Hiển thị các bài đăng có nhãn Đại kết - Liên tôn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đại kết - Liên tôn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 31 tháng 8, 2026

Người Philippines là cộng đồng Công giáo chiếm đa số khác thường tại Châu Á

Người Philippines là cộng đồng Công giáo chiếm đa số khác thường tại Châu Á

Trong khi gần như mọi người Philippines đều là người Công giáo được rửa tội, thì chỉ có ba trong số 100 người Châu Á đã được rửa tội. Điều này có ý nghĩa gì?

26/08/2026

Simone Lorenzo-Peckson

Người Philippines là cộng đồng Công giáo chiếm đa số khác thường tại Châu Á

Là người Philippines thường rất dễ bỏ qua một thực tế rằng Công giáo chỉ là một thiểu số rất nhỏ tại Châu Á.

Trong khi người Công giáo chiếm khoảng 80% dân số Philippines, họ chỉ chiếm 3% dân số Châu Á. Nói cách khác, trong khi gần như mọi người Philippines đều là người Công giáo được rửa tội, thì chỉ có ba trong số 100 người Châu Á được rửa tội.

Để so sánh, Châu Mỹ có khoảng 60 người Công giáo trong số 100 người; Châu Âu có khoảng 35 người, Châu Đại Dương khoảng 25, trong khi Châu Phi có khoảng 18. Do đó, Châu Á là khu vực có tỷ lệ Công giáo thấp nhất trên thế giới. Khoảng cách này cho chúng ta thấy còn rất nhiều điều phải làm để rút ngắn lại khoảng cách giữa người Công giáo và người không Công giáo tại Châu Á, như đã được nhấn mạnh tại Đại hội Toàn thể của Liên hội Hội đồng Giám mục Châu Á (FABC) được tổ chức vào tháng 7 vừa qua:

“Như chúng tôi đã cùng nhau phân định, một sự đồng thuận chung nổi bật lên rằng, hơn bao giờ hết, Giáo hội tại Châu Á được kêu gọi trở thành một cầu nối và là người xây dựng cầu cầu thông qua việc không ngừng hoán cải theo tinh thần hiệp hành, đón nhận sự đa dạng phong phú của các nền văn hóa và các dân tộc chúng ta.”


Đôi nét lịch sử

Tầm nhìn này không phải là mới; nó đã xuất hiện ngay từ những ngày đầu của FABC. Khi các Giám mục Châu Á nhóm họp để thành lập liên hội trong chuyến viếng thăm lịch sử của Đức Giáo hoàng Phaolô VI đến Manila năm 1970, các ngài đã ý thức rõ về thách đố mục vụ trước mắt, với tư cách là những mục tử trên một lục địa mà phần lớn là người không theo Kitô giáo. Thay vì theo đuổi một chương trình cải đạo mang tính quyết liệt, các ngài đã chọn con đường mục vụ lấy đối thoại và tình liên đới làm trung tâm – một cách tiếp cận được diễn tả cách hoàn hảo qua hình ảnh xây dựng cầu nối.

Đến năm 1972, FABC chính thức định hình phương thức tiếp cận mang tính tương quan này trong quy chế của mình qua điều được gọi là “Ba cuộc đối thoại”: đối thoại với (1) các nền văn hóa Châu Á, (2) các tôn giáo Châu Á, và (3) người nghèo.

Ngay từ nền tảng thành lập, FABC đã kêu gọi các tín hữu Công giáo Châu Á nhìn nhận những người hàng xóm ngoài Công giáo là anh chị em và là những người bạn lữ khách đồng hành. Niềm tin tưởng cốt lõi này vẫn luôn được duy trì – đã âm vang trong những văn kiện đầu tiên và được tái khẳng định trong đại hội gần đây nhất của các ngài.


“Pakikipagkapwa”: vì sao đối thoại lại cộng hưởng với giá trị sâu sắc này của người Philippines

Niềm vững tin rằng xây dựng sự cộng tác mang lại hiệu quả cao hơn việc nhắm đến mục tiêu cải đạo không chỉ riêng cho người Châu Á. Chẳng hạn, Đức Giáo hoàng Lêô được biết đến là một người cổ vũ mạnh mẽ cho quan điểm này, cũng như các vị tiền nhiệm gần đây của ngài, đặc biệt là Đức Bênêđictô XVI.

Cách tiếp cận này cộng hưởng với bản năng của người Châu Á trong việc xây dựng những mối tương quan hòa hợp. Đối với người Philippines, khuynh hướng này được thể hiện qua giá trị pakikipagkapwa. Xuất phát từ gốc kapwa, có nghĩa là nhìn nhận người khác như một con người có cùng phẩm giá và nhân tính như chính mình, pakikipagkapwa chính là hình thức xây dựng cầu nối theo hình thức trực quan nhất. Khi chúng ta đến với những người hàng xóm ngoài Công giáo bằng sự tôn trọng và tình liên đới, chúng ta mở ra những con đường cho sự hợp tác và tình bằng hữu sâu sắc hơn.

Tuyên bố bế mạc của FABC khẳng định với các tín hữu Công giáo Châu Á rằng việc đến với những người thuộc các tôn giáo khác bằng sự tôn trọng và tình liên đới không làm tổn hại đến căn tính Công giáo, nhưng đúng hơn là hướng trở lại cốt lõi căn tính của chúng ta với tư cách là những môn đệ của Đức Giêsu. Là những môn đệ của Đức Kitô, chúng ta được mời gọi nhận ra hình ảnh của Ngài nơi mỗi con người, bất kể tín ngưỡng hay văn hóa, và trở nên hiện thân của chính cây cầu mà Ngài là:

"Chúng tôi rời Đại hội này với một niềm tin tưởng được đổi mới rằng chính Đức Kitô là Cầu nối sống động giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa và nhân loại, giữa các dân tộc, và giữa nhân loại với ngôi nhà chung của chúng ta. Đối với chúng ta, bước theo Ngài là trở thành những nhịp cầu và những người xây dựng cầu nhân danh Ngài, trong chính thời đại và môi trường sống của chúng ta."


Đường hầm nối liền nhà thờ chánh tòa và đền thờ Hồi giáo

Trong thời gian ở Jakarta, các tham dự viên Đại hội toàn thể FABC đã đi bộ qua Đường hầm Hữu nghị (Tunnel of Friendship), nối Nhà thờ Chánh tòa Jakarta với Đền thờ Hồi giáo Istiqlal – một biểu tượng vật chất nổi bật về ơn gọi của người Công giáo là xây dựng những nhịp cầu nối với các dân tộc thuộc các niềm tin khác nhau.

Sứ mạng xây dựng cầu nối ấy đang được thể hiện cụ thể mỗi ngày trong đời sống của các lao động Philippines tại hải ngoại (OFW), 70% trong số họ đang làm việc tại các xã hội không theo Kitô giáo trên khắp Châu Á và Trung Đông. Họ là những người chăm sóc và bảo mẫu làm việc tại những nơi như Hồng Kông, Singapore và Đài Bắc; là những kỹ sư, y tá và nhân viên phục vụ làm việc tại Dubai và Riyadh.

Thay vì rao giảng trên tòa giảng, họ xây dựng những cây cầu sống động bằng sự hy sinh và lòng trắc ẩn mỗi ngày: kiên nhẫn chăm sóc những người chủ lao động cao tuổi, hy sinh sự thoải mái cá nhân để hỗ trợ gia đình ở quê nhà, phục vụ những người di cư đồng hương và mở rộng lòng hiếu khách chân thành đến tất cả những người họ gặp gỡ.

Chính chứng tá âm thầm này, được nhân lên hàng triệu lần đã tỏ lộ Đức Giêsu mà không cần một bài giảng hay một cuộc tranh luận. Qua lòng nhân hậu bền bỉ và tình liên đới ấm áp, những người Philippines di cư biến nơi làm việc xa lạ thành những không gian gặp gỡ thiêng liêng. Qua họ, Đường hầm Hữu nghị tại Jakarta trở thành một cầu nối hằng ngày được xây dựng bằng chính đời sống con người thể hiện điều các giám mục Châu Á đã hình dung:

“Tại Châu Á, một lục địa được chúc phúc với những nền văn minh cổ xưa, các tôn giáo lớn đầy sức sống và những dân tộc trẻ trung, chúng ta được kêu gọi trở thành những cầu nối và những người xây dựng cầu: những cây cầu của lòng tin và đối thoại nơi người khác dựng lên những bức tường nghi kỵ; những cây cầu hòa bình nơi bạo lực và xung đột chia rẽ các cộng đồng; những cây cầu của lòng trắc ẩn nơi người nghèo, những người dễ bị tổn thương và những người bị loại trừ khao khát phẩm giá; và những cây cầu hy vọng cho những người trẻ đang tìm kiếm ý nghĩa giữa những biến đổi của xã hội và công nghệ diễn ra nhanh chóng, sự phân mảnh toàn cầu và cuộc khủng hoảng sinh thái đang đe dọa ngôi nhà chung của chúng ta.”


Sâu sắc hơn và rộng lớn hơn những gì chúng ta thường nghĩ

Lời kêu gọi xây dựng những nhịp cầu của các giám mục mời gọi chúng ta đi vào cách hiểu về sứ mạng sâu sắc hơn và rộng lớn hơn.

Sâu sắc hơn, bởi vì điều đó đặt sứ mạng Kitô giáo trên nền tảng của tập quán lắng nghe chăm chú: lắng nghe Thiên Chúa trong cầu nguyện và phân định Thánh Thần khi Người nói qua những người khác.

Rộng lớn hơn, bởi vì nó mở rộng tầm nhìn của chúng ta để ôm trọn lấy tình liên đới, tình bằng hữu và sự hợp tác. Qua đại hội, các giám mục nhắc nhở toàn thể tín hữu Công giáo rằng mục đích của một tâm hồn truyền giáo không chỉ là mời gọi những người chưa tin đón nhận Bí tích Rửa tội; mà còn là đồng hành và phục vụ họ.

Đây là lý do tại sao tính hiệp hành lại vô cùng quan trọng đối với công cuộc của Giáo hội tại Châu Á. Tính hiệp hành cung cấp một khuôn khổ mục vụ để tương quan với những người anh chị em ngoài Kitô giáo theo cách tôn trọng các giá trị văn hóa về sự kính trọng và hòa hợp. Tuy nhiên, trước khi có thể cùng lữ hành bên cạnh họ, các giám mục cũng nhắc nhở chúng ta rằng trước hết, chúng ta phải để Chúa Thánh Thần hoán cải tâm hồn của chính chúng ta. Các ngài nhắc chúng ta rằng để công cuộc loan báo Tin Mừng sinh nhiều hoa trái tại Châu Á cũng như ở bất cứ nơi nào khác, chúng ta phải bắt đầu sự biến đổi này từ chính bản thân và từ những mối tương quan hiện tại của mình:

“Trong suốt những ngày cầu nguyện, lắng nghe, thinh lặng và đàm đạo trong Thánh Thần, chúng tôi một lần nữa cảm nghiệm rằng tính hiệp hành không đơn thuần là một phương pháp làm việc cùng nhau; trên hết, đó là một con đường hoán cải hướng đến sứ mạng. Trước khi biến đổi các cơ cấu của chúng ta, tính hiệp hành biến đổi tâm hồn chúng ta. Trước khi đổi mới các thể chế của chúng ta, nó đổi mới các mối tương quan của chúng ta.”

Sự thật này sẽ vang vọng vượt ra ngoài phạm vi Công giáo. Mahatma Gandhi đã trực cảm thấy điều tương tự khi ông viết:

“Chúng ta chỉ là tấm gương phản chiếu thế giới. Mọi khuynh hướng hiện diện trong thế giới bên ngoài đều được tìm thấy trong thế giới nơi thể xác của chúng ta. Nếu chúng ta có thể thay đổi chính mình, những khuynh hướng trong thế giới cũng sẽ thay đổi... Chúng ta không cần phải chờ xem người khác làm gì.”

Tính hiệp hành làm nổi bật những hiệu quả cộng đồng của nhận thức này: sự đổi mới mà mỗi người cảm nghiệm nơi chính bản thân phải lan tỏa ra bên ngoài vào đời sống của những người chung quanh. Hoán cải không nhằm để chúng ta trở nên những con người đơn độc. Hoán cải mời gọi mỗi người Kitô hữu vượt qua các rào cản, cùng bước đi bên nhau và khích lệ mọi người chúng ta gặp gỡ tiến đến gần hơn với Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng nên tất cả chúng ta.

Sau cùng, cuộc lữ hành chung này chính là cây cầu sống động mà Châu Á đang cần nhất.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 27/08/2026]


Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2026

Tiếp kiến các thành viên Phái đoàn Tòa Thượng phụ Đại kết nhân dịp lễ kính hai Thánh Phêrô và Phaolô, 30.06.2026

Tiếp kiến các thành viên Phái đoàn Tòa Thượng phụ Đại kết nhân dịp lễ kính hai Thánh Phêrô và Phaolô, 30.06.2026

Tiếp kiến các thành viên Phái đoàn Tòa Thượng phụ Đại kết nhân dịp lễ kính hai Thánh Phêrô và Phaolô, 30.06.2026

*******

Sáng nay, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã tiếp kiến các thành viên của Phái đoàn Tòa Thượng phụ Đại kết nhân dịp Lễ trọng kính Thánh Phêrô và Phaolô.

Sau đây là bài diễn văn của Đức Thánh Cha gửi đến những vị hiện diện trong cuộc gặp gỡ:

__________________________________


Kính thưa Đức Thượng phụ,
Thưa anh em thân mến trong Đức Kitô,

Tôi hết sức vui mừng được gặp gỡ anh em, sau khi chúng ta cùng cử hành Đại lễ kính hai Thánh Phêrô và Phaolô, là các thánh bổn mạng của Giáo hội Rôma, vào ngày hôm qua. Sự hiện diện của anh em giữa chúng tôi diễn tả sự gần gũi huynh đệ của Giáo hội Constantinople cũng như của vị Mục tử và hướng dẫn Giáo hội đó là Đức Thượng phụ Đại kết Bartholomew. Tôi vô cùng tri ân ngài cùng toàn thể các thành viên của Công đồng Đại kết vì đã cử anh em đến Rôma để tiếp nối truyền thống trao đổi các chuyến thăm nhân dịp lễ kính các Thánh Bổn mạng của hai Giáo hội chúng ta.

Cách riêng, tôi vẫn còn ghi nhớ cách sinh động lần tham dự Lễ Thánh Anrê tại Nhà thờ Thượng phụ Thánh George ở Phanar vào năm ngoái. Tôi nhớ lại với niềm vui và lòng biết ơn về những cuộc gặp gỡ giữa tôi và Đức Thượng phụ Bartholomew, qua đó chúng tôi đã đào sâu thêm tình bằng hữu, và chia sẻ quan điểm về nhiều vấn đề, trên hết là ước vọng chung của chúng tôi nhằm tiến bước trên con đường hướng tới sự hiệp nhất trọn vẹn giữa tất cả các Kitô hữu.

Về phương diện này, dịp kỷ niệm 1700 năm Công đồng chung Nicaea I được tổ chức vào ngày trước Lễ Thánh Anrê tại İznik, theo lời mời của Đức Thượng phụ Bartholomew và với sự hiện diện của đại diện đến từ các Giáo hội và các cộng đoàn hội thánh khác. Việc cử hành này đã cho thấy một chứng tá hùng hồn về sự hiệp thông vốn đã hiện hữu giữa những người cùng chung niềm tin vào Thiên Chúa là Cha của mọi người, và những ai tin vào Đức Giêsu Kitô là Chúa và là Con Thiên Chúa, và tin vào Chúa Thánh Thần, Đấng linh hứng và dẫn đưa chúng ta đến sự viên mãn của chân lý và hiệp nhất. Biến cố tưởng niệm đó đã làm sáng tỏ rằng Kinh Tin kính Nicea phải là nền tảng và nguyên tắc định hướng cho hành trình đại kết này, đưa ra một mẫu mực về sự hiệp nhất đích thực trong tính đa dạng chính đáng: Hiệp nhất trong Ba Ngôi, Ba Ngôi trong hiệp nhất (x. Tông thư In Unitate Fidei, số 12). Ước gì hành trình tiến tới việc cử hành hai ngàn năm công trình Cứu Chuộc vào năm 2033 được mọi hệ phái Kitô giáo trên toàn thế giới cùng nhau thực hiện, nhờ đó cùng tái khám phá hồng ân và lời mời gọi trở thành những chứng nhân của Đấng Phục sinh.

Trong một thời đại bị ghi đậm dấu bởi chiến tranh và tình trạng phân cực ngày càng lớn, cũng như những chia rẽ về văn hóa và xã hội, các Kitô hữu — khi đã được hòa giải với nhau và hiệp nhất trong việc tuyên xưng cùng một đức tin — được mời gọi trở nên dấu chỉ khả tín của hòa bình, qua đó có sự đóng góp mang tính quyết định cho những nỗ lực của tất cả mọi người thiện chí nhằm xây dựng hòa bình. Hơn nữa, trong hoàn cảnh hiện nay, điều đang bị đặt trước thử thách không chỉ là tính khả tín của sứ điệp Kitô giáo, mà là chính tương lai của nhân loại. Nhu cầu gia tăng sự cộng tác giữa các Kitô hữu để đối diện với những thách đố của thời đại — bao gồm hòa bình, sử dụng đúng đắn những công nghệ mới và chăm sóc công trình tạo dựng — bắt nguồn từ chính Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô. Thật vậy, trách nhiệm của chúng ta đối với sự sống và phẩm giá của mỗi con người, bắt đầu từ những người nhỏ bé nhất và những người túng thiếu nhất, chính là tiêu chuẩn sẽ quyết định vận mệnh hiện tại cũng như đời đời của chúng ta (x. Mt 25:31–46).

Thưa Đức Thượng phụ, các anh em thân mến, một lần nữa, tôi xin bày tỏ lòng cảm kích vì chuyến viếng thăm này, cũng như vì cam kết của chính anh em và của Tòa Thượng phụ Đại kết trong việc cổ võ sự hiệp nhất các Kitô hữu. Tôi luôn cầu nguyện cho anh em. Nhờ lời chuyển cầu của hai Thánh Tông đồ Phêrô và Anrê, là anh em cốt nhục và trong đức tin, xin Thiên Chúa là Cha chúng ta luôn đồng hành và ban phúc lành cho tất cả chúng ta. Cảm ơn anh em!


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 01/07/2026]


Thứ Bảy, 23 tháng 5, 2026

Cuộc gặp gỡ giữa Đức Thánh cha Lêô XIV và Đức Thượng phụ Aram I, Giáo hội Armenia Tông truyền – Toà Thượng phụ Cilicia, Lebanon, 18.05.2026

Cuộc gặp gỡ giữa Đức Thánh cha Lêô XIV và Đức Thượng phụ Aram I, Giáo hội Armenia Tông truyền – Toà Thượng phụ Cilicia, Lebanon, 18.05.2026

Cuộc gặp gỡ giữa Đức Thánh cha Lêô XIV và Đức Thượng phụ Aram I, Giáo hội Armenia Tông truyền – Toà Thượng phụ Cilicia, Lebanon, 18.05.2026

*******
Sáng nay, Đức Thánh cha Lêô XIV tiếp kiến Đức Thượng phụ Aram I của Giáo hội Armenia Tông truyền – Tòa Thượng phụ Cilicia, Lebanon.

Trong cuộc gặp gỡ, sau buổi hội đàm riêng và phần giới thiệu phái đoàn, Đức Thượng phụ Aram I và Đức Giáo hoàng Lêô XIV đã lần lượt đọc diễn văn của các ngài, tiếp đó là nghi thức tặng quà.

Sau cùng là giây phút cầu nguyện chung tại Nhà nguyện Urban VIII thuộc Điện Tông tòa Vatican.

Sau đây là diễn văn của Đức Thánh cha gửi đến Đức Aram I:

Diễn văn của Đức Thánh cha

Kính thưa Đức Thượng phụ, hiền huynh thân mến,

“Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giêsu Kitô ban cho anh em ân sủng và bình an.!” (Ep 1:2) Với lời chào của Thánh Tông đồ Phaolô, tôi hân hoan chào đón Đức Thượng phụ cùng các thành viên trong phái đoàn của ngài khi bắt đầu chuyến viếng thăm Giáo hội Rôma.

Có thể có một mối dây liên kết thiêng liêng nào lớn lao hơn giữa các Giáo hội của chúng ta ngoài Thánh Tông đồ Phaolô thành Tarsô, vị thánh sinh quán tại Cilicia, nơi đặt Tòa Thượng phụ của ngài, và đã lãnh nhận triều thiên tử đạo ngay tại chính Rôma này? Tôi xin phó thác chuyến hành hương đến Rôma của các vị cho Thánh Phaolô, vị Tông đồ kiệt xuất của sự hiệp thông giữa các Giáo hội. Nhưng làm sao tôi có thể không nhắc đến các vị đại thánh của Hội thánh, những người đã dấn thân vì sự hiệp nhất Kitô giáo? Tâm trí tôi hướng về Thánh Nerses the Gracious, Thượng phụ của Cilicia, người có thể được xem là một vị tiên phong của phong trào đại kết – và việc ngài vừa được ghi danh vào Sổ bộ các Thánh Tử đạo Rôma gần đây là một minh chứng khác cho “tinh thần đại kết của các thánh”, đã liên kết các Giáo hội của chúng ta.

Tọa lạc tại nơi giao thoa của các dân tộc và nền văn hóa khác nhau, Toà Thượng phụ Cilicia từ lâu đã ghi dấu ấn đặc trưng bởi ơn gọi đại kết, nhất là trong mối tương quan với Giáo hội Rôma. Mối tương quan đặc biệt này giữa các Giáo hội của chúng ta, vốn phát triển sâu đậm trong thời Trung cổ, đã chứng kiến những bước tiến triển mới ở thế kỷ XX và nhất là sau Công đồng Vatican II.

Tôi luôn nhớ đến vị tiền nhiệm khả kính của ngài, Đức Thượng phụ Khoren I, là vị Thượng phụ đầu tiên của một Giáo hội Chính thống giáo Đông phương đến viếng thăm Rôma sau Công đồng, ngay từ tháng 5 năm 1967. Thưa Đức Thượng phụ, bản thân ngài cũng nổi bật với lòng nhiệt thành đại kết không mệt mỏi, cả ở cấp độ địa phương, với tư cách là một trong những vị sáng lập Hội đồng các Giáo hội Trung Đông, và ở cấp độ quốc tế trong khuôn khổ Hội đồng các Giáo hội Thế giới, nơi ngài đã đảm nhiệm nhiều trọng trách.

Tôi hết sức tri ân những nỗ lực của Đức Thượng phụ trong việc thúc đẩy mối quan hệ với Giáo hội Công giáo, cũng như sự gần gũi của hiền huynh với Giáo hội Rôma, nơi ngài đến viếng thăm lần đầu tiên trên cương vị Thượng phụ trong Tuần lễ Cầu nguyện cho sự Hiệp nhất Kitô giáo vào tháng Giêng năm 1997, và kể từ đó đã nhiều lần làm vinh dự cho chúng tôi bằng sự hiện diện của ngài.

Tôi đặc biệt cảm ơn Đức Thượng phụ vì sự dấn thân cá nhân trong việc thúc đẩy đối thoại thần học giữa các Giáo hội của chúng ta, một tiến trình đã được thực hiện từ năm 2003 trong khuôn khổ của Ủy ban Quốc tế hỗn hợp về Đối thoại Thần học giữa Giáo hội Công giáo và các Giáo hội Chính thống Đông phương. Cuộc đối thoại này, được hưởng lợi ích từ sự đóng góp quý báu của các đại biểu Armenia, đã công bố ba văn kiện có ý nghĩa quan trọng về bản chất và sứ mạng của Giáo hội, về sự hiệp thông trong Hội thánh sơ khai và về các bí tích. Tôi chân thành hy vọng rằng, dù có nhiều những khó khăn gần đây, cuộc đối thoại này sẽ tiếp tục với một sức sống mới, vì không thể có sự phục hồi hiệp thông giữa các Giáo hội của chúng ta nếu không có sự hiệp nhất trong đức tin.

Sự hiện diện của Đức Thượng phụ giữa chúng tôi gợi nhớ về đất nước quê hương thân yêu của ngài, và nơi tôi đã có niềm vui được viếng thăm vào tháng Mười Hai năm trước. Vùng đất Lebanon này, vô cùng thân thương với trái tim tôi, vốn từ lâu đã chứng minh cho toàn thế giới thấy rằng những con người thuộc các nền văn hóa và tôn giáo đa dạng hoàn toàn có thể cùng chung sống như một quốc gia duy nhất, hiện đang tiếp tục phải đối mặt với những thử thách nghiêm trọng. Trong thời điểm khi sự thống nhất và toàn vẹn của đất nước của ngài một lần nữa bị đe dọa, các Giáo hội chúng ta được kêu gọi thắt chặt hơn nữa những mối dây huynh đệ, không chỉ để liên kết các Kitô hữu với nhau, mà còn với những anh chị em thuộc các cộng đồng khác trên cùng một quê hương chung. Thưa Đức Thượng phụ, tôi xin bảo đảm với ngài về lời cầu nguyện hằng ngày của tôi, cũng như về mối quan tâm sâu xa mà tôi dành cho người dân Lebanon và cho các Giáo hội tại Trung Đông, là chủ đề mà Đức Thượng phụ sẽ dành riêng một hội nghị để suy tư trong thời gian lưu lại Rôma.

Trong những ngày hướng tới lễ trọng Chúa Thánh Thần Hiện xuống, khi chúng ta chuẩn bị sống lại mầu nhiệm và phép lạ của việc Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Giáo hội sơ khai, tôi thật cảm kích vì sau cuộc gặp gỡ này, tôi có thể cùng với Đức Thượng phụ cầu nguyện với Chúa Thánh Thần, là Chúa và là Đấng ban sự sống, để Người ban cho chúng ta ơn hiệp nhất, ban tặng cho chúng ta nền hòa bình bền vững, và canh tân bộ mặt trái đất.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 19/05/2026]


Thứ Ba, 25 tháng 11, 2025

Đại sứ Li-băng tại Vatican nêu rõ những thách đố của chuyến tông du

Đại sứ Li-băng tại Vatican nêu rõ những thách đố của chuyến tông du

Đại sứ Li-băng tại Vatican nêu rõ những thách đố của chuyến tông du

Antoine Mekary | ALETEIA


I.Media

22/11/25


Chuyến viếng thăm của Đức Thánh Cha Lêô XIV tới Li-băng được xem là một cử chỉ ủng hộ mạnh mẽ đối với quốc gia này, đang phải đấu tranh để vượt qua nhiều cuộc khủng hoảng nhưng vẫn mang trong mình một sứ mạng toàn cầu.

Sau Thổ Nhĩ Kỳ, Đức Thánh Cha Lêô XIV sẽ đặt chân lên miền đất Li-băng vào ngày 30 tháng 11 trong chuyến tông du sẽ kết thúc vào ngày 2 tháng 12 năm 2025. Vài ngày trước chuyến đi lịch sử này, ông Fadi Assaf, tân đại sứ của Li-băng tại Tòa Thánh, đã chia sẻ những phân tích của ông về hành trình này.

Theo quan điểm của ông, chuyến thăm nhằm ủng hộ những nỗ lực của chính quyền hiện tại trong việc khôi phục chủ quyền của Li-băng.

Chuyến tông du của Đức Thánh Cha tới Thổ Nhĩ Kỳ vốn đã được dự kiến trong năm nay để kỷ niệm Công đồng Nicaea. Nhưng vì sao Đức Thánh Cha Lêô XIV lại chọn viếng thăm Li-băng, và thực hiện ngay trong năm đầu tiên của triều đại giáo hoàng của ngài?

Đức Thánh Cha Phanxicô cũng từng hứa sẽ thăm Li-băng, nhưng chuyến đi đã không thể diễn ra. Đối với người dân Li-băng, quyết định này của Đức Thánh Cha Lêô XIV ngay trong những tháng đầu tiên triều đại của ngài là một quyết định rất mạnh mẽ, nhất là khi nó được thúc đẩy bởi những động lực tương tự như những gì đã thôi thúc Đức Thánh Cha Phanxicô quyết định thăm Li-băng trước đây.

Thật vậy, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã chọn đến thăm Li-băng vào thời điểm đất nước đang phải đối mặt với những biến động của các cuộc biến chuyển địa chính trị lớn quét qua toàn vùng Cận Đông, và cuộc biến chuyển đã gia tăng tốc độ trong hai năm qua. Việc Li-băng chịu ảnh hưởng nặng nề trước các rủi ro địa chính trị hiện tại đòi hỏi sự huy động của các đồng minh trong khu vực và quốc tế của nước này.

Nếu chỉ dựa vào sức mình, Li-băng sẽ gặp vô vàn khó khăn để vượt qua các cuộc khủng hoảng đa diện, sâu sắc và phức tạp đang bủa vây. Đất nước đang rất cần đến vòng tay của các bạn hữu trong khu vực và quốc tế. Là một người bạn và là người ủng hộ lịch sử kiên định của Li-băng, Tòa Thánh hôm nay thấy mình ở tuyến đầu của mặt trận huy động này nhằm ủng hộ sự ổn định tại Đất nước của những cây Tuyết tùng.

Thúc đẩy ổn định và hòa bình

Sự hiện diện của Đức Giáo hoàng tại Li-băng sẽ mang lại ảnh hưởng gì?

Sức mạnh của Tòa Thánh nằm ở trọng lượng luân lý, tầm ảnh hưởng trên trường quốc tế, và khả năng huy động các bạn bè vì lợi ích của Li-băng.

Ổn định Li-băng, cung cấp sự hỗ trợ và bảo vệ, đồng thời dẫn dắt đất nước đi theo con đường hòa bình tóm tắt các thách đố mà bạn bè của Li-băng, trong đó có Tòa Thánh, đã tự đặt ra cho chính mình.

Tất cả những điều này cần phải bao hàm việc vô hiệu hóa những ảnh hưởng độc hại đến từ bên ngoài biên giới, và tái thiết một nhà nước có khả năng hoàn thành trọn vẹn sứ mạng của mình: một nhà nước kiểm soát toàn bộ lãnh thổ và biên giới, nắm giữ sự độc quyền về vũ khí, cam kết thực hiện một chương trình cải cách sâu rộng và nghiêm túc, đồng thời nỗ lực phát triển một tầm nhìn mới cho vai trò khu vực, tầm ảnh hưởng văn hóa, kinh tế và vị thế của mình trên thế giới.

Trong bối cảnh này, chắc chắn là đầy bất ổn nhưng cũng đầy hy vọng về tương lai, người dân Li-băng nhìn thấy nơi Đức Thánh Cha, một con người của hòa bình và đối thoại, như là tác nhân xúc tác cho những nỗ lực này.

Để vượt qua khủng hoảng thành công, Li-băng cần khôi phục nền hòa bình nội bộ và từ đó gìn giữ những mối quan hệ hòa hảo giữa các thành phần khác nhau trong xã hội. Bằng việc đến với đất nước chúng tôi, Đức Thánh Cha đang nhắc nhở người dân Li-băng về việc cần phải thể hiện những gì liên kết họ và từ bỏ những điều chia rẽ họ. Chính ý tưởng về sự hài hòa giữa các cộng đồng là điều mà Đức Thánh Cha đến để ủng hộ.

Đức Lêô XIV đến không chỉ để bảo vệ cộng đồng Kitô giáo, vốn đặc biệt nhạy cảm với tình trạng bất ổn kéo dài, mà còn để cứu vớt một mô hình chung sống, dù không hoàn hảo như lịch sử gần đây cho thấy, nhưng vẫn được xem là tối ưu trong bối cảnh hiện tại.

Một đất nước giữa cơn khủng hoảng

Li-băng đang quằn quại trong một cuộc khủng hoảng kinh tế vô cùng nghiêm trọng. Giới tinh hoa và các thể chế của nước này thường bị chỉ trích vì thiếu khả năng trong việc cải cách đất nước. Đức Thánh Cha sẽ nhìn thấy Li-băng trong tình trạng như thế nào?

Đức Lêô XIV sẽ chứng kiến một đất nước đã kiệt quệ về kinh tế, một quốc gia đã phải gánh chịu cuộc khủng hoảng tài chính và ngân hàng chưa từng có, một đất nước đã trải qua thảm kịch vụ nổ cảng Beirut, đã chịu đựng chiến tranh, và dòng người tị nạn Syria ồ ạt đổ về... tại Li-băng, tất cả các vấn đề như đang chồng chất lên nhau.

Đối diện với những cuộc khủng hoảng đa tầng này, tổng thống và chính phủ hiện tại đã quyết định có một cái nhìn mới về một số vấn đề nhằm khôi phục chủ quyền của Li-băng. Để khôi phục một nhà nước xứng đáng với tên gọi của nó, vực dậy nền kinh tế và tầm ảnh hưởng văn hóa, chúng tôi phải phục hồi sinh lực và thẩm quyền của Li-băng.

Điều này đặc biệt liên quan đến việc giải giáp các lực lượng dân quân để bảo đảm sự độc quyền về an ninh và quốc phòng. Tôi tin rằng Đức Thánh Cha Lêô XIV nắm rõ các bước đang được thực hiện theo hướng này ở cấp cao nhất.

Ủng hộ các nỗ lực của chính phủ hiện tại

Liệu chuyến viếng thăm của Đức Thánh Cha Lêô XIV cũng là một dấu hiệu ủng hộ Tổng thống Joseph Aoun, người vừa đắc cử vào tháng Giêng vừa qua?

Tổng thống Joseph Aoun đã có cơ hội viếng thăm Vatican nhiều lần kể từ khi đắc cử. Cùng với các nhà lãnh đạo giáo hội tại Li-băng, ông đã mời Đức Thánh Cha đến thăm Li-băng. Qua việc nhận lời mời cách nhanh chóng, Tòa Thánh đã gửi đi thông điệp rằng họ ủng hộ các định hướng chính sách lớn hiện nay.

Vatican hoan nghênh mong muốn cải cách kinh tế, cuộc chiến chống tham nhũng, sự tôn trọng các quyền tự do cá nhân và tôn giáo, những nỗ lực nhằm đạt được sự cân bằng giữa các cộng đồng, cũng như mong muốn trao cho nhà nước sự độc quyền về vũ khí và an ninh của quốc gia.

Bạn bè của Li-băng, trong đó có Tòa Thánh, nhất trí ủng hộ những nỗ lực phối hợp này giúp đất nước thoát khỏi khủng hoảng thành công.

Liệu mong muốn của chính quyền tuyên bố về việc giành lại quyền kiểm soát vũ khí có ảnh hưởng đến sự an toàn của chuyến đi không?

Chúng tôi không có lo ngại gì về phương diện đó.

Những điểm dừng chân chính trong hành trình

Đức Giáo hoàng Lêô sẽ đến thăm hiện trường vụ nổ tại cảng Beirut. Theo ông, đây có phải là một điểm dừng chân cần thiết? Và ngài có thể gửi đi thông điệp gì từ nơi là hiện thân cho cuộc khủng hoảng của Li-băng?

Đức Thánh Cha chắc chắn sẽ đến thăm hiện trường vụ nổ để bày tỏ lòng tôn kính và cầu nguyện cho các nạn nhân, và ngài sẽ gặp gỡ gia đình của họ. Sự hiện diện của ngài tại nơi này, ngay cả khi ngài không có bài phát biểu công khai, sẽ là một thông điệp của tình liên đới đối với một cộng đồng dân cư bị tàn phá bởi thảm họa này. Chuyến thăm này cũng có thể được xem như một lời kêu gọi mạnh mẽ cho công lý và cần phải thực thi công lý.

Trong số các sự kiện được lên kế hoạch trong ba ngày tại Li-băng, ông nghĩ sự kiện nào sẽ đặc biệt quan trọng?

Cuộc gặp gỡ của Đức Thánh Cha Lêô XIV với giới trẻ Li-băng tại Tòa Thượng phụ Maronite ở Bkerké sẽ mang ý nghĩa vô cùng mạnh mẽ. Giới trẻ là lời hứa cho một tương lai tốt đẹp hơn của Li-băng; họ là sức sống, là sức mạnh của đất nước. Đức Thánh Cha sẽ gặp gỡ những người trẻ đang đau khổ nhưng quyết tâm ở lại và tái thiết quê hương.

Đức Thánh Cha cũng sẽ đến viếng mộ Thánh Charbel tại Tu viện Thánh Maroun ở Annaya. Ngài là một vị thánh rất quan trọng tại Li-băng, nhưng ảnh hưởng của ngài còn vượt xa hơn thế. Vì thế, chuyến thăm của Đức Giáo hoàng cũng sẽ là một cử chỉ hướng về cộng đồng Li-băng hải ngoại, vốn rất gắn bó với Thánh Charbel.

Cuối cùng, đó là chiều kích liên tôn của chuyến đi này. Một cuộc gặp gỡ đã được lên chương trình tại Beirut với đại diện của nhiều tôn giáo và giáo phái khác nhau. Điều này quan trọng bởi nó làm nổi bật thực tế rằng Li-băng là nơi của sự chung sống liên cộng đồng, và bản thân điều đó là một kho tàng của khu vực cần được gìn giữ bằng mọi giá.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 23/11/2025]


Nicaea là nền tảng: Đức Giám mục Chính Thống giáo nói về chuyến tông du của Đức Lêô

Nicaea là nền tảng: Đức Giám mục Chính Thống giáo nói về chuyến tông du của Đức Lêô

Nicaea là nền tảng: Đức Giám mục Chính Thống giáo nói về chuyến tông du của Đức Lêô

Shutterstock


I.Media

22/11/25


Đức Tổng Giám mục Job Getcha của Thổ Nhĩ Kỳ, Giáo đô Pisidia, trao đổi với Aleteia về ý nghĩa chuyến tông du của Đức Thánh Cha và cách nhìn nhận của Chính Thống giáo về Đức Thánh Cha Lêô XIV.

Trong vài ngày tới, nhận lời mời của Tòa Thượng phụ Đại kết Constantinople, Đức Thánh Cha Lêô XIV sẽ tham dự lễ kỷ niệm Công đồng Nicaea, diễn ra bên Hồ İznik (Thổ Nhĩ Kỳ), với sự hiện diện của nhiều vị đại diện các Giáo hội Kitô giáo. Đức Tổng Giám mục Job Getcha, Giáo đô Pisidia, với tòa giám mục đặt tại Antalya (Thổ Nhĩ Kỳ), đã trao đổi với I.MEDIA về những thách đố của sự kiện đại kết trọng đại này. Vị giám mục Chính Thống giáo này đã tham dự Thượng Hội đồng về tính Hiệp hành được tổ chức tại Roma trong các năm 2023 và 2024. Ngài nhìn nhận những bước đi đầu tiên của Đức Thánh Cha Lêô XIV là sự tiếp nối công trình của Đức Thánh Cha Phanxicô, vị tiền nhiệm của ngài, nhưng với một phong cách thận trọng hơn.

Một sự kiện mang ý nghĩa đại kết

Trong chuyến đi này, xét dưới góc độ đại kết, điều gì đang được cân nhắc?

Việc cùng nhau kỷ niệm 1.700 năm Công đồng Nicaea đã được lên kế hoạch từ lâu. Đức Thượng phụ Đại kết Bartholomew đã thông báo cho Đức Thánh Cha Phanxicô, và như chúng ta biết, ngài đã rất mong muốn được đến thăm Nicaea. Sự kiện này có ý nghĩa to lớn vì đây là lễ kỷ niệm công đồng đại kết đầu tiên.

Nicaea đã xác định những nền tảng của đức tin Kitô giáo. Đây là công đồng đầu tiên mà cả Chính Thống giáo và Công giáo cùng chia sẻ. Công đồng này cũng được nhìn nhận bởi các giáo hội phát sinh từ Cải cách. Ngày nay, để gia nhập Hội đồng các Giáo hội Thế giới, người ta phải đồng thuận với giáo lý của Kinh Tin Kính Nicaea.

Do đó, việc kỷ niệm Nicaea mang tính nền tảng: Đó là cơ hội để cùng nhau tái khẳng định đức tin chung của chúng ta, và là dấu hiệu cho thấy rằng chúng ta có thể tiến bước trên con đường dẫn đến sự hiệp nhất Kitô giáo.

Lễ kỷ niệm này sẽ diễn ra như thế nào tại Iznik?

Tại Iznik, trên vị trí của Nicaea, đại diện của các Giáo hội Kitô giáo sẽ quy tụ trước hồ nước, nơi nền móng của một vương cung thánh đường Kitô giáo cổ xưa được tìm thấy. Theo sử gia Eusebius thành Caesarea, công đồng đại kết đầu tiên được tổ chức trong cung điện hoàng gia, hiện nay cũng đang chìm dưới nước. Có khả năng vương cung thánh đường cổ này được xây dựng ít năm sau công đồng, hoặc gần cung điện hoặc ngay trên chính địa điểm diễn ra công đồng.

Trước hồ nước, điểm chính của buổi cầu nguyện chung sẽ là việc tất cả mọi người cùng đọc Kinh Tin Kính Nicaea. Ngày hôm sau, tại Istanbul, sẽ có một cuộc gặp gỡ huynh đệ trong phòng kín giữa những vị đại diện của các Giáo hội Kitô giáo.

Liệu các đại diện của Tòa Thượng phụ Moscow có hiện diện không?

Theo tôi biết thì không. Tòa Thượng phụ Moscow đã cắt đứt sự hiệp thông với Tòa Thượng phụ Đại kết và với Tòa Thượng phụ Alexandria. Tình trạng này đồng nghĩa với việc Moscow từ chối tham gia các sáng kiến do Tòa Thượng phụ Đại kết chủ trì.

Mối quan hệ thân tình giữa Đức Lêô XIV và Đức Thượng phụ Bartholomew

Trong chuyến tông du của Đức Lêô XIV, một tuyên bố chung với Đức Thượng phụ Bartholomew sẽ được công bố. Chúng ta có thể mong đợi điều gì từ mối tương quan mới này?

Đức Thượng phụ Đại kết đã từng gặp Đức Thánh Cha Lêô XIV tại Roma. Nhưng đây là chuyến viếng thăm chính thức đầu tiên của Đức Giáo hoàng đến Constantinople. Được đón tiếp ngài ngay trong năm đầu tiên của triều đại giáo hoàng là một niềm hãnh diện lớn.

Đức Lêô XIV đang tiếp nối bước đi của các vị tiền nhiệm. Kể từ thời Đức Phaolô VI, tất cả các vị giáo hoàng đều đã đến thăm Phanar, trụ sở của Tòa Thượng phụ Đại kết. Và tất cả đều ký tuyên bố chung. Lần này, tôi hình dung sẽ có lời mời gọi cùng nhau loan báo Đức Kitô cho thế giới, một lời nhắc đến hòa bình, bảo vệ môi trường và bảo vệ nhân vị.

Mối tương quan giữa Đức Phanxicô và Đức Bartholomew rất sâu sắc. Điều đó đã thay đổi mối quan hệ giữa Roma và Constantinople như thế nào?

Thật vậy, có một tình bạn sâu sắc giữa Đức Phanxicô và Đức Bartholomew. Các ngài cùng nhau thực hiện những dự án và gửi đi những thông điệp cho thế giới. Trong thông điệp nổi tiếng Laudato si', Đức Thánh Cha Phanxicô đã trực tiếp cảm ơn Đức Thượng phụ Đại kết vì những công trình của ngài trong các vấn đề sinh thái và tội nghịch lại công trình sáng tạo.

Giữa các ngài có một tình huynh đệ tự nhiên, hiển hiện rõ ràng trong mỗi cuộc gặp gỡ của hai vị. Điều này đã giúp các ngài thực hiện được các dự án lớn về sinh thái, hòa bình và phẩm giá con người. Tôi nghĩ rằng Đức Lêô XIV sẽ tiếp nối những bước đi của Đức Phanxicô và rộng mở với đối thoại thần học, để các Giáo hội của chúng ta có thể tiến triển trong sự hiểu biết lẫn nhau.

Những tiến triển khả thi trong đối thoại

Năm 2023, Đức Giáo hoàng người Argentina đã gây xôn xao trong thế giới Kitô giáo với tuyên bố Fiducia supplicans cho phép chúc lành cho các cặp đôi đồng tính trong một số trường hợp. Các Giáo hội Chính Thống giáo có mong đợi một hình thức xoa dịu nào đó từ vị kế nhiệm của ngài không?

Ngay sau khi Đức Giáo hoàng Lêô XIV được bầu chọn, chúng tôi đã nghe những lời đầu tiên của ngài dành cho hòa bình. Tôi tin rằng không có sự đứt gãy nào giữa ngài và Đức Phanxicô. Nhưng về phong cách, vị tân giáo hoàng có nền tảng về giáo luật. Tất cả các tuyên bố, bài giảng và sứ điệp của ngài đều thận trọng và rõ ràng. Ngài có một sự mạch lạc về thần học rất thu hút đối với Chính Thống giáo.

Liệu chuyến đi này có thể dẫn đến tiến triển trong cuộc đối thoại giữa các Giáo hội Kitô giáo, đặc biệt là về vấn đề thống nhất ngày lễ Phục Sinh chung không?

Chúng ta không nên mong đợi một quyết định về ngày lễ Phục Sinh. Đó không phải là mục đích của lễ kỷ niệm này, và các cơ quan thượng hội đồng của các giáo hội có khả năng thúc đẩy vấn đề này sẽ không nhóm họp. Nhưng có lẽ chủ đề này sẽ được thảo luận, và lễ kỷ niệm này sẽ khuyến khích đối thoại.

Người Kitô hữu tại Thổ Nhĩ Kỳ

Chuyến đi này có quan trọng trong việc nâng đỡ sự hiện diện của Kitô giáo tại Thổ Nhĩ Kỳ không?

Chắc chắn là có. Kể từ cuộc gặp gỡ giữa Đức Phaolô VI và Đức Thượng phụ Athenagoras, các Kitô hữu của Tòa Thượng phụ có một cảm thức thực sự về việc là anh em trong Đức Kitô với những người thuộc Giáo hội Công giáo.

Ngoài các cộng đoàn Kitô hữu, tôi tin rằng chuyến đi này khiến tất cả người dân Thổ Nhĩ Kỳ tự hào. Truyền thông đã nói về lễ kỷ niệm Nicaea và chuyến thăm của Đức Giáo hoàng trong vài tháng qua. Đây là một sự kiện lớn đối với xã hội Thổ Nhĩ Kỳ.

Tòa Thượng phụ Đại kết có mối tương quan như thế nào với chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ?

Tương quan rất ấm áp và thân tình. Đức Thượng phụ Đại kết thường xuyên được mời tham dự các sự kiện dân sự tại Ankara.

Đức Thượng phụ Bartholomew và Tổng thống Erdogan thường có cơ hội trao đổi quan điểm. Bầu khí rất tốt đẹp.

Thượng Hội đồng về Tính Hiệp hành

Ngài đã được mời tham dự Thượng Hội đồng về tính Hiệp hành tại Roma vào các năm 2023 và 2024. Ngài có suy nghĩ gì về điều này?

Tôi có những kỷ niệm đẹp về Thượng Hội đồng và những cuộc trao đổi với các giám mục, các nhà thần học và các đại biểu Công giáo từ khắp nơi trên thế giới hiện diện ở đó. Đó là một cơ hội phi thường để thảo luận với họ về những vấn đề đang tác động đến Giáo hội. Tôi cũng lưu giữ những kỷ niệm rất đẹp về các buổi gặp gỡ với các Giáo hội khách mời khác. Đó là một khoảnh khắc đại kết mạnh mẽ.

Tôi tin rằng đó là kinh nghiệm lý thú cho Giáo hội Công giáo. Có thể hiểu được rằng Giáo hội mong muốn thay đổi phong cách quản trị và điều hành để trở nên truyền giáo hơn. Chúng tôi cũng ghi nhận rằng Giáo hội đang mở ra với những vấn đề mà các xã hội ngày nay đang gặp phải, trong khi cố gắng kết nối lại với truyền thống quản trị cổ xưa hơn. Sự kiện này là một hình mẫu cho tất cả các Giáo hội Kitô giáo, mặc dù có nhiều hình thức đồng nghị (synodality) khác nhau trong thế giới Chính Thống giáo.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 23/11/2025]


Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2025

Đây là lý do Đức Thượng Phụ tặng chiếc áo đội Cubs cho Đức Thánh Cha Lêô, người hâm mộ đội Sox

Đây là lý do Đức Thượng Phụ tặng chiếc áo đội Cubs cho Đức Thánh Cha Lêô, người hâm mộ đội Sox

Đây là lý do Đức Thượng Phụ tặng chiếc áo đội Cubs cho Đức Thánh Cha Lêô, người hâm mộ đội Sox

AFP Photo / Vatican Media

Đức Thánh Cha Lêô XIV và Đức Thượng Phụ Mar Awa III chụp ảnh với chiếc áo đội Cubs được thiết kế riêng.


Christine Rousselle

29/10/25



Đức Thượng Phụ Catholicos Mar Awa III của Giáo hội Assyria phương Đông, sinh quán tại Chicago, đã tặng Đức Thánh Cha Lêô XIV một chiếc áo thi đấu của đội bóng chày Cubs được thiết kế riêng như một “món quà.”

Khi những hình ảnh được công bố ngày 27 tháng Mười cho thấy Đức Thánh Cha Lêô XIV cầm chiếc áo của đội Chicago Cubs cùng với Đức Thượng Phụ Mar Awa III, nhiều người tỏ ra bối rối.

Bởi lẽ, Đức Thánh Cha là một người hâm mộ nổi tiếng và trung thành của đội Chicago White Sox, đội bóng khác của Chicago thuộc Major League Baseball (MLB). Và trong bức ảnh kỷ niệm việc trao quà của hai vị, nụ cười của Đức Awa III rõ ràng là rạng rỡ hơn nụ cười của Đức Lêô.

Tờ The New York Times đã lưu ý đến sự “sơ suất” này bằng một bài báo về món quà có tiêu đề: “Một lần nữa: Đức Giáo hoàng thích đội bóng khác của Chicago, không phải đội Cubs.”

Nhưng hóa ra, Đức Thượng Phụ Catholicos Mar Awa III của Giáo hội Assyria phương Đông biết rõ mình đang làm gì. Đức Mar Awa III, tên khai sinh là David Royel, có một điểm chung với Đức Thánh Cha Lêô: cả hai đều xuất thân từ Chicago. Tuy nhiên, khác với Đức Lêô, Đức Awa III đến từ phía bắc Chicago – lãnh thổ của đội Chicago Cubs.

Trong một bài đăng trên Instagram, Đức Awa III xác nhận rằng ngài cố ý tặng chiếc áo của Cubs, “để vinh danh tất cả những người dân ở Bắc Chicago.”

Ngài viết trong bài đăng hôm thứ Hai: “Tôi đã rất vui khi được gặp Đức Giáo hoàng Lêô XIV tại Vatican sáng nay, cùng với phái đoàn gồm các giám mục và linh mục của Giáo hội chúng ta.”

“Rõ ràng, Đức Giáo hoàng rất thích món quà của ngài,” bài đăng viết, kèm theo một biểu tượng mặt cười.

Đây là lý do Đức Thượng Phụ tặng chiếc áo đội Cubs cho Đức Thánh Cha Lêô, người hâm mộ đội Sox

Trên mạng xã hội, nhiều người dùng cho rằng món quà của Đức Awa là một hành động dí dỏm hoàn hảo mà người miền bắc Chicago thường có.

“Là người đứng đầu một Giáo hội, có địa vị tương đương với Giáo hoàng, nhưng Giáo hội của ngài đã tách khỏi Giáo hội Công giáo trong cuộc Ly giáo Nestorius vào thế kỷ thứ 5, và gặp vị Giáo hoàng ‘Chicago’, mà ngài cũng sinh ở Chicago, và làm điều này, quả là một hành động khá thú vị,” một người dùng X (trước đây là Twitter) viết.

Đây là lý do Đức Thượng Phụ tặng chiếc áo đội Cubs cho Đức Thánh Cha Lêô, người hâm mộ đội Sox


“Dù thế nào đi nữa, những vị lãnh đạo Giáo hội này vẫn là những người đến từ miền Nam và miền Bắc,” một người dùng X khác nhận xét, và nói thêm: “Ngài biết rõ mình đang làm gì với món quà là chiếc áo của Cubs.”

Đây là lý do Đức Thượng Phụ tặng chiếc áo đội Cubs cho Đức Thánh Cha Lêô, người hâm mộ đội Sox


Luật sư giáo luật và nhà báo Công giáo Ed Condon, một người hâm mộ trung thành của đội Chicago Cubs, lại có quan điểm khác.

Ông nói: “Chúng tôi sẽ không dừng lại cho đến khi Đức Lêô đội chiếc mũ đó.”

Đây là lý do Đức Thượng Phụ tặng chiếc áo đội Cubs cho Đức Thánh Cha Lêô, người hâm mộ đội Sox


Không chỉ là những chuyện cười về Cubs

Cuộc gặp gỡ giữa Đức Lêô và Đức Awa là sự tiếp nối của cuộc đối thoại giữa Giáo hội Assyria Phương Đông và Giáo hội Công giáo đã bắt đầu khoảng 30 năm trước. Giáo hội Assyria phương Đông hiện không hiệp thông với Giáo hội Công giáo, các Giáo hội Chính thống Đông Phương hay các Giáo hội Chính thống Cổ Đông phương.

Đức Lêô viết trong một bài đăng trên Instagram: “Tôi chào mừng Đức Thượng phụ Mar Awa III như một người anh em yêu quý trong Đức Kitô. Tôi cũng xin gửi lời chào thân ái đến các thành viên của Ủy Ban Hỗn hợp về Đối thoại Thần học giữa Giáo hội Công giáo và Giáo hội Assyria phương Đông. Cuộc gặp gỡ huynh đệ và đối thoại thần học là những yếu tố cấu thành lẫn nhau trên con đường tiến đến sự hiệp nhất.”

Đức Thánh Cha Lêô hy vọng sẽ “cùng nhau phát triển một mô hình hiệp thông trọn vẹn, được truyền cảm hứng từ thiên niên kỷ thứ nhất, đồng thời đáp ứng cách thận trọng với những thách đố của thời đại chúng ta.”

Ngài nói mô hình này phải đặt trọng tâm vào tính hiệp hành và cùng nhau làm việc, thay vì Giáo hội này đồng hóa Giáo hội kia. Đức Leo nói rằng tính hiệp hành là “một con đường đầy triển vọng để tiến về phía trước.”

Vào hôm thứ Ba, Đức Thánh Cha đã chủ trì một sự kiện kỷ niệm 60 năm ban hành văn kiện Công đồng Vatican II, Tuyên ngôn Nostra Aetate, dành riêng nói về mối tương quan của Giáo hội với các tôn giáo khác.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 30/10/2025]


Thứ Năm, 30 tháng 10, 2025

Diễn Văn của Đức Thánh Cha Lêô XIV trước những tham dự viên cuộc Gặp gỡ Cầu nguyện Quốc tế vì Hòa bình do Cộng đoàn Sant’Egidio Tổ chức

Diễn Văn của Đức Thánh Cha Lêô XIV trước những tham dự viên cuộc Gặp gỡ Cầu nguyện Quốc tế vì Hòa bình do Cộng đoàn Sant’Egidio Tổ chức

Diễn Văn của Đức Thánh Cha Lêô XIV trước những tham dự viên cuộc Gặp gỡ Cầu nguyện Quốc tế vì Hòa bình do Cộng đoàn Sant’Egidio Tổ chức (Roma, 26-28 tháng 10 năm 2025), 28.10.2025

Sau đây là diễn văn của Đức Thánh Cha Lêô XIV, trước sự hiện diện của những vị lãnh đạo các tôn giáo, gửi đến những tham dự viên cuộc Gặp gỡ Cầu nguyện Quốc tế vì Hòa bình do Cộng đoàn Sant’Egidio tổ chức, diễn ra tại Roma từ ngày 26 đến 28 tháng 10 năm 2025:

Diễn Văn của Đức Thánh Cha

Kính thưa Đức Thượng phụ,
Thưa các Thượng phụ,
Thưa Quý vị Đại diện các Giáo hội Kitô giáo và các Tôn giáo lớn trên thế giới,

Chúng ta đã cùng nhau cầu nguyện cho hòa bình theo các truyền thống tôn giáo khác nhau của mình, và giờ đây chúng ta cùng quy tụ để công bố một thông điệp hòa giải. Những xung đột hiện diện trong mọi khía cạnh của cuộc sống, nhưng chiến tranh không giúp giải quyết hay tìm ra các giải pháp cho chúng. Hòa bình là một hành trình bền bỉ của hòa giải. Tôi cảm ơn quý vị đã đến đây để cầu nguyện cho hòa bình và để cho thế giới thấy rõ tầm quan trọng của việc cầu nguyện. Trái tim con người phải rộng mở cho hòa bình. Chính nhờ sự chiêm niệm mà chúng ta mở lòng mình ra, và chính trong cầu nguyện mà chúng ta thoát ra ngoài bản thân mình. Chúng ta hồi tâm để vượt lên chính mình. Đây là chứng tá của chúng ta: trao tặng những kho tàng vô giá của các linh đạo cổ xưa cho nhân loại đương đại.

Thế giới đang khao khát hòa bình. Chúng ta cần một kỷ nguyên hòa giải đích thực và bền vững, chấm dứt tình trạng lạm dụng quyền lực, phô trương vũ lực và làm ngơ trước luật pháp. Chiến tranh đã đủ rồi, với tất cả những nỗi đau mà nó mang đến qua cái chết, sự tàn phá và cảnh lưu vong! Quy tụ tại đây hôm nay, chúng ta không chỉ bày tỏ ước muốn mãnh liệt cho hòa bình, mà còn là niềm xác tín rằng cầu nguyện là một sức mạnh phi thường cho hòa giải. Những ai thực hành tôn giáo mà không cầu nguyện có nguy cơ lạm dụng nó, thậm chí đến mức gây sát hại. Cầu nguyện là một chuyển động của tinh thần và là sự mở rộng con tim. Đó không phải là những lời hét lên, không phô trương hành vi hay các khẩu hiệu tôn giáo chống lại các thụ tạo của Thiên Chúa. Chúng ta tin rằng cầu nguyện làm thay đổi dòng chảy lịch sử. Xin cho các nơi cầu nguyện trở thành những căn lều gặp gỡ, những thánh địa hòa giải và những ốc đảo hòa bình.

Ngày 27 tháng Mười năm 1986, Đức Gioan Phaolô đã mời các vị lãnh đạo tôn giáo từ khắp nơi trên thế giới đến Assisi để cầu nguyện cho hòa bình, và khẩn thiết xin họ: Xin chúng ta đừng bao giờ chống lại nhau nữa, mà hãy đứng bên nhau. Sự kiện lịch sử đó đã đánh dấu một bước ngoặt trong mối tương quan liên tôn. Năm này qua năm khác, những cuộc gặp gỡ cầu nguyện và đối thoại ấy vẫn tiếp tục trong “tinh thần Assisi,” tạo ra một bầu không khí huynh đệ giữa các vị lãnh đạo tôn giáo và đón nhận nhiều lời kêu gọi hòa bình. Ngày nay, dường như thế giới đã đi theo hướng ngược lại, nhưng chúng ta vẫn đón nhận thách đố của Assisi và ý thức về sứ mạng và trách nhiệm chung của chúng ta đối với hòa bình. Tôi cảm ơn Cộng đoàn Sant’Egidio và tất cả các tổ chức Công giáo cũng như ngoài Công giáo, những người vẫn giữ cho tinh thần này sống động, ngay cả khi phải đi ngược dòng.

Đối với Giáo hội Công giáo, lời cầu nguyện trong “tinh thần Assisi” dựa trên nền tảng vững chắc được xác lập trong Tuyên ngôn Nostra Aetate của Công đồng Vatican II, cụ thể là sự đổi mới mối tương quan giữa Giáo hội Công giáo và các tôn giáo khác. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 60 năm công bố Tuyên ngôn ấy, diễn ra vào ngày 28 tháng Mười năm 1965.

Cùng nhau, chúng ta tái khẳng định cam kết đối thoại và tình huynh đệ, một cam kết mà các Nghị phụ Công đồng mong ước và đã mang đến nhiều hoa trái. Như lời của Công đồng: “Chúng ta không thể thực sự cầu nguyện với Thiên Chúa là Cha của tất cả mọi người, nếu chúng ta đối xử với bất kỳ ai theo cách không phải là chị em hoặc anh em, vì tất cả đều được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa” (Tuyên ngôn về mối Tương quan của Giáo hội với các Tôn giáo ngoài Kitô giáo Nostra Aetate, số 5). Tất cả các tín hữu là anh chị em. Và các tôn giáo, như là những “người mẹ,” phải khuyến khích các dân tộc đối xử với nhau như gia đình, không phải như kẻ thù. Vì “nhân loại là một cộng đồng duy nhất. Điều ấy là vì tất cả đều xuất phát từ một nguồn gốc chung” (Sđd., số 1).

Năm ngoái, khi quý vị họp mặt tại Paris, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã viết thư cho quý vị, tuyên bố rằng: “Chúng ta phải ngăn chặn các tôn giáo không rơi vào cám dỗ trở thành công cụ nuôi dưỡng những hình thức của chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa vị chủng và chủ nghĩa dân túy. Chiến tranh chỉ làm leo thang thêm. Khốn cho những ai cố gắng lôi kéo Thiên Chúa đứng về phe mình trong các cuộc chiến tranh!”[1] Tôi xin được lấy những lời này làm của riêng mình và mạnh mẽ lặp lại: chiến tranh không bao giờ là thánh thiện; chỉ có hòa bình là thánh thiện, bởi vì đó là điều Thiên Chúa muốn!

Bằng sức mạnh của lời cầu nguyện, với đôi tay giơ lên trời và giang rộng hướng về người khác, chúng ta phải đảm bảo rằng giai đoạn lịch sử này, bị đánh dấu bởi chiến tranh và sự ngạo nghễ của quyền lực, sớm chấm dứt, nhường chỗ cho một kỷ nguyên mới. Chúng ta không thể cho phép thời kỳ này kéo dài. Nó định hình tâm trí của những người quen dần với chiến tranh như một phần bình thường của lịch sử nhân loại. Đủ rồi! Đây là tiếng kêu của người nghèo và cũng là tiếng kêu của trái đất. Đủ rồi! Lạy Chúa, xin lắng nghe tiếng kêu than của chúng con!

Đấng Đáng Kính Giorgio La Pira, một chứng nhân của hòa bình, đã viết cho Thánh Phaolô VI khi còn phục vụ trong chính trường trong những thời điểm đầy thách thức rằng: “Chúng ta khao khát một kỷ nguyên khác của lịch sử thế giới: kỷ nguyên của đàm phán, kỷ nguyên của một thế giới mới không còn chiến tranh”[2]. Hôm nay, hơn bao giờ hết, những lời này trở thành kim chỉ nam cho nhân loại.

Văn hóa hòa giải sẽ vượt thắng sự toàn cầu hóa tình trạng bất lực hiện tại, một tình trạng dường như đang nói với chúng ta rằng một kỷ nguyên khác là điều không thể. Nhưng đối thoại, đàm phán và hợp tác có khả năng giải quyết và xử lý những căng thẳng nảy sinh trong các tình huống xung đột. Chúng phải thực hiện như vậy! Các diễn đàn và con người cần thiết đã hiện hữu. “Chấm dứt chiến tranh là một bổn phận trọng đại trước mặt Thiên Chúa, đặt trên tất cả những ai nắm giữ trách nhiệm chính trị. Hòa bình là ưu tiên hàng đầu của mọi nền chính trị. Thiên Chúa sẽ đòi những người đã không tìm kiếm hòa bình, hoặc đã kích động căng thẳng và xung đột phải chịu trách nhiệm. Người sẽ đòi họ phải trả lẽ về tất cả những ngày, tháng và năm của chiến tranh”[3].

Là các nhà lãnh đạo tôn giáo, đây là lời kêu gọi chân thành mà chúng ta gửi đến những người nắm quyền trong các chính phủ. Chúng ta cùng chia sẻ ước muốn hòa bình cho tất cả các dân tộc. Chúng ta là tiếng nói của những người không được lắng nghe, và những người không có tiếng nói. Chúng ta phải “dám sống vì hòa bình”!

Dù thế giới có ngoảnh mặt bịt tai trước lời kêu gọi này, chúng ta vẫn tin chắc rằng Thiên Chúa sẽ lắng nghe lời cầu nguyện của chúng ta, và tiếng kêu than của biết bao người đau khổ. Thiên Chúa muốn một thế giới không còn chiến tranh. Người sẽ giải thoát chúng ta khỏi sự dữ này!


_____________________________________

[1] Francis, Message to Participants in the International Meeting for Peace Organized by the Community of Sant’Egidio, 17 September 2024.

[2] G. La Pira, Abbattere muri, costruire ponti, Cinisello Balsamo 2015, 802.

[3] Francis, Address for the International Meeting of Prayer for Peace “No One is Saved Alone. Peace and Fraternity,” Rome, Campidoglio, 20 October 2020.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 30/10/2025]


Tiếp Kiến Đức Thượng phụ Mar Awa III của Giáo hội Assyria phương Đông, 27.10.2025

Tiếp Kiến Đức Thượng phụ Mar Awa III của Giáo hội Assyria phương Đông, 27.10.2025

*******
Tiếp Kiến Đức Thượng phụ Mar Awa III của Giáo hội Assyria phương Đông, 27.10.2025

Sáng nay, tại Điện Tông Tòa Vatican, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã tiếp kiến Đức Thượng phụ Mar Awa III của Giáo Hội Assyria phương Đông, cùng với các thành viên của Ủy Ban Hỗn Hợp Quốc Tế về Đối Thoại Thần Học giữa Giáo Hội Công Giáo và Giáo Hội Assyria phương Đông.

Sau đây là bài diễn văn của Đức Thánh Cha gửi đến những người hiện diện trong buổi tiếp kiến:


Diễn Văn của Đức Thánh Cha

Thưa Đức Thượng phụ,
Anh em trong Đức Kitô thân mến,

“Xin Thiên Chúa là Cha chúng ta, và xin Chúa Giêsu Kitô ban cho anh em ân sủng và bình an” (Êp 1:2). Với những lời này của Thánh Phaolô, tôi xin chào mừng Đức Thượng phụ như một người anh em yêu quý trong Đức Kitô, và một lần nữa bày tỏ lòng biết ơn về sự hiện diện của ngài trong lễ khai mạc triều đại giáo hoàng của tôi. Tôi cũng xin gửi lời chào thân ái đến các thành viên của Ủy Ban Hỗn hợp về Đối thoại Thần học giữa Giáo hội Công giáo và Giáo hội Assyria phương Đông.

Các chuyến thăm kết hợp này của Đức Thượng phụ của Giáo Hội Assyria phương Đông cùng với các thành viên của Ủy Ban, tạo nên một truyền thống đẹp trong những năm gần đây. Chúng làm chứng cho sự thật rằng sự gặp gỡ huynh đệ và đối thoại thần học là những yếu tố cấu thành lẫn nhau trên con đường tiến đến sự hiệp nhất. “Đối thoại sự thật” là một cách biểu đạt của tình yêu đã liên kết các Giáo hội chúng ta, trong khi “đối thoại bác ái” cũng phải được hiểu theo khía cạnh thần học.

Chuyến thăm gần đây nhất của Đức Thượng phụ và các anh em, vào năm 2024, đã đánh dấu ba mươi năm đối thoại chính thức giữa các Giáo hội chúng ta. Tiến trình đã đạt được trong những năm qua thật đáng kể, vì đã trung thành đi theo định hướng và phương pháp được thiết lập bởi các vị tiền nhiệm của chúng ta. Như được khẳng định trong Tuyên ngôn chung của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II và Đức Thượng phụ Mar Dinkha IV, “để đạt tới sự hiệp thông trọn vẹn và hoàn toàn, cần phải có sự đồng thuận về nội dung của đức tin, các bí tích, và cơ cấu của Giáo hội.”

Ba yếu tố này đã trở thành khuôn khổ cho các giai đoạn tiếp theo trong cuộc đối thoại thần học của chúng ta. Sau khi đạt được sự đồng thuận về đức tin Kitô học, qua đó giải quyết cuộc tranh cãi kéo dài 1.500 năm, cuộc đối thoại của chúng ta đã tiến triển với sự công nhận lẫn nhau về các bí tích, cho phép một mức độ “hiệp thông trong các việc thánh" (communicatio in sacris) giữa hai Giáo hội chúng ta. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến từng anh em, các nhà thần học của Ủy Ban Hỗn Hợp, vì những đóng góp vô giá và những nỗ lực chung của anh em, nếu không có những đóng góp ấy thì các thỏa thuận về giáo lý và mục vụ này đã không thể thực hiện được.

Liên quan đến cơ cấu của Giáo Hội – trọng tâm hiện tại của cuộc đối thoại – thách đố chính nằm ở việc cùng nhau phát triển một mô hình hiệp thông trọn vẹn, được truyền cảm hứng từ thiên niên kỷ thứ nhất, đồng thời đáp ứng cách thận trọng với những thách đố của thời đại chúng ta. Như các vị tiền nhiệm của tôi đã nhiều lần nhấn mạnh, một mô hình như vậy không được bao gồm sự đồng hóa hay sự thống trị; thay vào đó, cần phải thúc đẩy sự trao đổi các hồng ân giữa hai Giáo hội chúng ta, được nhận lãnh từ Chúa Thánh Thần để xây dựng Thân Thể Chúa Kitô (x. Êp 4:12). Tôi mong đợi những hoa trái từ cuộc đối thoại thần học mà anh em đang tiến hành về vấn đề này, được thực hiện “cùng nhau, dĩ nhiên là thế,” như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã thiết tha mong ước trong Thông Điệp Ut Unum Sint của ngài (số 95).

Trên hành trình tiến đến sự hiệp thông trọn vẹn này, tính hiệp hành thể hiện như một con đường đầy triển vọng để tiến bước. Trong chuyến thăm của Đức Thượng phụ năm 2022, Đức Thánh Cha Phanxicô đã đặt ra cách diễn đạt mà sau này được đưa vào Văn kiện Chung kết của Thượng Hội đồng Giám mục gần đây về Tính Hiệp hành của Giáo hội Công giáo, tôi xin trích dẫn: “Hành trình hiệp hành mà Giáo hội Công giáo thực hiện mang tính đại kết và phải là đại kết, cũng như chính hành trình đại kết mang tính hiệp hành” (For a Synodal Church: Communion, Participation, Mission, 23). Trong tinh thần của Thượng Hội đồng ấy, tôi chân thành hy vọng rằng kỷ niệm 1700 năm Công đồng Nixêa sẽ dẫn đưa chúng ta “thực hành những hình thức hiệp hành giữa các Kitô hữu thuộc mọi truyền thống,” và truyền cảm hứng cho chúng ta với những “cách thực hành hiệp hành mang chiều kích đại kết mới” (sđd., số 138-139).

Xin cho chúng ta tiếp tục cuộc hành hương này, được củng cố nhờ lời cầu nguyện của tất cả các thánh của hai Giáo Hội chúng ta, đặc biệt là Thánh Isaac thành Nineve, mà năm ngoái tên của ngài đã được thêm vào Sách Tử đạo Roma (Roman Martyrology). Nhờ lời chuyển cầu của các ngài, xin cho các Kitô hữu ở Trung Đông luôn làm chứng trung thành cho Đức Kitô phục sinh, và xin cho cuộc đối thoại của chúng ta mau đến ngày được chúc phúc, khi chúng ta sẽ cùng nhau cử hành trên cùng một bàn thờ, chia sẻ cùng một Mình và Máu của Đấng Cứu Chuộc chúng ta, “để thế gian tin” (Ga 17:21).

Hiệp nhất trong lời cầu nguyện với Đấng Cứu Chuộc chúng ta, giờ đây tôi mời tất cả anh chị em cùng tôi đọc Kinh Lạy Cha. Lạy Cha chúng con…


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 27/10/2025]