Thứ Năm, 12 tháng 2, 2026

Những suy tư của Đức Thánh Cha Lêô XIV về nghệ thuật giáo dục Kitô giáo

Những suy tư của Đức Thánh Cha Lêô XIV về nghệ thuật giáo dục Kitô giáo

Những suy tư của Đức Thánh Cha Lêô XIV về nghệ thuật giáo dục Kitô giáo

Diễn văn của Đức Thánh Cha trước các thành viên tham dự Hội nghị Toàn thể của Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống


06 THÁNG 02 NĂM 2026 17:39

ZENIT STAFF


(ZENIT News / Vatican City, 05.02.2026). - Sáng thứ Sáu, ngày 06 tháng 02, trong Hội trường Clementine thuộc Điện Tông tòa, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã tiếp kiến các thành viên của Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống, đang quy tụ tại Roma để tham dự Phiên họp Toàn thể. Dưới đây là diễn từ của Đức Thánh Cha:


*******


Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.
Bình an cho anh chị em!

Thưa Đức Hồng y, thưa quý Đức cha,
Quý linh mục, anh chị em thân mến,

Tôi rất vui mừng được gặp anh chị em trong những ngày này, khi anh chị em đang quy tụ về đây tham dự Phiên họp Toàn thể của Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống. Trọng tâm công việc của anh chị em là các chủ đề về đào tạo Kitô giáo và các Đại hội Thế giới, là những thực tại quan trọng đối với toàn thể Giáo hội.

Các Đại hội Thế giới quy tụ một lượng lớn người tham dự và đòi hỏi công tác tổ chức phức tạp, lắng nghe và cộng tác với các cộng đoàn địa phương cũng như với các cá nhân và tổ chức, mà nhiều người trong số đó có bề dày và kinh nghiệm quý giá về công cuộc loan báo Tin Mừng.

Tuy nhiên, tôi muốn đặc biệt tập trung vào chủ đề đào tạo Kitô giáo. Những lời của Thánh Phaolô mà anh chị em chọn làm chủ đề cho cuộc họp lần này đã chỉ ra một hướng đi rõ ràng về phương diện đó. Nếu chúng ta xem xét trọn vẹn câu được trích dẫn, chúng ta đọc thấy: “Hỡi anh em, những người con bé nhỏ của tôi, mà tôi phải quặn đau sinh ra một lần nữa cho đến khi Đức Kitô được thành hình nơi anh em!” (Gl 4:19). Thánh Tông đồ gọi các tín hữu Galát là “những người con bé nhỏ của tôi”, hàm ý một sự “quặn đau” mà qua đó, không thiếu những nỗi thống khổ, ngài đã dẫn dắt họ đón nhận Đức Kitô. Như thế, việc đào tạo được đặt trong bối cảnh của sự “sinh thành”, của “trao ban sự sống”, “sinh ra”, trong một động lực mà dù có đau đớn, vẫn dẫn người môn đệ đến sự kết hiệp sống động với chính con người Đấng Cứu Độ, đang sống và hoạt động trong họ, Đấng có khả năng biến đổi việc “sống theo tính xác thịt” (x. Rm 7:5) thành “đời sống có Đức Kitô ở trong chúng ta” (x. 2 Cr 13:5; Gl 2:20).

Đây là một chủ đề hết sức gần gũi với Thánh Tông đồ và hiện diện trong nhiều đoạn viết trong các bài đọc của ngài. Chẳng hạn, khi ngỏ lời với tín hữu Côrintô: “Thật thế, cho dầu anh em có ngàn vạn giám thị trong Đức Kitô, anh em cũng không có nhiều cha đâu, bởi vì trong Đức Kitô Giêsu, nhờ Tin Mừng, chính tôi đã sinh ra anh em” (1 Cr 4:15).

Quả thật, trong Giáo hội, đôi khi hình ảnh người đào tạo như một “nhà sư phạm”, chuyên chú vào việc truyền đạt những hướng dẫn và năng lực tôn giáo, đã lấn lướt hình ảnh người “cha” có khả năng sinh thành đức tin. Nhưng, sứ mạng của chúng ta cao cả hơn thế nhiều, và vì vậy chúng ta không thể dừng lại ở việc truyền thụ một giáo thuyết, một sự tuân giữ, hay một luân lý, nhưng đúng hơn, chúng ta được mời gọi chia sẻ những gì chúng ta đang sống, với lòng quảng đại, tình yêu chân thành dành cho các linh hồn, sẵn lòng chịu đau khổ vì người khác, và hiến thân không điều kiện, như những bậc cha mẹ hy sinh bản thân vì con cái của mình.

Và điều này dẫn chúng ta đến một khía cạnh khác của việc đào tạo: chiều kích cộng đoàn. Quả thật, cũng như sự sống con người được truyền sinh nhờ tình yêu giữa một người nam và một người nữ, thì đời sống Kitô hữu cũng được thông chuyển qua tình yêu của một cộng đoàn. Không phải chỉ một mình linh mục, hay một giáo lý viên, hoặc một vị lãnh đạo đặc sủng sinh ra đức tin, nhưng chính là Giáo hội (x. Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium, 24 tháng 11 năm 2012, số 111), một Giáo hội hiệp nhất, sống động, gồm các gia đình, người trẻ, những người độc thân, người sống đời tận hiến, được thúc đẩy bởi đức ái, và từ đó khao khát sinh hoa kết trái, để thông chuyển cho mọi người, và nhất là cho các thế hệ trẻ, niềm vui và ý nghĩa viên mãn mà Giáo hội đang sống và cảm nghiệm. Ước muốn của cha mẹ khi sinh con không phát xuất từ nhu cầu có được một điều gì đó, nhưng là khát vọng cho đi, chia sẻ sự dư tràn của tình yêu và niềm vui cư ngụ trong họ, và chính tại đây, mọi công cuộc đào tạo đều tìm thấy cội rễ của mình.

Sau khi Phục sinh, Chúa Giêsu đã trao phó sứ mạng truyền giáo cho các Tông đồ, truyền dạy các ông hãy “làm cho muôn dân trở thành môn đệ”, “làm phép rửa cho họ” và “dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (x. Mt 28:19-20). Tôi nhắc lại những lời này vì chúng tóm lược các yếu tố nền tảng khác trong sứ mạng của người đào tạo mà tôi cũng muốn nhấn mạnh.

Trước hết, cần phải cổ võ những lộ trình đời sống nhất quán, lôi cuốn và mang tính cá nhân dẫn đến bí tích Rửa tội và các bí tích khác, hoặc dẫn đến việc tái khám phá các bí tích này, bởi vì không có các bí tích ấy thì không có đời sống Kitô hữu (x. Bênêđictô XVI, Tông huấn Sacramentum caritatis, 22 tháng 02 năm 2007, số 6).

Kế đến, tầm quan trọng của việc giúp những người bắt đầu hành trình đức tin đến bước trưởng thành và gìn giữ một lối sống mới bao trùm mọi lãnh vực của cuộc sống, cả riêng tư lẫn cộng đồng, như việc làm, các mối tương quan và cách cư xử hằng ngày (x. Thánh Gioan Phaolô II, Diễn văn gửi các thành viên tham dự Đại hội Khoáng đại của Hội đồng Giáo hoàng về Văn hóa, 16 tháng 03 năm 2002, số 3).

Hơn nữa, điều thiết yếu là phải nuôi dưỡng trong các cộng đoàn của chúng ta những khía cạnh đào tạo hướng đến việc tôn trọng sự sống con người trong mọi giai đoạn, đặc biệt là những khía cạnh góp phần phòng ngừa mọi hình thức lạm dụng trẻ vị thành niên và những người dễ bị tổn thương, cũng như đồng hành và nâng đỡ các nạn nhân.

Như chúng ta thấy, nghệ thuật đào tạo không dễ dàng và không thể làm cách tùy tiện: nó đòi hỏi sự kiên nhẫn, lắng nghe, đồng hành, phân định và thẩm định, cả ở bình diện cá nhân lẫn cộng đoàn, và không thể tách rời khỏi kinh nghiệm cũng như sự đồng hành của những người đã sống con đường ấy, để học hỏi và noi theo mẫu gương của họ. Do đó, qua các thế kỷ, các bậc vĩ nhân thiêng liêng như Thánh Inhaxiô Loyola, Thánh Philipphê Nêri, Thánh Giuse Calasanz, Thánh Gaspar del Bufalo và Thánh Gioan Leonardi đã xuất hiện. Chính trong tinh thần này mà Thánh Augustinô, ngay sau khi được chọn làm giám mục, đã soạn thảo luận thuyết De catechizandis rudibus, với những chỉ dẫn vẫn còn hữu ích và giá trị cho đến ngày nay.

Vì vậy, thưa anh chị em, cũng dưới ánh sáng của những mẫu gương ấy, tôi động viên anh chị em trong cam kết của mình, và tôi cảm ơn anh chị em vì sự trợ giúp mà anh chị em dành cho Bộ trong việc suy tư về các chủ đề này. Những thách đố mà anh chị em đối diện đôi khi dường như vượt quá sức lực và nguồn lực của anh chị em. Tuy nhiên, anh chị em đừng nản lòng. Hãy bắt đầu từ những điều nhỏ bé, đi theo luận lý của Tin Mừng về “hạt cải” (x. Mt 13:31-32), vững tin rằng Chúa luôn luôn ban cho anh chị em sức lực, con người và những ơn cần thiết vào đúng thời điểm. Hãy nhìn lên Mẹ Maria: khi trao tặng Đức Kitô cho chúng ta, Mẹ đã “cộng tác bằng đức ái để các tín hữu được sinh ra trong Giáo hội, là những chi thể của Đầu ấy” (Thánh Augustinô, De sancta virginitate 6, 6). Hãy noi gương đức tin của Mẹ và luôn phó thác cho sự chuyển cầu của Mẹ.

Thưa anh chị em, một lần nữa tôi xin cảm ơn, tôi luôn nhớ đến anh chị em trong lời cầu nguyện, và tôi ban phép lành cho anh chị em.


[Nguồn: zenit]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 10/2/2026]


Phỏng vấn Sơ Brambilla – người phụ nữ tiên phong tại Vatican

Phỏng vấn Sơ Brambilla – người phụ nữ tiên phong tại Vatican

Phỏng vấn Sơ Brambilla – người phụ nữ tiên phong tại Vatican

I.MEDIA Sr. Simona Brambilla


I.Media

06/02/26


Sơ Simona Brambilla, nữ Tổng trưởng đầu tiên của một Bộ trong Giáo triều Roma, trao đổi với Aleteia về hòa bình, việc tái khám phá “tia lửa khởi đầu” và vai trò của phụ nữ.

“Tôi vẫn tự xem mình là một người mới, một kiểu ‘người mới bắt đầu’,” Sơ Simona Brambilla thú nhận sau một năm được bổ nhiệm trở thành nữ tổng trưởng đầu tiên của Giáo triều Roma, trong một cuộc phỏng vấn với I.MEDIA.

Vị nữ tu người Ý hiện đang đứng đầu Bộ các Tu hội Đời sống Thánh hiến và các Hiệp hội Đời sống Tông đồ. Văn phòng của Nữ tu chịu trách nhiệm đồng hành với khoảng khoảng 650.000 tu sĩ nam nữ trên toàn thế giới (theo số liệu thống kê năm 2022).

Sơ nhấn mạnh đến sứ mạng đặc thù của những người sống đời thánh hiến trong việc cổ võ hòa bình, “giữa thời đại bị đánh dấu bởi quá nhiều bạo lực”.


Thông điệp Hòa bình

Theo Sơ, đâu là thông điệp cấp bách nhất cần được chuyển tải đến các cộng đoàn thánh hiến trong bối cảnh những thách đố sâu sắc về văn hóa và thiêng liêng hiện nay?

Sơ Simona Brambilla: Trong một thời đại bị đánh dấu bởi quá nhiều bạo lực, tôi nhận thấy đời sống tận hiến được mời gọi một cách đặc biệt để đào sâu và sống thách đố của hòa bình mỗi ngày, theo ý nghĩa mà Đức Thánh Cha không ngừng đề xuất. Đó là thách đố bao hàm lời mời gọi hãy vun trồng và giải phóng những gì mang tính nhân bản nhất trong chúng ta: lòng trắc ẩn, lòng thương xót, và chọn không đáp trả bạo lực bằng bạo lực, nhưng phá vỡ vòng xoáy chết chóc của sự dữ bằng sự kiên vững hiền hòa, ngay cả trước những khiêu khích của sự ngạo mạn, thống trị và xâm lược, dưới các hình thức lộ liễu hoặc xảo quyệt nhất.

Trong sứ điệp Ngày Thế giới Hòa bình năm nay, Đức Thánh Cha Lêô XIV lưu ý rằng các môn đệ đã ngỡ ngàng trước phản ứng bất bạo động của Chúa Giêsu: “một con đường mà tất cả họ, trước hết là Phêrô, đã phản đối; thế nhưng Thầy vẫn yêu cầu họ đi theo con đường đó đến cùng. [...] Bình an của Chúa Giêsu Phục sinh là sự bình an phi vũ trang, bởi cuộc chiến của Chúa là một cuộc chiến không vũ trang giữa những hoàn cảnh lịch sử, chính trị và xã hội cụ thể. Người Kitô hữu phải cùng nhau đưa ra chứng tá ngôn sứ cho sự mới mẻ này, ý thức về những thảm kịch mà chính họ nhiều lần cũng là đồng lõa.”

Tôi tin rằng lời kêu gọi này của Đức Thánh Cha có thể trở thành lời mời gọi thực sự cho chúng tôi, những người sống đời thánh hiến, là hãy làm nở hoa trong tâm hồn, trong cộng đoàn, trong các mối tương quan, trong những nơi và hoàn cảnh chúng tôi hiện diện, “nền hòa bình hoang dại” (wild peace), mà Đức Thánh Cha đã nói trong Sứ điệp Urbi et Orbi mùa Giáng sinh vừa qua, không phải là một nền hòa bình bị thuần hóa, “được chế tạo”, mà là một nền hòa bình sống động, rung động, thao thức trong những thớ sợi sâu thẳm nhất của hữu thể chúng ta, đang kêu gọi được giải phóng, được phục sinh, với sức mạnh vừa mãnh liệt vừa khiêm nhu.

Đó là sức mạnh của Tình yêu bị đâm thâu, có khả năng trỗi dậy, phục sinh và đứng vững, bất khuất và dịu dàng. Đó là sức mạnh của sự tha thứ, của lòng trắc ẩn, và lòng xót thương mà bóng tối của sự dữ không thể phá vỡ, không thể dập tắt, hay đánh bại.
“Trở về với con tim”

Khởi đầu triều đại giáo hoàng của Đức Lêô XIV đã ảnh hưởng thế nào đến những ưu tiên của Bộ Đời sống Thánh hiến, và đâu là những định hướng cụ thể đang hình thành cho tương lai của các cộng đoàn tu trì?

Sơ Brambilla: Chúng tôi đã có cơ hội gặp trực tiếp Đức Lêô XIV trong Năm Thánh Đời sống Thánh hiến, được tổ chức tại Roma từ ngày 8 đến 12 tháng 10 năm 2025. Toàn thể Bộ đều hiện diện, cùng với hàng ngàn nam nữ tu sĩ đến từ khắp mọi miền trên thế giới. Trong bài huấn dụ trước những người tham dự, Đức Thánh Cha đã đưa ra nhiều hình ảnh gợi mở, có thể hướng dẫn cho hành trình của chúng tôi.

Ngài nhắc nhở về tầm quan trọng của việc được bén rễ sâu trong Đức Kitô: “Hiệp nhất với Người và trong Người, những ánh sáng nhỏ bé của anh chị em sẽ trở thành những vệt sáng trên con đường rực sáng trong công trình vĩ đại của hòa bình và ơn cứu độ mà Thiên Chúa dành cho nhân loại.

Vì thế, tôi gửi đến anh chị em – những người con của các Đấng Sáng lập – lời thúc giục tha thiết hãy ‘trở về với con tim’, là nơi anh chị em có thể tái khám phá ngọn lửa đã thắp sáng những khởi đầu cho lịch sử của mình, khi những người đi trước anh chị em đã được trao phó một sứ mạng cụ thể, một sứ mạng chưa hoàn tất và được trao phó cho anh chị em hôm nay.”

Tôi thấy hình ảnh những ánh sáng nhỏ cùng nhau tạo nên con đường rực sáng rất đẹp và đầy ý nghĩa. Không ai trong chúng ta là nguồn sáng "lớn", dù là cá nhân hay Hội dòng. Ánh Sáng chính là Đức Kitô. Sự nhỏ bé thuộc về chúng ta, là những thụ tạo ý thức về sự mỏng giòn của mình nhưng được Thiên Chúa yêu thương, để trong đó một tia sáng của Người có thể được phản chiếu. Chúng ta không được gọi để tỏa sáng đơn độc, mà để hợp nhất những ánh sáng nhỏ bé của chúng ta, để cùng nhau bước đi.


Tái khám phá “tia sáng”

Sơ Brambilla: Lời mời gọi “trở về với trái tim” của ngài để tái khám phá “tia sáng” cũng hết sức có ý nghĩa. Đó là một sự khích lệ hãy ghi nhớ và trở thành một phần của dòng sông lớn của lịch sử Hội dòng, của Giáo hội và của nhân loại, để tái khám phá gia sản thiêng liêng đầu tiên và độc đáo mà chúng ta đã lãnh nhận: đặc sủng làm sinh động đời sống của một Hội dòng thuộc Đời sống Tận hiến hoặc Tu đoàn Tông đồ, và đang rung động trong trái tim mỗi thành viên.

Sau đó, Đức Thánh Cha mời gọi chúng tôi suy tư cách rõ ràng về một chủ đề trọng yếu khác: đó là tính hiệp hành. Tôi tin rằng những lời kêu gọi ấy của Đức Thánh Cha đã vạch ra cho chúng tôi một con đường rõ ràng và đầy hứng khởi.

Đức Thánh Cha đã đến thăm Bộ của Sơ chưa?

Sơ Brambilla: Đức Thánh Cha vẫn chưa đến thăm Bộ của chúng tôi, nhưng chúng tôi hy vọng sẽ sớm được đón tiếp ngài!


Nữ Tổng trưởng đầu tiên của một Bộ

Việc Sơ được bổ nhiệm làm vị nữ Tổng trưởng đầu tiên vào tháng 1 năm 2025 là một dấu chỉ mạnh mẽ. Sự hiện diện của Sơ trong cương vị này được Giáo triều và các dòng tu trên toàn thế giới đón nhận như thế nào?

Sơ Brambilla: Tôi tin rằng lựa chọn của Đức Thánh Cha Phanxicô nằm trong một tiến trình ngày càng mang tính hiệp hành, rộng mở, bao gồm, đối thoại và loan báo Tin Mừng của Giáo hội. Trong nội bộ của Bộ, nơi tôi đã phục vụ một năm với tư cách Thư ký trước khi Đức Thánh Cha bổ nhiệm tôi làm Tổng trưởng, tôi đã nhận được sự đón nhận đầy tình anh chị em thân thuộc; tâm tình tương tự cũng diễn ra trong thế giới của đời sống tận hiến.

Tôi vẫn xem mình là người rất mới, như kiểu một “người mới bắt đầu” trong Giáo triều Roma và trong Bộ, và tôi đang học hỏi rất nhiều từ nhiều người, và tôi vô cùng biết ơn họ. Tôi đang dần nỗ lực để mình chìm vào dòng chảy của lịch sử, để nắm bắt các động lực, sức sống của nó, và để bản thân được chất vấn, đón nhận những câu hỏi nảy sinh trong lòng và biến chúng thành chủ đề suy tư và đối thoại với những người bạn đồng hành trong nhiều dịp và bối cảnh khác nhau.


Phụ nữ là một hồng ân

Sau một năm, những dấu chỉ nào có thể được nhận thấy trong Giáo triều về sự hiện diện của phụ nữ? Sơ cảm nhận những thay đổi nào đang dần dần diễn ra?

Sơ Brambilla: Không lâu sau khi tôi bắt đầu sứ vụ Thư ký tại Bộ (vào tháng 12 năm 2023), tôi đã thực sự được đánh động bởi bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô vào ngày 01 tháng 01 năm 2024, nhân dịp Lễ trọng Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa và Ngày Thế giới Hòa bình:

"Giáo hội cần Đức Maria để tìm lại dung mạo nữ tính của mình, để trở nên giống hơn với người nữ, Đức Trinh nữ và là Mẹ, là khuôn mẫu và là hình ảnh hoàn hảo của Giáo hội (x. Lumen Gentium, 63); mở ra không gian cho phụ nữ và trở nên 'có khả năng sinh ra' (generative) qua một mục vụ được ghi dấu bởi sự quan tâm, chăm sóc, kiên nhẫn và lòng can đảm mẫu tử. Thế giới này cũng cần nhìn vào những người mẹ và người phụ nữ để tìm kiếm hòa bình, để thoát khỏi vòng xoáy bạo lực, hận thù, và một lần nữa biết nhìn mọi sự với đôi mắt và trái tim thực sự nhân bản. Mọi xã hội cần phải đón nhận hồng ân là người phụ nữ, là mỗi người phụ nữ: tôn trọng, bảo vệ và quý trọng họ, với ý thức rằng bất cứ ai làm tổn thương đến một người phụ nữ là đang xúc phạm đến Thiên Chúa, Đấng đã được 'sinh ra bởi một người nữ'."

Tôi thực sự tin rằng để hòa bình có thể nảy mầm, lớn lên và trưởng thành trong tâm hồn mỗi người, giữa chúng ta, giữa các dân tộc, trong thế giới, trong công trình tạo dựng, hòa bình cần đến sự màu mỡ của một thửa đất nguyên sơ, một lòng mẹ không thể thiếu: mối tương quan lành mạnh, tốt đẹp, tin tưởng, tôn trọng, dịu dàng và sống động giữa người nam và người nữ.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 8/2/2026]