Thứ Sáu, 16 tháng 8, 2019

HUẤN TỪ KINH TRUYỀN TIN CỦA ĐỨC THÁNH CHA: Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (TOÀN VĂN)

HUẤN TỪ KINH TRUYỀN TIN CỦA ĐỨC THÁNH CHA: Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (TOÀN VĂN)
WIKIMEDIA COMMONS - 9wEPrPiHa60TbQ At Google Cultural Institute

HUẤN TỪ KINH TRUYỀN TIN CỦA ĐỨC THÁNH CHA: Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (TOÀN VĂN)

“Xin Đức Nữ Đồng Trinh Đầy Ơn Phúc, Cánh Cửa Thiên Đàng, giúp chúng ta mỗi ngày hướng về Thiên Đàng với lòng tín thác và niềm vui, là nơi quê nhà thật của chúng ta, là nơi Mẹ đang chờ đợi chúng ta như một người mẹ”

15 tháng Tám, 2019 13:08

Dưới đây là bản dịch (tiếng Anh) huấn từ của Đức Thánh Cha Phanxico trước và sau giờ đọc Kinh Truyền Tin buổi trưa với các tín hữu tập trung trong Quảng trường Thánh Phê-rô trong ngày Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời:


* * *

Trước Kinh Truyền Tin:

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Trong ngày Lễ trọng Mẹ Maria Hồn Xác Lên Trời hôm nay, Mẹ Đồng Trinh Rất Thánh cầu nguyện: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa; thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi” (Lc 1:46-47). Chúng ta hãy xét đến các động từ trong lời cầu nguyện này: ngợi khen, hớn hở vui mừng. Hai động từ: “ngợi khen” và “vui mừng.” Con người hớn hở vui mừng khi một điều gì đó quá đẹp xảy đến và nếu chỉ mừng vui trong tâm hồn thì chưa đủ, nhưng muốn bày tỏ niềm hạnh phúc đó bằng tất cả con người: và chúng ta hớn hở vui mừng. Mẹ Maria mừng vui vì Thiên Chúa. Có ai biết được rằng liệu điều đó cũng đã xảy đến cho chúng ta, liệu chúng ta có hớn hở mừng vui. Chúng ta hớn hở vì một kết quả đạt được, vì một tin vui, nhưng hôm nay Mẹ Maria dạy chúng ta biết mừng vui trong Chúa, Tại sao? Vì Người – Thiên Chúa – làm “những điều trọng đại” (c. 49).

Những điều trọng đại được đề cập đến bằng một động từ khác: ngợi khen. “Linh hồn tôi ngợi khen.” Ngợi khen. Quả thật, ngợi khen có nghĩa là tán tụng thực tại vì sự vĩ đại của nó, vì nét đẹp của nó … Mẹ Maria tán tụng sự vĩ đại của Thiên Chúa, ca khen Người, nói rằng Người thật sự vĩ đại. Trong cuộc sống, điều quan trọng là hãy tìm kiếm những điều lớn lao, bằng không thì anh chị em sẽ lạc lõng, theo đuổi quá nhiều những điều nhỏ nhặt. Mẹ Maria cho chúng ta thấy rằng nếu chúng ta muốn cuộc sống của mình được hạnh phúc thì Thiên Chúa phải được đặt ở vị trí đầu tiên, vì chỉ mình Người là sự vĩ đại. Thay vì vậy, không biết bao nhiêu lần chúng ta sống theo đuổi những điều chẳng quan trọng: những định kiến, oán giận, ganh đua, ghen tị, ảo tưởng, của cải vật chất thừa thãi … Cuộc sống thật đẹp! Chúng ta biết đây là vấn đề. Hôm nay Mẹ Maria mời gọi chúng ta hãy nhìn đến “những điều trọng đại” mà Thiên Chúa đã làm trong cuộc đời của Mẹ. Trong cuộc đời của chúng ta nữa, trong cuộc đời của mỗi người chúng ta, Thiên Chúa làm rất nhiều điều trọng đại. Chúng ta phải nhận ra và hớn hở mừng vui, ngợi khen Thiên Chúa, vì những điều trọng đại này.

Đây là “những điều trọng đại” mà chúng ta cử hành hôm nay. Mẹ Maria được rước lên Trời: nhỏ bé và khiêm hạ, Mẹ trước hết nhận được vinh quang cao nhất. Mẹ, là một con người, là một người trong chúng ta, đã tiến đến được đời sống vĩnh hằng cả linh hồn và thân xác. Và Mẹ chờ đợi chúng ta ở đó, như một người mẹ chờ đợi những đứa con của bà trở về nhà. Thật vậy dân Chúa xem Mẹ như một “cánh cổng vào Thiên Đàng.” Chúng ta đang trên hành trình, là những người lữ khách tiến về nhà trên nước trời. Hôm nay, chúng ta nhìn đến Mẹ Maria và chúng ta nhìn thấy mục tiêu. Chúng ta thấy một thụ tạo được mang lấy vinh quang của Chúa Giê-su Ki-tô Phục sinh, và thụ tạo đó chỉ có thể là Mẹ, Mẹ của Đấng Cứu Thế. Chúng ta thấy điều đó trong Nước Trời, cùng với Đức Ki-tô, là A-đam mới, cũng có Mẹ Maria, E-va mới. Điều này cho chúng ta sự an ủi và niềm hy vọng trong cuộc lữ hành của chúng ta dưới thế này.

Lễ Mẹ Lên Trời là một lời kêu gọi cho tất cả chúng ta, đặc biệt đối với những người đang còn hoài nghi và buồn bã, và sống cuộc đời với đôi mắt nhìn xuống và không thể ngước lên. Chúng ta hãy ngước lên, bầu trời rộng mở; nó chẳng gây ra nỗi sợ hãi, nó không còn xa cách, vì ngay ở tại ngưỡng cửa của Thiên Đàng có một người Mẹ đang chờ đợi chúng ta và đó chính là Mẹ của chúng ta. Mẹ yêu thương chúng ta, mỉm cười và giúp chúng ta với sự quan tâm âu yếm. Cũng như mọi người mẹ đều mong muốn những điều tốt đẹp nhất cho con cái của mình, Mẹ nói với chúng ta: “Các con là vô cùng quý giá trước mắt Thiên Chúa; các con không được tạo dựng nên cho sự kiện toàn nhỏ bé của thế giới, nhưng cho những niềm vui lớn lao của Thiên Đàng.” Đúng vậy, vì Chúa là niềm vui, không phải sự buồn bã! Thiên Chúa là niềm vui! Chúng ta hãy cho phép mình được dẫn dắt tay bởi Mẹ Maria. Mỗi khi chúng ta cầm cỗ tràng hạt trong tay và cầu nguyện là chúng ta thực hiện một bước đi mới hướng đến mục tiêu cao cả của cuộc sống.

Chúng ta hãy để mình bị cuốn hút bởi sự tuyệt mỹ thật, chúng ta đừng để mình bị chìm đắm trong sự nhỏ bé của cuộc sống, nhưng hãy chọn sự cao cả của Thiên Đàng.

Xin Đức Nữ Đồng Trinh Đầy Ơn Phúc, Cánh Cửa Thiên Đàng, giúp chúng ta mỗi ngày hướng về Thiên Đàng với lòng tín thác và niềm vui, là nơi quê nhà thật của chúng ta, là nơi Mẹ đang chờ đợi chúng ta như một người mẹ.

[Văn bản chính: tiếng Ý] [Bản dịch (tiếng Anh) của phóng viên cao cấp Vatican Deborah Castellano Lubov của ZENIT]


[Nguồn: zenit]


* * *

HUẤN TỪ KINH TRUYỀN TIN CỦA ĐỨC THÁNH CHA: Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (TOÀN VĂN)

Sau Kinh Truyền Tin:

Anh chị em thân mến,

Cha xin bày tỏ sự gần gũi với với những người dân của một số quốc gia Nam Á, bị ảnh hưởng nặng nề bởi những trận mưa lũ. Cha cầu nguyện cho các nạn nhân và những người di tản, cho các gia đình vô gia cư. Xin Chúa ban sức mạnh cho họ và cho những người trợ giúp họ.

Hôm nay tại Czestochowa, Ba Lan, nhiều người hành hương tập trung đến để mừng ngày được Lên Trời của Đức Nữ Đồng Trinh và kỷ niệm một trăm năm khôi phục lại những quan hệ ngoại giao giữa Tòa Thánh và Ba Lan. Cha gửi lời chào đến tất cả anh chị em đang tập trung dưới chân Mẹ Madonna Đen và cha thúc giục anh chị em cầu nguyện cho toàn thể Giáo hội. Cha cũng gửi lời chào đến tất cả anh chị em người Ba Lan đang hiện diện tại đây!

Cha gửi lời chào thân ái đến tất cả anh chị em hành hương người Ý và từ nhiều quốc gia khác. Đặc biệt, cha xin chào Gia đình Truyền giáo Donum Dei , the Union Seglar de San Antonio Maria Claret, nhóm “Festeros de San Vicente” của Venezuela, là những anh chị em đến đây bằng xe đạp từ Valencia, và các bạn trẻ thuộc nhóm cắm trại của trường ở Novoli.

Và giờ đây cha mời anh chị em cùng với cha hiệp thông trong lời cầu nguyện: cha sẽ làm phép một số lượng lớn những cỗ tràng hạt cho anh chị em của chúng ta ở Syria. Theo sáng kiến của hiệp hội giáo hoàng “Aid to the Church in Need,” khoảng 6000 cỗ tràng hạt đã được chế tác, bởi các Nữ tu Carmelite ở Bê-lem. Hôm nay, trong ngày lễ lớn này của Mẹ Maria, cha làm phép những cỗ tràng hạt này, và sau đó sẽ được phân phát cho các cộng đoàn Công giáo ở Syria như là một dấu chỉ của sự gần gũi của cha, đặc biệt đối với các gia đình đã bị mất người thân vì cuộc chiến. Lời cầu nguyện được thực hiện cùng với đức tin sẽ có sức mạnh rất lớn! Chúng ta hãy tiếp tục đọc Kinh Mân Côi cầu cho hòa bình ở Trung Đông và trên toàn thế giới.

Cha sẽ ban phép lành, nhưng trước hết chúng ta đọc kinh Kính Mừng.

[Văn bản chính: tiếng Ý] [Bản dịch (tiếng Anh) của Deborah Castellano Lubov của ZENIT]



[Nguồn: zenit]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 16/8/2019]


Chủ tịch Caritas Châu Phi nói sự nghèo đói và các vấn đề của Châu Phi là bởi cách lựa chọn

Chủ tịch Caritas Châu Phi nói sự nghèo đói và các vấn đề của Châu Phi là bởi cách lựa chọn

Chủ tịch Caritas Châu Phi nói sự nghèo đói và các vấn đề của Châu Phi là bởi cách lựa chọn

AMECEA phỏng vấn của Cha Andrew Kaufa, smm

12 tháng Tám, 2019 08:04

Chủ tịch Caritas Châu Phi, Đức Hồng y Gilbert Justice Yaw Anokye, Tổng Giám mục Kumasi, gần đây đến thăm ban Thư ký của AMECEA trong chuyến thăm chính thức của ngài đến văn phòng miền Caritas Châu Phi của Kenya. Chuyến viếng thăm này theo sau Phiên họp Khoáng đại lần thứ 18 của SECAM (Symposium of Episcopal Conferences of Africa and Madagascar) gần đây ở Uganda từ 21 đến 28 tháng Bảy, và có ngài tham dự. Caritas Châu Phi có hai văn phòng miền ở Châu Phi – một ở Lome, Togo, và một ở Nairobi, Kenya. Văn phòng Nairobi phụ trách những công việc của Caritas tại một số Hội đồng Giám mục Thành viên trong những quốc gia Đông Phi cũng trực thuộc AMECEA. Tổ chức có một thỏa thuận làm việc rất đặc biệt với chính quyền Kenya từ năm 1988. AMECEA Online News có vinh dự được thực hiện cuộc phỏng vấn với ngài trong đó ngài chia sẻ suy nghĩ về sự Phát triển Con người Toàn diện, tình đoàn kết, và bản ngã trong Giáo hội ở Châu Phi. Trong thông điệp đặc biệt của ngài gửi đến các giám mục trong châu lục, ngài có quan điểm cho rằng Châu Phi chỉ có thể vươn lên khi cấn đề về vai trò lãnh đạo được giải quyết, từ đó kêu gọi họ giúp Châu Phi vươn lên. Dưới đây là nội dung buổi phỏng vấn.


Có những thời gian, Caritas Châu Phi dấn thân vào việc xoa dịu sự đau khổ của những người bị ảnh hưởng bởi lũ lụt và hạn hán trong vùng AMECEA. Ngoài ra tổ chức còn làm gì để làm dịu bớt những thách thức đang ảnh hưởng đến khu vực?

Cũng có những vấn đề chẳng hạn như sự bất ổn chính trị và nội chiến trong các quốc gia như Nam Sudan và Eritrea. Chúng tôi có chủ nghĩa cực đoan tôn giáo ở Somalia; Boko Haram ở Nigeria; Al Qaeda ở Mauritania; sự bất ổn ở Burkina Faso và Bờ Biển Ngà; và sự di cư của người dân. Chắc chắn có những yếu tố cần phải giải quyết cho tất cả những vấn đề này. Tuy nhiên, trong tất cả những hoàn cảnh này thì con người cần phải được ăn, được giúp đỡ, được mặc và được cung cấp chỗ ở. Quyền của họ phải được tôn trọng vì họ là con người: những người tị nạn là con người, bất kể họ còn sống trong châu lục hoặc di cư sang phương Tây.

Những yếu tố này thuộc tự nhiên và con người. Các bạn biết là những cơn bão lốc và cuồng phong bắt đầu và phá hủy tài sản. Những nguyên nhân tự nhiên này đôi khi không thể dự đoán trước được dù rằng một số thì có thể. Các phòng khí tượng có thể cho chúng ta biết trong hai hay ba ngày tới một trận bão lốc sẽ đến nhưng một số trận động đất và sóng thần thì ập đến bất ngờ. Rồi chúng tôi cũng có những nguyên nhân thuộc con người: con người chúng ta chặt đốn cây cối nhưng lại không tái trồng rừng; chúng ta đào hầm tìm vàng và kim cương và đồng nhưng lại không lấp những cái hầm hố đó; chúng ta làm nông nhưng không có trách nhiệm chăm sóc cho đất đai. Tất cả những yếu tố này đều thuộc con người và phải ngăn chặn. Caritas chúng tôi đến khi những yếu tố đó gây ra trường hợp khẩn cấp nào đó. Tuy nhiên, nếu chúng ta có thể chặn chuyện đó xảy ra thì đối với tôi là cách tốt nhất. Chúng ta nói rằng chăm sóc sức khỏe có ba chiều kích: phòng ngừa, điều trị và phục hồi. Caritas cũng áp dụng như vậy.

Hiển nhiên là đôi khi chúng ta không thể ngăn chặn được những thảm họa chẳng hạn như những gì đã xảy ra năm nay ở Mozambique, Zimbabwe, và Malawi. Đó chính là lúc chúng tôi có thể huy động các nguồn vốn và hướng sự tập trung của chúng tôi vào việc làm dịu bớt, huy động các nguồn lực và cung cấp sự hỗ trợ kỹ thuật. Trong trường hợp sau, Caritas cũng đến. Chẳng hạn, Caritas Unganda đã và đang làm việc để phục hồi lại đời sống cho quá nhiều người tị nạn từ Sudan. Ở nhiều quốc gia, Caritas đang giúp người tị nạn khởi đầu cuộc sống mới theo chương trình tạo sinh kế của Caritas. Chúng tôi không bỏ qua việc cung cấp cho họ lương thực, thuốc, và chăn mền, nhưng chúng tôi cũng làm việc để phục hồi họ. Đó là phần sứ mạng của chúng tôi.


Ngoài những gì Cha vừa nói, có một ranh giới rõ ràng nào giữa các phòng này không – Công lý và Hòa bình, Phát triển Công giáo và Caritas?

Không hề, có có ranh giới phân chia nào cả. Trong nhiều quốc gia, các phòng này đều được ghi là Caritas – Phát triển Xã hội. Trong Tổng Giáo phận Kumasi của tôi, cũng cùng một văn phòng với bảng hiệu Caritas – Phát triển Xã hội – Đầu tư. Thật ra, đây là lý do tại sao Đức Thánh Cha Phanxico đã gộp bốn phòng này thành một. Trong quá khứ, Công lý và Hòa bình có văn phòng riêng của mình với một Đức Hồng y Tổng trưởng và nhóm của ngài; Sức khỏe cũng có một văn phòng hoàn toàn độc lập; rồi phòng Di cư; Caritas; Advocacy hoặc phát triển. Đức Thánh Cha nói KHÔNG: hãy gộp tất cả các phòng lại với nhau vì một con người cần có sự phát triển toàn diện. Chúng ta phải có một sự tiếp cận toàn diện đối với một con người là người tị nạn hoặc di cư; một bà góa hay một đứa con mồ côi. Vì vậy chúng ta phải có một văn phòng giúp con người một cách toàn diện.

Thật không may là điều này vẫn chưa được áp dụng hoàn toàn trong nhiều quốc gia. Các bạn vẫn thấy rằng trong một số Hội nghị thì phòng Công lý và Hòa bình vẫn đang hoạt động độc lập khỏi Caritas và Phát triển Công giáo. Tuy nhiên hầu hết các vấn đề họ đang giải quyết đều giống nhau. Việc thành lập Bộ Phát triển Con người Toàn diện là để Giáo hội nhìn vào những vấn đề này theo một cách thức mới và ngừng cách hoạt động tách biệt. Đức Thánh Cha Phanxico nói, ‘Chúng ta hãy mang đến tất cả những gì chúng ta đang cùng nhau hoạt động và chia sẻ cách thức, sự cộng tác, cũng như những nguồn lực.’ Sẽ không bao giờ là quá trễ.

Tại sao một số giáo phận và Hội nghị không gộp các văn phòng lại với nhau? Có thể, lý do là cách sắp xếp lại nhân sự. Khi bạn gộp lại, một số người phải ra đi. Ngay cả tại Roma, khi xây dựng Bộ vào năm 2016, họ phải bỏ một số người. Họ phải trả tiền bồi thường (payoff) cho một số người và tái định hướng một số người sang những công việc mới. Có một ví dụ mà tôi luôn đưa ra khi nói về tầm quan trọng của tính chuyên môn: khi tôi bị nhức đầu, bị đau răng, đau bụng; tôi phải làm gì? Đúng, tôi là một con người nhưng tôi cần một chuyên gia cho mỗi vấn đề. Vì vậy đó là lý do thật tốt tại sao cần phải có mỗi phòng. Trong mô hình mới này, chẳng hạn, tôi phải có một văn phòng Phát triển Con người Toàn diện nơi tôi tìm được tất cả những chuyên gia này: những người bảo vệ cho công lý và hòa bình; cho giáo dục, phát triển, và sức khỏe; cho việc huy động các nguồn vốn cho các hoạt động bác ái.


Trong Phiên họp Khoáng đại thứ 18 của SECAM 18, con hiểu ý của ngài Tổng trưởng Bộ Thúc đẩy sự Phát triển Con người Toàn diện là Đức Hồng y Phê-rô Turkson thách đố các giám mục Châu phi “hãy đọc những dòng chữ viết trên tường” và cam kết sự tự ổn định về tài chính trong các thừa tác vụ Giáo hội trong châu lục. Cha nhìn về tương lai sứ mạng của Caritas Châu Phi như thế nào?

Chúng tôi là người trông coi anh em chúng tôi ngay ngay từ chữ ‘ra đi.’ Chúng tôi phải chăm sóc cho những người anh em thiếu thốn của chúng tôi, bất kể chúng tôi có là anh chị em quan hệ huyết thống hay không. Tôi có thể cho một ví dụ từ Tin mừng khi các môn đệ hỏi Chúa Giê-su, ‘Làm sao chúng con có thể cho tất cả những người này ăn khi chúng ta chỉ có 200 đồng kẽm?’ Thiên Chúa cần những tâm hồn và bàn tay của chúng ta để cho những đứa trẻ em. Chúng tôi vẫn cần phải có những đối tác. Tôi chắc chắn rằng các đối tác của chúng tôi ở các châu lục khác sẽ tiếp tục giúp chúng tôi – Caritas Ý, Caritas Úc – nhưng họ phải đến để tăng cường thêm cho nhừng gì chúng tôi cần có ở Châu Phi. Người ta có thể hỏi, ‘Chúng tôi cần có những gì?’ Hãy để những người mạnh khỏe giúp những người yếu đuối, Thánh Phaolo đã viết khi gửi cho giáo đoàn Roma có nghĩa là những hội Caritas mạnh hơn cần phải giúp cho những hội Caritas yếu hơn.

Người ta luôn luôn nghĩ về tiền, nhưng đó chưa phải là tất cả: còn thời gian của chúng tôi; khả năng của chúng tôi; nguồn nhân lực. Khi một thảm họa xảy đến, điều mà người ta cần nhất đó là sự hiện diện của chúng tôi – ở đó với họ. Tiền là một giải pháp kỹ thuật nếu không muốn nói là giải pháp thứ nhì nhưng hiện diện với những người trong hoàn cảnh khó khăn là việc quan trọng nhất. Caritas không thể tiếp tục chi trả cho tất cả những sự hỗ trợ về kỹ thuật, vật chất. Chúng tôi không thể tiếp tục. Vì thể chúng tôi buộc phải tìm đến những tự chủ và lâu dài.

Các ví dụ có thể cho thấy. Hôm qua tôi nhìn thấy ở đây tại Nairobi này Ngân hàng Caritas; Cardinal Otunga Plazza là nơi họ có những văn phòng cho thuê; bãi đậu xe họ đang xây dựng gần Vương cung Thánh đường Thánh Gia thất có thể chứa 500 xe. Tất cả những nơi này đều mang đến tiền. Hãy nghĩ đến những người Trung quốc, những người Nam Phi. Tại sao bạn lại không kinh doanh giống như vậy được? Đức Hồng y Turkson, khi ngài còn là Chủ tịch Hội đồng Giám mục Ghana mang đến ý tưởng giới thiệu một công ty bảo hiểm – QIC, Quality Insurance Company (Công ty Bảo hiểm Chất lượng). Như chúng ta đang nói ở đây, nó là một trong những công ty tốt nhất ở Ghana chi trả nhiều nhất ở Ghana so với hầu hết các công ty bảo hiểm khác trong nước.

Hãy đọc Gio-sua chương 2: ngay khi người Israel vượt qua sông Gio-đan thì bánh Man-na không còn từ trời rơi xuống. Sau 50 năm của SECAM, chúng tôi phải tự nuôi lấy mình. Chúng tôi vẫn chưa sử dụng đến 50 phần trăm những tiềm năng của mình. Đúng, chúng tôi phải kêu gọi hỗ trợ từ những đối tác của chúng tôi nhưng chúng tôi cũng phải nói với họ rằng về phía chúng tôi đã nuôi nấng quá nhiều và chúng tôi cần rất nhiều trợ giúp. Bằng không, chúng tôi có thể tính toán rằng 20 năm nữa tính từ bây giờ thì chiếc bánh sẽ hết.


Phiên họp Khoáng đại SECAM gần đây diễn ra tại Kampala, Uganda, vang lên tiếng gọi tình đoàn kết, thúc giục các giám mục chia sẻ giáo sĩ và thậm chí cả tu sĩ với các quốc gia khác đang thiếu tinh thần thừa sai ad gentes. Ch có nghĩ điều này cũng có thể khả thi đối với công cuộc bác ái?

Chúng ta cần sự đoàn kết. Không phải chính Mẹ Teresa đã nói rằng thế giới này không có đủ để đáp ứng cho lòng tham của mọi người; nhưng có đủ để đáp ứng cho nhu cầu của mọi người. Có quá nhiều lương thực bị vứt bỏ – anh không hề biết mỗi ngày có bao nhiêu thực phẩm bị lãng phí đâu. Nhưng lại có người đang chết đói ở Châu Phi. Tình đoàn kết không phải là một tùy chọn; nó là một mệnh lệnh rõ ràng.

Cũng giống như việc chia sẻ linh mục truyền giáo, đúng là vậy. Với Caritas, chúng tôi nói rằng những hội ‘Caritas’ mạnh cần phải đi và đào tạo nền tảng năng lực cho các hội ‘Caritas’ yếu hơn, nói theo cách nói về tiêu chuẩn quản lý và những kỹ năng chuyên môn. Đây là việc tặng tiền bằng hình thức khác chứ không phải tặng tiền mặt.

AMECEA chắc chắn phải giúp các quốc gia khác; một số giáo phận có thể giúp trong những vùng Hồi giáo. Tôi phải nói là hoan hô những người hiện đã và đang hoạt động đó và tôi động viên những người chưa làm. Những tổng giáo phận lớn và các giáo phận như Nairobi, Johannesburg Pretoria, và Kumasi có thể hỗ trợ một hoặc hai giáo phận ở Châu Phi này, trả lương cho các nhân viên và học phí cho các chủng sinh. Tôi có 23 linh mục cộng tác ở một giáo phận bên Hoa Kỳ, Ý, ở Anh và Đức là nơi họ không có linh mục. Và chúng tôi không chỉ nói về tình đoàn kết ở cấp độ AMECEA hoặc SECAM; nhưng hơn thế chúng ta phải thực hiện nó.


Đức Cha có thông điệp đặc biệt nào muốn chia sẻ với vùng AMECEA qua cuộc phỏng vấn này không?

Tôi chỉ có một thông điệp có lẽ là gửi đến tất cả anh em giám mục ở Châu Phi. Theo nghiên cứu cho thấy rằng sự nghèo đói của Châu Phi là do cách lựa chọn; các vấn đề của Châu Phi cũng là do cách lựa chọn. Nó là do cách chọn các nhà lãnh đạo không tốt. Chúng tôi có những nhà lãnh đạo hủ hóa lên nắm quyền vì các bộ lạc; vì sự sợ hãi hoặc ưu ái. Chúng tôi đã chọn những nhà lãnh đạo đã chẳng giúp ích gì được Châu Phi cho đến nay kể từ khi độc lập. Chúng tôi đã có những nhà lãnh đạo tốt bị lật đổ vì những cuộc đảo chính, được hỗ trợ bởi một số người hoặc những quốc gia có nguồn lợi của họ. Vì vậy các vấn đề của Châu Phi nguyên nhân là bởi sự lãnh đạo yếu kém.

Những quốc gia như Malaysia và Singapore đã thoát ra khỏi sự nghèo đói vì họ chọn được các nhà lãnh đạo giỏi. Châu Phi cũng có thể vươn dậy. Chúng tôi đã ngủ mê một thời gian dài. Chúng tôi phải thức dậy ngay lập tức. Điều này sẽ được thực hiện qua cách phải bảo đảm rằng chúng ta chọn những nhà lãnh đạo giỏi cho nền dân chủ của chúng ta, các nhà lãnh đạo với những chính sách tốt không phải cho túi riêng hoặc cái bụng của họ, hoặc cho gia đình hay các nhóm sắc tộc của họ – kỷ nguyên đó đã qua và không nên cho phép nó diễn ra ở Châu Phi nữa. Các nhà lãnh đạo giỏi trong chính phủ cũng như trong các tổ chức Giáo hội.



[Nguồn: zenit]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 13/8/2019]


Thứ Năm, 15 tháng 8, 2019

Cái thang “không thể di chuyển” của Nhà thờ Mộ Thánh Chúa Giê-su: Tại sao không ai di chuyển nó từ năm 1757?

Cái thang “không thể di chuyển” của Nhà thờ Mộ Thánh Chúa Giê-su: Tại sao không ai di chuyển nó từ năm 1757?

Cái thang “không thể di chuyển” của Nhà thờ Một Thánh Chúa Giê-su: Tại sao không ai di chuyển nó từ năm 1757?
©Aleteia

09 tháng Tám, 2019

Cũng còn được gọi là “status quo ladder,” (cái thang giữ nguyên trạng) nó cùng dưới sự kiểm soát của sáu nhà thờ.

Một cái thang bằng gỗ rất cũ nằm ở mé ngoài cửa sổ bên phải mặt chính điện của Nhà thờ Mộ Thánh Chúa. Người ta gọi nó là “thang không thể di chuyển.” Lần cuối nó được di chuyển ra khỏi mé nhà đó năm 1757. Có người tìm cách lấy trộm nó năm 1981 (người đó ngay lập tức bị cảnh sát Israel bắt). Rồi năm 1997, có người tìm cách giấu nó trong ít tuần lễ, nhưng cuối cùng cái thang được tìm thấy và trả lại vị trí cũ của nó. Cuối cùng, các công nhân tham gia việc bảo tồn và phục chế tháp chuông của nhà thờ phải chuyển nó ra để đặt giàn giáo.

Ngoài chuyện đó ra, cái thang đã ở đó từ giữa thế kỷ 18.

Cũng như hầu hết các nhà thờ ở Đất Thánh, Nhà thờ Mộ Thánh Chúa là một nơi thờ phượng của nhiều nền tảng tuyên xưng Ki-tô giáo khác nhau. Trong thế kỷ 18, dưới triều đại của Quốc vương Thổ Nhĩ Kỳ Osman II, Hiệp ước Status Quo được ký kết. Ngoài việc phân chia Giê-ru-sa-lem thành những khu vực khác nhau, Quốc vương cũng ra chiếu chỉ nói rằng bất cứ ai kiểm soát một khu vực đã được phân chia trong thành, sẽ được quyền kiểm soát nó vô hạn định trong tương lai.

Tuy nhiên, thỏa ước này cũng có một điều khoản đặc biệt: nếu có nhiều nhóm cùng có quyền kiểm soát trên một khu vực nhất định, tất cả họ phải nhất trí đồng ý về bất kỳ một thay đổi nào đối với khu vực, dù là nhỏ. Và dù sắc lệnh này chứng minh là hữu ích để tránh việc áp đặt của một nhóm nào đó đối với các nhóm khác, nó cũng làm khó khăn cho việc bảo tồn một cách xứng đáng đối với một số địa điểm hành hành hương này: nếu tất cả các bên không đồng ý với từng chi tiết nhỏ nhặt nhất thì chẳng có thể làm được điều gì.

Điều này giải thích vì sao cái thang vẫn chưa được di chuyển kể từ đó. Cho đến gần đây, sáu nhà thờ Ki-tô giáo có quyền quản lý Nhà thờ Mộ Thánh, và chẳng ai biết rõ rằng người nào sở hữu mé cửa sổ đặc biệt chỗ đặt cái thang đó. Thậm chí còn hơn thế, chẳng biết ai là người chính thức sở hữu cái thang đó (dù rằng một số người tuyên bố nó thuộc về Giáo hội Tông đồ Armenia).

Rõ ràng, nhiều thế kỷ trôi qua và cái thang đã có một ý nghĩa quan trọng đối với chính nó. Trong chuyến viếng thăm Đất thánh giữa thập niên 1960, Đức Giáo hoàng Phaolo VI hiểu được tại sao cái thang, một biểu tượng của Thỏa ước Status Quo, cũng đã trở thành một bằng chứng đáng buồn cho những chia rẽ giữa người Ki-tô hữu. Giáo hội Công giáo Roma là một trong sáu nhóm phải đưa ra quyết định cho những thay đổi trong Nhà thờ Mộ Thánh, ngài ra sắc chỉ nói rằng không được di chuyển cái thang cho đến khi nào những chia rẽ giữa người Ki-tô hữu chưa được giải quyết. Thật ra, một gia đình Hồi giáo theo lịch sử được trao nhiệm vụ giữ chìa khóa của Nhà thờ Mộ Thánh. Những chìa khóa này được liên tục truyền lại cho thế hệ tiếp nối.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 12/8/2019]


Kiệt tác vĩ đại nhất của Raphael: Sự Biến hình

Kiệt tác vĩ đại nhất của Raphael: Sự Biến hình
(Raphael, “Sự Biến hình”, 1516-1520)
6 tháng Tám, 2019

Kiệt tác vĩ đại nhất của Raphael: Sự Biến hình

Nhân ngày Lễ Chúa Biến hình, chúng ta lại được nhắc nhớ tới phép lạ vĩ đại này — được ghi nhớ trong nghệ thuật và lịch sử.


Phê-rô, Gia-cô-bê, và Gioan cùng lên núi cầu nguyện với Chúa Giê-su; và các ông được chứng kiến một sự tỏ lộ vinh quang nước trời của Đức Ki-tô. Phép lạ Biến hình giúp củng cố đức tin cho các Tông đồ, cho thấy rằng Chúa Giê-su là Thiên Chúa thật. Nó cũng là một sự động viên cho tất cả mọi người Ki-tô hữu, và cũng cho chúng ta niềm hy vọng sẽ được chung hưởng vinh quang trong nước trời.

Nhân ngày Lễ Biến hình, năm nay được cử hành ngày 6 tháng Tám, chúng ta được nhắc nhớ đến phép lạ vĩ đại này — được ghi nhớ trong nghệ thuật và lịch sử.


TUYỆT TÁC CỦA RAPHAEL

Vào Thứ Sáu Tuần Thánh năm 1520, người họa sĩ và kiến trúc sư lỗi lạc người Ý, Raffaello Sanzio da Urbino (thường được gọi đơn sơ bằng tên “Raphael”) qua đời ở tuổi 37. Ông để lại một gia tài đồ sộ các tác phẩm bao gồm hội họa, các bức tranh trong nhà thờ, các tác phẩm điêu khắc, và các bức vẽ phác họa … và một bức tranh sơn dầu chưa hoàn tất trên gỗ, có tên là Sự Biến hình.

Raphael, rất bận rộn với những công trình khác, đã làm việc với bức trnh Sự Biến hình trong 4 năm — nhưng ông chết khi tuổi còn trẻ trước khi nó được hoàn tất. Tác phẩm được hoàn tất bởi học trò của Raphael là Giulio Romano sau đám tang của họa sĩ. Có một sự khác biệt đáng chú ý trong các chi tiết tinh tế ở trên đỉnh và dưới đáy, có thể vì bàn tay của họa sĩ bậc Thầy không còn uyển chuyển.

Cho dù nó ở trong tình trạng chưa hoàn tất, nhưng Raphael xem Sự Biến hình là tuyệt tác lớn nhất của ông. Quả thật, ông rất tự hào về nó đến mức nó được trưng bày phía cuối giường lâm chung của ông.

Có hai cảnh trong Tin mừng theo Thánh Mát-thêu được mô tả trong Sự Biến hình của Raphael:
  • Phần trên, Đức Ki-tô lên núi Ta-bo với các Tông đồ, và tại đó Ngài được biến hình — xuất hiện trong thân xác vinh quang của Người, bên cạnh có ông Môi-sê (đại diện cho Lề luật) và Ê-li-a (đại diện cho các ngôn sứ).
  • Nhưng ở phía dưới của bức họa, các Tông đồ đang cố gắng chữa lành một đứa trẻ bị bệnh. Chỉ khi Đức Ki-tô biến hình xuất hiện giữa họ thì đứa trẻ mới được chữa lành.
Bức họa gốc hiện đang được lưu giữ trong Bảo tàng Vatican. Một tác phẩm tranh ghép phỏng theo Sự Biến hình, được tác tạo bởi một nhóm các họa sĩ mất chín năm làm việc với những chi tiết tinh tế, được đặt trong Vương cung Thánh đường Thánh Phê-rô năm 1774.



[Nguồn: ncregister]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 8/8/2019]


Thứ Tư, 14 tháng 8, 2019

Sri Lanka: ‘Toàn quốc được rửa tội qua đêm’

Sri Lanka: ‘Toàn quốc được rửa tội qua đêm’
Father Prasad Harshan - ACN

Sri Lanka: ‘Toàn quốc được rửa tội qua đêm’

ACN phỏng vấn Cha Prasad Harshan, hỗ trợ các nạn nhân của các vụ tấn công khủng bố cùng với nhóm ‘Faith Animation Team’

12 tháng Tám, 2019 10:56

Thưa Cha Prasad, các vụ tấn công khủng bố ngày Lễ Phục sinh tại ba nhà thờ Ki-tô giáo ở Sri Lanka đã làm thương tổn người tín hữu không chỉ về thể xác và tâm lý, nhưng cả với đức tin của họ. Giáo hội hỗ trợ họ như thế nào?

Đức Hồng y Malcolm Ranjith của chúng tôi muốn có những nhà truyền giáo trên đường phố, từ phố này sang phố khác, để lắng nghe mọi người trong nhà của họ, để nghe những câu chuyện của họ và đứng bên cạnh họ trong mọi cuộc chiến đấu đức tin. Chúng ta tôi đã bắt đầu việc này từ ba năm trước. Bây giờ, khi chúng tôi biết được thảm kịch này, nó đã trở nên một phép lành; một phép lành cho Giáo hội và cho người giáo dân. Chúng tôi gồm có 5 linh mục đang làm việc với các nạn nhân khủng bố. Chúng tôi đặc biệt hoạt động mạnh ở Negombo, là nơi có 115 người bị giết và hơn 280 người bị thương trong cùng một nhà thờ. Chúng tôi nhìn thấy cờ tang đen ở khắp nơi. Người dân bị thương, về thể xác, tâm lý và tinh thần. Chúng tôi đã nhìn thấy người giáo dân bị thương tổn về đức tin như thế nào trong trong đời sống tâm linh của họ. Trong 30 năm nội chiến, chúng tôi chưa bao giờ có những vụ tấn công bom vào nhà thờ như vậy. Người ta đang tự hỏi mình, tại sao việc này lại xảy ra? Và tại sao lại vào ngày Lễ Phục sinh.


Có phải điều này gây ra sự hoài nghi về đức tin và xa rời Giáo hội?

Ban đầu người giáo dân rất hoảng hốt. Làm sao Chúa lại cho phép điều này xảy ra trong nhà của Người? Người linh mục chúng tôi quyết tâm ở lại bên cạnh giáo dân, cho dù chúng tôi không có câu trả lời để đáp lại cho họ. Chúng tôi ở lại với họ trong gia đình của họ. Chúng tôi muốn cho họ thấy rằng Thiên Chúa luôn ở bên họ. Sau sự hoảng hốt là cơn tức giận. Đặc biệt khi họ biết rằng chính phủ đã nhận được những cảnh báo trước đó. Người dân phải đấu tranh với cảm xúc của họ. Ở đây, lời kêu gọi của Đức Hồng y được soi dẫn bởi đức tin chứ không phải bởi những cảm xúc đóng một vai trò rất lớn.


Nói theo ngôn ngữ cụ thể nhất thì công tác mục vụ của cha là gì?

Chúng tôi hoạt động rất nhiều với thiếu nhi, các em đang rất sợ đến nhà thờ và lớp học giáo lý ngày Chúa nhật. Và cả với những người mẹ, phải củng cố đức tin cho họ. 475 năm trước, một quốc vương Hindu đã giết 600 người Ki-tô hữu ở miền bắc Sri Lanka. Chúng tôi đang đưa gia đình của các nạn nhân đến những nơi tưởng niệm các vị tử đạo này ở miền bắc. Những người đã chết vào Chúa nhật Phục sinh là những người tử đạo, chúng tôi tìm cách chữa lành những vết thương của gia đình họ. Những người đã bị thương tổn hoặc trở thành góa bụa trong cuộc nội chiến cũng nói chuyện với họ, động viên họ, và làm chứng nhân cho đức tin vào Thiên Chúa của họ.


Nhiều người Công giáo ở Sri Lanka nói với tôi rằng sau những vụ tấn công khủng bố, họ đã trở nên mạnh mẽ hơn và nhiệt thành hơn trước đây.

Với những người chịu ảnh hưởng trực tiếp, thì những vết thương vẫn còn đến ngày hôm nay. Nhưng nói chung đó là một ơn lành cho người Công giáo trong nước, vì toàn thể đất nước được rửa tội qua đêm. Có phép rửa tội bằng nước, có phép rửa tội bằng máu. Bất chợt, toàn đất nước bắt đầu ý thức về sự hiện hữu của người Công giáo và bản chất đặc biệt của đức tin của họ. Trong quá khứ, khoảng 4.000 người theo dõi thông điệp video của Đức Hồng y. Bây giờ có cả hàng trăm ngàn. Họ muốn xem ngài nghĩ gì. Chúng tôi nhìn thấy ý nghĩa thật sự của Phục sinh! Nhưng nó bắt đầu với những thân xác bị xé ra, với máu của những người tử đạo.


Người Phật giáo đại diện 70 phần trăm dân số của Sri Lanka. Tại sao những kẻ khủng bố không tấn công các chùa chiền của Phật giáo?

Họ là số đông trong đất nước này, và họ cũng có những chiến binh. Chúng tôi không biết tại sao không có đền đài nào của Phật giáo bị tấn công. Có thể có liên quan đến sự thật này, dù đại diện Giáo hội Công giáo là một nhóm thiểu số trong đất nước này, nhưng lại là cộng đồng tôn giáo lớn nhất trên thế giới. Những kẻ khủng bố muốn kéo cả thế giới can dự vào.


Những vụ giết người như vậy đã ảnh hưởng đến những mối quan hệ giữa người Phật giáo và Công giáo như thế nào?

Người Phật giáo bắt đầu bàn tán với nhau rằng họ khâm phục người Công giáo. Tại sao họ lại không tìm cách báo thù? Thật may mắn, chúng tôi có một hệ thống tuyệt vời trong Giáo hội Công giáo: linh mục lắng nghe Hồng y, tín hữu lắng nghe linh mục. Bây giờ các tăng ni Phật giáo cũng khâm phục người Công giáo, và họ cư xử với chúng tôi với sự cảm thông và tôn trọng rất lớn.


Các nhà lãnh đạo Hồi giáo trong Sri Lanka phản ứng như thế nào trước sự khủng bố trong những phạm vi của họ?

Các giới chức Hồi giáo công nhận rằng sai lầm của họ là giữ im lặng về hoạt động của các nhóm khủng bố trong cộng đồng của họ. Chúng tôi không hề biết gì về nó, nhưng họ biết. Họ hiểu rằng đó là một thảm họa cho cả nước. Không phải tất cả người Hồi giáo đều là những người khủng bố, nhưng tất cả những kẻ đánh bom tự sát đều là người Hồi giáo. Vì thế, người Hồi giáo không thể chối bỏ trách nhiệm chung của họ. Hiện nay họ có sứ mạng là thanh tẩy lòng họ. Khi những cuộc điều tra bắt đầu, thì có những vũ khí được tìm thấy trong các đền thờ. Điều đó làm chúng tôi bị sốc. Các nhà lãnh đạo Hồi giáo có trách nhiệm phải giải thích Kinh Koran theo cách hòa bình.


Tình đoàn kết quốc tế với các nạn nhân ở Sri Lanka có được chú ý không?

Các tổ chức hỗ trợ Công giáo Quốc tế như Aid to the Church in Need (ACN) đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều ở đây. Chúng tôi là một nhóm thiểu số trong nước, nhưng chúng tôi biết rằng chúng tôi là một phần của đại gia đình lớn hơn. Những người chưa bao giờ đến Sri Lanka đều cầu nguyện cho chúng tôi và gửi đến những đóng góp! Từ đó, Giáo hội Công giáo trở thành một sự chúc lành cho tất cả mọi người dân của Sri Lanka. Người Hồi giáo, Hindu và Phật giáo cũng đã chết trong những nhà thờ của chúng tôi. Và những sự hoán cải nội tâm đã bắt đầu, họ đang hướng về Giáo hội Công giáo. Họ bắt đầu hiểu được ý nghĩa của việc sống trong Đức Ki-tô.



[Nguồn: zenit]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 13/8/2019]


Gặp gỡ gia đình đã may phẩm phục cho giáo hoàng từ năm 1786

Gặp gỡ gia đình đã may phẩm phục cho giáo hoàng từ năm 1786

Gặp gỡ gia đình đã may phẩm phục cho giáo hoàng từ năm 1786
Courtesy of Gammarelli

07 tháng Tám, 2019

Gia đình Gammarelli điều hành một trong những cửa hiệu gia đình lâu đời nhất ở Roma.


Khi Đức Thánh Cha Phanxico được bầu chọn năm 2013, nhiều nhà bình luận suy đoán về mẫu áo chùng đơn sơ của ngài là một sự khởi đầu thoát khỏi những lễ phục cầu kỳ của vị tiền nhiệm của ngài. Nhưng cả Đức Phanixico và Đức Benedict đều may áo choàng bằng nhung rất đẹp và dải khăn choàng vai bằng len của các ngài đều xuất xứ từ cùng một cửa hiệu gia đình đã phục vụ cho Vatican từ năm 1789, hiệu may Gammarelli. 

Gặp gỡ gia đình đã may phẩm phục cho giáo hoàng từ năm 1786


Nhiệm vụ may lễ phục hội thánh đầu tiên được tiếp nhận năm 1786 bởi nhà may người Roma, Annibale Gammarelli, người sáng lập doanh nghiệp 200 năm tuổi hiện nay, người đã phục vụ các giám mục và các nhân vật lỗi lạc khác trong suốt triều đại của Đức Piô VII. Khi Đức Leo XII kế nhiệm Đức Piô VII, ngài yêu cầu hiệu may Gammarelli thiết kế may các trang phục cho ngài. Nhà Gammarelli đã phục vụ nhu cầu về trang phục của các giáo hoàng kể từ đó.

“Mỗi lần chúng tôi nhận được một đơn đặt hàng cho phẩm phục giáo hoàng chúng tôi dừng mọi việc khác để chuyên chú vào nó,” Lorenzo Gammarelli, một hậu duệ của người sáng lập hiện đang điều hành cửa hiệu nói với trang web tin tức snapitaly của Ý. “Chúng tôi thường bắt đầu công việc với phẩm phục của vị tân giáo hoàng từ ngày đám tang của vị giáo hoàng trước và phải làm việc với một thời hạn rất sít sao vì chúng tôi phải giao phẩm phục trước khi bắt đầu mật nghị hồng y để bầu chọn vị tân giáo hoàng.”

Tất cả phẩm phục đều phải thực hiện bằng tay rất tỉ mỉ sử dụng các loại chỉ nguyên chất tốt nhất từ các nhà cung cấp lâu đời ở Ý và được điểm xuyến đẹp mắt bằng những phụ trang chế tác thủ công rất công phu. Loại vải sử dụng chính cho phẩm phục giáo hoàng là len trắng, cho áo chùng ngoài, nhưng là chất liệu lụa cho các phụ trang và nút, và chất liệu nhung cho áo choàng vai và áo chùng, cũng là loại tốt nhất. Bất cứ khi nào nhà Gammarelli nhận được ủy thác của một giáo hoàng sắp được bầu chọn, họ phải cung cấp ba bộ phẩm phục hoàn toàn giống nhau theo ba kích cỡ khác nhau, nhỏ, trung bình và lớn, để đến giờ mật nghị hồng y quyết định chọn được một ứng viên thì ngài có sẵn một bộ phẩm phục, bất kỳ cỡ nào.

Mẫu phẩm phục gần như không đổi kể từ khi nhà Gammarelli nhận đơn đặt hàng vào năm 1786. Tuy nhiên, mọi thứ đã thay đổi một chút dưới triều đại của giáo hoàng hiện tại, người tiên phong phá vỡ một số truyền thống về phẩm phục trước đây và chọn mẫu đơn giản hơn. So sánh với vị tiền nhiệm của ngài, Đức Phanxico chọn những mẫu vải đơn giản và nhẹ hơn. Như Crux Now nhấn mạnh rằng khăn đeo chéo vai của ngài không làm bằng chất liệu nhung và không mang phù hiệu của ngài. Đức Phanxico cũng chọn mẫu giầy đen nghiêm trang hơn, trong khi vị tiền nhiệm của ngài rất thích mẫu giầy đỏ truyền thống. Theo Crux Now cho biết, phong cách của Đức Phanxico truyền cảm hứng cho một trào lưu mới nơi người Công giáo, hiện nay họ chuộng những trang phục đơn giản và trang nhã hơn.

Không biết đây có thể cho thấy một sự chuyển đổi lâu dài hay một trào lưu nhất thời, nhà Gammarellis, được liệt kê trong số những cửa hiệu gia đình lâu đời nhất ở Roma, sẽ phải sẵn sàng điều chỉnh theo nhu cầu phẩm phục của nhiều vị giáo hoàng trong tương lai.



[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 8/8/2019]


Thứ Hai, 12 tháng 8, 2019

Huấn từ Kinh Truyền Tin: Là những người hầu cảnh giác, trung tín (Toàn văn)

Huấn từ Kinh Truyền Tin: Là những người hầu cảnh giác, trung tín (Toàn văn)
Angelus - Copyright: Vatican Media

Huấn từ Kinh Truyền Tin: Là những người hầu luôn tỉnh thức, trung tín (Toàn văn)

‘Mỗi giây phút đều trở nên quý báu, vì vậy cần phải sống và hành động trên trần gian này trong niềm mong mỏi về thiên đàng’

11 tháng Tám, 2019 17:39

Dưới đây là bản dịch của ZENIT huấn từ Đức Thánh Cha Phanxico hôm nay, trước và sau giờ Kinh Truyền Tin giữa trưa với những người tập trung trong Quảng trường Thánh Phê-rô.


* * *

Trước Kinh Truyền Tin:

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Tin mừng hôm nay (Lc 12: 32-48), Chúa Giê-su kêu gọi các môn đệ của Người hãy luôn tỉnh thức. Tại sao? Để nắm bắt được lối đi của Chúa trong cuộc đời của một người, vì Chúa liên tục đi qua cuộc sống của chúng ta. Người chỉ ra những cách để sống tinh thần tỉnh thức này thật tốt: “Hãy sẵn sàng, anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sáng” (c. 35). Đây là cách thức. Trước hết, “hãy thắt lưng cho gọn,” một hình ảnh gợi lên thái độ của một người lữ khách, sẵn sàng lên đường. Đó là việc không chôn chân trong nơi trú ngụ tiện nghi và an toàn, nhưng hãy quên mình, mở rộng tâm hồn, với lòng giản dị và tín thác vào bước đường Chúa đi qua trong cuộc đời chúng ta, cho thánh ý Chúa hướng dẫn chúng ta tiến bước đến mục tiêu tiếp theo. Chúa luôn luôn đồng hành với chúng ta và thường xuyên dắt tay chúng ta, hướng dẫn chúng ta, để chúng ta không phạm sai lầm trong cuộc hành trình khó khăn này. Thật vậy, những người tín thác vào Chúa thì đời sống đức tin không phải là một điều gì đó tĩnh lặng, nhưng là sống động! Đời sống đức tin là một hành trình liên tục, hướng về những chặng đường luôn mới mà chính Thiên Chúa chỉ ra mỗi ngày. Vì Người là Thiên Chúa của những sự ngạc nhiên, Thiên Chúa của những điều mới mẻ, của những điều mới lạ.

Và như vậy – cách thứ nhất là “hãy thắt lưng cho gọn” – rồi chúng ta được yêu cầu phải “thắp đèn cho sáng,” để có thể thắp sáng bóng tối của đêm đen. Tức là chúng ta được mời gọi sống một đức tin đích thực và trưởng thành, có thể soi sáng cho những “đêm tối” của cuộc sống. Chúng ta biết rằng tất cả chúng ta đều có những ngày rơi đêm đen thật sự của tâm hồn. Ngọn đèn đức tin đòi hỏi phải được liên tục chăm chút, qua việc gặp gỡ – tâm tình – với Chúa Giê-su, trong việc cầu nguyện và lắng nghe Lời Người. Cha nhắc lại điều mà cha đã nói nhiều lần: luôn mang theo một quyển Tin mừng nhỏ trong túi, trong túi xách, để đọc nó. Đó là sự gặp gỡ với Chúa Giê-su, với Lời của Chúa Giê-su. Ngọn đèn của sự gặp gỡ với Chúa Giê-su trong việc cầu nguyện và trong Lời Người được trao phó cho chúng ta vì ích lợi của tất cả: vì vậy, không ai có thể thu hẹp vào tính chắc chắn cho cứu độ của riêng mình, không quan tâm đến những người khác. Thật là điều thú vị khi tin rằng chúng ta có thể “thắp sáng” cho bản thân từ bên trong. Đó là một điều thú vị. Đức tin đích thực mở rộng tâm hồn chúng ta với người khác và thúc đẩy chúng ta hướng đến sự hiệp thông cụ thể với anh em của chúng ta, đặc biệt là những người thiếu thốn.

Và để làm cho chúng ta hiểu được thái độ này, Chúa Giê-su kể dụ ngôn về những người hầu chờ đợi ông chủ đi dự tiệc cưới về (c. 36-40), từ đó trình bày một khía cạnh khác của sự tỉnh thức: sẵn sàng cho cuộc gặp gỡ cuối cùng và dứt khoát với Chúa. Mỗi chúng ta sẽ gặp Người, thấy mình đối diện với Chúa vào ngày đó. Mỗi chúng ta có một thời điểm riêng cho sự gặp gỡ cuối cùng đó. Chúa nói: “Khi chủ về mà thấy những đầy tớ ấy đang tỉnh thức, thì thật là phúc cho họ. Thầy bảo thật anh em: chủ sẽ thắt lưng, đưa họ vào bàn ăn, và đến bên từng người mà phục vụ!” (cc. 37-38). Với những lời này, Chúa nhắc chúng ta nhớ rằng cuộc sống là một hành trình tiến về sự sống đời đời; vì vậy, chúng ta được kêu gọi hãy làm cho mọi tài năng của chúng ta trổ sinh hoa trái, và không bao giờ quên rằng “vì trên đời này, chúng ta không có thành trì bền vững, nhưng đang tìm kiếm thành trì tương lai” (Dt 13:14). Trên viễn cảnh đó, mỗi giây phút đều trở nên quý báu, vì vậy cần phải sống và hành động trên trần gian này với niềm mong mỏi về thiên đàng: đôi chân trên trần gian, bước đi trên trần gian, làm việc trên trần gian, làm việc thiện trên trần gian, và tâm hồn luôn mong mỏi về quê trời.

Chúng ta không thể thật sự hiểu được niềm vui tuyệt đối này bao gồm những gì, tuy nhiên Chúa Giê-su cho chúng ta suy đoán qua sự so sánh việc ông chủ thấy những người hầu vẫn còn đang tỉnh thức chờ đợi ông trở về: “chủ sẽ thắt lưng, đưa họ vào bàn ăn, và đến bên từng người mà phục vụ” (c. 37). Như vậy, niềm vui đời đời của thiên đàng được hé lộ: hoàn cảnh sẽ quay ngược, và các người hầu, tức là chúng ta, sẽ không còn phục vụ Chúa nữa, nhưng chính Thiên Chúa sẽ phục vụ chúng ta. Và đây là điều Chúa Giê-su đang làm: Chúa Giê-su cầu nguyện cho chúng ta, Chúa Giê-su nhìn đến chúng ta và cầu nguyện lên Chúa Cha cho chúng ta, Chúa Giê-su bây giờ đang phục vụ chúng ta, Ngài là người phục vụ chúng ta. Và đây sẽ là niềm vui tuyệt đối. Ý nghĩ về cuộc gặp gỡ sau hết với Chúa Cha giàu lòng thương xót làm chúng ta ngập tràn hy vọng, và truyền động lực cho chúng ta bền chí cam kết cho sự thánh hóa của mình và xây dựng một thế giới công bình và huynh đệ hơn.

Nguyện xin Mẹ Maria Đồng trinh, qua sự can thiệp đầy tình mẫu tử của Mẹ, hỗ trợ cam kết này của chúng ta.

[Văn bản chính: tiếng Ý] [Bản dịch (tiếng Anh) của Deborah Castellano Lubov của ZENIT]


Sau Kinh Truyền Tin:

Anh chị em thân mến,

Ngày mai đánh dấu kỷ niệm 70 năm Công ước Geneva, văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng đưa ra những giới hạn về việc sử dụng vũ lực và nhắm tới việc bảo vệ thường dân và tù nhân trong thời chiến. Ước mong rằng ngày lễ kỷ niệm này làm cho các chính phủ ý thức về sự cần thiết tuyệt đối phải bảo vệ sự sống và phẩm giá của các nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang. Tất cả mọi người được yêu cầu phải tuân thủ những giới hạn được quy định bởi luật nhân đạo quốc tế, bảo vệ thường dân không vũ trang và các cấu trúc dân sự, đặc biệt các nhà thương, trường học, những nơi thờ phượng, các trại tị nạn. Và chúng ta đừng quên rằng chiến tranh và khủng bố luôn luôn là sự mất mát lớn của toàn nhân loại.

Chúng là sự thất bại nặng nề của con người!

Cha chào tất cả anh chị em, người Roma và những khách hành hương từ nhiều quốc gia: các gia đình, các nhóm giáo xứ, hội đoàn.

Hôm nay cũng có rất nhiều thiếu nhi và thanh thiếu niên. Cha thân ái chào chúng con! Đặc biệt, nhóm thiếu niên từ Saccolongo và từ Creola; và nhóm mục vụ giới trẻ của Verona; và giới trẻ của Cittadella.

Cha chúc tất cả anh chị em một Chúa nhật tốt lành. Xin đừng quên cầu nguyện cho cha. Chúc anh chị em bữa trưa ngon miệng và tạm biệt!


[Văn bản chính: tiếng Ý] [Bản dịch (tiếng Anh) của Deborah Castellano Lubov của ZENIT]

© Libreria Editrice Vatican



[Nguồn: zenit]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 12/8/2019]


Thánh giá thoát khỏi bom nguyên tử trở lại Nagasaki

Thánh giá thoát khỏi bom nguyên tử trở lại Nagasaki

Thánh giá thoát khỏi bom nguyên tử trở lại Nagasaki

Aug 09, 2019

Biểu tượng đức tin bền chí trở lại trung tâm lịch sử Công giáo Nhật bản.

Một thánh giá lớn bằng gỗ đại diện và đã chịu thoát khỏi bom nguyên tử của Nagasaki đang được trả lại cho Nhật sau ba phần tư thế kỷ ở nước ngoài.

75 năm trước, lúc 11:01 sáng ngày 9 tháng Tám năm 1945, lực lượng Hoa kỳ ném một quả bom nguyên tử xuống thành phố Nagasaki của Nhật. Vụ nổ ngay lập tức cướp đi khoảng 40.000 mạng sống, với hàng chục ngàn người bị nhiễm phóng xạ nguyên tử trong những tháng sau đó.

Khi đó, Nagasaki được xem là trung tâm Công giáo ở Nhật, phần lớn nhờ những nỗ lực của Thánh Phanxico Xavier, người đã cống hiến cuộc đời rao giảng tin mừng trong thế giới Đông phương. Vào buổi sáng định mệnh đó, Nhà thờ Chính tòa Vô nhiễm Nguyên tội của Nagasaki chìm trong vụ nổ, và thánh đường hoàn toàn thành đống đổ nát. Tuy nhiên, như một phép lạ một thánh giá lớn bằng gỗ trên nóc nhà thờ vẫn còn nguyên vẹn.


74 năm trước Lực lượng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ ở Nagasaki đem về một cây thánh giá được tìm thấy trong đống đổ nát của một nhà thờ chính tòa bị bom phá hủy, cuối cùng trao lại cho Đại học Ohio. Hôm thứ Ba, @WilmingtonColl trả lại tác phẩm lưu lạc lâu năm cho Nagasaki:

Thánh giá thoát khỏi bom nguyên tử trở lại Nagasaki



Maryann Cusimano Love, một giáo sư về quan hệ quốc tế tại Đại học Công giáo Hoa Kỳ, nói với CNA:

“Thật sự là người Công giáo đang cầu nguyện ở Nagasaki, trong nhà thờ chính tòa, khi quả bom nguyên tử được ném xuống. Tất cả mọi người trong nhà thờ chính tòa bị thiệt mạng ngay lập tức.”

CNA tường thuật rằng thánh giá được khám phá bởi Walter Hooke, một lính thủy quân lục chiến người Công giáo Hoa Kỳ tại Nagasaki, người được nhìn thấy với biểu tượng đức tin không bị phá hủy vượt lên giữa đống đổ nát. Hooke đem thánh giá về nhà cho mẹ của anh, và cuối cùng bà tặng nó cho Peace Resource Center (Trung tâm Hòa bình), một tổ chức lưu giữ những đồ vật liên quan đến các vụ nổ bom nguyên tử tại Hiroshima và Nagasaki.

Bây giờ, như một “hành động hòa bình và hòa giải,” thánh giá được trả lại Nagasaki, cho Nhà thờ Chính tòa Vô nhiễm Nguyên tội, được xây dựng lại năm 1959. Maus giải thích rằng ông quyết định trả lại thánh giá sau khi ông biết tin rằng cộng đoàn đã đi tìm xem thánh giá lưu lạc ở đâu suốt 75 năm qua. Qua việc dâng tặng ông nói:

“Còn rất ít đồ chế tác của nhà thờ còn giữ lại được và đó là lý do tại sao việc trả lại thánh giá là rất quan trọng, nó gắn chặt với bản sắc của họ.”



[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngư: TRI KHOAN 11/8/2019]