Thứ Ba, 26 tháng 5, 2026

Tiếp kiến các tham dự viên Hội nghị Quốc tế “Gìn giữ tiếng nói và khuôn mặt con người” do Bộ Truyền thông tổ chức, phối hợp với Bộ Văn hóa và Giáo dục, ngày 22.05.2026

Tiếp kiến các tham dự viên Hội nghị Quốc tế “Gìn giữ tiếng nói và khuôn mặt con người” do Bộ Truyền thông tổ chức, phối hợp với Bộ Văn hóa và Giáo dục, ngày 22.05.2026

Tiếp kiến các tham dự viên Hội nghị Quốc tế “Gìn giữ tiếng nói và khuôn mặt con người” do Bộ Truyền thông tổ chức, phối hợp với Bộ Văn hóa và Giáo dục, ngày 22.05.2026

*******

Sáng nay, tại Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh cha Lêô XIV đã tiếp kiến các tham dự viên của Hội nghị Quốc tế “Gìn giữ tiếng nói và khuôn mặt con người”. Hội nghị, do Bộ Truyền thông tổ chức, phối hợp với Bộ Văn hóa và Giáo dục, nhân dịp Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 60, đã diễn ra ngày hôm qua tại Đại học Giáo hoàng Urbaniana.

Sau đây là bài diễn văn của Đức Giáo hoàng gửi tới những người hiện diện trong buổi gặp gỡ:


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.
Bình an cho anh chị em.

Chào tất cả anh chị em và xin chào mừng!

Tôi rất vui mừng được chào đón anh chị em sau Hội nghị Quốc tế diễn ra ngày hôm qua nhân kỷ niệm Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 60. Là những học giả và chuyên gia am hiểu sâu sắc về truyền thông kỹ thuật số, mối bận tâm của anh chị em đối với tương lai của nhân loại đã đưa anh chị em đến Rôma để suy tư về năng lực hiểu biết truyền thông và kỹ thuật số. Khi tham gia vào sáng kiến này, mỗi người trong anh chị em đã mang đến những ân ban và tài năng riêng của mình để góp phần định hướng tương lai của nhân loại trong thời đại được đánh dấu bởi sự tăng trưởng theo cấp số nhân của công nghệ, một vấn đề đặc biệt quan trọng đối với sứ mạng của Giáo hội.

Chính trong bối cảnh sứ mạng phổ quát của Giáo hội mà sự ủng hộ của Giáo hội đối với truyền thông xã hội có thể được hiểu rõ nhất. Trên thực tế, Sắc lệnh của Công đồng Vatican II về các phương tiện truyền thông đại chúng — văn kiện khai sinh Ngày Thế giới Truyền thông — đã mở đầu bằng việc nhắc nhở chúng ta rằng Giáo hội “được Chúa Kitô, Chúa chúng ta, thiết lập để mang ơn cứu độ đến cho mọi người, và vì thế Giáo hội có bổn phận phải rao giảng Tin Mừng” (Inter Mirifica 3). Mối quan tâm hàng đầu của Giáo hội đã, đang và tiếp tục là ơn cứu độ đời đời của mỗi con người. Như chúng ta đọc thấy trong Tin Mừng theo Thánh Gioan: “Mà sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giêsu Kitô” (Ga 17:3).

Do đó, ước muốn cho mọi người “được cứu độ và nhận biết chân lý” (1 Tm 2:4) phải định hướng không riêng các quyết định và hành động của chúng ta, mà còn cả việc sử dụng và định hướng dành cho truyền thông, công nghệ kỹ thuật số và trí tuệ nhân tạo, nhằm bảo đảm rằng các công cụ này được đặt vào việc phục vụ đích thực dành cho con người. Như đã được chứng minh một cách đáng buồn qua việc thúc đẩy và triển khai công nghệ cách tràn lan thiếu kiểm soát với cái giá phải trả là phẩm giá con người, cũng như những tổn hại gây ra khi các chatbot và những công nghệ khác khai thác nhu cầu về các mối tương quan con người của chúng ta, chúng ta thực sự đang trải qua một sự mờ nhạt của ý thức về ý nghĩa của việc là con người (x. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 60). Do đó, điều cấp bách hơn bao giờ hết là phải khôi phục lại sự hiểu biết về ý nghĩa đích thực và sự cao cả của con người như ý định của Thiên Chúa. Theo nghĩa này, thách đố mà chúng ta đang đối mặt hiện nay “không phải là vấn đề công nghệ, mà là vấn đề nhân học” (sđd.), và tôi hy vọng rằng Thông điệp sẽ được ban hành trong ít ngày tới sẽ góp phần trả lời cho thách đố này.

Dưới ánh sáng này, tôi tin tưởng rằng chỉ bằng việc chiêm ngắm Đức Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể, chúng ta mới có thể khôi phục lại không chỉ một cái nhìn đúng đắn về Thiên Chúa, mà còn có thể đạt tới sự hiểu biết sự thật về con người. Bởi vì, “qua việc nhập thể, Con Thiên Chúa đã kết hợp chính Người, theo một cách nào đó, với mỗi con người” (Gaudium et Spes, số 22), nên trái tim con người sẽ không bao giờ có thể thấu hiểu trọn vẹn những nơi sâu kín của chính mình, cũng như không thể hiểu được giá trị của mình nếu tách rời khỏi Trái Tim Đức Kitô. Chính vì vậy, việc gìn giữ đích thực khuôn mặt và tiếng nói của mỗi cá nhân nhất thiết phải bao hàm một cuộc gặp gỡ với Đấng là “hình ảnh của Thiên Chúa vô hình”, đồng thời chính Ngài là con người hoàn hảo (Col 1:15).

Dĩ nhiên, tất cả những điều này phải được ghi nhớ khi thảo luận về các hệ quả của công nghệ kỹ thuật số và vai trò của Giáo hội trong lãnh vực truyền thông xã hội. Công việc như vậy không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhưng chúng ta đã được kêu gọi đem ánh sáng của Đức Kitô đến cho thế giới, soi chiếu mọi chiều kích trong hoạt động của con người (x. Ga 8:12; Mt 5:14-16). Làm sao chúng ta có thể không thực hiện điều đó trong thời đại của mình, nhất là trước một vấn đề đang hiện diện sâu rộng trong xã hội như hiện nay? Vì thế, Giáo hội thấy mình được thúc đẩy phải đóng góp vào nỗ lực hoạch định và triển khai giáo dục về truyền thông, thông tin và trí tuệ nhân tạo trong các hệ thống giáo dục. Bằng cách này, Giáo hội có thể giúp bảo đảm rằng con người đạt được các kỹ năng tư duy phản biện và công nghệ góp phần vào ơn cứu độ của những người sử dụng chúng (x. Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 60; Inter Mirifica 3).

Tôi chắc chắn rằng tất cả chúng ta đều đặc biệt lo ngại về những hệ quả có thể xảy ra từ việc sử dụng công nghệ kỹ thuật số và trí tuệ nhân tạo, không chỉ đối với sự phát triển thể chất và trí tuệ của trẻ em và người trẻ, mà còn đối với đời sống thiêng liêng của họ. Về phương diện này, mọi người, nhưng đặc biệt là người trẻ, “cần học biết tiết độ và kỷ luật trong việc sử dụng” những công nghệ đó (Inter Mirifica, số 10), với sự hỗ trợ hướng dẫn của cha mẹ và các nhà giáo dục. Hơn nữa, dưới ánh sáng sứ mạng của Giáo hội và trước những quan niệm sai lầm hiện nay về Thiên Chúa và con người, giáo dục về năng lực kỹ thuật số cũng phải bao gồm việc giáo dục chân lý về Thiên Chúa và về con người. Đặc biệt, người trẻ luôn rộng mở trước chân lý này và khao khát khám phá ý nghĩa của cuộc sống. Vì vậy, chúng ta phải giúp họ gặp gỡ Đức Kitô hằng sống và dạy họ biết tích hợp việc sử dụng công nghệ vào trong một lối sống Kitô hữu toàn diện.

Anh chị em thân mến, đây là một vấn đề đặc biệt gần gũi với tâm hồn tôi và gần gũi với tâm hồn của Giáo hội. Quả thật, như một người Mẹ, Giáo hội chăm lo đến đời sống của các con cái mình, mong muốn hướng dẫn họ đến sự trưởng thành viên mãn (x. Êp 4:13). Tôi hy vọng rằng những suy tư này sẽ dẫn đến niềm tin tưởng vào công nghệ như thành quả của thiên tài của con người, trong sự hòa hợp với công trình sáng tạo của Thiên Chúa.

Cảm ơn anh chị em vì những nỗ lực trong hiện tại và tương lai, tôi khẩn cầu Thiên Chúa tuôn đổ muôn phúc lành của sự khôn ngoan, niềm vui và bình an, trên anh chị em và gia đình. Cảm ơn anh chị em.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 23/05/2026]


Kết nối các dấu mốc từ thông điệp 'Rerum Novarum' đến 'Magnifica Humanitas'

Kết nối các dấu mốc từ thông điệp 'Rerum Novarum' đến 'Magnifica Humanitas'

PHÂN TÍCH: Đã có bảy giai đoạn phát triển trong suốt 135 năm kể từ khi Đức Thánh cha Lêô XIII ban hành văn kiện mang tính đột phá của ngài.

Kết nối các dấu mốc từ thông điệp 'Rerum Novarum' đến 'Magnifica Humanitas'

Andrea Gagliarducci

Vatican 21 Tháng Năm, 2026


Việc Đức Giáo hoàng Lêô XIV quyết định chính thức ký ban hành Thông điệp Magnifica Humanitas vào ngày 15 tháng 5 không phải là điều ngẫu nhiên.

Chính vào ngày này năm 1891, vị tiền nhiệm cùng tước hiệu với ngài, Đức Lêô XIII, đã ký thông điệp Rerum Novarum, thông điệp xã hội đầu tiên trong lịch sử Giáo hội Công giáo. Ngày nay, Đức Lêô XIV vẫn muốn phản ánh về “những điều mới mẻ” (ý nghĩa của Rerum Novarum), tức là những thách đố mới do xã hội đương đại đặt ra.

Nhưng tại sao cần phải nhìn lại Rerum Novarum? Và học thuyết xã hội của Giáo hội đã phát triển như thế nào trong suốt 135 năm kể từ khi thông điệp được công bố?

Khi Đức Lêô XIII đề cập đến “những điều mới mẻ” của thời đại bấy giờ, ngài phải đưa ra câu trả lời của Kitô giáo trước hai hiện tượng lớn: tư tưởng xã hội chủ nghĩa trao cho người nghèo niềm hy vọng bằng cách kêu gọi họ tham gia vào cuộc đấu tranh giai cấp; và tư tưởng Khai sáng đã dẫn đến một cuộc tấn công chưa từng có nhắm vào Giáo hội. Thêm vào đó, ngài cũng phải đối diện với các vấn đề của cuộc Cách mạng Công nghiệp, sự thay đổi nhanh chóng của thế giới lao động đang tạo ra sự mất cân bằng xã hội sâu sắc giữa người giàu và người nghèo.

Với Đức Lêô XIII, một học thuyết xã hội đã xuất hiện, khởi đi từ những vấn đề của con người và sau đó chạm đến các vấn đề quốc tế. Không phải ngẫu nhiên mà Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII, trong Thông điệp Mater et Magistra năm 1961, đã nói đến những mất cân bằng toàn cầu và cách thức chúng trở thành mối đe dọa đối với hòa bình. Cũng không phải tình cờ mà Thánh Giáo hoàng Phaolô VI, trong Thông điệp Populorum Progressio năm 1967, đã nhấn mạnh rằng “phát triển là tên gọi mới của hòa bình.”

Rerum Novarum nói đến những điều gì

Đức Lêô XIII đã nói về điều gì trong Rerum Novarum? Phần đầu tiên được dành riêng cho vấn đề tư hữu. Đức Giáo hoàng bác bỏ luận điểm “chế độ tài sản chung do chủ nghĩa xã hội đề xuất” vì điều đó “xúc phạm đến các quyền tự nhiên của mỗi cá nhân.”

Đức Lêô XIII cũng đề cập đến vấn đề mục đích chung của của cải, trong đó nhấn mạnh rằng chính việc sử dụng tốt hay xấu đối với của cải mới là điều quyết định vấn đề, bởi lẽ “sự giàu có không giải thoát con người khỏi đau khổ.” Thông điệp sau đó bàn đến vấn đề nghèo đói, nhấn mạnh rằng “nhân đức là sản nghiệp chung, ai cũng có thể đạt được như nhau, dù là người quyền quý hay kẻ thấp hèn, người giàu cũng như người vô sản,” điều này rất quan trọng để hiểu rằng mọi người đều bình đẳng trước mặt Thiên Chúa.

Đức Lêô XIII cũng đề cập đến chủ đề tình huynh đệ, chủ đề mà sau này Đức Thánh cha Phanxicô đã dành trọn một thông điệp để khai triển, và nhấn mạnh rằng sống tình huynh đệ có nghĩa là nhìn nhận “những ân huệ của tự nhiên và ân sủng là gia sản chung của toàn thể nhân loại,” bởi vì nếu tất cả mọi người đều là con cái, thì tất cả cũng là “những người thừa kế của Thiên Chúa và đồng thừa kế với Chúa Giêsu Kitô. Đây là lý tưởng về các quyền lợi và bổn phận được chứa đựng trong Tin Mừng.”

Đức Lêô XIII nói về một Giáo hội đang hiện diện giữa lòng thế giới và do đó ưu tiên cải thiện những điều kiện sống cũng như làm cho lao động trở nên xứng hợp với phẩm giá hơn. Chính vì vậy, Rerum Novarum dành nhiều chú ý đến những điều kiện lao động khắc nghiệt của giới công nhân công nghiệp, nhấn mạnh rằng “đòi hỏi con người phải làm việc quá nhiều đến mức tinh thần bị suy sụp vì lao lực và cơ thể bị suy kiệt thì không công bằng cũng chẳng nhân đạo.”

Đức Lêô XIII cũng khẳng định rằng “tiền lương không được thấp hơn mức đủ để người lao động sinh sống,” và đồng thời, người lao động cũng phải học cách tiết kiệm.

Chủ đề lớn ở đây là thiết lập một trật tự xã hội công bằng, với một con đường trung tâm: con đường bác ái.

Đức Lêô XIII viết: “Mỗi người hãy thi hành phần việc của mình và đừng trì hoãn, vì sự trì hoãn có thể khiến cho việc chữa lành một sự dữ vốn đã trầm trọng càng trở nên khó khăn hơn. Các chính phủ hãy hướng tới mục tiêu này bằng những luật lệ tốt đẹp và những biện pháp khôn ngoan; các nhà tư bản và giới chủ sử dụng lao động luôn ghi nhớ bổn phận của mình; và giới vô sản, những người bị ảnh hưởng trực tiếp, hãy làm những gì có thể trong giới hạn của công lý.”

Bảy giai đoạn của giáo huấn xã hội

Kể từ Rerum Novarum, đã có 12 thông điệp xã hội, nếu tính cả Laudato Si và Fratelli Tutti của Đức Thánh cha Phanxicô. Tất cả đều quy chiếu về Rerum Novarum, cập nhật tư duy để đáp ứng với những phát triển mới, giải quyết các thách đố xã hội mới, và làm phong phú thêm một tư tưởng với sứ mạng trả lời những câu hỏi của thời đại.

Đức Giám mục danh dự Mario Toso của giáo phận Faenza-Modigliana, Ý, một trong những chuyên gia hàng đầu của Giáo hội về học thuyết xã hội, nhấn mạnh rằng: “Học thuyết xã hội của Giáo hội cung cấp những chìa khóa diễn giải giúp các ngành khoa học khác nhau đối thoại với nhau để đóng góp cho tri thức, hòa bình và việc hiện thực hóa Nước Thiên Chúa. Học thuyết xã hội không phải là tri thức suy diễn; không phải điều bị áp đặt bởi người khác; cũng không phải là một học thuyết quá phức tạp. Học thuyết Xã hội là một tri thức mở.”

Ông Ernesto Preziosi, người nhiều năm giữ chức giám đốc quan hệ đối ngoại (quản lý vùng sở tại của đại học) tại Đại học Công giáo Thánh Tâm ở Milan, nhấn mạnh rằng trọng tâm của học thuyết xã hội Công giáo chính là “việc loan báo Tin Mừng.”

Ông Preziosi xác định có bảy giai đoạn trong tiến trình phát triển của học thuyết xã hội.

Giai đoạn thứ nhất bắt đầu từ Rerum Novarum vào những năm 1920 và 1930, khi giáo huấn xã hội trở thành đặc quyền của một phong trào mang tính bình dân hơn, và tiếp theo là giai đoạn nảy sinh vào cuối Thế chiến thứ hai, với một hình thái giáo huấn xã hội mới, và cũng va chạm với sự tiến hóa của chủ nghĩa xã hội.

Sau đó là giai đoạn thứ tư, giai đoạn của Công đồng Vatican II, bởi vì, ông Preziosi nói, “Đức Gioan XXIII và Đức Phaolô VI đã thay đổi phương pháp phát triển học thuyết xã hội: đi từ phương pháp diễn dịch sang phương pháp quy nạp.”

Giai đoạn thứ năm diễn ra sau Công đồng và là giai đoạn rất tế nhị, bởi vì “Công đồng mở ra một viễn cảnh mới; Công đồng nhìn nhận sự thay đổi trong phương pháp.” Ngay trong các cuộc tranh luận tại công đồng, việc sử dụng thuật ngữ “học thuyết” đã bị tranh cãi, và người ta bắt đầu nói đến một cách giải thích tự do hơn.

Với Đức Bênêđictô XVI – đây là giai đoạn thứ sáu – “cuộc tranh luận khép lại, vì sự khủng hoảng của các hệ tư tưởng đã nhường chỗ cho một lối tư duy duy nhất,” ông Preziosi giải thích. Chủ nghĩa nhân văn mới, vốn đã hiện diện trong tư tưởng của Thánh Gioan Phaolô II, được nhấn mạnh qua các thông điệp Laborem Exercens, Sollicitudo Rei SocialisCentesimus Annus, những văn kiện đã đưa chủ đề đạo đức xã hội trở lại trung tâm, nhằm vượt qua các ý thức hệ hiện thời.

Sau cùng, giai đoạn thứ bảy, với Đức Giáo hoàng Phanxicô, là giai đoạn của những biến chuyển xã hội lớn lao.

Thông điệp Magnifica Humanitas có khả năng sẽ mở ra một kỷ nguyên mới. Văn kiện này hướng tầm nhìn tới một cuộc cách mạng công nghiệp mới do trí tuệ nhân tạo khởi phát, tới những mất cân bằng toàn cầu phát sinh từ sự phân bổ lao động mới, và tới một thế giới mới mà Giáo hội được mời gọi phải đưa ra câu trả lời. Đây có thể không phải là thông điệp xã hội duy nhất của Đức Lêô XIV, nhưng sẽ là một điểm khởi đầu rất đáng để dõi theo.


[Nguồn: ncregister]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 23/05/2026]