Thứ Hai, 10 tháng 8, 2026

Tổ chức bác ái Công giáo nói với Crux Now rằng chính phủ Anh phải làm nhiều hơn để bảo vệ người đi biển

Tổ chức bác ái Công giáo nói với Crux Now rằng chính phủ Anh phải làm nhiều hơn để bảo vệ người đi biển

Charles Collins
Ngày 7 tháng 8 năm 2026 | Tổng Biên tập

Tổ chức bác ái Công giáo nói với Crux Now rằng chính phủ Anh phải làm nhiều hơn để bảo vệ người đi biển


LEICESTER, Vương quốc Anh – Một tổ chức cứu trợ Công giáo hàng đầu đang tham gia các nỗ lực nhằm chấm dứt tình trạng bóc lột người đi biển tại Vương quốc Anh.

Stella Maris, trước đây được biết đến với tên gọi Tông đồ Biển, là tổ chức bác ái hàng đầu hỗ trợ người đi biển tại Vương quốc Anh và trên toàn thế giới. Tổ chức này cho biết đời sống của ngư dân và người đi biển vốn đã “có nhiều nguy hiểm và cô đơn”, ngay cả khi họ được bảo vệ đầy đủ.

Stella Maris cử các tuyên úy và những người thăm viếng tàu thuyền để cung cấp cho ngư dân và người đi biển trên khắp thế giới sự hỗ trợ thiết thực cũng như mục vụ, thông tin và sự lắng nghe.

Trong cuộc phỏng vấn riêng với Crux Now, ông Tim Hill, Tổng giám đốc điều hành kiêm Giám đốc quốc gia của Stella Maris, nói rằng phần lớn các doanh nghiệp đánh bắt cá đối xử tốt với người lao động, nhưng “những điểm yếu trong hệ thống nhập cư, việc thực thi luật về thị trường lao động” và các quy định của ngành “cho phép việc bóc lột ngư dân nước ngoài”.

Ông Hill nói, “Qua công việc của chúng tôi với các ngư dân nước ngoài, Stella Maris đã chứng kiến tổn hại lâu dài về mặt con người khi những người này bị bỏ mặc trong tình trạng dễ bị bóc lột”.

Liên đoàn Công nhân Vận tải Quốc tế (ITF) cùng bốn tổ chức khác đang kêu gọi chính phủ Anh cải cách các quy định về tình trạng nhập cư, quyền lao động, tuyển dụng và việc thực thi pháp luật hiện hành đối với người đi biển.

Một cải cách then chốt là tạo điều kiện dễ dàng hơn để người đi biển chuyển đổi việc làm mà không ảnh hưởng đến quyền làm việc của họ tại Vương quốc Anh.

Trong một tuyên bố, ông Hill nói, “Trong bối cảnh lộ trình cấp thị thực Lao động Kỹ năng (Skilled Worker visa) cho ngành đánh bắt hải sản sẽ bị dừng vào tháng 12, Chính phủ phải đưa ra một giải pháp thay thế công bằng và hợp pháp trước khi có thêm nhiều ngư dân bị đẩy vào các sắp xếp thiếu an toàn”.

“Những cải cách này sẽ bảo vệ người lao động, đồng thời hỗ trợ một ngành đánh bắt cá trong đó các chủ sử dụng lao động có trách nhiệm có thể tuyển dụng những người họ cần”, ông nói.

Dưới đây là cuộc trao đổi của Crux Now với ông Tim Hill thuộc Stella Maris...

____________________________________

Crux Now: Những vấn đề mà người lao động nước ngoài trong ngành đánh bắt cá tại Vương quốc Anh đang phải đối mặt là gì?

Ông Hill: Đại đa số các doanh nghiệp đánh bắt cá đối xử tốt với thủy thủ đoàn của họ. Tuy nhiên, hoạt động đánh bắt cá phần lớn diễn ra ngoài tầm quan sát của công chúng, và việc tiếp cận đối với tàu thuyền cùng các hải cảng bị hạn chế có thể khiến hành vi ngược đãi khó bị phát hiện.

Ngư dân nước ngoài đặc biệt dễ bị tổn thương vì công việc, chỗ ở và tình trạng nhập cư của họ đều phụ thuộc vào cùng một chủ sử dụng lao động. Những vấn đề được báo cáo gồm trả lương thấp hoặc giữ lại lương, giờ làm việc quá mức, làm giả hồ sơ làm việc, điều kiện không an toàn, nợ phát sinh từ việc tuyển dụng và hạn chế đi lại.

Người lao động cũng có thể bị đe dọa sa thải, trục xuất hoặc đưa vào danh sách đen nếu họ nêu lên các quan ngại. Trong những trường hợp nghiêm trọng nhất, các ngư dân làm việc trong ngành thủy sản tại Vương quốc Anh đã được chính thức công nhận là nạn nhân của tình trạng nô lệ hiện đại.

Sự cô lập của đời sống trên biển khiến ngư dân khó tiếp cận thông tin độc lập, liên hệ với các tổ chức phúc lợi hoặc báo cáo những gì đang xảy ra.

Nỗi sợ mất sinh kế lẫn tình trạng nhập cư có thể khiến họ cảm thấy mình hầu như không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục ở lại trong hoàn cảnh bị bóc lột.


Tại sao ông muốn thay đổi luật thị thực liên quan đến ngành đánh bắt cá?

Những điểm yếu trong hệ thống nhập cư của Vương quốc Anh, việc thực thi luật về thị trường lao động và quy định đối với ngành đánh bắt cá đã tạo ra những điều kiện cho phép bóc lột ngư dân nước ngoài.

Stella Maris muốn các ngư dân này được công nhận và bảo vệ với tư cách người lao động. Họ cần có tình trạng nhập cư rõ ràng, được tiếp cận các biện pháp bảo vệ việc làm tại Vương quốc Anh, và có khả năng báo cáo hành vi ngược đãi mà không sợ mất việc cũng như mất quyền được ở lại nước này.

Trong lá thư chung gửi Bộ Nội vụ, chúng tôi đã nêu mười đề xuất cải cách then chốt liên quan đến tình trạng nhập cư, quyền lao động, tuyển dụng và thực thi pháp luật đối với ngư dân nước ngoài.

Các đề xuất này bao gồm việc thiết lập một loại Thị thực Lao động Đánh bắt cá (Fishing Worker Visa) chuyên biệt, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tuyển dụng đủ nhân lực cần thiết, vừa cho phép ngư dân linh hoạt đổi chủ sử dụng lao động khi cần thiết, đồng thời bảo đảm cho họ quyền tiếp cận mạnh mẽ hơn với các cơ chế bảo vệ lao động.

Điều này đặc biệt cấp bách vì lộ trình thị thực Lao động Kỹ năng dành cho các nghề đánh bắt cá dự kiến sẽ dừng vào cuối năm 2026. Nếu không có một giải pháp thay thế công bằng và hợp pháp, ngành này có khả năng sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào thị thực quá cảnh, làm tăng số ngư dân được tuyển dụng qua một lộ trình vốn chưa bao giờ được thiết kế cho những người sinh sống và làm việc trong thời gian dài tại các hải cảng của Vương quốc Anh.


Kẽ hở Thị thực Quá cảnh (Transit Loophole) là gì, và tại sao Stella Maris lại lo ngại về điều đó?

Kẽ hở Thị thực Quá cảnh đề cập đến việc sử dụng Giấy phép Nhập cảnh Thuyền viên theo Hợp đồng (Code 7 Contract Seaman Leave) để tuyển dụng ngư dân nước ngoài làm việc trên các tàu đánh bắt cá của Vương quốc Anh.

Sắp đặt này được thiết kế dành cho những người đi biển quá cảnh qua Vương quốc Anh để đến con tàu mà họ sẽ cùng khởi hành.

Nó không được dự liệu như một lộ trình việc làm dài hạn cho các ngư dân làm việc tại các cảng của Vương quốc Anh. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp sử dụng nó để thuê ngư dân trên các tàu vượt ngoài ranh giới 12 hải lý, rồi thường xuyên quay về các cảng của Anh.

Do đó, một ngư dân có thể trải qua nhiều tháng làm việc cho một chủ sử dụng lao động Anh trên một con tàu mang cờ Vương quốc Anh, trong khi theo luật nhập cư, họ lại bị đối xử như thể chỉ đang quá cảnh qua nước này. Điều đó có thể tước đi của ngư dân nước ngoài các quyền về việc làm và sự bảo hộ lao động dành cho những người lao động khác tại Vương quốc Anh.

Stella Maris quan ngại vì điều này đặt ngư dân vào một tình cảnh vô cùng bấp bênh. Giấy phép của họ bị ràng buộc chặt chẽ với một con tàu cụ thể.

Rời bỏ một chủ sử dụng lao động ngược đãi có thể đồng nghĩa với việc mất đi căn cứ cho phép họ ở lại Anh và phải đối diện với nguy cơ bị trục xuất hoặc đưa vào danh sách đen.

Khi làm việc ngoài lãnh hải Vương quốc Anh, có thể không rõ cơ quan nào và những biện pháp bảo vệ việc làm nào được áp dụng; trong khi bất kỳ công việc nào bên trong lãnh hải Vương quốc Anh và trên đất liền đều có thể bị coi là vi phạm các điều kiện nhập cư của họ, ngay cả khi họ làm theo chỉ thị của chủ sử dụng lao động.

Điều này có thể khiến người lao động chán nản không báo cáo tình trạng bị giữ tiền lương, giờ làm việc quá mức hoặc gian lận giờ làm việc, điều kiện không an toàn và các hành vi lạm dụng khác.

Hệ quả là một hệ thống trong đó sự sắp đặt nhập cư vốn dành cho mục đích quá cảnh tạm thời có thể được sử dụng để kiểm soát người lao động và khiến tình trạng bóc lột bị che giấu, khó bị phát hiện.


Tại sao các quyền của những người trong ngành đánh bắt cá lại phức tạp như vậy?

Những người làm cùng một công việc trên các tàu đánh cá của Vương quốc Anh có thể có những quyền rất khác nhau, tùy theo hình thức làm việc, tình trạng nhập cư và phạm vi họ đang làm việc.

Một số ngư dân là công dân Anh hoặc đã định cư làm việc với tư cách tự làm chủ theo mô hình “ngư dân cổ phần”, nhận một phần giá trị sản lượng đánh bắt thay vì tiền lương thông thường.

Những người khác là người làm công.

Ngư dân nước ngoài có thể có thị thực Lao động Kỹ năng, nhập cảnh qua thị thực quá cảnh hoặc có một dạng tình trạng nhập cư khác. Mỗi hình thức lại cung cấp những quyền và sự bảo vệ khác nhau.

Các quy định cũng nằm phân tán trong luật nhập cư, luật lao động và luật hàng hải, cũng như các tiêu chuẩn quốc tế.

Trách nhiệm thực thi được phân chia giữa các cơ quan khác nhau, và việc thực thi có thể thiếu nhất quán. Các đợt thanh tra có thể tập trung chủ yếu vào an toàn tàu thuyền và giấy tờ, hơn là chú ý đến tiền lương, quy định tuyển dụng hoặc các dấu hiệu bóc lột.

Hệ thống này có thể rất khó để dò tìm ngay cả đối với các chuyên gia; do đó, sẽ không thực tế nếu kỳ vọng một ngư dân nước ngoài bị lệ thuộc vào nhà tuyển dụng môi giới hoặc chủ sử dụng lao động để có thông tin, hiểu đầy đủ những quyền nào được áp dụng và cách thực thi các quyền ấy.


Tất cả những điều này ảnh hưởng thế nào đến đời sống thiêng liêng của ngư dân, đặc biệt là các ngư dân Công giáo?

Tòa Thánh nhìn nhận sự hy sinh và đóng góp của những người làm việc trên biển và các tuyến đường thủy nội địa, bao gồm cả các ngư dân; nhìn nhận họ không chỉ vì công việc thiết yếu họ thực hiện, mà còn như những con người có hy vọng, có những mối tương quan và những ước mơ riêng.

Nghề đánh bắt cá vốn đã đòi hỏi những khoảng thời gian dài xa nhà, xa gia đình và đời sống giáo xứ.

Khi điều này cộng hưởng với giờ làm việc quá mức, hạn chế đi lại, cách đối xử tệ hoặc nỗi lo sợ về tình trạng di trú, nó có thể gây ra sự cô lập sâu sắc, lo âu và đánh mất hy vọng.

Đối với các ngư dân Công giáo, việc không thể rời tàu có thể đồng nghĩa với nhiều tháng không được tham dự Thánh lễ, lãnh nhận các bí tích hoặc có thời gian sinh hoạt với một cộng đoàn Công giáo.

Các ngư dân đã nói với các tuyên úy của Stella Maris về ý nghĩa to lớn khi họ được thăm viếng, được cùng cầu nguyện và có cơ hội chia sẻ cởi mở với một người mà họ tin tưởng.

Stella Maris hỗ trợ những ngư dân bị ảnh hưởng bởi tình trạng nô lệ và bóc lột lao động.

Các tuyên úy của chúng tôi cung cấp sự hỗ trợ thiết thực, mục vụ và thiêng liêng, đồng thời đồng hành với những người này trong các cuộc điều tra và những thủ tục pháp lý kéo dài.

Trong một kinh nghiệm mà ở đó rất nhiều quyền tự quyết đã bị lấy khỏi họ, sự hiện diện bền bỉ ấy có thể giúp ngư dân duy trì sự gắn kết với đức tin và nhận ra rằng họ không bị lãng quên.

Tuy nhiên, sự hỗ trợ mục vụ không thể bù đắp cho một hệ thống nhập cư và việc làm khiến con người bị cô lập hoặc lo sợ khi tìm kiếm sự trợ giúp.

Đức tin Công giáo kêu gọi chúng ta bảo vệ phẩm giá của mọi người lao động. Đó là lý do Stella Maris vừa trực tiếp hỗ trợ ngư dân, vừa vận động cho những đạo luật giúp họ có thể làm việc an toàn và thực thi các quyền của mình.


[Nguồn: cruxnow]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 08/08/2026]


Caritas đang chiến đấu với đợt bùng phát dịch Ebola lây lan nhanh nhất tại CHDC Congo như thế nào

Caritas đang chiến đấu với đợt bùng phát dịch Ebola lây lan nhanh nhất tại CHDC Congo như thế nào

Ngala Killian Chimtom
Ngày 7 tháng 8 năm 2026 | Phóng viên thường trú châu Phi

Caritas đang chiến đấu với đợt bùng phát dịch Ebola lây lan nhanh nhất tại CHDC Congo như thế nào Ngala Killian Chimtom Ngày 7 tháng 8 năm 2026 | Phóng viên thường trú châu Phi  Đống đổ nát bị đốt cháy khi các nhân viên y tế và tuyến đầu biểu tình tại Trung tâm Điều trị Ebola Elikya ở Bunia, Cộng hòa Dân chủ Congo, ngày 25 tháng 7 năm 2026. (Ảnh AP/Constant Same Bagalwa) Miền đông Cộng hòa Dân chủ Congo hiện đang chống chọi với đợt bùng phát Ebola lớn nhất và lây lan nhanh nhất trong lịch sử đất nước. Liên Hợp Quốc cho biết đến nay đã xác nhận 3.973 ca bệnh, và hơn 1.800 người đã tử vong vì căn bệnh này. Đợt bùng phát do chủng Bundibugyo hiếm gặp của virus gây ra. Trong khi các cộng đồng đang vật lộn với nỗi sợ hãi rất lớn, sự tàn phá kinh tế và những sang chấn tâm lý do xung đột vũ trang, công tác ứng phó nhân đạo lại càng trở nên phức tạp vì việc đình chỉ viện trợ quốc tế gần đây. Trong cuộc phỏng vấn sâu rộng với Crux Now, Cha Edouard Makimba Milambo, Tổng Thư ký Caritas Congo, đã phân tích những thực tế khắc nghiệt tại hiện trường và giải thích vì sao các biện pháp can thiệp y tế thuần túy, truyền thống là không đủ. Cha Milambo cảnh báo, “Chúng ta không thể chống lại nỗi sợ này chỉ bằng các thông điệp mang tính kỹ thuật”. Cha giải thích, “Chúng ta chống lại nó bằng sự gần gũi, lắng nghe và đối thoại”. Vị linh mục cũng thảo luận về cách Giáo hội Công giáo, với sự gắn bó sâu sắc từ lâu trong các cộng đồng địa phương, đang tạo cho Caritas một vị thế đặc biệt để tái lập lòng tin đã rạn nứt, giải quyết các tập tục tang lễ nhạy cảm về mặt văn hóa, và duy trì niềm hy vọng trước một dịch bệnh ngày càng tồi tệ hơn. Sau đây là bản ghi cuộc phỏng vấn của Crux Now với cha Edouard Makimba Milambo thuộc Caritas Congo…  Crux Now: Liên Hiệp Quốc đã mô tả đây là đợt bùng phát lớn nhất và lan nhanh nhất từng được ghi nhận, khiến hơn 1.800 người tử vong, với gần 4.000 ca đã được ghi nhận. Từ góc nhìn của Caritas tại miền đông CHDC Congo, mô tả này có phản ánh thực tế tại hiện trường không? Cha Edouard Makimba Milambo: Vâng, đáng tiếc là mô tả này hoàn toàn phù hợp với những gì các nhóm Caritas đang quan sát cùng với các tổ chức Caritas giáo phận liên quan.  Đằng sau các con số là những gia đình sống trong sợ hãi, những ngôi làng với đời sống thường nhật bị đảo lộn, và các nhân viên y tế đang làm việc dưới áp lực rất lớn. Đợt bùng phát đang lây lan nhanh chóng, với các ca bệnh ảnh hưởng đến nhiều vùng y tế, và khả năng địa phương đã bị dồn đến mức giới hạn. Tại miền đông CHDC Congo, tình trạng di tản dân cư, mất an ninh, sự chuyển dịch liên quan đến các hoạt động khai thác khoáng sản và sự mong manh của hệ thống y tế đang làm cho việc kiểm soát đợt bùng phát trở nên khó khăn hơn đáng kể.  Đối với Caritas Congo ASBL, thực trạng này đại diện cho một tình trạng khẩn cấp về y tế, một cuộc khủng hoảng xã hội và một thách thức lớn đối với các cộng đồng. Tác động rất sâu rộng và đang được cảm nhận trong đời sống hằng ngày của các hộ gia đình. Các gia đình sống trong nỗi sợ hãi về căn bệnh, sợ mất người thân yêu hoặc bị cách ly kéo dài. Các chợ hoạt động cầm chừng, một số doanh nghiệp nhỏ đang chứng kiến lượng khách hàng giảm sút, và người lao động công nhật có thể mất đi nguồn thu nhập chính của họ. Đối với những hộ gia đình dễ bị tổn thương nhất, việc mất thu nhập nhanh chóng dẫn đến tình trạng mất an ninh lương thực. Các trung tâm y tế vốn đã đối mặt với sự thiếu hụt nhân sự, thiết bị và thuốc men, nay phải tăng cường các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn, trong khi vẫn phải tiếp tục cung cấp chăm sóc thiết yếu. Một trong những hệ lụy đáng lo ngại nhất là một số người trì hoãn việc tìm đến chăm sóc y tế vì sợ bị xác định là các ca nghi nhiễm.  Caritas đã bày tỏ “tình liên đới trọn vẹn” với các cộng đồng bị ảnh hưởng. Cha có thể chia sẻ một ví dụ cụ thể hoặc lời kể của một thành viên trong nhóm của Cha để minh họa những gì các gia đình bị ảnh hưởng đang phải trải qua không? Một ví dụ thường xuất hiện trong các cuộc trao đổi của chúng tôi với các nhóm địa phương tại những giáo phận bị ảnh hưởng là các gia đình có nhiều người chết chỉ trong vài ngày, trong khi lại phải đối mặt với sự cách ly, nỗi sợ hãi từ hàng xóm và sự bất định về tương lai. Chúng tôi nghe những báo cáo về những người cha người mẹ không còn được ôm con mình trong tay khi đứa trẻ đang được chăm sóc hoặc theo dõi y tế, về những đứa trẻ không hiểu tại sao người thân yêu của chúng lại bị đưa đi, và về những gia đình phải chấp nhận các biện pháp bảo đảm một lễ an táng xứng đáng và an toàn ngay cả khi họ đang trải qua nỗi đau thương mất mát to lớn.  Các biện pháp này bị từ chối không phải vì các gia đình không muốn bảo vệ cộng đồng; đôi khi chúng khó được chấp nhận vì chạm đến những cách thực hành văn hóa, tâm linh và gia đình rất nhạy cảm. Chính trong những thời điểm như thế, sự đồng hành mục vụ, xã hội và cộng đồng của chúng tôi mới thể hiện trọn vẹn ý nghĩa: lắng nghe, giải thích, nâng đỡ và giúp các gia đình cảm thấy mình không cô đơn.  Các nỗ lực ứng phó Ebola tại CHDC Congo thường vấp phải sự nghi ngờ sâu sắc từ các cộng đồng, đôi khi còn dẫn đến bạo lực chống lại các nhân viên y tế. Sự nghi ngờ này bắt nguồn từ đâu, và đang biểu hiện như thế nào trong bối cảnh của đợt bùng phát hiện nay? Sự nghi ngờ vực này bắt nguồn từ nhiều yếu tố: những kinh nghiệm trong quá khứ khi cộng đồng cảm thấy họ không được tham gia đầy đủ vào việc ra quyết định; sự lan truyền các tin đồn; sang chấn tâm lý liên quan đến xung đột vũ trang, nghèo đói và sự thiếu lòng tin vào một số định chế. Trong bối cảnh hiện nay, điều này có thể biểu hiện qua sự miễn cưỡng báo cáo triệu chứng, đồng ý truy vết tiếp xúc hoặc tuân thủ các biện pháp phòng ngừa. Đó là lý do tại sao một phản ứng thuần túy y khoa là không đủ. Truyền thông phải minh bạch, phù hợp với ngôn ngữ địa phương và dựa trên cuộc đối thoại chân thành với các cộng đồng.  Là một tổ chức tôn giáo bén rễ sâu trong các cộng đồng địa phương, Caritas làm thế nào để vượt qua những dè dặt này? Làm thế nào để tổ chức có thể thuyết phục những người dân đang hoảng sợ tin tưởng vào các can thiệp y tế? Trước khi yêu cầu mọi người tin tưởng chúng ta, trước hết chúng ta phải dành thời gian để lắng nghe họ.  Khi một cộng đồng đối mặt với một căn bệnh nguy hiểm, nhất là trong bối cảnh bị phủ bóng bởi xung đột, tin đồn và đau khổ, sợ hãi là một phản ứng tự nhiên. Chúng ta không thể chống lại nỗi sợ này chỉ bằng các thông điệp mang tính kỹ thuật; chúng ta phải chống lại nó bằng sự gần gũi, lắng nghe và đối thoại. Sức mạnh của Caritas nằm ở chỗ chúng tôi hiện diện bên cạnh các cộng đồng từ rất lâu trước khi khủng hoảng xảy ra. Qua các giáo xứ, các cơ cấu giáo phận, các điểm kết nối cộng đồng và các cơ sở y tế tôn giáo, chúng tôi thường chia sẻ đời sống hằng ngày của người dân. Những người chúng tôi hỗ trợ đã biết rõ chúng tôi, và mối quan hệ tin cậy này tạo điều kiện cho việc truyền thông trong những thời điểm khó khăn. Trên thực tế, chúng tôi dành thời gian lắng nghe các mối lo ngại của người dân, trả lời các câu hỏi bằng ngôn ngữ địa phương và làm việc với những người được tin cậy: các linh mục, tu sĩ, lãnh đạo cộng đồng, lãnh đạo phụ nữ, người trẻ và những người sống sót. Khi một thông điệp được truyền tải bởi một người mà cộng đồng biết rõ và tôn trọng, thông điệp ấy sẽ được hiểu rõ hơn và dễ được đón nhận hơn. Kinh nghiệm của chúng tôi cho thấy các cộng đồng có nhiều khả năng ủng hộ những can thiệp y tế hơn khi họ cảm thấy được tôn trọng, được lắng nghe và được tham gia vào công tác ứng phó.  Lòng tin được xây dựng khi các gia đình hiểu rằng những biện pháp được đề xuất nhằm bảo vệ họ, gìn giữ phẩm giá của họ và cứu sống con người. Chính lòng tin mang tính nhân bản này, được xây dựng theo thời gian, là một trong những tài sản lớn nhất của Caritas.  Có những quan ngại rất lớn về việc USAID gần đây cắt giảm và dừng viện trợ, điều gây ra lo ngại làm suy yếu các nỗ lực ứng phó y tế toàn cầu. Trên thực tế, những cắt giảm nguồn tài trợ này hiện đang ảnh hưởng thế nào đến cuộc chiến chống Ebola tại CHDC Congo? Sự bất định hoặc chậm trễ về nguồn tài trợ đang cản trở công tác ứng phó ở nhiều cấp độ. Trong một đợt bùng phát Ebola, tốc độ ứng phó là điều thiết yếu. Truy vết người tiếp xúc, giám sát cộng đồng, vận chuyển mẫu bệnh phẩm, sự sẵn có trang thiết bị bảo hộ cá nhân và đào tạo nhân viên y tế đều đòi hỏi các nguồn lực có thể được huy động nhanh chóng. Ở giai đoạn này, điều Caritas quan sát được trước hết là áp lực ngày càng lớn đối với các cơ sở địa phương, phải đáp ứng những nhu cầu ngày càng tăng với nguồn lực hạn chế. Chúng ta không thể khẳng định chắc chắn rằng các trung tâm y tế đã đóng cửa chỉ vì sự cắt giảm ngân sách. Tuy nhiên, rõ ràng là một số hoạt động thiết yếu có thể bị chậm lại, trì hoãn hoặc chịu áp lực nghiêm trọng khi nguồn tài trợ không được cung cấp kịp thời. Tình hình này có nguy cơ làm tổn hại đến hiệu quả của công tác ứng phó và càng khiến các nỗ lực bảo vệ những nhóm dân cư dễ bị tổn thương nhất trở nên phức tạp hơn.  Khi các nhà tài trợ truyền thống, như Hoa Kỳ, thu hẹp sự hỗ trợ của họ, hiện nay ai đang tài trợ cho công tác ứng phó với đợt bùng phát này? Các nhà tài trợ khác có lấp đầy được khoảng trống, hay đang có một sự thiếu hụt kinh phí nghiêm trọng? Công tác ứng phó do Chính phủ CHDC Congo điều phối, với sự hỗ trợ của WHO, hệ thống Liên Hợp Quốc, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Châu Phi, cùng nhiều đối tác kỹ thuật, tài chính, nhân đạo và tôn giáo. Trong mạng lưới Caritas Internationalis, các tổ chức như Caritas International Bỉ, CRS, CAFOD, Caritas Đức, Secours Catholique-Caritas Pháp, Caritas Tây Ban Nha, Caritas Ý và Caritas Áo đang cung cấp sự hỗ trợ quý giá về tài chính, kỹ thuật, thể chế và nhân đạo. Dù có sự hỗ trợ này, nhu cầu vẫn còn rất lớn, đặc biệt là trong việc huy động cộng đồng, hỗ trợ tâm lý xã hội, hậu cần địa phương, phòng ngừa và tăng cường bền vững các cơ sở y tế. Việc tiếp tục huy động nguồn lực vẫn là điều thiết yếu để bảo đảm một sự ứng phó hiệu quả.  Caritas hiện đang triển khai những hoạt động cụ thể nào tại thực địa ở miền đông CHDC Congo để ngăn chặn sự lây lan của virus và hỗ trợ các cộng đồng bị ảnh hưởng? Caritas chủ yếu tham gia vào việc huy động cộng đồng, nâng cao nhận thức về các biện pháp phòng ngừa, phổ biến thông tin đáng tin cậy, chuyển tuyến các ca nghi nhiễm đến những dịch vụ phù hợp và hỗ trợ các gia đình bị ảnh hưởng. Về mặt thực hành, điều này có nghĩa là tiếp cận cộng đồng, làm việc với các lãnh đạo địa phương, giải thích những dấu hiệu cảnh báo, khuyến khích việc rửa tay, thúc đẩy sự chấp nhận truy vết người tiếp xúc, hỗ trợ các gia đình có tang và góp phần giảm kỳ thị đối với những người bị ảnh hưởng hoặc đã hồi phục. Qua các mạng lưới giáo xứ, giáo phận và y tế, Caritas cũng góp phần thúc đẩy sự chấp nhận những can thiệp y tế, bằng cách cho thấy rằng công tác ứng phó không bị áp đặt lên cộng đồng, mà được xây dựng trên sự hợp tác với họ. Chúng tôi đang làm việc để bảo đảm rằng các cộng đồng không đơn thuần là đối tượng thụ hưởng, mà còn là những người tham gia tích cực vào công tác ứng phó. Vai trò của chúng tôi cũng là nêu bật các nhu cầu nhân đạo liên quan: lương thực, hỗ trợ tâm lý xã hội, bảo vệ trẻ em, hỗ trợ người di tản và trợ giúp các cơ sở y tế dễ bị tổn thương.  Đứng trước một dịch bệnh lây lan nhanh, việc cắt giảm viện trợ quốc tế và nỗi sợ hãi trong các cộng đồng, điều gì mang lại hy vọng cho Cha và các nhóm của Cha hôm nay? Nguồn hy vọng chính của chúng tôi là sức kiên cường của các cộng đồng. Dù sợ hãi, nhiều người sẵn sàng tìm kiếm thông tin, báo cáo các ca nghi nhiễm, bảo vệ gia đình và hỗ trợ những người hàng xóm. Chúng tôi cũng được khích lệ bởi sự dấn thân của nhân viên y tế, các cộng tác viên cộng đồng, các nhà lãnh đạo tôn giáo và những đối tác vẫn tiếp tục làm việc trong những điều kiện vô cùng khó khăn. Kinh nghiệm của CHDC Congo trong cuộc chiến chống Ebola cho thấy một đợt bùng phát có thể được kiểm soát khi công tác ứng phó nhanh chóng, có sự phối hợp chặt chẽ và đặt trên lòng tin. Hy vọng của chúng tôi cũng bắt nguồn từ tình liên đới: từ các gia đình nâng đỡ lẫn nhau, các cộng đồng tự tổ chức, nhân viên y tế tiếp tục chăm sóc người bệnh và các đối tác tăng cường trợ giúp. Đối với Caritas Congo ASBL, hy vọng bén rễ trong tình liên đới, lòng tin và vững tin rằng mỗi sinh mạng được cứu là thành quả của nỗ lực tập thể.  [Nguồn: cruxnow]  [Chuyển ngữ: TRI KHOAN 08/08/2026]

Đống đổ nát bị đốt cháy khi các nhân viên y tế và tuyến đầu biểu tình tại Trung tâm Điều trị Ebola Elikya ở Bunia, Cộng hòa Dân chủ Congo, ngày 25 tháng 7 năm 2026. (Ảnh AP/Constant Same Bagalwa)

Miền đông Cộng hòa Dân chủ Congo hiện đang chống chọi với đợt bùng phát Ebola lớn nhất và lây lan nhanh nhất trong lịch sử đất nước. Liên Hợp Quốc cho biết đến nay đã xác nhận 3.973 ca bệnh, và hơn 1.800 người đã tử vong vì căn bệnh này.

Đợt bùng phát do chủng Bundibugyo hiếm gặp của virus gây ra.

Trong khi các cộng đồng đang vật lộn với nỗi sợ hãi rất lớn, sự tàn phá kinh tế và những sang chấn tâm lý do xung đột vũ trang, công tác ứng phó nhân đạo lại càng trở nên phức tạp vì việc đình chỉ viện trợ quốc tế gần đây.

Trong cuộc phỏng vấn sâu rộng với Crux Now, Cha Edouard Makimba Milambo, Tổng Thư ký Caritas Congo, đã phân tích những thực tế khắc nghiệt tại hiện trường và giải thích vì sao các biện pháp can thiệp y tế thuần túy, truyền thống là không đủ.

Cha Milambo cảnh báo, “Chúng ta không thể chống lại nỗi sợ này chỉ bằng các thông điệp mang tính kỹ thuật”.

Cha giải thích, “Chúng ta chống lại nó bằng sự gần gũi, lắng nghe và đối thoại”.

Vị linh mục cũng thảo luận về cách Giáo hội Công giáo, với sự gắn bó sâu sắc từ lâu trong các cộng đồng địa phương, đang tạo cho Caritas một vị thế đặc biệt để tái lập lòng tin đã rạn nứt, giải quyết các tập tục tang lễ nhạy cảm về mặt văn hóa, và duy trì niềm hy vọng trước một dịch bệnh ngày càng tồi tệ hơn.

Sau đây là bản ghi cuộc phỏng vấn của Crux Now với cha Edouard Makimba Milambo thuộc Caritas Congo…
____________________________________

Crux Now: Liên Hiệp Quốc đã mô tả đây là đợt bùng phát lớn nhất và lan nhanh nhất từng được ghi nhận, khiến hơn 1.800 người tử vong, với gần 4.000 ca đã được ghi nhận. Từ góc nhìn của Caritas tại miền đông CHDC Congo, mô tả này có phản ánh thực tế tại hiện trường không?

Cha Edouard Makimba Milambo: Vâng, đáng tiếc là mô tả này hoàn toàn phù hợp với những gì các nhóm Caritas đang quan sát cùng với các tổ chức Caritas giáo phận liên quan.

Đằng sau các con số là những gia đình sống trong sợ hãi, những ngôi làng với đời sống thường nhật bị đảo lộn, và các nhân viên y tế đang làm việc dưới áp lực rất lớn.

Đợt bùng phát đang lây lan nhanh chóng, với các ca bệnh ảnh hưởng đến nhiều vùng y tế, và khả năng địa phương đã bị dồn đến mức giới hạn. Tại miền đông CHDC Congo, tình trạng di tản dân cư, mất an ninh, sự chuyển dịch liên quan đến các hoạt động khai thác khoáng sản và sự mong manh của hệ thống y tế đang làm cho việc kiểm soát đợt bùng phát trở nên khó khăn hơn đáng kể.

Đối với Caritas Congo ASBL, thực trạng này đại diện cho một tình trạng khẩn cấp về y tế, một cuộc khủng hoảng xã hội và một thách thức lớn đối với các cộng đồng.

Tác động rất sâu rộng và đang được cảm nhận trong đời sống hằng ngày của các hộ gia đình. Các gia đình sống trong nỗi sợ hãi về căn bệnh, sợ mất người thân yêu hoặc bị cách ly kéo dài.

Các chợ hoạt động cầm chừng, một số doanh nghiệp nhỏ đang chứng kiến lượng khách hàng giảm sút, và người lao động công nhật có thể mất đi nguồn thu nhập chính của họ. Đối với những hộ gia đình dễ bị tổn thương nhất, việc mất thu nhập nhanh chóng dẫn đến tình trạng mất an ninh lương thực.

Các trung tâm y tế vốn đã đối mặt với sự thiếu hụt nhân sự, thiết bị và thuốc men, nay phải tăng cường các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn, trong khi vẫn phải tiếp tục cung cấp chăm sóc thiết yếu.

Một trong những hệ lụy đáng lo ngại nhất là một số người trì hoãn việc tìm đến chăm sóc y tế vì sợ bị xác định là các ca nghi nhiễm.


Caritas đã bày tỏ “tình liên đới trọn vẹn” với các cộng đồng bị ảnh hưởng. Cha có thể chia sẻ một ví dụ cụ thể hoặc lời kể của một thành viên trong nhóm của Cha để minh họa những gì các gia đình bị ảnh hưởng đang phải trải qua không?

Một ví dụ thường xuất hiện trong các cuộc trao đổi của chúng tôi với các nhóm địa phương tại những giáo phận bị ảnh hưởng là các gia đình có nhiều người chết chỉ trong vài ngày, trong khi lại phải đối mặt với sự cách ly, nỗi sợ hãi từ hàng xóm và sự bất định về tương lai.

Chúng tôi nghe những báo cáo về những người cha người mẹ không còn được ôm con mình trong tay khi đứa trẻ đang được chăm sóc hoặc theo dõi y tế, về những đứa trẻ không hiểu tại sao người thân yêu của chúng lại bị đưa đi, và về những gia đình phải chấp nhận các biện pháp bảo đảm một lễ an táng xứng đáng và an toàn ngay cả khi họ đang trải qua nỗi đau thương mất mát to lớn.

Các biện pháp này bị từ chối không phải vì các gia đình không muốn bảo vệ cộng đồng; đôi khi chúng khó được chấp nhận vì chạm đến những cách thực hành văn hóa, tâm linh và gia đình rất nhạy cảm.

Chính trong những thời điểm như thế, sự đồng hành mục vụ, xã hội và cộng đồng của chúng tôi mới thể hiện trọn vẹn ý nghĩa: lắng nghe, giải thích, nâng đỡ và giúp các gia đình cảm thấy mình không cô đơn.


Các nỗ lực ứng phó Ebola tại CHDC Congo thường vấp phải sự nghi ngờ sâu sắc từ các cộng đồng, đôi khi còn dẫn đến bạo lực chống lại các nhân viên y tế. Sự nghi ngờ này bắt nguồn từ đâu, và đang biểu hiện như thế nào trong bối cảnh của đợt bùng phát hiện nay?

Sự nghi ngờ vực này bắt nguồn từ nhiều yếu tố: những kinh nghiệm trong quá khứ khi cộng đồng cảm thấy họ không được tham gia đầy đủ vào việc ra quyết định; sự lan truyền các tin đồn; sang chấn tâm lý liên quan đến xung đột vũ trang, nghèo đói và sự thiếu lòng tin vào một số định chế.

Trong bối cảnh hiện nay, điều này có thể biểu hiện qua sự miễn cưỡng báo cáo triệu chứng, đồng ý truy vết tiếp xúc hoặc tuân thủ các biện pháp phòng ngừa. Đó là lý do tại sao một phản ứng thuần túy y khoa là không đủ. Truyền thông phải minh bạch, phù hợp với ngôn ngữ địa phương và dựa trên cuộc đối thoại chân thành với các cộng đồng.


Là một tổ chức tôn giáo bén rễ sâu trong các cộng đồng địa phương, Caritas làm thế nào để vượt qua những dè dặt này? Làm thế nào để tổ chức có thể thuyết phục những người dân đang hoảng sợ tin tưởng vào các can thiệp y tế?

Trước khi yêu cầu mọi người tin tưởng chúng ta, trước hết chúng ta phải dành thời gian để lắng nghe họ.

Khi một cộng đồng đối mặt với một căn bệnh nguy hiểm, nhất là trong bối cảnh bị phủ bóng bởi xung đột, tin đồn và đau khổ, sợ hãi là một phản ứng tự nhiên. Chúng ta không thể chống lại nỗi sợ này chỉ bằng các thông điệp mang tính kỹ thuật; chúng ta phải chống lại nó bằng sự gần gũi, lắng nghe và đối thoại.

Sức mạnh của Caritas nằm ở chỗ chúng tôi hiện diện bên cạnh các cộng đồng từ rất lâu trước khi khủng hoảng xảy ra. Qua các giáo xứ, các cơ cấu giáo phận, các điểm kết nối cộng đồng và các cơ sở y tế tôn giáo, chúng tôi thường chia sẻ đời sống hằng ngày của người dân. Những người chúng tôi hỗ trợ đã biết rõ chúng tôi, và mối quan hệ tin cậy này tạo điều kiện cho việc truyền thông trong những thời điểm khó khăn.

Trên thực tế, chúng tôi dành thời gian lắng nghe các mối lo ngại của người dân, trả lời các câu hỏi bằng ngôn ngữ địa phương và làm việc với những người được tin cậy: các linh mục, tu sĩ, lãnh đạo cộng đồng, lãnh đạo phụ nữ, người trẻ và những người sống sót.

Khi một thông điệp được truyền tải bởi một người mà cộng đồng biết rõ và tôn trọng, thông điệp ấy sẽ được hiểu rõ hơn và dễ được đón nhận hơn.

Kinh nghiệm của chúng tôi cho thấy các cộng đồng có nhiều khả năng ủng hộ những can thiệp y tế hơn khi họ cảm thấy được tôn trọng, được lắng nghe và được tham gia vào công tác ứng phó.

Lòng tin được xây dựng khi các gia đình hiểu rằng những biện pháp được đề xuất nhằm bảo vệ họ, gìn giữ phẩm giá của họ và cứu sống con người. Chính lòng tin mang tính nhân bản này, được xây dựng theo thời gian, là một trong những tài sản lớn nhất của Caritas.


Có những quan ngại rất lớn về việc USAID gần đây cắt giảm và dừng viện trợ, điều gây ra lo ngại làm suy yếu các nỗ lực ứng phó y tế toàn cầu. Trên thực tế, những cắt giảm nguồn tài trợ này hiện đang ảnh hưởng thế nào đến cuộc chiến chống Ebola tại CHDC Congo?

Sự bất định hoặc chậm trễ về nguồn tài trợ đang cản trở công tác ứng phó ở nhiều cấp độ.

Trong một đợt bùng phát Ebola, tốc độ ứng phó là điều thiết yếu. Truy vết người tiếp xúc, giám sát cộng đồng, vận chuyển mẫu bệnh phẩm, sự sẵn có trang thiết bị bảo hộ cá nhân và đào tạo nhân viên y tế đều đòi hỏi các nguồn lực có thể được huy động nhanh chóng.

Ở giai đoạn này, điều Caritas quan sát được trước hết là áp lực ngày càng lớn đối với các cơ sở địa phương, phải đáp ứng những nhu cầu ngày càng tăng với nguồn lực hạn chế.

Chúng ta không thể khẳng định chắc chắn rằng các trung tâm y tế đã đóng cửa chỉ vì sự cắt giảm ngân sách.

Tuy nhiên, rõ ràng là một số hoạt động thiết yếu có thể bị chậm lại, trì hoãn hoặc chịu áp lực nghiêm trọng khi nguồn tài trợ không được cung cấp kịp thời.

Tình hình này có nguy cơ làm tổn hại đến hiệu quả của công tác ứng phó và càng khiến các nỗ lực bảo vệ những nhóm dân cư dễ bị tổn thương nhất trở nên phức tạp hơn.


Khi các nhà tài trợ truyền thống, như Hoa Kỳ, thu hẹp sự hỗ trợ của họ, hiện nay ai đang tài trợ cho công tác ứng phó với đợt bùng phát này? Các nhà tài trợ khác có lấp đầy được khoảng trống, hay đang có một sự thiếu hụt kinh phí nghiêm trọng?

Công tác ứng phó do Chính phủ CHDC Congo điều phối, với sự hỗ trợ của WHO, hệ thống Liên Hợp Quốc, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Châu Phi, cùng nhiều đối tác kỹ thuật, tài chính, nhân đạo và tôn giáo.

Trong mạng lưới Caritas Internationalis, các tổ chức như Caritas International Bỉ, CRS, CAFOD, Caritas Đức, Secours Catholique-Caritas Pháp, Caritas Tây Ban Nha, Caritas Ý và Caritas Áo đang cung cấp sự hỗ trợ quý giá về tài chính, kỹ thuật, thể chế và nhân đạo.

Dù có sự hỗ trợ này, nhu cầu vẫn còn rất lớn, đặc biệt là trong việc huy động cộng đồng, hỗ trợ tâm lý xã hội, hậu cần địa phương, phòng ngừa và tăng cường bền vững các cơ sở y tế. Việc tiếp tục huy động nguồn lực vẫn là điều thiết yếu để bảo đảm một sự ứng phó hiệu quả.


Caritas hiện đang triển khai những hoạt động cụ thể nào tại thực địa ở miền đông CHDC Congo để ngăn chặn sự lây lan của virus và hỗ trợ các cộng đồng bị ảnh hưởng?

Caritas chủ yếu tham gia vào việc huy động cộng đồng, nâng cao nhận thức về các biện pháp phòng ngừa, phổ biến thông tin đáng tin cậy, chuyển tuyến các ca nghi nhiễm đến những dịch vụ phù hợp và hỗ trợ các gia đình bị ảnh hưởng.

Về mặt thực hành, điều này có nghĩa là tiếp cận cộng đồng, làm việc với các lãnh đạo địa phương, giải thích những dấu hiệu cảnh báo, khuyến khích việc rửa tay, thúc đẩy sự chấp nhận truy vết người tiếp xúc, hỗ trợ các gia đình có tang và góp phần giảm kỳ thị đối với những người bị ảnh hưởng hoặc đã hồi phục.

Qua các mạng lưới giáo xứ, giáo phận và y tế, Caritas cũng góp phần thúc đẩy sự chấp nhận những can thiệp y tế, bằng cách cho thấy rằng công tác ứng phó không bị áp đặt lên cộng đồng, mà được xây dựng trên sự hợp tác với họ. Chúng tôi đang làm việc để bảo đảm rằng các cộng đồng không đơn thuần là đối tượng thụ hưởng, mà còn là những người tham gia tích cực vào công tác ứng phó.

Vai trò của chúng tôi cũng là nêu bật các nhu cầu nhân đạo liên quan: lương thực, hỗ trợ tâm lý xã hội, bảo vệ trẻ em, hỗ trợ người di tản và trợ giúp các cơ sở y tế dễ bị tổn thương.


Đứng trước một dịch bệnh lây lan nhanh, việc cắt giảm viện trợ quốc tế và nỗi sợ hãi trong các cộng đồng, điều gì mang lại hy vọng cho Cha và các nhóm của Cha hôm nay?

Nguồn hy vọng chính của chúng tôi là sức kiên cường của các cộng đồng.

Dù sợ hãi, nhiều người sẵn sàng tìm kiếm thông tin, báo cáo các ca nghi nhiễm, bảo vệ gia đình và hỗ trợ những người hàng xóm. Chúng tôi cũng được khích lệ bởi sự dấn thân của nhân viên y tế, các cộng tác viên cộng đồng, các nhà lãnh đạo tôn giáo và những đối tác vẫn tiếp tục làm việc trong những điều kiện vô cùng khó khăn.

Kinh nghiệm của CHDC Congo trong cuộc chiến chống Ebola cho thấy một đợt bùng phát có thể được kiểm soát khi công tác ứng phó nhanh chóng, có sự phối hợp chặt chẽ và đặt trên lòng tin.

Hy vọng của chúng tôi cũng bắt nguồn từ tình liên đới: từ các gia đình nâng đỡ lẫn nhau, các cộng đồng tự tổ chức, nhân viên y tế tiếp tục chăm sóc người bệnh và các đối tác tăng cường trợ giúp.

Đối với Caritas Congo ASBL, hy vọng bén rễ trong tình liên đới, lòng tin và vững tin rằng mỗi sinh mạng được cứu là thành quả của nỗ lực tập thể.


[Nguồn: cruxnow]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 08/08/2026]