Thứ Ba, 22 tháng 9, 2026

Tiếp kiến các tham dự viên Hội nghị do Bộ Phong thánh tổ chức, “Thế kỷ XXI: một thời đại mới của các vị tử đạo?”, 16.09.2026

Tiếp kiến các tham dự viên Hội nghị do Bộ Phong thánh tổ chức, “Thế kỷ XXI: một thời đại mới của các vị tử đạo?”, 16.09.2026

Tiếp kiến các tham dự viên Hội nghị do Bộ Phong thánh tổ chức, “Thế kỷ XXI: một thời đại mới của các vị tử đạo?”, 16.09.2026

*******

Sáng nay, tại Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã tiếp kiến các tham dự viên Hội nghị được tổ chức bởi Bộ Phong thánh và Ủy ban về Các vị Tử đạo mới – Những Chứng nhân Đức tin, với chủ đề “Thế kỷ XXI: một thời đại mới của các vị tử đạo?”.

Sau đây là bài diễn văn Đức Thánh Cha gửi tới những người hiện diện trong cuộc gặp gỡ:


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.
Bình an cho anh chị em!

Kính thưa Đức Hồng y,
Anh chị em thân mến!

Tôi vui mừng chào mừng anh chị em khi kết thúc Hội nghị Thế kỷ XXI: một thời đại mới của các vị tử đạo?, do Bộ Phong thánh và Ủy ban về Các vị Tử đạo mới – Những Chứng nhân Đức tin tổ chức. Danh xưng này bao hàm một phạm trù rộng hơn, khác biệt với các vị tử đạo với án phong chân phước đang được tiến hành và những vị đã chính thức được ghi danh vào sổ bộ các Chân phước và các Thánh. Thật vậy, Ủy ban được Đức Thánh Cha Phanxicô thành lập năm 2023, nhằm tập hợp các chứng từ về những người đã hy sinh mạng sống vì Đức Kitô, bất kể tiến trình giáo luật, để gương sáng của họ không bị lãng quên.

Họ là những người anh chị em đã hiến dâng mạng sống cho Tin Mừng trong những bối cảnh địa lý, lịch sử và chính trị khác nhau. Họ nhắc chúng ta nhớ đến những lời của Đấng Phục sinh trong lần hiện ra cuối cùng trước khi Người lên trời: “Nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1:8). Lời chứng của họ nói với chúng ta rằng ngay trong thời đại của chúng ta, một thời đại đang bị thống trị bởi văn hóa quyền lực, sức mạnh vô hạn và sự phát triển không ngừng của các hệ thống vũ khí (x. Thông điệp Magnifica Humanitas, Chương V), vẫn là một thời đại chứng kiến sự anh dũng của những người mà chúng ta trìu mến gọi là “những nhân chứng mới của đức tin”.

Nhiều người trong số họ bị sát hại do sự lạm dụng quyền lực hoặc bởi các tổ chức tội phạm, vì là người Kitô hữu, họ chống lại những bất công này nhân danh Tin Mừng. Khái niệm “chứng nhân đức tin” được hình thành chính là để nhìn nhận và tôn vinh những hoàn cảnh lịch sử phức tạp, trong đó động cơ của những thủ phạm không thể được quy kết một cách dứt khoát là “sự thù ghét đức tin”. Từ góc độ này, công việc của Ủy ban về Các vị Tử đạo mới – Những Chứng nhân Đức tin, với sự hỗ trợ của Bộ Phong thánh, mang tính chất sử học và giáo dục, chứ không mang tính pháp lý, tập trung vào tâm thế của nạn nhân hơn là động cơ của các thủ phạm. Nói cách khác, điểm nhấn được đặt vào sự thật rằng nạn nhân vẫn trung thành với Đức Kitô trong việc dấn thân cho Tin Mừng, và đã trung thành cho đến chết.

Chính Chúa Giêsu đã báo trước điều này trong Bữa Tiệc Ly: “Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16:33). Nơi những chứng nhân đức tin này, chúng ta thấy rõ rằng sự kiên trì làm việc thiện và lòng trung thành, ngay cả khi đạt đến tột đỉnh là hiến thân trong tình yêu, đã kín múc sức mạnh từ chiến thắng của Con Chiên bị sát tế trên sự dữ, niềm xác tín duy nhất có khả năng đem lại bình an sâu thẳm cho những ai tin vào Người.

Họ biểu lộ cách cách sống anh hùng của Kitô giáo, một cách sống không bao giờ tìm kiếm sự đối đầu, nhưng hóa giải sự đối đầu bằng sức mạnh của sự hiền lành. Như Đức Thánh Cha Phanxicô viết: “Người môn đệ sẵn sàng đặt cả cuộc đời mình vào vòng nguy hiểm, thậm chí chấp nhận tử đạo, để làm chứng cho Đức Giêsu Kitô; tuy nhiên, mục tiêu không phải là tạo ra kẻ thù, nhưng là để lời Thiên Chúa được đón nhận và khả năng giải phóng, đổi mới của Lời được tỏ lộ” (Tông huấn Evangelii gaudium, số 24).

Sức mạnh loan báo Tin Mừng của các chứng nhân đức tin mới chính là một trong những nguồn lực lớn lao nhất của Giáo hội để rao giảng Tin Mừng trong thế giới hôm nay, đúng như lời khẳng định nổi tiếng của Thánh Phaolô VI trong Tông huấn Evangelii nuntiandi: “Con người thời nay sẵn lòng lắng nghe các chứng nhân hơn là các thầy dạy, và nếu họ có nghe các thầy dạy, thì đó là vì các thầy chính là những chứng nhân” (số 41).

Các chứng nhân đức tin không đề xuất một hệ tư tưởng, nhưng cho thấy một đức tin được sống trong cuộc sống thường nhật. Tính khả tín của họ xuất phát từ sự nhất quán giữa lời nói và hành động, một sự nhất quán thường được thể hiện đến mức hy sinh cao cả nhất. Trong những bối cảnh văn hóa thờ ơ, “sự thánh thiện bên cạnh” và sự dũng cảm âm thầm trở thành những luận cứ mạnh mẽ, có khả năng nói với mọi người, kể cả những người hoài nghi nhất.

Các bạn thân mến, chúng ta ngưỡng mộ những người anh chị em này như những vì sao tỏa sáng giữa bóng tối của sự ích kỷ và áp bức. Họ giúp Giáo hội phản chiếu cách trọn vẹn hơn ánh sáng của Chúa Kitô, để chỉ cho nhân loại thời nay con đường dẫn đến nền văn minh tình thương. Tất cả chúng ta đều được mời gọi góp phần vào “viễn cảnh của sự dấn thân này, công trường xây dựng niềm hy vọng này” (Thông điệp Magnifica Humanitas, số 185). Bằng việc hiến dâng mạng sống cho công lý, sự thật, hòa bình và tự do, các chứng nhân đức tin đã góp phần cách hiệu quả vào sự xuất hiện của trời mới đất mới, điều chúng ta mong chờ với sự tín thác nơi lòng thương xót của Thiên Chúa.

Tôi cảm ơn anh chị em vì sự tận tâm trong việc thực hiện sứ vụ quý giá này, và tôi hy vọng rằng những ngày nghiên cứu và thảo luận của anh chị em sẽ mang lại nhiều hoa trái. Xin sự chuyển cầu của Đức Maria Rất Thánh, Nữ Vương các Thánh Tử đạo, ban cho anh chị em được điều ấy, và nguyện xin Phép lành Tòa Thánh mà tôi ban cho tất cả anh chị em đồng hành cùng anh chị em.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 17/09/2026]



TUYÊN PHONG CHÂN PHƯỚC ĐỨC CHA FULTON SHEEN/III - Một người Mỹ tại Công đồng Vaticanô II: Đóng góp của Đức Tổng Giám mục Sheen vào Sắc lệnh “Ad gentes” về hoạt động truyền giáo của Giáo hội

TUYÊN PHONG CHÂN PHƯỚC ĐỨC CHA FULTON SHEEN/III - Một người Mỹ tại Công đồng Vaticanô II: Đóng góp của Đức Tổng Giám mục Sheen vào Sắc lệnh “Ad gentes” về hoạt động truyền giáo của Giáo hội

Thứ Ba, ngày 15 tháng 9 năm 2026

TUYÊN PHONG CHÂN PHƯỚC ĐỨC CHA FULTON SHEEN/III - Một người Mỹ tại Công đồng Vaticanô II: Đóng góp của Đức Tổng Giám mục Sheen vào Sắc lệnh “Ad gentes” về hoạt động truyền giáo của Giáo hội

Marie-Lucile Kubacki

Thành Vatican (Hãng Thông tấn Fides) – Đây là một tình tiết ít được biết đến trong Công đồng Vaticanô II, nhưng sắc lệnh về hoạt động truyền giáo của Giáo hội đã có sự đóng góp rất nhiều từ một vị giám mục người Mỹ: Fulton J. Sheen.

Trong số gần 2.500 giám mục tham dự bốn kỳ họp của Công đồng từ tháng 10 năm 1962 đến tháng 12 năm 1965, Đức cha Sheen đã tham gia tích cực vào các cuộc tranh luận và để lại một hồ sơ đáng kể qua các bài phát biểu của ngài. Được Đức Gioan XXIII bổ nhiệm vào Ủy ban Tiền Công đồng về Hành động Công giáo, rồi vào Ủy ban Truyền giáo, ngài là thành viên người Mỹ duy nhất của ủy ban này trong suốt thời gian Công đồng, vượt Đại Tây Dương ba hoặc bốn lần một năm để tham dự các phiên họp được tiến hành hoàn toàn bằng tiếng Latinh cũng như chính Công đồng. Sự hiện diện ấy đã được Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI nhắc lại trong chuyến viếng thăm năm 2012 tới nhà "Ad Gentes" của các nhà truyền giáo Dòng Ngôi Lời tại Nemi, nơi Ủy ban tổ chức các cuộc họp: "Nơi đó có sự hiện diện của rất nhiều nhà thần học vĩ đại, với nhiệm vụ cao cả và quan trọng là soạn thảo một Sắc lệnh về Truyền giáo".

Sau khi nhắc đến cha Schütte, Bề trên Tổng quyền Dòng Ngôi Lời, người từng sống tại Trung Quốc, "tràn đầy nhiệt huyết truyền giáo, ý thức về nhu cầu mang lại một động lực mới cho tinh thần truyền giáo" và đã mời ngài đến tham dự, Đức Bênêđictô kể lại về Đức cha Fulton Sheen, "người khiến chúng tôi say mê qua những bài nói chuyện của ngài vào buổi tối", về cha Congar, và các nhà truyền giáo học vĩ đại của Louvain. Đức Bênêđictô nói: "Đối với tôi, đó là một sự phong phú thiêng liêng, một ân ban lớn lao. Sắc lệnh không gặp phải sự phản đối đáng kể nào. Tuy nhiên, đã có một cuộc tranh luận mà tôi chưa bao giờ thực sự hiểu thấu đáo, giữa trường phái Louvain và trường phái Münster: mục đích chính yếu của việc truyền giáo là implantatio Ecclesiae hay loan báo Tin Mừng [Evangelii]? Nhưng mọi sự đều quy tụ vào một động lực duy nhất: nhu cầu mang ánh sáng của Lời Chúa, ánh sáng tình yêu của Thiên Chúa, đến cho thế giới, và qua việc loan báo này đem lại niềm vui mới.


Những cuộc đàm đạo riêng với Đức Giáo hoàng Roncalli

Từ rất lâu trước khi Công đồng khai mạc, Đức cha Sheen đã cảm nhận rằng một sự thay đổi đang đến gần trong Giáo hội Công giáo.

Khi cầu nguyện tại Lộ Đức vào mùa hè năm 1959, chỉ ít tháng sau khi Đức Gioan XXIII công bố ý định triệu tập Công đồng, vị giám mục người Mỹ đã bị đánh động bởi những đám đông người hành hương bình dị. "Đây chính là Giáo hội của người nghèo", ngài nói với một người bạn đồng hành, với hàm ý trước hết là những người có tinh thần nghèo khó, một cụm từ báo trước sự nhấn mạnh mà ngài sẽ mang vào nghị trường Công đồng sau này. Sự nhấn mạnh đó một phần xuất phát từ mối tương quan cá nhân chân thành với vị Giáo hoàng đã khởi xướng dự án này.

Hằng năm, khi diện kiến Đức Giáo hoàng Gioan XXIII trên cương vị Giám đốc Quốc gia Hội Giáo hoàng Truyền bá Đức tin, Đức cha Sheen đã trở thành một người tâm phúc: Đức Giáo hoàng đã tiết lộ với ngài về quyết định triệu tập Công đồng trước khi công bố chính thức, và trong một buổi tối tham quan riêng các căn hộ của giáo hoàng, Đức Giáo hoàng đã trao cho Đức cha Sheen một chiếc nhẫn giám mục cùng một thánh giá đeo trước ngực, rồi dặn ngài: "Bây giờ Đức Cha hãy cất chúng vào túi và giấu đi. Tôi không muốn làm các giám mục khác phải ghen tị".


Sứ mạng của Giáo hội “bị tổn thương bởi sự nghèo khó”

Sự vững tin của Đức cha Sheen cũng được tôi luyện qua các chuyến đi giảng thuyết tại Mỹ Latinh và châu Phi trước và trong thời gian diễn ra Công đồng: những chiến dịch truyền giáo lớn tại Argentina và Brazil, các giáo điểm truyền giáo ở Kenya, một khu dân cư bị tách biệt trong thời kỳ phân biệt chủng tộc ở Johannesburg. Sau này, ngài viết: "Tôi bắt đầu bớt suy nghĩ về vấn đề nghèo đói để suy nghĩ nhiều hơn về người nghèo", và nói thêm: "Những chuyến đi chỉ khẳng định thêm giáo huấn thần học rằng nhân loại là một".

Dấu ấn quan trọng nhất của ngài trên một bản văn Công đồng duy nhất được thể hiện qua cuộc tranh luận về lược đồ truyền giáo mà sau này trở thành Sắc lệnh Ad Gentes. Là người phát biểu cuối cùng trong số hai mươi tám nghị phụ Công đồng vào ngày 9 tháng 11 năm 1964, sau khi nhiều vị đã phê bình bản dự thảo ban đầu, Đức cha Sheen đã định hướng lại vấn đề: thay vì câu hỏi mang tính khái niệm "Truyền giáo là gì?", ngài đặt câu hỏi thực tiễn "Đâu là những vùng truyền giáo?" lập luận rằng những vùng truyền giáo không chỉ tồn tại trong các “lãnh thổ ngoài Kitô giáo”, mà còn ở những giáo phận nghèo, thiếu linh mục, chưa bao giờ được chính thức xếp loại là vùng truyền giáo, nơi các giám mục từ những vùng chỉ có "bảy đến mười linh mục phụ trách 50.000 dặm vuông" đã tìm đến ngài để xin trợ giúp.

Về những vùng ấy, ngài đặt câu hỏi: "Đó có phải là Kitô giáo không? Có phải là Công giáo không? Liệu có xứng đáng với đức ái của Đức Kitô không khi nói với họ rằng: ‘Các anh em không thuộc lãnh thổ truyền giáo'?" Ngài nhận xét rằng chính Thông điệp Ecclesiam Suam của Đức Phaolô VI cũng hiếm khi sử dụng từ “truyền giáo”, mà ưu tiên từ “đối thoại”; đồng thời cảnh báo về những sự phân chia theo thẩm quyền: "Trong Thân Thể Đức Kitô không có ‘các Giáo hội mới’, cũng không có ‘các Giáo hội cũ’, bởi vì tất cả chúng ta đều là những tế bào sống động trong Thân Thể ấy và phụ thuộc lẫn nhau", ngài nói. Như một phương thế khắc phục, ngài ủng hộ một ý tưởng đã được đưa vào bản thảo: một cơ quan điều phối mới, "Hội đồng Trung ương về Loan báo Tin Mừng", mà ngài gọi là "giải pháp Công giáo đích thực cho vấn đề về sự đa dạng của các sứ mạng truyền giáo".

Một nghị phụ đã yêu cầu xóa bỏ mọi đề cập đến sự nghèo khó khỏi bản văn; Đức cha Sheen lại thúc đẩy lập trường ngược lại, mời gọi các nghị phụ "hãy đặt ngón tay lên vĩ tuyến 30; vẽ đường ấy quanh quả địa cầu, hơi nâng lên phía trên Trung Quốc", bởi vì "hầu như toàn bộ sự thịnh vượng đều nằm phía trên vĩ tuyến 30, còn phần lớn sự nghèo khó của thế giới nằm phía dưới vĩ tuyến 30, tức là tại châu Phi, châu Á và châu Mỹ Latinh". Ngài kết thúc bằng câu nói được nhớ đến nhiều nhất của ngài tại Công đồng: "Nếu như đức khiết tịnh là hoa trái của Công đồng Trentô, và sự vâng phục là hoa trái của Công đồng Vaticanô I, thì ước mong tinh thần nghèo khó cũng trở thành hoa trái của Công đồng Vaticanô II này", rồi kết luận rằng "chỉ một Giáo hội bị thương tích bởi sự nghèo khó mới có thể hoán cải một thế giới đang hoài nghi".

Sắc lệnh hoàn chỉnh, sắc lệnh đầu tiên mà một Công đồng dành riêng cho hoạt động truyền giáo, đã được thông qua với số phiếu áp đảo, mang theo nhiều điều mà Đức cha Fulton Sheen đã lập luận: một tuyên bố mạnh mẽ về bổn phận của Giáo hội đối với người nghèo, sự điều phối thông qua Hội Truyền bá Đức tin, và lời khẳng định rằng mỗi giám mục được "thánh hiến không chỉ cho một giáo phận nào đó, mà là vì ơn cứu độ của toàn thế giới."

Đức cha Sheen cũng theo đuổi cùng một luận lý ấy trong Sắc lệnh Optatam Totius, Sắc lệnh về đào tạo linh mục, đề nghị rằng các chủng sinh "thăm viếng và giúp đỡ người đau ốm, người nghèo, những người ngoài Công giáo, những người Công giáo đã xa lìa đức tin... những người trong tù, những người lao động", và trải qua các mùa hè tại các giáo điểm thiếu nhân sự, để "mang lấy ‘gánh nặng cả ngày và sức nóng’". Bản văn cuối cùng đã làm nhẹ đi đề nghị này. Ngài và Đức Hồng y Francis Joseph Spellman cũng cùng ủng hộ Sắc lệnh Apostolicam Actuositatem, Sắc lệnh về Tông đồ Giáo dân, được thông qua với 2.340 phiếu thuận và 2 phiếu chống.

Đức cha Sheen đã hai lần thúc đẩy một tuyên bố đầy đủ hơn về phụ nữ: lần đầu là nỗ lực không thành công nhằm dành ra một chương riêng biệt, bởi vì "nguyên lý nữ tính trong tôn giáo đã bị xem nhẹ... chúng ta bắt đầu sống trong một thời đại mà phụ nữ đang khẳng định vị trí của họ"; sau đó, trong Hiến chế Gaudium et Spes, ngài bảo vệ những phẩm chất mà ngài tin rằng chỉ phụ nữ mới mang đến cho nền văn minh: "Sự thanh khiết, bảo vệ những người yếu thế, hy sinh, sự sinh sản, duy trì và chăm sóc sự sống con người". Về hiến chế hoàn chỉnh này, Đức cha Sheen trên hết ca ngợi "sự thật rằng phẩm giá và tự do của con người không thể tách rời khỏi ơn cứu độ", đồng thời nhấn mạnh rằng Giáo hội phải tránh hai cạm bẫy để đạt được điều đó: "Câu trả lời không được tìm thấy trong việc tách biệt khỏi thế gian... và Giáo hội cũng không thể đáp trả lại cùng một thách đố mà thế gian đã quăng vào Đấng là Đầu Giáo hội trên Thánh giá: ‘Hãy xuống khỏi đó và chúng ta sẽ tin.’"


“Tình trạng xáo trộn” hậu Công đồng và lịch sử Giáo hội

Đức cha Sheen đã trở lại sự cân bằng đó trong một số hội nghị hậu Công đồng, lập luận rằng tình trạng xáo trộn xuất phát từ sự nhầm lẫn về một từ ngữ duy nhất: "Tất cả những xáo trộn mà chúng ta đã trải qua trong Giáo hội, kể từ Công đồng Vatican, đều xoay quanh việc chúng ta hiểu sai về từ 'thế giới'," ngài phân biệt thế giới là công trình tạo dựng tốt đẹp của Thiên Chúa với từ “thế gian” theo nghĩa khác trong Kinh Thánh, tức là một tổ chức không có Thiên Chúa. Ngài cảnh báo rằng nếu làm mờ nhạt sự phân biệt ấy, đời sống đạo đức sẽ bị đảo ngược: "Khoảng năm mươi năm trước, người ta thường nói: ‘Tôi thánh thiện hơn bạn’; ngày nay, họ nói: ‘Tôi thuộc về thế tục hơn bạn.’"

Điều đó cũng chia rẽ dân Thiên Chúa thành hai thái cực: ngài nói: "Một người loạn thần (psychotic) tin rằng hai cộng hai bằng năm; một người rối loạn thần kinh (neurotic) tin rằng hai cộng hai bằng bốn và phát điên vì điều đó", vì vậy "những người loạn thần sẽ khiến Giáo hội trở nên già nua; còn những người loạn thần kinh sẽ khiến Giáo hội tự sát".

Đức cha Sheen đặt tình trạng xáo trộn hậu Công đồng vào trong một khuôn khổ dài hơn của lịch sử Giáo hội. Trong cuốn tự truyện, ngài viết: "Những căng thẳng phát sinh sau Công đồng không gây ngạc nhiên cho những ai biết toàn bộ lịch sử Giáo hội. Có một sự thật lịch sử rằng bất cứ khi nào có sự tuôn đổ của Chúa Thánh Thần như trong một công đồng chung của Giáo hội, thì cũng luôn có một sự phô trương gia tăng sức mạnh của thế lực chống lại Thần Khí hoặc của ma quỷ. Từ buổi ban đầu, ngay sau Lễ Ngũ tuần và và việc Thánh Thần ngự xuống trên các tông đồ, cuộc bách hại đã bắt đầu với vụ giết Thánh Stêphanô. Nếu một công đồng chung không khơi lên tinh thần xáo trộn, người ta hầu như có thể hoài nghi về hoạt động của Ngôi Ba Thiên Chúa trên cộng đoàn." Ngài trở lại với mối nguy hiểm ấy trong một bài giảng tĩnh tâm có tựa đề “Quyền lực của ma quỷ trong thế giới hôm nay”, khi hướng đến những cám dỗ mà Satan đã đưa ra cho Đức Kitô trong hoang địa, và xem cơn cám dỗ cuối cùng, tức quyền thống trị thế gian để đổi lấy việc thờ lạy, là cuộc thử thách đang đến của chính Giáo hội; đồng thời diễn giải lại luận lý của kẻ cám dỗ: "Thần học là chính trị, hãy quên Thiên Chúa của anh đi, hãy quên tội lỗi, hãy quên cảm giác tội lỗi, hãy quên sự thánh thiện, hãy làm những việc thuộc về chính trị".

Đối với Đức cha Sheen, việc Công đồng mở ra với thế giới không phải là sự phản bội hay đầu hàng. Chính ngài từ lâu đã thực hành sự dấn thân đó, dựa trên một phạm vi các tham chiếu trí thức, tôn giáo và thế tục đặc biệt rộng lớn trong những bài giảng và tác phẩm của ngài, một cách tiếp cận gần gũi hơn với nền thần học cổ xưa về semina verbi, những hạt giống của Lời được gieo rắc trong mọi nền văn hóa và bối cảnh: sự phân định để nhận ra hạt giống tốt giữa cỏ lùng trong bất kỳ môi trường nào, và giúp hạt giống tốt ấy bén rễ.
(Hãng tin Fides, 15/9/2026)


[Nguồn: fides.org]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 17/09/2026]