Thứ Tư, 19 tháng 8, 2026

Đức Thánh Cha Lêô XIV – Kinh Truyền tin ngày 16.08.2026

Đức Thánh Cha Lêô XIV – Kinh Truyền tin ngày 16.08.2026

ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV – KINH TRUYỀN TIN

Castel Gandolfo
Chúa nhật, ngày 16 tháng 8 năm 2026

___________________________________


Anh chị em thân mến, chúc anh chị em Chúa nhật hạnh phúc!

Hôm qua, chúng ta đã chiêm ngắm Đức Trinh nữ Maria trong mối dây liên kết bất khả phân ly với Con của Mẹ. Ngay cả cái chết cũng không thể chia cắt sự hiệp nhất nhân vị cả linh hồn và thể xác, là sự sống đời đời. Mỗi ngày Chúa nhật nhắc nhở chúng ta rằng sự viên mãn tương tự cũng được dành cho những ai bước theo Chúa Giêsu. Sự phục sinh của Người không phải là một biến cố thuộc về quá khứ, nhưng là sự sống mới lôi cuốn chúng ta vào trong đó.

Điều này được chứng minh qua người phụ nữ Canaan, nhân vật chính trong bài Tin Mừng được công bố trong Thánh lễ hôm nay (x. Mt 15:21-28). Mặc dù bà không thuộc về dân của Người và đang sống tại một vùng đất ngoại quốc, bà vẫn kiên trì tìm cách chuyện trò với Chúa Giêsu, đi theo Người như một môn đệ đã có mối dây gắn kết với Người. Có lẽ trước đó họ chưa bao giờ gặp nhau, thế nhưng theo một cách thức mầu nhiệm, đức tin đã bén rễ trong bà. Bà không mong muốn điều gì cho bản thân, nhưng mong muốn sự bình an cho người con gái đang bị hành hạ. Bà đặt niềm tin nơi Chúa Giêsu, Đấng mà bà nhận ra là Đấng Mêsia, thuộc dòng dõi vua Đavít (x. c. 22).

Tác giả Tin Mừng không che giấu những trở ngại mà người phụ nữ này phải đối mặt. Các môn đệ coi bà là một sự phiền toái, và chính Chúa Giêsu cũng khước từ những lời van nài của bà. Thật ra, Thầy đã lui về vùng đất ấy (x. c. 21), và chúng ta có thể hình dung rằng Người đang tìm một nơi thanh vắng, cũng như trong những dịp khác, để cầu nguyện và dạy bảo các môn đệ. Tuy nhiên, vào chính lúc đó, một điều bất ngờ đã xảy ra. Khi suy ngẫm về điều này, chúng ta có thể hiểu được sự vâng phục của Chúa Giêsu trong việc hoàn thành sứ mạng của Người, khi Người cho phép bản thân xúc động trước những gì nhìn thấy và nghe thấy. Cuối cùng, Người nói với bà: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật! Bà muốn sao thì sẽ được vậy” (c. 28).

Ngay cả ngày nay, Giáo hội vẫn có thể ngạc nhiên trước công trình của Thiên Chúa và lan tỏa sự bình an của Đức Kitô vượt ra ngoài những ranh giới đã được vạch sẵn. Sứ mạng của Giáo hội được tiên liệu bởi ân sủng thần linh, hoạt động sâu thẳm trong lương tâm chúng ta, để trong mỗi cuộc gặp gỡ — ngay cả những cuộc gặp gỡ làm đảo lộn các kế hoạch của chúng ta — chúng ta biết chăm chú lắng nghe bằng cách mở rộng đôi mắt và tâm hồn trước những gì Thiên Chúa muốn nói với chúng ta.

Từ người phụ nữ Canaan, chúng ta học được sự khiêm nhường và lòng kiên trì. Nhờ đức tin của bà, chúng ta học biết rằng bàn tiệc của Thiên Chúa được dọn sẵn cho tất cả mọi người và không ai chỉ nhận được những mẩu bánh vụn (x. cc. 26-27), bởi vì mỗi người đều có chỗ riêng của mình bên Cha. Dưới ánh sáng của đức tin này, những bất bình đẳng, sự phân biệt đối xử và những rào cản chà đạp lên phẩm giá của biết bao người con của Thiên Chúa đều là điều không thể dung thứ.

Anh chị em thân mến, chúng ta là Giáo hội của Chúa Giêsu Kitô trong một thế giới đầy biến động; một thế giới đang khao khát hòa bình. Chúng ta hãy xin Mẹ Maria của chúng ta, chuyển cầu cho chúng ta, “bởi vì trên môi miệng Mẹ vang lên ‘bài thánh thi mạnh mẽ và sáng tạo nhất từng được xướng lên, bài Magnificat’” (Magnifica Humanitas, 244). Đó là bài ca của một người giờ đây nhìn thực tại qua đôi mắt của Thiên Chúa, và vì thế, không đánh mất niềm hy vọng nhưng hành động trong đức ái.

__________________________________


Sau Kinh Truyền Tin

Anh chị em thân mến,

Tôi xin lặp lại lời kêu gọi chấm dứt bạo lực đang diễn ra nhằm vào thường dân Palestine ở Bờ Tây, và tôi khẩn thiết kêu gọi cộng đồng quốc tế nỗ lực thúc đẩy giải pháp hai nhà nước, vì một nền hòa bình công bằng và lâu dài.

Đại hội Thể thao Địa Trung Hải sẽ khai mạc trong tuần này tại Taranto. Đại hội sẽ quy tụ nhiều quốc gia thuộc Châu Phi, Châu Á và Châu Âu trong khu vực Địa Trung Hải. Tôi hy vọng sự kiện thể thao này sẽ là một dấu chỉ của hòa bình và tình bằng hữu giữa các dân tộc trong khu vực này cũng như trên toàn thế giới.

Và giờ đây, tôi chào mừng tất cả anh chị em quy tụ nơi đây tại Castel Gandolfo để tham dự giờ Kinh Truyền tin Chúa nhật.

Tôi thân ái chào anh chị em hành hương đến từ nhiều quốc gia khác nhau. Tôi chào các anh chị em hành hương người Ba Lan và tôi ban phép lành cho các phụ nữ đang tham gia cuộc hành hương truyền thống đến Đền thánh Piekary Śląskie, tại vùng Thượng Silesia.

Chúc tất cả anh chị em Chúa nhật hạnh phúc!


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 17/08/2026]


Sứ điệp của Đức Thánh Cha Lêô XIV nhân Ngày Thế giới Di dân và Tị nạn lần thứ 112

Sứ điệp của Đức Thánh Cha Lêô XIV nhân Ngày Thế giới Di dân và Tị nạn lần thứ 112

SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV
NHÂN NGÀY THẾ GIỚI DI DÂN VÀ TỊ NẠN LẦN THỨ 112

27 tháng 9 năm 2026
_______________________

Dù chỉ một trong những trẻ nhỏ này (x. Mt 18,10)


Anh chị em thân mến,

Mỗi năm, Ngày Thế giới Di dân và Tị nạn mời gọi chúng ta hướng sự chú ý đến những khía cạnh khác nhau của hiện tượng di cư phức tạp. Trong Ngày Thế giới lần thứ 112 này, chủ đề “Dù chỉ một trong những trẻ nhỏ này” hướng sự chú ý của chúng ta đến những trẻ vị thành niên trực tiếp phải trải qua cảnh di cư và chạy trốn, chú ý đến sự chăm sóc mà các em đáng được hưởng, và đến lời hứa của Chúa rằng: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy” (Mc 9:37).

Trẻ vị thành niên phải di tản: một thực trạng phức tạp của sự tổn thương

Trẻ vị thành niên là nhóm dễ bị tổn thương nhất trong những dòng người di cư trên toàn cầu. Các em là những khuôn mặt cụ thể, mỗi em có một câu chuyện riêng, và kêu gọi lương tâm chúng ta. Mỗi năm, hàng triệu trẻ em và thanh thiếu niên buộc phải rời bỏ quê hương vì chiến tranh, nghèo đói, bạo lực, thảm họa môi trường và những thảm kịch khác. Đáng buồn thay, con số này vẫn tiếp tục gia tăng. Những hệ lụy về kinh tế, chính trị và quân sự của thảm họa này là vô cùng to lớn. Nỗi đau của trẻ em di cư không kết thúc bằng việc tái định cư. Có những em còn rất nhỏ đã mất cha mẹ, anh chị em và bạn bè, đồng thời chứng kiến những hành vi bạo lực không thể diễn tả bằng lời. Những em khác, bị chia cách khỏi gia đình trong những thời gian dài, cố gắng đoàn tụ với người thân trong khi phải chịu đựng nỗi đau ly tán. Cũng có những trẻ vị thành niên cùng cha mẹ thực hiện hành trình di cư, nhưng phải đối diện với những điều kiện cực kỳ khắc nghiệt và đầy thương tổn. Sau cùng, chúng ta không thể quên tình cảnh bi thảm của những em bị tách rời khỏi cha mẹ vì buộc phải hồi hương.

Trên thực trạng vốn đã khủng khiếp này còn chồng chất thêm những thảm kịch khác: những cái chết dọc theo các tuyến đường di cư, nạn buôn người và bóc lột, việc tuyển mộ trẻ vị thành niên để sử dụng trong các cuộc xung đột vũ trang, bạo lực tình dục, những vụ cưỡng hôn, và những hành vi tàn bạo mà các em phải chịu đựng hoặc chứng kiến trên lộ trình. Phẩm giá của các em bị chà đạp dưới muôn vàn hình thức.

Trong Sứ điệp nhân Ngày Thế giới Di dân và Tị nạn năm 2017, với chủ đề “Trẻ em di cư, những người dễ bị tổn thương và không có tiếng nói”, Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc lại rằng trẻ em di cư “không có khả năng tự vệ theo ba cách: chúng là trẻ em, là người nước ngoài, và không có phương tiện để tự bảo vệ mình. Tôi kêu gọi mọi người giúp đỡ những ai, vì nhiều lý do khác nhau, buộc phải sống xa quê hương và bị chia cách khỏi gia đình”.

Tuy nhiên, giữa biết bao bóng tối, ánh sáng của tình liên đới vẫn không thiếu. Các cá nhân, gia đình, các cơ quan dân sự và các cộng đoàn Giáo hội đã lựa chọn không đi tránh qua phía bên kia đường (x. Lc 10:29-37). Chúng ta nghĩ đến những gia đình mở rộng cửa nhà để trả lại cho các em hơi ấm của một mái ấm gia đình; những nhà giáo dục phục vụ tại các trung tâm tiếp nhận; những tình nguyện viên và nhân viên cứu trợ mỗi ngày tận tâm chữa lành các vết thương vô hình của những em nhỏ này dọc theo các tuyến đường di cư và trong các thành phố của chúng ta. Qua sự dấn thân của mình, họ làm chứng rằng tình yêu có thể chiến thắng sự thờ ơ.

Cho dù chỉ một trong những trẻ nhỏ này

Trước thực tại bi thảm này, tâm trí tôi hướng về những lời của Chúa Giêsu chất vấn sâu sắc lương tâm chúng ta: “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy” (Mt 18:5). Đây không phải là vấn đề của những con số hay những số liệu thống kê. Tin Mừng mời gọi chúng ta không tính toán: dù chỉ là một. Mỗi trẻ em, mỗi con người, đều có một phẩm giá vô hạn. Mỗi người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa (x. St 1:26); mỗi người đều là sự hiện diện của Chúa. Trước mỗi trẻ em di cư, chúng ta được mời gọi thực hiện một hành vi nhân bản và đức tin, bởi vì chúng ta có khả năng đón tiếp và gặp gỡ Chúa. Lời mời gọi này càng trở nên cấp thiết hơn dưới ánh sáng một lời khẳng định khác của Chúa trong Tin Mừng Matthêu: “Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước” (Mt 25:35).

Đáng buồn thay, trẻ em di cư dễ bị làm ngơ hơn, bởi chúng thiếu những người lớn có khả năng bảo vệ và nâng đỡ. Vì thế, cần phải can thiệp ngay tại các quốc gia quê hương của các em để loại bỏ những nguyên nhân buộc các em phải chạy trốn, đồng thời đưa ra sự bảo vệ và đón tiếp tại các quốc gia quá cảnh và quốc gia điểm đến. Tiếng khóc của những trẻ em phải di tản hôm nay vọng lên tới Thiên Chúa, giống như tiếng kêu đã được nghe thấy trong Sách Xuất Hành: “Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta bên Ai Cập; Ta đã nghe tiếng chúng kêu than vì bọn cai hành hạ. Phải, Ta biết các nỗi đau khổ của chúng. Ta xuống giải thoát chúng” (Xh 3:7-8). Thiên Chúa nghe tiếng khóc của các em, và để thực hiện công cuộc giải phóng, Người khẩn thiết kêu gọi lương tâm và hành động của mỗi người chúng ta, như Người đã làm với ông Môsê. Chúng ta không thể tiếp tục thờ ơ, cũng không thể trở nên quen dần với những đau khổ như vậy.

Lời kêu gọi trách nhiệm của tất cả mọi người

Dù chỉ một trong những trẻ nhỏ này cũng kêu gọi mỗi người chúng ta, trong đời sống cá nhân, mở rộng đôi mắt và con tim để lắng nghe câu chuyện của các em cách sâu sắc, những nỗi sợ hãi và những ước mơ của các em, vượt qua sự xa cách vốn giản lược con người thành một con số thống kê không liên quan trực tiếp đến chúng ta. Đó là lời mời gọi nhận ra phẩm giá của mỗi trẻ, ngay cả trước khi xét đến thân phận “người di cư”, và bảo vệ các quyền căn bản của các em: quyền được sống, quyền được giáo dục và quyền được hưởng một mức sống bảo đảm sự phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần, thiêng liêng, luân lý và xã hội.

Dù chỉ một trong những trẻ nhỏ này cũng kêu gọi chúng ta, trong đời sống của Giáo hội, biến việc đón tiếp từ một khái niệm trừu tượng thành một thực hành mục vụ kiên định. Chúng ta không thể đơn giản ủy thác nhiệm vụ này cho các dòng tu hay các hiệp hội được ban đặc sủng riêng. Trước những khuôn mặt cụ thể mà chúng ta gặp trong đời sống hằng ngày, toàn thể cộng đoàn Kitô hữu được mời gọi nhìn nhận những trẻ này như chính những đứa con của mình, và đi vào câu chuyện cụ thể của từng em. Cần khuyến khích các cộng đoàn Kitô hữu thúc đẩy việc hội nhập những người tị nạn và người di cư, đồng thời nhìn nhận họ là những thành viên trọn vẹn của gia đình Giáo hội, cổ võ những con đường giáo dục và thiêng liêng mới, kể cả những con đường được cá nhân hóa, vượt qua não trạng trợ giúp đơn thuần. Đặc biệt, điều cốt yếu là ngăn ngừa sự cô độc, cô lập và khước từ, những điều không ít lần ảnh hưởng đến con cái của những người di cư; đồng thời thúc đẩy những cơ hội gặp gỡ và hội nhập, trong đó những người trẻ địa phương và những người trẻ di cư có thể hỗ trợ lẫn nhau trên hành trình tôn trọng, liên đới và tình bạn.

Dù chỉ một trong những trẻ nhỏ này, trong chân trời của các tôn giáo khác nhau, cũng nhắc nhở chúng ta rằng sự tổn thương của người trẻ không có ranh giới tôn giáo và hiệp nhất chúng ta trong một trách nhiệm nhân đạo và tinh thần chung. Việc này trở thành mảnh đất màu mỡ cho một cuộc đối thoại liên tôn cụ thể, trong đó các tín hữu, kín múc từ ý thức về chiều kích siêu việt của mình, cùng cộng tác để dệt nên các mạng lưới bảo vệ. Các cộng đồng tín ngưỡng được mời gọi tạo ra những không gian trong đó mỗi thiếu niên nam nữ được tôn trọng và được trân trọng trong bản sắc văn hóa riêng, từ đó ngăn ngừa nguy cơ bị các nhóm cực đoan chiêu dụ và cực đoan hóa. Sau cùng, bảo vệ một trẻ em chính là bảo vệ hình ảnh thần linh được in dấu nơi các em.

Dù chỉ một trong những trẻ nhỏ này, trong bối cảnh các cơ quan dân sự, cũng kêu gọi chúng ta tái khẳng định nguyên tắc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Các cơ quan công và tư có nghĩa vụ ưu tiên việc bảo vệ và phẩm giá của từng trẻ em và thanh thiếu niên. Điều này đòi hỏi phải áp dụng những công cụ pháp lý bảo vệ hiệu quả, thúc đẩy việc đoàn tụ gia đình và ngăn ngừa những tổn thương tâm lý do sự chia cắt gây ra. Cần cấp thiết thay đổi cách nhìn: trọng tâm của cuộc tranh luận phải chuyển từ việc quản lý di cư thuần túy sang việc bảo vệ đầy đủ và ngay lập tức các quyền con người, bằng cách áp dụng “một sự ứng phó có phối hợp, mang tính hỗ trợ và hiệu quả, có khả năng bảo đảm sự bảo vệ, đón tiếp và những cơ hội thực sự để hội nhập cho những người di cư” (Diễn văn trước Quốc hội Tây Ban Nha, Madrid, ngày 8 tháng 6 năm 2026).

Chúng ta hãy phó thác những trẻ em di cư và tị nạn dưới sự chở che từ mẫu của Đức Trinh nữ Maria, Đấng cùng với Thánh Giuse và Hài Nhi Giêsu đã nếm trải sự tàn khốc của bạo lực do vua Hêrôđê gây ra và thảm kịch phải lưu đày sang Ai Cập (x. Mt 2:13-15). Xin Mẹ đồng hành với những bước chân của các em và giúp các cộng đoàn chúng ta trở nên những dấu chỉ sống động và khả tín của Tin Mừng.

Vatican, ngày 11 tháng 8 năm 2026,
Lễ Nhớ Thánh Clara thành Assisi

LÊÔ PP. XIV


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 16/08/2026]