy bằng những lời của Thánh Gioan Avila: “Lạy Chúa, nếu Chúa sai con đi thực hiện điều Chúa đã làm, xin ban cho con trái tim của Chúa” (Bài giảng 57, 20).

Qua hành trình của các ngài, chúng ta nhận ra hình ảnh ẩn dụ về chặng đường dài mà Giáo hội Công giáo tại Trung Quốc đã trải qua cho đến ngày hôm ấy, hoa trái của lòng nhiệt thành truyền giáo lớn lao, nét đặc trưng của những năm 1920.

Năm 1919, trong Tông thư Maximum illud, Đức Thánh Cha Bênêđictô XV đã nhắc lại nguyên tắc rõ ràng rằng công cuộc truyền giáo của Giáo hội không được nhầm lẫn với các tiến trình thực dân hóa, hay việc xuất khẩu các tư tưởng hoặc mô hình văn hóa. Thật vậy, hạt giống Tin Mừng trổ sinh tại bất cứ nơi nào được gieo xuống, không phải nhờ vào những chiến lược của con người, nhưng nhờ ân sủng Thiên Chúa. Và Giáo hội, được sinh ra từ sứ mạng và sự loan báo Tin Mừng đầu tiên, vui mừng đón nhận những đặc tính và sắc thái riêng của các dân tộc và quốc gia, giữa những người mà Giáo hội được mời gọi làm chứng cho Đức Kitô bằng đức ái.

Năm 1924, tại Công đồng Thượng Hải, Công đồng chung đầu tiên của Giáo hội tại Trung Quốc, nhu cầu cấp thiết đã được đặt ra là phải sớm trao phó trách nhiệm lãnh đạo các cộng đoàn và các đơn vị giáo luật cho các linh mục và giám mục bản xứ Trung Quốc. Đề nghị này đã được thúc đẩy bởi chính các giám mục truyền giáo là những người đến từ các quốc gia khác, dưới sự hướng dẫn đầy viễn kiến của Đức Tổng Giám mục Celso Costantini, Khâm sứ Tòa Thánh. Việc khởi xướng và thúc đẩy tiến trình ấy là điều thích hợp nhằm giữ vững sự trung thành với bản chất của Giáo hội, nơi mà sự hiệp nhất không phải là sự đồng nhất, mà là sự hiệp thông trong tính đa dạng (x. Đức Phanxicô, Tiếp kiến chung, ngày 25 tháng 9 năm 2013, số 3).

Giữa Dân Thiên Chúa, đức tin chung đón nhận những khác biệt và hội nhập, trong mức độ có thể, những nét đặc trưng của mỗi cá nhân và mỗi dân tộc, với một tầm nhìn rộng mở phản chiếu cách hành động của Thiên Chúa, vì Người kêu gọi mỗi người với những phẩm chất độc đáo của riêng họ. Nhờ đó, Giáo hội sống giữa các dân tộc trong tình bằng hữu và sự đồng cảm đối với những niềm hy vọng cùng những khát vọng cao đẹp của họ. Các Giáo phụ đã từng làm chứng về điều này khi ghi nhận với niềm hân hoan rằng niềm tin vào Chúa Giêsu và hoạt động của Chúa Thánh Thần làm cho những con người thuộc các nền văn hóa, ngôn ngữ, văn minh và dân tộc khác nhau, đôi khi cách xa nhau, trở thành anh chị em với nhau.

Về vấn đề này, gần đây, khi nhắc đến vị giám mục truyền giáo vĩ đại là Thánh Toribio de Mogrovejo, tôi đã có dịp nhấn mạnh rằng không một vị mục tử nào trong Giáo hội có thể tự nhận sứ mạng cho riêng mình, nhưng đón nhận và thực thi sứ mạng trong sự hiệp thông, liên kết với Đấng Kế vị Thánh Phêrô và với tất cả những Đấng Kế vị các Tông đồ khác: tức là các giám mục hiện diện khắp nơi trên thế giới (x. Thư gửi các Giám mục châu Mỹ Latinh và vùng Caribê nhân dịp kỷ niệm 300 năm tuyên thánh cho Thánh Toribio de Mogrovejo, ngày 8 tháng 9 năm 2026).

Dưới ánh sáng đó, thật xúc động khi nghĩ đến sáu vị giám mục tương lai của chúng ta, những người đã thực hiện chuyến hải trình dài từ Thượng Hải đến Rôma để lãnh nhận thiên chức giám mục bên mộ Thánh Tông đồ Phêrô. Các ngài đã vượt qua nửa vòng trái đất để làm chứng cho sự hiệp thông phát xuất từ đức tin của các Tông đồ; dấu chỉ không thể thiếu của sự hiệp thông ấy chính là sự hiệp nhất của từng giám mục với Giám mục Rôma.

Đó là một dấu chỉ tuyệt đẹp, được trao tặng cách tự do, mang lại niềm an ủi; một mối dây liên kết giải phóng, một sự gần gũi khơi dậy niềm tin tưởng; và trên hết, đó là biểu hiện cho mầu nhiệm của Nhiệm Thể Đức Kitô, như Thánh Phaolô VI đã viết trong Kinh Tin Kính của Dân Thiên Chúa (Credo of the People of God), “không có sự sống nào khác ngoài sự sống của ân sủng”. Chính tại đây hiện rõ tính độc đáo duy nhất của Giáo hội khi so sánh với tất cả các hệ thống và tổ chức xã hội, chính trị khác vốn định hình và điều phối đời sống xã hội và sự chung sống giữa các dân tộc.

Trong Thư gửi người Công giáo Trung Quốc (ngày 27 tháng 5 năm 2007), Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã viết: “Giáo hội Công giáo tại Trung Quốc, nhờ ân sủng đặc biệt của Chúa Thánh Thần, chưa bao giờ bị tước mất thừa tác vụ của các vị Mục tử hợp pháp, là những người đã bảo toàn nguyên vẹn sự kế thừa tông truyền” (số 8).

Những lời của ngài được tiếp nối bởi những lời của Đức Thánh Cha Phanxicô: “Người Công giáo Trung Quốc, trong sự hiệp thông với Giám mục Rôma, đang bước đi trong thời đại hiện nay. Trong bối cảnh họ đang sống, họ cũng làm chứng cho đức tin bằng những việc làm của lòng thương xót và bác ái, và qua chứng tá đó, họ thực sự đóng góp cho sự hài hòa trong đời sống chung của xã hội, vào việc xây dựng ngôi nhà chung” (Sứ điệp Video gửi các tham dự viên Hội nghị Quốc tế “100 năm Thượng Hội đồng Thượng Hải: Giữa Lịch sử và Hiện tại”, 21 tháng 5 năm 2024, 3).

Như thế, như vẫn thường xảy ra trong dòng lịch sử dài của Giáo hội, việc nhìn về quá khứ có thể soi sáng cho hiện tại. Một trăm năm trước, hành trình của sáu vị vượt chặng đường dài từ Trung Quốc đến Rôma để trở thành các giám mục của Giáo hội Công giáo đã khơi dậy niềm vui và sự tự hào nơi biết bao đồng bào của họ, đẩy lùi sự hoài nghi, ngờ vực và thù nghịch vào quên lãng. Ngày nay, trong một thế giới bị xâu xé bởi những xung đột và bị nhấn chìm trong các cuộc chiến tranh, Hiền Thê của Đức Kitô vẫn tiếp tục cùng một sứ mạng ấy, cầu nguyện để trước mọi mối đe dọa, Chúa luôn gìn giữ kho tàng hiệp thông của Giáo hội, nguồn mạch phong phú trổ sinh điều thiện hảo và hòa bình cho tất cả mọi người.

Các bạn thân mến, tôi chúc cho công việc của các bạn đạt được nhiều thành quả tốt đẹp và tôi ban phép lành cho các bạn.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 06/11/2026]