Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2026

Tiếp kiến chung ngày 11.03.2026: Đức Thánh Cha Lêô XIV: “Trong Giáo hội có chỗ và phải có chỗ cho mọi người”

Đức Thánh Cha Lêô XIV: “Trong Giáo hội có chỗ và phải có chỗ cho mọi người”

Trong buổi tiếp kiến chung ngày 11 tháng 3 năm 2026, Đức Thánh Cha đã suy niệm về Hiến chế tín lý “Lumen Gentium” của Công đồng Vatican II, trình bày Giáo hội như một lời ngôn sứ về hòa bình và hiệp nhất trong một thế giới đang bị chia rẽ bởi xung đột.

Tiếp kiến chung ngày 11.03.2026: Đức Thánh Cha Lêô XIV: “Trong Giáo hội có chỗ và phải có chỗ cho mọi người”

Trong buổi tiếp kiến chung được tổ chức vào thứ Tư, ngày 11 tháng 3 năm 2026, tại Quảng trường Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha Lêô XIV tiếp tục loạt bài giáo lý về các văn kiện của Công đồng Vatican II, ngài tập trung vào chương hai của Hiến chế Tín lý Lumen Gentium, chương mô tả Hội Thánh là Dân Thiên Chúa. Trước hàng ngàn tín hữu, Đức Giám mục Roma nhấn mạnh rằng Giáo hội, được hiệp nhất trong Đức Kitô, không thể khép kín nơi chính mình mà phải mở ra với tất cả và cho tất cả mọi người, trở thành dấu chỉ sống động của niềm hy vọng và là lời ngôn sứ về sự hiệp nhất và hòa bình giữa một thế giới bị ghi dấu bởi những chia rẽ, căng thẳng và chiến tranh.

Được truyền cảm hứng từ lời hứa ngôn sứ của Tiên tri Giêrêmia (Gr 31:33) — “Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta. Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta” —, Đức Thánh Cha giải thích chương trình cứu độ của Thiên Chúa, được triển khai qua việc tuyển chọn một dân tộc cụ thể: từ tiếng gọi dành cho Abraham, cuộc giải phóng khỏi ách nô lệ ở Ai Cập, và giao ước với dân Israel, cho đến đỉnh điểm là giao ước mới và vĩnh cửu nơi Đức Kitô. Dân tộc này không được xác định bởi công trạng của con người, mà bởi ân sủng nhưng không của Thiên Chúa và đức tin vào Người, được mời gọi trở nên “ánh sáng cho các dân tộc.”

“Đó chính là Giáo hội,” Đức Lêô XIV giải thích: “dân Thiên Chúa kín múc sự sống từ Thân thể Đức Kitô, và chính họ là Thân thể Đức Kitô; không phải là một dân tộc như bao dân tộc khác, nhưng là Dân của Thiên Chúa, được Người quy tụ và bao gồm những người nam và nữ từ khắp mọi dân tộc trên mặt đất.” Hiệp nhất không phải bởi ngôn ngữ, văn hóa hay sắc tộc, nhưng bởi niềm tin vào Chúa Giêsu, Đấng là tác giả của ơn cứu độ và là nguyên lý của sự hiệp nhất và hòa bình, người Kitô hữu không tự hào về danh hiệu, nhưng về hồng ân được làm con Thiên Chúa nhờ ân sủng. Đức Thánh Cha khẳng định: “Đây cũng là tước hiệu danh dự duy nhất mà chúng ta nên tìm kiếm với tư cách là Kitô hữu.”

Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến chiều kích rộng mở và truyền giáo của Giáo hội: được hiệp nhất trong Đức Kitô, Chúa của toàn nhân loại, Giáo hội phải vươn tới toàn thế giới và mọi thời đại. “Mọi người đều được mời gọi thuộc về Dân mới của Thiên Chúa,” vì vậy ngay cả những người chưa đón nhận Tin Mừng, theo một cách nào đó, cũng đang được hướng về Dân ấy. Mỗi Kitô hữu được kêu gọi loan báo Tin Mừng “ở mọi nơi và cho mọi người, để mỗi người có thể gặp gỡ Đức Kitô,” đón nhận sự phong phú của các nền văn hóa đa dạng và trao tặng cho họ sự mới mẻ của Tin Mừng để thanh luyện và nâng cao chúng.

Trong một khoảnh khắc đặc biệt xúc động, Đức Thánh Cha đã nêu bật giá trị ngôn sứ của Giáo hội trong những thời kỳ xung đột: “Đó là một dấu chỉ lớn lao của niềm hy vọng — đặc biệt là trong thời đại chúng ta đang bị ghi dấu bởi quá nhiều xung đột và chiến tranh — khi biết rằng Hội Thánh là một dân tộc mà trong đó, nhờ đức tin, những người nam và người nữ thuộc các quốc tịch, ngôn ngữ và văn hóa khác nhau cùng chung sống với nhau.” Trích dẫn lời thần học gia Dòng Tên Henri de Lubac, ngài mô tả Giáo hội là “con tàu duy nhất của ơn cứu chuộc, phải đón nhận tất cả sự đa dạng của nhân loại vào trong lòng tàu rộng lớn của mình.”

Ngài kết luận bằng việc tái khẳng định tính công giáo và tính bao gồm cốt lõi của Giáo hội: “Giáo hội là duy nhất, nhưng bao gồm tất cả mọi người. Trong Giáo hội có chỗ và phải có chỗ cho mọi người.” Thông điệp này vang lên như một lời kêu gọi cấp bách để sống đức tin như một nhịp cầu hiệp nhất giữa nhân loại đang bị phân mảnh, cùng nhau tiến về Nước Thiên Chúa, dưới sự soi dẫn của tình yêu đã lãnh nhận nơi Chúa Giêsu.

Toàn văn bài giáo lý:


ĐỨC LÊÔ XIV
TIẾP KIẾN CHUNG

Quảng trường Thánh Phêrô
Thứ Tư, ngày 11 tháng 3 năm 2026

_____________________


Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Tiếp tục bài suy niệm của chúng ta về Hiến chế Tín lý Lumen gentium (LG), hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu chương thứ hai, chương được dành để nói về Dân Thiên Chúa.

Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng thế gian và nhân loại, và là Đấng mong muốn cứu độ mọi người, thực hiện công trình cứu chuộc của Người trong lịch sử bằng việc tuyển chọn một dân tộc cụ thể và cư ngụ giữa họ. Vì lý do này, Người đã gọi ông Abraham và hứa ban cho ông một dòng dõi đông đúc như sao trên trời và như cát ngoài bãi biển (x. St 22:17-18). Với con cháu của ông Abraham, sau khi giải thoát họ khỏi ách nô lệ, Thiên Chúa thiết lập giao ước với họ, đồng hành với họ, chăm sóc và quy tụ họ về mỗi khi họ lầm lạc. Do đó, căn tính của dân tộc này được ban tặng bởi hành động của Thiên Chúa và bởi niềm tin vào Người. Họ được mời gọi trở nên ánh sáng cho các dân tộc khác, như ngọn hải đăng lôi kéo muôn dân tộc, toàn thể nhân loại về phía mình (x. Is 2:1-5).

Công đồng khẳng định rằng: “Tuy nhiên, tất cả những điều ấy chỉ là chuẩn bị và là hình bóng của giao ước mới và hoàn hảo sẽ được ký kết trong Đức Kitô, và của mạc khải trọn vẹn do chính Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể mang đến” (LG, 9). Thật vậy, chính Đức Kitô, khi ban Mình và Máu Người, đã hiệp nhất dân tộc này trong chính Người một cách dứt khoát. Giờ đây, đó là một dân tộc bao gồm các thành viên thuộc mọi dân tộc; được hiệp nhất bởi đức tin vào Người, bởi sự gắn bó với Người, bởi việc sống cùng một sự sống như Người, được làm sinh động bởi Thần Khí của Đấng Phục Sinh. Đó chính là Giáo hội: dân Thiên Chúa kín múc sự sống của mình từ thân thể Đức Kitô [1] và chính họ cũng là Thân thể Chúa Kitô; [2] không phải là một dân tộc như bao dân tộc khác, nhưng là Dân Thiên Chúa, được Người quy tụ và bao gồm những người từ khắp các dân tộc trên mặt đất. Nguyên lý hiệp nhất của dân tộc này không phải là ngôn ngữ, văn hóa, hay sắc tộc, mà là đức tin vào Chúa Kitô: do đó, Giáo hội — theo một cách diễn đạt tuyệt đẹp của Công đồng — là cộng đoàn của “tất cả những ai tin kính Chúa Giêsu” (LG, 9).

Đó là một dân tộc thiên sai, chính bởi vì dân ấy có Chúa Kitô là Đấng Thiên sai làm thủ lãnh. Những ai thuộc về dân ấy không tự hào về công trạng hay tước hiệu, nhưng chỉ tự hào về hồng ân được làm con Thiên Chúa trong Đức Kitô và nhờ Đức Kitô. Vì thế, vượt trên mọi nhiệm vụ hay chức năng, điều thực sự quan trọng trong Giáo hội là được gắn kết với Đức Kitô, được làm con Thiên Chúa nhờ ân sủng. Đây cũng là tước hiệu danh dự duy nhất chúng ta nên tìm kiếm với tư cách là Kitô hữu. Chúng ta ở trong Giáo hội để không ngừng đón nhận sự sống từ Chúa Cha, và sống như con cái Người, như anh chị em với nhau. Vì thế, luật chi phối các mối tương quan trong Giáo hội là yêu thương, như chúng ta đã nhận lãnh và trải nghiệm nơi Chúa Giêsu; và cùng đích của Giáo hội là Nước Thiên Chúa, nơi mà Hội Thánh cùng với toàn thể nhân loại đang tiến về.

Được hiệp nhất trong Đức Kitô, là Chúa và là Đấng Cứu Độ của mọi người, Giáo hội không bao giờ có thể tự khép kín nơi chính mình, nhưng phải mở ra cho mọi người và dành cho mọi người. Nếu các tín hữu trong Đức Kitô thuộc về Giáo hội, thì Công đồng nhắc nhở chúng ta rằng: “Mọi người đều được mời gọi vào đoàn Dân mới của Thiên Chúa. Vì thế, chỉ một đoàn Dân duy nhất của Thiên Chúa phải được lan rộng khắp thế giới và trải dài qua mọi thời, để hoàn thành ý định của Thiên Chúa, Đấng từ khởi nguyên đã thiết lập bản tính duy nhất của con người, và quyết định cuối cùng sẽ quy tụ về một mối tất cả con cái của Ngài đang tản mác khắp nơi” (LG, 13). Vì thế, ngay cả những người chưa đón nhận Tin Mừng, theo một cách nào đó, cũng được hướng về Dân Thiên Chúa, và Giáo hội, khi cộng tác vào sứ mạng của Đức Kitô, được mời gọi loan báo Tin Mừng ở mọi nơi và cho mọi người (x. LG 17), để mỗi người có thể gặp gỡ Đức Kitô. Điều này có nghĩa là trong Hội Thánh có, và phải có, chỗ cho tất cả mọi người, và mỗi Kitô hữu được mời gọi loan báo Tin Mừng và làm chứng trong mọi môi trường sống và làm việc của mình. Như thế, dân tộc này biểu lộ tính công giáo của mình, bằng cách đón nhận sự phong phú và nguồn tài lực của các nền văn hóa khác nhau, đồng thời trao tặng cho họ sự mới mẻ của Tin Mừng để thanh luyện và nâng cao chúng (x. LG, 13).

Về phương diện này, Giáo hội là duy nhất nhưng bao gồm tất cả mọi người. Một thần học gia vĩ đại đã mô tả như sau: “Con tàu duy nhất của ơn Cứu độ phải đón nhận tất cả sự đa dạng của nhân loại vào trong lòng tàu bao la của mình. Là phòng tiệc duy nhất, nhưng lương thực mà nó phân phát được lấy từ toàn thể công trình tạo dựng. Là chiếc áo không đường may của Đức Kitô, nó đồng thời — và cũng chính là một — chiếc áo của Giuse, với muôn vàn màu sắc.” [3]

Đó là một dấu chỉ lớn lao của niềm hy vọng — đặc biệt là trong thời đại chúng ta, thời đại bị bao trùm bởi quá nhiều xung đột và chiến tranh — khi biết rằng Giáo hội là một dân tộc mà trong đó những người thuộc các quốc tịch, ngôn ngữ và văn hóa khác nhau cùng chung sống trong đức tin: đó là một dấu chỉ được đặt giữa lòng nhân loại, một lời nhắc nhở và cũng là lời ngôn sứ về sự hiệp nhất và hòa bình mà Thiên Chúa là Cha đang mời gọi tất cả con cái Người hướng tới.

______________________________________________________

[1] Cf. J. Ratzinger, The New People of God, Brescia 1992, 97.

[2] Cf. Y. M.-J. Congar, A Messianic People, Brescia 1976, 75.

[3] Cf. H. de Lubac, Catholicism: A study of dogma in relation to the corporate destiny of mankind (Catholicisme: Les aspects sociaux du dogme).

_______________________________________________________


LỜI KÊU GỌI

Hôm nay tại Qlayaa, Lebanon, đang diễn ra tang lễ của Linh mục Pierre El Raii, cha sở Giáo xứ Maronite của một trong những ngôi làng Kitô giáo ở miền nam Lebanon. Những ngôi làng này một lần nữa đang phải trải qua thảm kịch chiến tranh. Tôi gần gũi với tất cả người dân Lebanon trong thời điểm thử thách nghiêm trọng này.

Trong tiếng Ả Rập, “El Raii” có nghĩa là “người chăn chiên”. Cha Pierre là một người chăn chiên đích thực, người đã luôn ở bên cạnh đoàn chiên của mình, với tình yêu và sự hy sinh của Chúa Giêsu Mục Tử Nhân Lành. Ngay khi nghe tin một số giáo dân bị thương trong vụ ném bom, cha đã vội vàng đến giúp họ không chút do dự. Xin Chúa cho máu của ngài đã đổ ra trở thành hạt giống hòa bình cho đất nước Lebanon thân yêu.

Anh chị em thân mến, chúng ta hãy tiếp tục cầu nguyện cho hòa bình ở Iran và trên toàn Trung Đông, đặc biệt là cho rất nhiều nạn nhân dân sự, trong đó có nhiều trẻ em vô tội. Xin cho lời cầu nguyện của chúng ta trở thành niềm an ủi cho những ai đang đau khổ và là hạt giống hy vọng cho tương lai.


[Nguồn: exaudi]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 12/03/2026]


Chúng tôi đến thăm xưởng may lễ phục cho Đức Giáo hoàng

Chúng tôi đến thăm xưởng may lễ phục cho Đức Giáo hoàng

Chúng tôi đến thăm xưởng may lễ phục cho Đức Giáo hoàng

Courtesy of Agorà Atelier


Carlos Zapata

09/03/26


Aleteia đã đến thăm xưởng may chuyên thiết kế các phẩm phục phụng vụ cho Đức Thánh Cha Lêô XIV. Những nhà sáng tạo tại đây cho biết quá trình chuẩn bị công phu đằng sau việc chế tác các lễ phục này.

Mọi người đều nhìn ngắm phẩm phục của Đức Thánh Cha Lêô XIV và thán phục nét đẹp của chúng. Tuy nhiên, ít ai biết được sự phong phú về mặt thiêng liêng đằng sau quá trình tạo tác. Aleteia đã giải mã điều đó dưới sự hướng dẫn của một nghệ nhân may mặc chuyên về phẩm phục giáo hoàng.

Tòa Thánh đặc biệt nghiêm ngặt trong việc chế tác các phẩm phục phụng vụ, bởi đây là những y phục mà Đức Giáo hoàng sẽ mặc trong các dịp lễ trọng thể, khi ngài hiện diện trước chính Chúa Kitô.

Một trong những xưởng may được giao phó việc chế tác các lễ phục này là Agorà Atelier, một hiệu may phẩm phục Hội thánh được điều hành bởi nghệ sĩ người Ý Federico Toniolo và tiến sĩ phụng vụ thánh người Venezuela Leonardo Cardoza.

Chính xưởng may của họ đã thực hiện các lễ phục mà Đức Lêô XIV mặc trong đêm Giáng Sinh đầu tiên trong triều đại giáo hoàng của ngài. Cũng với những lễ phục do chính tay họ tạo nên, ngài đã cử hành mừng Hài Nhi Giêsu giáng sinh và các đại lễ khác.

Chúng tôi đến thăm xưởng may lễ phục cho Đức Giáo hoàng

Lễ phục do Agorà Atelier thực hiện
Nguồn: Agorà Atelier

Châu Âu và châu Mỹ trong phẩm phục của Đức Giáo hoàng

Aleteia đã có những cuộc trò chuyện thân tình với các nghệ sĩ tại nhà may Agorà Atelier để khám phá và tìm hiểu về các chi tiết trong quy trình thú vị đằng sau việc chế tác lễ phục mà Đức Giáo hoàng mặc khi cử hành Thánh lễ.

Trước hết, ai là người thực hiện chúng?

Sinh tại Veneto, Ý, Federico Toniolo là người đạo diễn đứng sau việc thiết kế và may mặc. Ông có nền tảng kiến thức về triết học, thần học và nghệ thuật thánh.

Ông cộng tác cùng một người gốc Nam Mỹ sinh tại Trujillo, Venezuela, quê hương của “vị bác sĩ của người nghèo” là Thánh José Gregorio Hernández kính yêu. Đó là Leonardo Cardoza, người cũng có nền tảng thần học vững chắc với bằng tiến sĩ phụng vụ thánh tại Roma.

Họ cùng nhau giám sát việc thực hiện từng bộ lễ phục mà Đức Giáo hoàng sẽ mặc, xem xét kỹ lưỡng tính chất trọng thể của từng dịp lễ, màu sắc phụng vụ, ngày sử dụng và ý chỉ thiêng liêng của từng lễ phục. Không có gì là ngẫu nhiên hay tình cờ.

Hai thập kỷ với những loại vải thánh

Chúng tôi đến thăm xưởng may lễ phục cho Đức Giáo hoàng

Lễ phục do Agorà Atelier thực hiện
Nguồn: Agorà Atelier

Xưởng may có một lịch sử phong phú, được dệt nên từ khi thành lập cách đây gần hai thập kỷ, vào năm 2009. Những người sáng lập giải thích với Aleteia rằng: “Xưởng ra đời như một phòng thí nghiệm, nơi việc nghiên cứu kiên trì và thiết kế cẩn trọng đem lại sự đổi mới, sáng tạo và tìm tòi.”

Thật vậy, ngay cả cái tên của xưởng cũng mang một bản sắc sâu sắc. “Nó xuất phát từ tiếng Hy Lạp ἀγορά (agora), có nghĩa là ‘quảng trường công cộng’, nơi mọi người gặp gỡ, thảo luận và là nơi các ý tưởng nảy sinh, như trong triết học Hy Lạp cổ đại.”

Nền tảng của điều này cũng thú vị và phức tạp không kém. Họ lập luận rằng: “Phụng vụ đòi hỏi một thi pháp riêng của nó; nghĩa là một ngôn ngữ thánh, được cấu thành từ những cử chỉ và lời nói, biểu tượng và hương thơm, màu sắc và hình tượng, khác với những hình thức truyền thông hay nghệ thuật khác của con người, bởi vì phụng vụ đưa chúng ta đi vào ‘Mầu nhiệm’.”

Thật vậy, trong nhiều năm qua, Agorà Atelier Roma đã trở thành một phòng thí nghiệm của nghệ thuật phụng vụ và vẻ đẹp cao quý của nó, như Công đồng Vatican II đã chỉ dẫn và yêu cầu (Hiến chế Phụng vụ Thánh Sacrosanctum Concilium số 124), họ giải thích thêm.

Chúng tôi đến thăm xưởng may lễ phục cho Đức Giáo hoàng

Lễ phục do Agorà Atelier thực hiện
Nguồn: Agorà Atelier

Họ sử dụng những loại sợi đặc biệt cho từng phẩm phục

Vì lý do này, họ ưu tiên “việc sử dụng các loại sợi tự nhiên và quý phái cho các bộ sưu tập của mình, sản xuất 100% tại Ý với chất lượng hàng đầu. Ngoài ra, hầu hết các loại vải được dệt độc quyền cho Atelier của chúng tôi, luôn hướng tới ý nghĩa thần học của phụng vụ.”

Như bạn có thể hình dung, mỗi bộ lễ phục được thực hiện như một y phục độc bản, tùy theo mục đích sử dụng. “Xưởng của chúng tôi mang tính thủ công. Chúng tôi không phải là một dây chuyền sản xuất, mà đúng hơn, mỗi bộ lễ phục đều được nghiên cứu và điều chỉnh theo các yêu cầu và hoàn cảnh phụng vụ.”

Việc chế tác các lễ phục này đáp ứng nhu cầu thiêng liêng và một mệnh lệnh được Giáo hội Công giáo yêu cầu rõ ràng trong các quy định. Minh chứng cho điều này có thể tìm thấy trong các chỉ dẫn của Bộ Giáo luật. Tại điều 284, Giáo luật quy định rằng: “Các giáo sĩ phải mặc y phục giáo sĩ xứng đáng theo những quy định do Hội đồng Giám mục ban hành và theo các tập tục hợp pháp của địa phương.”

Trong khi đó, tại điều 929, Giáo luật còn xác định rõ rằng: “Khi cử hành và ban Bí tích Thánh Thể, các linh mục và phó tế phải mặc những lễ phục thánh theo quy định của lễ quy.”

Cần có sự chuẩn bị thiêng liêng

Những người chế tác phẩm phục phụng vụ phải trải qua quá trình đào tạo chuyên sâu. Tuy nhiên, để tạo nên một bộ lễ phục được dùng để tôn vinh Thiên Chúa và thánh hóa Danh Người, chỉ có đôi tay khéo léo thôi thì chưa đủ.

Các nghệ nhân tại Agorà Atelier giải thích, “Sự chuẩn bị thiêng liêng của chúng tôi, dĩ nhiên, cũng bắt nguồn từ cuộc gặp gỡ cá nhân với Đức Kitô, như đối với mọi Kitô hữu khác. Thần học phụng vụ, nghệ thuật và biểu đạt thánh là điểm khởi đầu để chúng tôi thiết kế và làm nổi bật từng bộ lễ phục, đặc biệt là khi dành cho Đức Thánh Cha.”

Tuy nhiên, họ nói thêm rằng: “Mỗi linh mục và giáo dân tin tưởng trao gửi cho ý tưởng và đôi bàn tay của chúng tôi để thực hiện phẩm phục phụng vụ đều quan trọng không kém.”

“Mỗi lễ phục đều diễn tả vẻ đẹp của Đức Kitô”

Họ chia sẻ, “Nói về việc chế tác những lễ phục đặc biệt cho Đức Thánh Cha, trước hết, đó là một đặc ân đối với chúng tôi, điều mà chúng tôi luôn tạ ơn Thiên Chúa, và dĩ nhiên, cũng tri ân cá nhân ngài. Chúng tôi biết ngài trân trọng công việc của chúng tôi”.

Họ cũng dành những lời nhắc đến Văn phòng Cử hành Phụng vụ của Đức Thánh Cha: “Mỗi lễ phục được thực hiện cho Đức Giáo hoàng đều mang đầy ý nghĩa, không chỉ vì hình ảnh trước công chúng mà ngài đại diện với tư cách là Đấng Đại diện Chúa Kitô trên trần gian, mà còn vì tầm quan trọng đối với chúng tôi khi mỗi lễ phục đều phải diễn tả vẻ đẹp của Đức Kitô, vị Thượng tế Tối cao và Đời đời.”

Họ chia sẻ với Aleteia, “Chẳng hạn, bộ sưu tập Salus Populi Romani mà Đức Giáo hoàng Lêô XIV đã sử dụng trong các nghi lễ cuối năm, được thiết kế và thực hiện dựa trên cảm hứng từ các yếu tố kiến trúc của bốn Đại Vương cung Thánh đường tại Roma.”

Họ giải thích rằng những lễ phục này được Đức Lêô sử dụng “mang các yếu tố trang trí từ Vương cung Thánh đường Đức Bà Cả, chẳng hạn như ngôi sao tám cánh và thánh giá đặc trưng của Đức Maria, Salus Populi Romani (Ơn Cứu độ của Dân thành Roma).”

Họ cho biết thêm: “Xưởng may của chúng tôi không chỉ phát triển nghệ thuật phẩm phục phụng vụ tại Roma, mà còn trên khắp nước Ý và toàn thế giới, như có thể thấy qua trang web Agorá Atelier và sự hiện diện của chúng tôi trên Instagram.”
Tại sao lễ phục cần phải đẹp?

Giáo hội Công giáo luôn tìm cách bảo đảm rằng phẩm phục phụng vụ phải hài hòa với các biểu tượng của sự thánh thiện, với vẻ đẹp của các nghi thức và với chính hình ảnh Chúa Giêsu Kitô, vì chúng nhằm tôn vinh Thiên Chúa và làm nổi bật tính thánh thiêng của mọi hành động hướng về Người.

Sách Giáo lý giải thích rất rõ ràng lý do đằng sau việc chế tác công phu các phẩm phục phụng vụ. Số 1145 nhấn mạnh điều này khi nói rằng: “một cử hành bí tích được dệt nên từ các dấu chỉ và biểu tượng.”

Bằng cách này, việc thánh hóa các yếu tố của văn hóa nhân loại được thể hiện để chúng trở thành phương tiện đích thực của ân sủng. Vì thế, luôn có một nền sư phạm sâu sắc trong biểu tượng, trong mong muốn rằng mọi sự đều phải tôn vinh Thiên Chúa!

Thánh John Damascene trong tác phẩm De sacris imaginibus oratio đã đúc kết một cách tuyệt đẹp rằng: “Vẻ đẹp và màu sắc của các bức ảnh khơi dậy việc cầu nguyện nơi tôi. Đó là một yến tiệc cho đôi mắt, cũng như cảnh sắc của đồng quê thôi thúc lòng tôi tôn vinh Thiên Chúa.”


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 10/3/2026]