Thứ Hai, 24 tháng 8, 2026

Diễn văn của Đức Thánh Cha Lêô XIV trước các thành viên tham dự cuộc họp của mạng lưới các nhà lập pháp Công giáo Quốc tế

+22_08: Diễn văn của Đức Thánh Cha Lêô XIV trước các thành viên tham dự cuộc họp của mạng lưới các nhà lập pháp Công giáo Quốc tế

DIỄN VĂN CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV
TRƯỚC CÁC THÀNH VIÊN THAM DỰ CUỘC HỌP CỦA MẠNG LƯỚI CÁC NHÀ LẬP PHÁP CÔNG GIÁO QUỐC TẾ

Hội trường Clementine
Thứ Sáu, ngày 21 tháng 8, 2026

_____________________________

Kính thưa các Đức Hồng y,
Thưa quý bà và quý ông,
Anh chị em thân mến trong Đức Kitô,

Tôi vui mừng được chào đón quý vị, các thành viên của Mạng lưới các Nhà Lập pháp Công giáo Quốc tế, và cách riêng là Đức Hồng y Schönborn cùng Đức Hồng y Bo, những nhà bảo trợ của mạng lưới này.

Chủ đề cuộc họp thường niên của quý vị, “Phẩm giá con người và trí tuệ nhân tạo: Những thách đố, cơ hội và sự kiểm soát”, mang lại cho quý vị cơ hội suy tư về một trong những vấn đề mang tính định hình của thời đại chúng ta. Những tiến bộ phi thường của trí tuệ nhân tạo đang mở ra những chân trời mà các thế hệ trước đây hầu như không thể tưởng tượng được. Thế nhưng, mỗi thành tựu công nghệ cũng đặt nhân loại trước một câu hỏi luân lý: không chỉ đơn thuần là chúng ta có thể làm gì, mà chúng ta phải làm gì? Thật vậy, gia đình nhân loại ngày nay đang đứng trước một lựa chọn mang tính quyết định. Như tôi đã viết trong Thông điệp Magnifica Humanitas, chúng ta có thể bị cám dỗ xây dựng một Tháp Babel mới, nơi quyền lực, hiệu năng và sự kiểm soát che khuất dung mạo của con người; hoặc chúng ta có thể xây dựng một nền văn minh trong đó công nghệ phục vụ sự phát triển toàn diện của mỗi con người (x. số 7-10). Câu hỏi mang tính quyết định vẫn là: Công nghệ có giúp con người trở nên huynh đệ hơn và có trách nhiệm hơn đối với chính mình cũng như đối với nhau hay không? Về phương diện này, các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội của Giáo hội — phẩm giá bất khả xâm phạm của mỗi con người, công ích, mục đích phổ quát của của cải, nguyên tắc bổ trợ và tình liên đới — cung cấp những tiêu chuẩn vững chắc cho việc phân định.

Các nhà lập pháp thân mến, ơn gọi của anh chị em đặt anh chị em vào trung tâm của thách đố này. Với trách nhiệm hoạch định các chính sách nhằm quản trị công nghệ vì ích chung, nhiệm vụ của anh chị em không phải là cản trở sự đổi mới, nhưng là hướng dẫn sự đổi mới theo cách khôn ngoan (x. Đức Phanxicô, Diễn từ trước các tham dự viên hội nghị do Mạng lưới các Nhà Lập pháp Công giáo Quốc tế tổ chức, ngày 27 tháng 8 năm 2021). Một hệ thống pháp luật lành mạnh phải khuyến khích sự sáng tạo khoa học và công nghệ, đồng thời bảo vệ nhân quyền và các quyền tự do căn bản của con người. Hệ thống đó phải bảo vệ người sử dụng thoát khỏi sự bóc lột, bảo vệ quyền riêng tư, bảo đảm tính minh bạch trong việc sử dụng các công nghệ mới nổi, và bảo đảm rằng những công nghệ ấy củng cố các thể chế dân chủ.

Để đạt được mục tiêu này, “cần có những khuôn khổ pháp lý vững chắc, sự giám sát độc lập, những người sử dụng có hiểu biết, và một hệ thống chính trị không thoái thác trách nhiệm của mình” (Magnifica Humanitas, số 106). Việc giám sát như thế có thể vận hành ở nhiều cấp độ — địa phương, quốc gia và quốc tế — qua đó tạo điều kiện cho một cuộc thảo luận mở rộng về “những khuôn khổ đạo đức liên quan, và đặt chúng dưới những chuẩn mực chung về công bằng xã hội” (số 107), đồng thời bảo đảm rằng không một hệ tư tưởng hay lợi ích đơn lẻ nào áp đặt các giá trị được tích hợp vào những hệ thống trí tuệ nhân tạo.

Đồng thời, sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo có nguy cơ tạo ra những hình thức lệ thuộc công nghệ mới, khi các quốc gia nghèo ngày càng phụ thuộc vào các quốc gia giàu có hơn. Chúng ta phải luôn cảnh giác về vấn đề này, bằng không sự đổi mới lại trở thành một phương tiện khác cho chủ nghĩa thực dân của hệ tư tưởng hoặc kinh tế (x. số 178-179). Thật đáng buồn, chúng ta đang phải đối diện với một hình thức thống trị tinh vi khi các thuật toán quyết định ai được hiện diện, ai trở nên vô hình; khi các nền tảng kỹ thuật số định hình diễn ngôn công chúng mà không phải chịu trách nhiệm; và khi phẩm giá của người lao động bị đặt dưới sự tối ưu hóa của các hệ thống (x. số 95, 150, 171). Những chuyển biến như thế làm lộ rõ bộ mặt mới của một cám dỗ có từ xa xưa về sự thống trị và làm chủ mà không phục vụ.

Để chống lại văn hóa quyền lực này, Giáo hội đề xuất “nền văn minh tình thương” (Đức Phaolô VI, Regina Caeli, ngày 17 tháng 5 năm 1970; x. Magnifica Humanitas, số 186) — một nền văn minh sẽ quản trị trí tuệ nhân tạo cách khôn ngoan bằng việc phát triển những tâm hồn có khả năng bác ái, trắc ẩn và có trách nhiệm. Trong một xã hội như thế, trường học đầu tiên về nhân tính phải là gia đình. Vì chính trong gia đình, chúng ta trước hết học biết tin tưởng thay vì tính toán, quảng đại thay vì ganh đua, đối thoại thay vì chia rẽ, và yêu thương thay vì quyền lực. Trí tuệ nhân tạo không bao giờ được phép làm suy yếu tế bào căn bản này của xã hội — dù bằng cách giản lược con người và các mối tương quan thành dữ liệu và những mô phỏng, bằng cách đổ đầy tâm trí người trẻ với các nội dung bóp méo những ước vọng, hoặc bằng những mô hình kinh tế khiến đời sống gia đình trở nên bấp bênh về mặt kinh tế. Vì lý do này, tôi khuyến khích quý vị thúc đẩy những chính sách giúp củng cố hôn nhân và gia đình, nâng đỡ các bậc cha mẹ trong sứ mạng giáo dục của họ, và giúp người trẻ có thể hướng nhìn về tương lai với niềm tin tưởng.

Các bạn thân mến, thế giới không cần một trí tuệ nhân tạo hạ thấp nhân tính; trái lại, thế giới cần một trí tuệ con người được soi sáng bởi sự khôn ngoan, một quyền bính chính trị được hướng dẫn bởi lương tâm, và một sự đổi mới công nghệ được định hướng bởi đức ái. Chỉ khi đó, trí tuệ nhân tạo mới không trở thành đối thủ của nhân loại, nhưng là người phục vụ công ích.

Với những suy tư này, tôi cầu nguyện để những thảo luận của quý vị sinh nhiều hoa trái cho các quốc gia của quý vị và cho toàn thể gia đình nhân loại. Xin Đức Trinh nữ Maria, Đức Mẹ chỉ bảo đàng lành, luôn đồng hành với quý vị. Tôi khẩn xin Thiên Chúa tuôn đổ muôn phúc lành trên quý vị, trên gia đình quý vị và trên tất cả những người được trao phó cho sự phục vụ của quý vị. Cảm ơn quý vị.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 22/08/2026]


Sứ điệp Ngày Thế giới Cầu nguyện cho việc Chăm sóc Thụ tạo lần thứ XI của Đức Thánh Cha (1 tháng 9 năm 2026), 20.08.2026

Sứ điệp Ngày Thế giới Cầu nguyện cho việc Chăm sóc Thụ tạo lần thứ XI của Đức Thánh Cha (1 tháng 9 năm 2026), 20.08.2026

Sứ điệp Ngày Thế giới Cầu nguyện cho việc Chăm sóc Thụ tạo lần thứ XI của Đức Thánh Cha (1 tháng 9 năm 2026), 20.08.2026

Sau đây là toàn văn Sứ điệp của Đức Thánh Cha Lêô XIV nhân Ngày Thế giới Cầu nguyện cho việc Chăm sóc Thụ tạo lần thứ XI, sẽ được cử hành vào thứ Ba, ngày 1 tháng 9 năm 2026, với chủ đề: “Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày và rèn giáo mác nên liềm nên hái” (Is 2:4).

Sứ điệp của Đức Thánh Cha


“Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày
và rèn giáo mác nên liềm nên há” (Isaia 2:4)

Anh chị em thân mến,

Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã đến để chúng ta được sống và sống dồi dào (x. Ga 10:10). Món quà sự sống này nằm giữa trọng tâm sứ mạng của chúng ta với tư cách là những môn đệ, cũng như trong ơn gọi chung của chúng ta là xây dựng một nền văn minh tình thương. Khi cử hành Ngày Thế giới Cầu nguyện cho việc Chăm sóc Thụ tạo, một lần nữa chúng ta được mời gọi chiêm ngắm món quà sự sống và trân trọng trái đất đang nuôi dưỡng sự sống ấy, bởi đó là những cách thức cụ thể để dâng lời chúc tụng Đấng Tạo Hóa của chúng ta.

Ngày nay, chúng ta đang chứng kiến biết bao cuộc khủng hoảng cũng như biết bao đau khổ của con người. Đồng thời, dường như sự phá vỡ trạng thái quân bình hài hòa của công trình tạo dựng đang ngày càng gia tăng. Những hiện tượng này không tách rời nhau; chúng là một lời khẩn cầu duy nhất xin được chữa lành và hòa bình phát xuất từ một thế giới đang bị tổn thương.

Thiên Chúa của sự sống, được mặc khải nơi Đức Giêsu Kitô, ban tặng một nền hòa bình mà thế gian không thể ban cho: “Thầy để lại bình an cho anh em; Thầy ban cho anh em bình an của Thầy” (Ga 14:27). Sự bình an này không hời hợt cũng chẳng chóng qua; nó tuôn trào từ tình yêu bền lâu của Đức Kitô và sự chăm sóc của Ngài dành cho mỗi người.

Tuy nhiên, lời hứa về hòa bình ấy tương phản sâu sắc với những thực tại mà chúng ta đang chứng kiến tại nhiều nơi trên thế giới. Ngôn sứ Isaia đã nói về một thời đại khi các dân tộc “sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày” (Is 2:4), biến đổi những thứ hủy diệt sự sống thành những điều nuôi dưỡng sự sống. Thế nhưng ngày nay, chúng ta lại quá thường xuyên chứng kiến điều hoàn toàn ngược lại, khi những nỗ lực vẫn tiếp tục được dồn vào bạo lực và chiến tranh.

Chiến tranh để lại những vết thương vượt xa hơn chiến trường. Chiến tranh cướp đi sinh mạng, xé nát các gia đình và buộc hàng triệu người phải rời bỏ nhà cửa, từ đó làm trầm trọng thêm nỗi sợ hãi, bất công và chia rẽ (x. Gaudium et Spes, 77-82). Chiến tranh cũng để lại những tàn phá về xã hội và sinh thái kéo dài qua nhiều thế hệ. Hơn nữa, sự tác động qua lại giữa các cuộc xung đột vũ trang và tình trạng suy thoái môi trường thường tạo nên một vòng luẩn quẩn xấu, hủy hoại các hệ sinh thái, làm ô nhiễm những nguồn tài nguyên thiết yếu như không khí và nước, đồng thời đe dọa an ninh lương thực. Điều này làm tăng thêm sự nghèo đói, bất bình đẳng và những căng thẳng xã hội mới, vốn có thể góp phần làm bùng phát thêm các cuộc xung đột.

Hơn thế nữa, chiến tranh gây ra những vết thương làm tổn hại toàn bộ cấu trúc của sự sống, gây tổn hại không chỉ cho từng cá nhân và cộng đồng, mà còn phá hủy mạng lưới rộng lớn hơn của những mối tương quan với toàn thể gia đình nhân loại, cũng như sự hòa hợp của con người với thụ tạo. Nó cho thấy một sự thất bại sâu xa trong việc sống theo hình ảnh của Thiên Chúa, tôn trọng sự sống và chăm sóc trái đất được trao phó cho chúng ta. Đây không chỉ là một thất bại về chính trị, mà còn là thất bại về đạo đức và tinh thần. Bắt nguồn từ những ham muốn lệch lạc và việc lạm dụng tự do cũng như quyền lực của con người, chiến tranh trở thành một bằng chứng đối nghịch lại với Tin Mừng hòa bình.

Những cuộc khủng hoảng nói trên không chỉ đòi hỏi trách nhiệm, mà còn đòi hỏi một sự hoán cải tâm hồn, để sinh hoa trái trong sự trung thành sâu sắc hơn với Thiên Chúa, yêu thương nhau và tôn trọng món quà của công trình tạo dựng. Quả thật, sự bất hòa mà chúng ta chứng kiến trên thế giới, chẳng hạn như bạo lực, bất công và suy thoái sinh thái, không đơn thuần là kết quả của các hệ thống hay cơ cấu khiếm khuyết; đó là một “triệu chứng của sự phân rẽ sâu xa hơn, bắt nguồn từ trong chính con người” (Gaudium et Spes, 10). Thật vậy, tâm hồn con người là nơi diễn ra những cuộc đấu tranh sâu sắc nhất và là nơi tình trạng sa ngã của chúng ta tự bộc lộ. Tâm hồn không chỉ là nơi chứa đựng cảm xúc, mà còn là trung tâm của con người — nơi lý trí, ước muốn, ý chí và lương tâm hội tụ. Chính tại đó, chúng ta phải vật lộn với những ước muốn mâu thuẫn trong chính chúng ta: giữa tình yêu và sự thờ ơ, giữa sự thật và ảo tưởng, giữa công lý và bất công (x. Gc 1:14-15). Do đó, những vết thương của chiến tranh và sự suy thoái của trái đất có mối liên hệ sâu xa với tình trạng của tâm hồn con người. Những xung đột đang giày vò nhân loại, theo nhiều cách, là biểu hiện bên ngoài của sự bất hòa và chia rẽ nội tâm. Khi tâm hồn bị lệch lạc, các mối tương quan phải chịu đau khổ, và những cơ cấu chúng ta xây dựng bắt đầu phản ánh sự hỗn loạn ấy.

Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã nhắc nhở chúng ta rằng “những sa mạc bên ngoài trên thế giới đang ngày càng lan rộng, bởi vì các sa mạc trong tâm hồn đã trở nên quá rộng lớn” (Bài giảng trong Thánh lễ khai mạc trọng thể sứ vụ Phêrô, ngày 24 tháng 4 năm 2005). Theo một cách nào đó, điều này kêu gọi chúng ta nhận ra rằng những gì bị tan vỡ chung quanh chúng ta cũng đang bị tan vỡ trong chính chúng ta. Vì thế, để xây dựng một xã hội hòa bình, chúng ta không những phải cải tổ các cơ cấu mà còn phải canh tân tâm hồn mình. Những nguyên nhân sâu xa của xung đột và việc bóc lột công trình tạo dựng bắt nguồn từ một cuộc khủng hoảng đạo đức và văn hóa, bao gồm việc đánh mất ý thức về những giới hạn, khao khát thống trị, theo đuổi lợi nhuận tức thời và không nhận ra phẩm giá của mỗi con người do Thiên Chúa ban tặng.

Do đó, lời kêu gọi mang tính ngôn sứ “đúc gươm đao thành cuốc thành cày” (Is 2:4) không chỉ là một viễn tượng dành cho các quốc gia, mà còn là lời mời gọi dành cho mỗi người. Nó mời gọi chúng ta biến đổi những gì gây hại thành sự sống. Tuy nhiên, sự biến đổi này không thể đạt được chỉ bằng những thay đổi bên ngoài. Nó đòi hỏi, nhờ cộng tác với ân sủng của Thiên Chúa, một sự hoán cải cá nhân và tập thể sâu sắc hơn — một sự trở về với Thiên Chúa, Đấng sẽ lập lại trật tự những ước muốn của chúng ta, chữa lành những vết thương của chúng ta và giúp chúng ta lớn lên trong nhân đức.

Nếu không có sự biến đổi nội tâm này, hòa bình sẽ vẫn mong manh và ngắn ngủi. Nhưng khi tâm hồn được đổi mới, những khả năng mới sẽ bắt đầu mở ra. Những gì từng được sử dụng để hủy diệt có thể được chuyển hướng sang sự sống, hướng đến việc chăm sóc người nghèo, nuôi dưỡng người đói và bảo vệ công trình sáng tạo. Đây là con đường của sự hoán cải sinh thái đích thực, trong đó những hiệu quả từ cuộc gặp gỡ của chúng ta với Đức Giêsu Kitô trở nên rõ ràng trong mối tương quan của chúng ta với thế giới chung quanh (x. Phanxicô, Laudato Si’, 217). Vì thế, hòa bình bắt đầu trong tâm hồn và lan tỏa ra các mối tương quan của chúng ta, các cộng đồng và thế giới rộng lớn hơn.

Dù những thách đố trước mắt chúng ta là vô cùng to lớn, Thiên Chúa không bỏ mặc chúng ta mà không ban những phương thế để chữa lành và biến đổi. Thay cho những vũ khí chiến tranh, Thiên Chúa của hòa bình ban cho chúng ta sức mạnh để chữa lành, để hòa giải và xây dựng một nền văn minh tình thương. Theo cách này, chúng ta được mời gọi bảo vệ nhiều “hệ sinh thái” được trao phó cho chúng ta: các hệ sinh thái của công trình tạo dựng, của các mối tương quan nhân loại và của chính tâm hồn con người.

Chúng ta hãy hình dung một thế giới trong đó những nguồn năng lượng hiện đang được đầu tư vào chiến tranh được chuyển hướng sang việc phát triển con người toàn diện, vượt qua nghèo đói, bảo vệ phẩm giá con người và hòa giải các dân tộc đang bị chia rẽ. Một viễn cảnh như thế phản ánh niềm tin vào việc Nước Thiên Chúa đang đến gần.

Những khí cụ đích thực để xây dựng hòa bình không phải là những vũ khí hủy diệt, nhưng là sự thật, đối thoại, kiên nhẫn, nhân hậu, công lý, lòng thương xót, sự thấu hiểu, sự quan tâm và tình yêu. Những phẩm chất này tuôn trào từ các tâm hồn được định hình bởi Tin Mừng và được ân sủng Thiên Chúa nâng đỡ. Chỉ những phẩm chất đó mới có sức mạnh biến đổi các cá nhân, canh tân các cộng đồng và chữa lành những vết thương của thế giới chúng ta.

Anh chị em thân mến, con đường trước mắt chúng ta đã rõ ràng, mặc dù không dễ dàng. Chúng ta được kêu gọi hãy cho phép tâm hồn chúng ta được đổi mới, để chúng ta có thể tìm kiếm hòa bình và chăm sóc công trình tạo dựng. Kinh Thánh dạy chúng ta phải gìn giữ tâm hồn, bởi vì mọi việc chúng ta làm đều phát xuất từ đó (x. Cn 4:23).

Nếu chúng ta đảm nhận nhiệm vụ này với lòng khiêm nhường và đức tin, chúng ta sẽ trở thành những cộng tác viên trong công trình canh tân của Thiên Chúa. Chúng ta sẽ tiến bước, chậm rãi nhưng chắc chắn, từ sa mạc thành khu vườn, từ chia rẽ thành hiệp thông, và từ bạo lực trở thành hòa bình.

Xin Chúa ban cho chúng ta lòng can đảm để bước đi trên con đường này, để trong thời đại chúng ta, những gươm đao thực sự được đúc thành lưỡi cày, và lời hứa của Tin Mừng ngày càng bén rễ sâu trong thế giới chúng ta, và sự bình an của Đức Kitô ngự trị trên toàn thể công trình tạo dựng.

Vatican, ngày 15 tháng 8 năm 2026, lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời.

LÊÔ PP. XIV

[01216-EN.01] [Văn bản gốc: tiếng Anh]


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 21/08/2026]