Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2026

Caphácnaum, Thành của Chúa Giêsu

Caphácnaum, Thành của Chúa Giêsu

Caphácnaum, Thành của Chúa Giêsu


07 Tháng Tám 2026

Francesco Patton


Thánh sử Mátthêu mô tả việc Chúa Giêsu rời bỏ nơi Người đã lớn lên để đến cư ngụ tại nơi ở mới, “thành của mình” (Mt 9:1), vào lúc khởi đầu sứ vụ công khai như sau: “Khi Đức Giê-su nghe tin ông Gioan đã bị nộp, Người lánh qua miền Galilê. Rồi Người bỏ Nadarét, đến ở Caphácnaum, một thành ven biển hồ Galilê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náptali” (Mt 4:12-13). Matthêu Lêvi, người làm nghề thu thuế cho quân La Mã chiếm đóng trên con đường từ Caphácnaum đến Đamát, cũng đưa ra động cơ thần học đằng sau việc đổi nơi cư trú của Chúa Giêsu: “để ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia nói: Này đất Dơ-vu-lun, và đất Náptali, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Giođan, hỡi Galilê, miền đất của dân ngoại! Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi” (Mt 4:14-16).

Ngày nay, người hành hương đến Caphácnaum bên bờ hồ Tibêria vẫn có trải nghiệm đặc biệt được nhìn thấy ngôi thành nơi Chúa Giêsu đã trải qua phần lớn thời gian ba năm thi hành sứ vụ tại Galilê. Chính tại đây, Người đã gọi các Tông đồ, nơi Người rao giảng, chữa lành bệnh nhân và thực hiện những dấu lạ quyền năng nhằm mạc khải căn tính sâu xa của Người là Đấng Mêsia và là Con Thiên Chúa. Cha Stanislao Loffreda, nhà khảo cổ Dòng Phanxicô thuộc Học viện Kinh Thánh Phanxicô (SBF) tại Giêrusalem, đã dành trọn cuộc đời cho địa điểm này; ngài là phụ tá chính của Cha Virgilio Canio Corbo trong 19 đợt khai quật được thực hiện tại đây từ năm 1968 đến năm 1986. Trong quyển sách hướng dẫn về Caphácnaum, nguồn tư liệu chính của bài viết này, cha nhắc lại mục tiêu thực sự của ngành khảo cổ học:

“Những nhà khảo cổ chúng tôi khai quật các di tích vật chất của quá khứ, nhưng thực ra chúng tôi đang tìm kiếm một điều hơn thế. Mục tiêu cuối cùng của chúng tôi, trong mức độ có thể, là thiết lập sự tiếp xúc với các thế hệ quá khứ, đối thoại với họ và để họ cất tiếng nói với các thế hệ hôm nay” (x. S. Loffreda, Cafarnao, Giêrusalem, 1995, tr. 7). Khi nghĩ về Caphácnaum như “thành phố của Chúa Giêsu” và của các Tông đồ đầu tiên, chúng ta lập tức nhận ra tầm quan trọng của những di tích cổ xưa nơi đây đối với toàn thể nhân loại. Đối với các tu sĩ thuộc Dòng Quản lý Thánh Địa, những người gìn giữ nơi này và sống tại đây như một cộng đoàn cầu nguyện, chào đón, Caphácnaum vượt xa hơn một di tích khảo cổ: đây là thành phố của Chúa Giêsu, là nhà của Chúa.


Một ngôi làng ven hồ

Địa điểm khảo cổ nằm trên bờ phía tây bắc hồ Tibêria (Kinneret), thuộc miền Galilê, thấp hơn mực nước biển khoảng 210 mét, cách Tibêria 16 km, cách Tabgha 3 km và cách nơi sông Giođan đổ vào hồ 5 km. Tên Semit nguyên thủy của địa điểm là Kfar Nahum, nghĩa là làng của ông Nahum (một trong những vị được gọi là “tiên tri nhỏ” cũng mang tên này). Triết gia Origenes dịch tên này là “cánh đồng an ủi” (từ gốc Hê-brơ nhm), trong khi thánh Giêrônimô dùng thuật ngữ “thành phố xinh đẹp” (từ gốc n’m). Sử gia Flavius Josephus chọn Capharnaoum, cách chuyển ngữ gần nhất với lối phát âm tiếng Hê-brơ (x. S. Loffreda, sđd., tr. 14-15).

Tàn tích Caphácnaum cổ đại trải rộng trên khoảng bảy héc-ta. Hai phần ba thuộc về Dòng Phanxicô Quản lý Thánh địa. Phần còn lại ở phía đông thuộc về Tòa Thượng phụ Chính thống Hy Lạp. Ngôi làng cổ bị bỏ hoang khoảng 1.000 năm trước, dù một số gia đình Ả Rập thuộc bộ tộc Semekiyeh vẫn sinh sống ở đó cho đến cuộc chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1948 (x. S. Loffreda, sđd., tr. 10).

Vào thời Chúa Giêsu, Caphácnaum là một thành ở biên giới có trạm thu thuế (x. Mc 2:13-15), nằm trên con đường đế quốc dẫn đến Đamát. Là thị trấn duy nhất trên bờ tây bắc của Hồ, nơi đây cách miền Thượng Giođan 5 km; khu vực này đánh dấu biên giới giữa lãnh địa của tiểu vương Hêrôđê Antipas và vùng Gôlan được giao cho người em là Philipphê của ông (cả hai đều là con của Hêrôđê Cả). Năm 1975, một cột mốc khắc tên Hoàng đế Hadrianô đã được tìm thấy cách hội đường chừng 100 mét về phía tây bắc, xác nhận từng có một con đường đế quốc tại đó (x. S. Loffreda, sđd., tr. 18-19).

Sự hiện diện của một phân đội lính La Mã, được ghi nhận trong các sách Tin Mừng (x. Lc 7:1-10; Mt 8:5-13), cho thấy tầm quan trọng của làng này như một điểm trung chuyển. Caphácnaum có quan hệ thương mại với vùng Thượng Galilê, Gôlan, Syria, Tiểu Á, Sýp, châu Phi và người Phênixi, như được xác nhận qua các đồng tiền và đồ gốm tìm thấy. Điều khiến Cha Loffreda ngạc nhiên là sự thiếu vắng mối liên hệ với miền trung và miền nam Palestine (x. S. Loffreda, sđd., tr. 19).

Chúa Giêsu rời Nadarét và đến cư ngụ tại Caphácnaum

Như đã đề cập ở trên, Chúa Giêsu rời Nadarét và đến sống tại Caphácnaum. Quyết định này không phải là ngẫu nhiên. Nadarét “là một vùng đồi núi, tách biệt khỏi các tuyến giao thông chính”, trong khi Caphácnaum nằm trên một con đường chiến lược và “đủ xa các trung tâm đô thị lớn, nhất là Tibêria, nơi Hêrôđê Antipas đã đặt thủ phủ”. Nhờ đó, Chúa Giêsu có thể “phổ biến sứ điệp thiên sai của Người một cách rộng rãi, mà không gây ra phản ứng ngay lập tức từ các nhà lãnh đạo chính trị và tôn giáo”. Hơn nữa, Caphácnaum có dân cư đa dạng: ngư dân, nông dân, thợ thủ công, thương nhân, người thu thuế. Mối quan hệ của thành phố với người Rôma được đánh dấu “bởi một sự thân tình đặc biệt, đến nỗi một viên đại đội trưởng Rôma đã xây hội đường cho cộng đồng Do Thái” (x. S. Loffreda, sđd., tr. 68-69). Vì thế, không có gì ngạc nhiên khi Chúa Giêsu gọi những môn đệ đầu tiên từ cộng đồng này: các ngư phủ là Phêrô, Anrê, Giacôbê và Gioan, cùng Matthêu người thu thuế.

Nhà của thánh Phêrô: từ domus-ecclesia đến đền tưởng niệm

Khám phá có ý nghĩa nhất do các cuộc khai quật của Dòng Phanxicô đưa ra ánh sáng là khu vực được gọi là insula sacra. Do Cha Virgilio Corbo và Cha Stanislao Loffreda dẫn đầu, các cuộc khai quật năm 1968 đã cho phép tái dựng lịch sử của nơi này, qua việc xác định bốn giai đoạn then chốt. Lịch sử ngôi nhà nơi Chúa Giêsu đã sống “có thể được tóm tắt như sau:

1. Thời điểm khởi đầu là vào thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

2. Bắt đầu từ cuối thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên, một phần của ngôi nhà […] đã được chuyển thành một domus-ecclesia, tức là nơi dành cho các cuộc hội họp tôn giáo.

3. Vào thế kỷ thứ tư, nhà được gọi là domus-ecclesia được mở rộng và tách khỏi phần còn lại của làng bằng một bức tường bao quanh đồ sộ.

4. Vào nửa sau thế kỷ thứ năm, toàn bộ các công trình của insula sacra bị phá dỡ và một nhà thờ hình bát giác được xây dựng” (x. S. Loffreda, sđd., tr. 51).

Việc căn phòng này là nơi thờ tự của Kitô giáo được chứng thực qua các hình khắc mang tên Chúa Giêsu và chữ lồng (monogram), các công thức phụng vụ như Amen và Kyrie Eleison, cùng một dòng chữ bằng tiếng Paleo-Estrangelo — một biến thể của tiếng Syriac cổ — có vẻ như ám chỉ đến Bí tích Thánh Thể. “Sự đa dạng ngôn ngữ cho phép giả định chắc chắn rằng domus-ecclesia không chỉ được các tín hữu địa phương sử dụng, mà còn bởi những người hành hương” (x. S. Loffreda, sđd., tr. 60).

Trong tác phẩm De locis sanctis, thầy Phêrô Phó tế (1107-1140 sau Công nguyên) thuật lại lời chứng của người hành hương tên Egeria (thế kỷ IV sau Công nguyên) mô tả domus-ecclesia như sau:

“Tại Caphácnaum, nhà của vị thủ lãnh các Tông đồ đã được biến thành một nhà thờ. Các bức tường của ngôi nhà vẫn còn đứng vững cho đến ngày nay, và tại đây Chúa đã chữa lành người bại liệt. Nơi đây cũng có hội đường, trong đó Chúa đã chữa người bị quỷ ám. Hội đường này được xây bằng các khối đá vuông và có nhiều bậc thang dẫn lên lối vào” (Petrus Diaconus, Liber de Locis Sanctis, trong Itineraria et alia geographica, ed. R. Weber, CCL, 175, Turnhout 1965, tr. 98-99).

Ngôi nhà thờ hình bát giác từ nửa sau thế kỷ thứ năm được thiết kế với một khối bát giác trung tâm phía trên ngôi nhà, nhằm chỉ cho khách hành hương “vị trí chính xác ngôi nhà của Thánh Phêrô, khi ấy đã bị chôn vùi bên dưới nền cao của nhà thờ” (x. S. Loffreda, sđd., tr. 66). Vào khoảng cuối thế kỷ thứ năm sau Công nguyên, một giếng rửa tội và một cung thánh hình bán nguyệt được thêm vào phía đông công trình (x. J. Patrich, Baptism in the Holy Land: 4th – 7th Centuries, Milano 2025, tr. 103-104). Đền tưởng niệm hiện đại, do kiến trúc sư người Ý Ildo Avetta thiết kế, được thánh hiến ngày 29 tháng 6 năm 1990. Sau khi qua đời năm 1991, Cha Corbo, người đã chủ trì các công trình, được an táng bên dưới đền để tôn kính Thánh Phêrô.

Các hội đường: từ thế kỷ thứ tư và từ thời Chúa Giêsu

Công trình tưởng niệm lớn khác tại Caphácnaum là hội đường “trắng”. Khác với các nhà dân thường được xây bằng đá bazan sẫm màu, công trình này được xây dựng hoàn toàn bằng những khối đá vôi trắng, nặng tới bốn tấn, được đưa đến từ các mỏ đá cách đó vài cây số. Các yếu tố trang trí của hội đường rất tinh xảo và phong phú với các biểu tượng Do Thái.

Cha Geiger viết: “Liên quan đến hội đường vào thời Chúa Giêsu, cho đến đầu thế kỷ XX, các nhà khảo cổ tiên phong phần lớn tin rằng họ đã tìm thấy nó. Tuy nhiên, khi các nhà khảo cổ Đức Heinrich Kohl và Carl Watzinger phân tích các phế tích trong giai đoạn 1905-1916, họ đã định niên đại chúng vào năm 200 sau Công nguyên. Vì các phế tích không thể thuộc về hội đường hiện hữu vào thời Chúa Giêsu, từ các năm 1968 đến năm 1990, các tu sĩ Phanxicô đã nỗ lực kiểm chứng hết sức thận trọng xem có một hội đường sớm hơn nằm bên dưới công trình đang thấy hay không. Một bất ngờ ban đầu là việc tìm thấy hơn 30.000 (!) đồng tiền trên nền của hội đường đương thời, có niên đại vào cuối thế kỷ IV sau Công nguyên (383-395)” (H. Fürst – G. Geiger, Terra Santa. Guida francescana per pellegrini e viaggiatori, Milano 2018², tr. 220-221/1021).

Dựa trên việc phân tích các đồng tiền và đồ gốm thời hậu La Mã được tìm thấy ở các tầng khác nhau của di tích, các cuộc khai quật của Cha Corbo và Cha Loffreda đã cho phép xác định niên đại của hội đường là cuối thế kỷ thứ tư. Hơn nữa, bên dưới hội đường trắng, các nhà khảo cổ đã tìm thấy một nền lát đá bazan có từ thế kỷ I, thuộc về một công trình công cộng lớn đến mức không thể là một ngôi nhà tư nhân. Cha Corbo và Cha Loffreda công nhận rằng “nền lát đá lớn có từ thế kỷ thứ nhất được phát hiện bên dưới gian chính của hội đường trắng có thể là một phần của hội đường từng được tìm kiếm từ lâu, tức là hội đường do viên đại đội trưởng La Mã xây dựng và từng được Chúa Giêsu thăm viếng” (S. Loffreda, sđd, tr. 32-49). Chính trong hội đường này, Chúa Giêsu đã giảng dạy như một Đấng có uy quyền trong ngày sabát, trừ quỷ (x. Mc 1:21-28) và công bố bài giảng về bánh hằng sống (x. Ga 6:22-71).

Sự chung sống của cộng đồng Kitô giáo và Do Thái giáo

Các phát hiện xác nhận rằng một cộng đoàn Kitô giáo chiếm đa số và một cộng đoàn Do Thái giáo thiểu số đã cùng sinh sống bên cạnh nhau trong ngôi làng thời Byzantine (thế kỷ IV đến VII sau Công nguyên). Những mảnh gốm mang hình thập giá được tìm thấy rất nhiều ở hầu như khắp nơi trên phần địa điểm thuộc Dòng Phanxicô, và các hiện vật như mặt dây chuyền khắc Tetragrammaton Thánh xác nhận hội đường vẫn hoạt động. Caphácnaum là một trường hợp đặc biệt trong khu vực, nơi các cộng đồng tôn giáo khác nhau nhìn chung có xu hướng định cư tại các làng riêng biệt thay vì sống chung với nhau (x. S. L. Mattila, “Capernaum, Village of Nahum: From Hellenistic to Byzantine Times”, trong: Galilee in the Late Second Temple and Mishnaic Periods: Vol. 2, 2015, tr. 249-251).

Lịch sử khảo cổ

Lịch sử khảo cổ của Caphácnaum bắt đầu năm 1838, khi Edward Robinson nhận diện được các tàn tích của hội đường, nhưng chưa liên kết chúng với địa điểm trong Tin Mừng. Charles Wilson đã xác định chính xác các tàn tích hội đường vào năm 1866. Năm 1894, Dòng Quản lý Thánh Địa, thông qua Tu huynh Giuseppe Baldi, đã mua các phế tích này từ người Bedouin. Hội Orient-Gesellschaft của Đức (Kohl và Watzinger), kế đến là Cha Wendelin von Menden, OFM, bắt đầu các cuộc khai quật vào đầu những năm 1900. Trong thập niên 1920, Cha Orfali, OFM (1889-1926), một tu sĩ Phanxicô người Nadarét, đã đưa Vương cung thánh đường Byzantine ra ánh sáng.

Sau một thời gian dài gián đoạn, năm 1968, Dòng Quản lý Thánh Địa giao việc khai quật cho Cha Virgilio Corbo, OFM (1918-1991) và Cha Stanislao Loffreda, OFM (1932-2025). Các ngài được hỗ trợ bởi Cha Bellarmino Bagatti, OFM, và Cha Godfrey Kloetzly, OFM. Cùng năm đó, họ đã phát hiện ra một domus ecclesia có niên đại từ thế kỷ thứ tư bên dưới ngôi nhà thờ hình bát giác, và sâu hơn nữa là một ngôi nhà từ thế kỷ thứ nhất, xác nhận rằng nửa thế kỷ sau cái chết của Chúa Giêsu, một khu vực trong nhà đã được chuyển thành nơi thờ phượng Kitô giáo để tôn kính Thánh Phêrô. Các cuộc khai quật của Cha Corbo đã dẫn đến việc tái dựng toàn bộ niên đại của di tích, từ Thời đại Đồ Đồng Trung (khoảng 2000-1550 trước Công nguyên) đến thời kỳ Ả Rập (thế kỷ VII), cũng như điều chỉnh niên đại của hội đường đồ sộ và tìm thấy một hội đường sớm hơn từ thời Chúa Giêsu. Các công trình của Cha Corbo kết thúc bằng đền tưởng niệm phía trên Nhà của Thánh Phêrô (1990). Người tiếp nối cha là Cha Loffreda, người đã nghiên cứu các giai đoạn Byzantine và Ả Rập, đồng thời biên tập bộ sách khoa học “Capernaum” (9 quyển, SBF). Cha Eugenio Alliata, OFM, đã lập danh mục toàn bộ vật liệu đá của địa điểm (x. https://www.custodia.org/it/santuari/cafarnao/).

Trong khi đó, tại phía đông bắc thị trấn — tài sản của Tòa Thượng phụ Chính thống Hy Lạp tại Giêrusalem — các cuộc khai quật do nhà khảo cổ Vassilios Tzaferis dẫn đầu (1978-1987) đã phát hiện bốn khu vực chính. Nhóm khảo cổ cũng tìm thấy một tường chắn biển đồ sộ dài khoảng 200 mét, với hai cầu tàu vuông góc vươn ra hồ, cùng một kho báu nhỏ gồm 282 đồng dinar bằng vàng thuộc giai đoạn chuyển tiếp Ả Rập-Byzantine (x. Mattila, sđd., tr. 226-228).

Sự hiện diện của Dòng Phanxicô

Cho đến ngày nay, mỗi ngày, các tu sĩ Dòng Quản lý Đất Thánh vẫn chào đón những khách hành hương đến Caphácnaum để chạm đến “thành của Chúa Giêsu”, với những nơi Người đã nhìn ngắm, nơi tiếng nói của Người từng vang lên và nơi Người đã thực hiện các công cuộc của mình. Vẻ huy hoàng của hội đường trắng, nét đơn sơ của những ngôi nhà xây bằng đá bazan, nhà của thánh Phêrô, trước tiên được chuyển thành một domus ecclesia, rồi sau đó thành một vương cung thánh đường Byzantine, và ngày nay là một đền tưởng niệm dâng kính thánh Phêrô, cùng sự tĩnh lặng của hồ nước phía trước: tất cả đều nói lên một sự hiện diện mà đức tin nhận biết vẫn đang sống động. Khi chiêm ngắm những tàn tích của Caphácnaum cổ, người hành hương có thể “thấy” những ngôi nhà và cư dân của ngôi làng cổ cùng các câu chuyện Tin Mừng diễn ra tại đó, “nghe thấy” lời Chúa Giêsu về Bánh Hằng Sống vang vọng và cùng với thánh Phêrô tuyên xưng: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6:68).



[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 12/08/2026]


Công nghệ cần sự sáng tạo

Công nghệ cần sự sáng tạo

Công nghệ cần sự sáng tạo

07 tháng 8 năm 2026
Tác giả Arturo López

Với con số hơn bốn triệu bản bán ra và được dịch sang hơn 30 ngôn ngữ, nhờ sự khảo cứu lịch sử kỹ lưỡng và lối hành văn giản dị được kết tinh từ 35 năm sự nghiệp nhà báo chính trị, nữ tiểu thuyết gia Tây Ban Nha Julia Navarro thực sự đã để lại dấu ấn trong nền văn học hiện đại. Những nhân vật đa dạng của bà — một Hiệp sĩ Dòng Đền, một đứa trẻ đi tìm căn tính của mình, một nhà báo — sống trong những câu chuyện đầy kịch tính, hấp dẫn, đau khổ, hy vọng và sự cứu độ, cho thấy khả năng của bà Navarro trong việc chạm đến tâm hồn con người hiện đại. Trong cuộc phỏng vấn sau đây, diễn ra vào cuối tháng Sáu khi bà có mặt tại Rôma cùng một nhóm văn sĩ để tham dự buổi tiếp kiến Đức Giáo hoàng Lêô XIV nhân dịp kỷ niệm một trăm năm thành lập LEV (Nhà Xuất bản Vatican), bà Navarro nói về tính siêu việt, những công nghệ mới và âm nhạc.

“Như bà biết, viết là một hành vi của sự thật, của sự mặc khải, vì nó tỏ lộ chúng ta là ai, chúng ta tin tưởng và hy vọng điều gì, thế giới mà chúng ta hướng đến và tương lai mà chúng ta mơ ước”, Đức Thánh Cha đã nói trong buổi tiếp kiến dành cho các văn sĩ. Việc tìm kiếm ý nghĩa là một chủ đề thường xuyên trở lại trong các sách của bà. Theo bà, những câu hỏi căn bản nào mà con người ngày nay vẫn tiếp tục tự đặt ra cho mình?

Tôi nghĩ rằng con người đã tự đặt ra những câu hỏi này từ buổi bình minh của nhân loại. Chúng ta là ai? Tại sao chúng ta hiện diện ở đây? Tại sao? Tại sao? Tại sao? Lý do tồn tại của chúng ta, lý do của sự siêu việt, nhu cầu về sự siêu việt — tôi nghĩ đó là những câu hỏi mà nhân loại vẫn đặt ra và đã đặt ra qua các thế kỷ.

Tác phẩm của bà tràn ngập âm nhạc và nghệ thuật nói chung. Bà có nghĩ rằng thi ca và âm nhạc cũng là một ngôn ngữ và một phương tiện để nói về hy vọng và sự siêu việt không?

Vâng, tôi nghĩ như vậy. Bất kỳ hình thái biểu đạt nghệ thuật nào, dù là âm nhạc, văn học, hội họa hay điêu khắc, cũng đều là một phương cách khác để nói, để tìm kiếm sự siêu việt này, và để chia sẻ khái niệm về sự siêu việt với người khác. Tôi nghĩ rằng ngôn ngữ không chỉ là lời nói. Có rất nhiều cách để chúng ta diễn đạt bản thân. Đôi khi ngôn ngữ có thể là một rào cản, nhưng âm nhạc thì không, hội họa thì không, điêu khắc thì không, và văn chương cũng không, bởi lẽ thật may mắn, ngày nay văn chương có thể được dịch thuật. Có những cách khác để giao tiếp với người khác.

Bởi vì trên thực tế, âm nhạc là sự đa dạng xoay quanh một cảm xúc. Đó có thể là sự khắc khoải, như chúng ta thường thấy…

Nó có thể là sự khắc khoải. Mọi cảm xúc đều được phản ánh trong âm nhạc. Qua nhiều thế kỷ, các nhạc sĩ đã phản chiếu những cảm xúc, cũng như sự tiến bộ của con người và những tư tưởng của con người. Âm nhạc vượt lên trên và nói với chúng ta về mỗi thời đại, mỗi thời khắc mà nhân loại được kêu gọi để sống. Cũng như hội họa, văn chương hay bất cứ hình thức biểu đạt nghệ thuật nào khác, đó là bức ảnh chụp lại một khoảnh khắc, một thời điểm.

Trong một xã hội ngày càng mang tính công nghệ, văn chương có thể mang lại điều gì cho đời sống con người?

Tôi nghĩ điều mà công nghệ thiếu là trí tưởng tượng. Đó là lý do vì sao văn chương không do máy móc viết ra — bởi vì đối với tôi, đó không phải là văn chương — và phát xuất từ con người vẫn còn rất nhiều điều để cống hiến, bởi vì máy móc sẽ không bao giờ theo kịp chiều kích nhân bản. Máy móc tiếp nhận những gì người khác đã viết, những gì người khác đã suy nghĩ, nhưng máy móc không suy nghĩ. Vì thế, những lời phát xuất từ tâm trí con người vẫn có thể khuấy động tình cảm và cảm xúc và chạm đến tâm hồn. Chúng ta sẽ không bị máy móc thay thế. Điều đó hoàn toàn không thể. Bởi vì máy móc không có linh hồn. Khả năng sáng tạo của con người thuộc về tinh thần, thuộc về linh hồn.

Thông điệp đầu tiên của Đức Giáo hoàng Lêô XIV là một suy tư về lời nói và truyền thông. Bà nhìn nhận thế nào về tương lai của lời nói trong kỷ nguyên kỹ thuật số?

Tôi muốn nhìn điều đó với niềm hy vọng. Các công nghệ mới đã hiện diện và đó là một thực tại. Người Tây Ban Nha chúng tôi biết, nhờ Cervantes và tác phẩm Don Quixote, cách chiến đấu chống lại thực tại; chúng tôi hiểu thế nào là chiến đấu với những kẻ thù trong tưởng tượng. Người ta không thể chiến đấu chống lại những cối xay gió, bởi vì chúng hiện hữu. Chúng là một phần của thực tại. Nhưng tôi vẫn nhấn mạnh rằng các công nghệ mới không thể thay thế con người. Chúng có thể là những công cụ mà chúng ta sử dụng theo cách tốt hoặc xấu. Thông điệp của Đức Giáo hoàng nói chính xác về điều này. Nhưng ngoài cách chúng ta sử dụng chúng, tôi xin nhắc lại rằng máy móc không có linh hồn, và vì thế, không thể thay thế con người.



[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 10/08/2026]