Thứ Ba, 18 tháng 8, 2026

Bài giảng của Đức Thánh Cha Lêô XIV Thánh lễ trọng thể Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời

Bài giảng của Đức Thánh Cha Lêô XIV Thánh lễ trọng thể Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời

THÁNH LỄ TRỌNG THỂ ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI

BÀI GIẢNG CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV

Giáo xứ Giáo hoàng Thánh Tôma Villanova (Castel Gandolfo)
Thứ Bảy, ngày 15 tháng 8 năm 2026

Trong Thánh lễ tại Castel Gandolfo nhân Lễ trọng Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, Đức Giáo hoàng Lêô XIV ca ngợi cách thức Đức Trinh Nữ Maria, nhờ ân sủng của Thiên Chúa, dẫn đưa chúng ta hướng về Thiên Đàng, khẳng định rằng tình yêu là “trang sức đẹp nhất của nhân loại”, nhấn mạnh rằng tình yêu “biến đổi, thay đổi, làm cho cao quý và nâng chúng ta lên, khiến chúng ta trở nên nhẹ nhàng, tự do và gần gũi với Thiên Chúa, ngay cả giữa những thăng trầm của cuộc đời.”

________________________________________


Anh chị em thân mến,

Với niềm vui lớn lao, năm nay một lần nữa tôi cử hành Lễ trọng Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời cùng anh chị em.

Huấn quyền của Hội Thánh dạy chúng ta rằng Đức Maria, “sau khi hoàn tất hành trình cuộc đời trần thế, đã được cất lên vinh quang thiên quốc cả hồn lẫn xác” (Đức Piô XII, Tông hiến Munificentissimus Deus, ngày 1 tháng 11 năm 1950), và trong Mầu nhiệm này, chỉ cho chúng ta sự viên mãn của ân sủng hoàn hảo nhất mà Thiên Chúa đã ban cho Mẹ trong biến cố Vô nhiễm Nguyên tội (x. sđd.).

Vì thế, nhiều tác phẩm nghệ thuật miêu tả Mẹ như một thiếu nữ xinh đẹp đang từ mặt đất bay lên trời cao vào cuối cuộc đời trần thế. Những tác phẩm này được gợi hứng từ cảnh tượng mô tả trong đoạn sách Khải Huyền mà chúng ta đã nghe trong Bài đọc I: “một người Phụ nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng” (Kh 12:1), biểu thị rằng trong trái tim Đức Maria, trời và đất, thời gian và vĩnh cửu, gặp gỡ nhau.

Thoạt nhìn, hình ảnh đó dường như tương phản với kinh nghiệm của chúng ta về những gì năm tháng trôi qua tác động trên chúng ta. Khi tuổi tác tăng lên, thân xác chúng ta không trở nên nhanh nhẹn hơn, nhưng nặng nề hơn; làn da không tươi tắn hơn, nhưng hằn lên những dấu vết của tuổi già; mái tóc không còn đậm màu và óng mượt, nhưng trở nên bạc rồi trắng. Vậy chúng ta có điểm gì chung với người thiếu nữ xinh đẹp được khắc họa trên các bức họa bàn thờ trong những nhà thờ của chúng ta?

Để hiểu điều này, chúng ta phải kết hợp hai dấu chỉ vừa nêu: thân xác không hư nát của Mẹ Thiên Chúa và trái tim vô nhiễm của Mẹ. Quả thật, chính sự tinh tuyền của linh hồn là điều, nơi Đức Maria — cũng như nơi chúng ta — nhờ ân sủng Thiên Chúa, làm bừng sáng và biến đổi toàn bộ con người, dẫn chúng ta đến vinh quang Thiên Đàng.

Việc Đức Maria được tôn vinh cả hồn và xác dạy chúng ta rằng vẻ đẹp đích thực của chúng ta không nằm ở việc che giấu những dấu hiệu của tuổi già, nhưng ở việc tỏ lộ những dấu hiệu của tình yêu không bao giờ qua đi, và thậm chí còn được in dấu trên chính thân xác chúng ta (x. 1 Cr 13:8).

Với ý tưởng ấy, chúng ta được mời gọi xem xét lại nhiều tiêu chuẩn thẩm mỹ chủ yếu mang tính hưởng lạc và tiêu thụ về bản chất, mà thế gian áp đặt lên chúng ta. Những tiêu chuẩn này có nguy cơ giam hãm chúng ta trong những kỳ vọng nặng nề, khiến chúng ta phung phí năng lực quý giá vào những điều không thực sự quan trọng và không tồn tại mãi mãi. Trong đời sống thường nhật, chúng ta gặp những người với gương mặt in hằn dấu vết của năm tháng và đau khổ, nhưng vẫn có thể tỏa ra xung quanh sự thanh thản, nhân hậu và bình an; cũng như chúng ta có thể quan sát thấy những người bề ngoài có vẻ hấp dẫn nhưng tâm hồn lại chai đá và lạnh lùng. Rất dễ nhận ra đâu là vẻ đẹp thực sự, và trái lại, đâu là nơi vẫn cần đến sự biến đổi, tha thứ và chữa lành.

Nếu chúng ta thật sự muốn khám phá và nuôi dưỡng vẻ đẹp thần linh bao bọc chúng ta, và là mục đích mà chúng ta được tạo dựng để hướng tới, rồi chia sẻ vẻ đẹp ấy với những người chung quanh, chúng ta phải học cách nhìn thấy vẻ đẹp ấy nơi những nếp nhăn của một người cao tuổi cũng như trên gương mặt ngây thơ của một trẻ nhỏ, nơi sự chín chắn của người trưởng thành cũng như nơi sức sống của một người trẻ tuổi, nơi trang phục lao động và dụng cụ làm việc cũng như nơi những trang hoàng của lễ hội. Chúng ta phải lắng nghe những câu chuyện tình yêu độc đáo mà mỗi thực tại ấy kể cho chúng ta, để nhận ra trong đó những thoáng hiện của thiên đàng.

Tình yêu là trang sức đẹp nhất của nhân loại. Tình yêu biến đổi, thay đổi, làm cho cao quý và nâng chúng ta lên, khiến chúng ta trở nên nhẹ nhàng, tự do và gần gũi với Thiên Chúa, ngay cả giữa những thăng trầm của cuộc đời.

Suy niệm về mầu nhiệm Đức Trinh Nữ Hồn Xác Lên Trời, Thánh Phaolô VI nói rằng để hiểu được ý nghĩa của mầu nhiệm này, “chúng ta phải chuyển đổi những thuật ngữ mà chúng ta sử dụng trong ngôn ngữ trần thế và lệ thuộc thời gian sang những thuật ngữ tối thượng và tuyệt đối […], phải hình dung điều vĩnh cửu trong một tỉ lệ nhỏ bé” (Bài giảng, ngày 15 tháng 8 năm 1969). Về cuộc gặp gỡ giữa sự vô hạn và hữu hạn nơi Mẹ Thiên Chúa, Đức Thánh Cha Phanxicô viết: “Đức Maria đã có thể biến một chuồng bò thành mái nhà cho Chúa Giêsu, với những tã lót nghèo hèn thành một tình yêu dư tràn” (Tông huấn Evangelii Gaudium, 286).

Phép lạ mà Mẹ Maria, người thiếu nữ Nadarét, đã cảm nghiệm trong trái tim thanh sạch của Mẹ, đã dẫn Mẹ đến vinh quang Thiên Đàng, là một cuộc gặp gỡ của những cực điểm, như chính Mẹ làm chứng bằng những lời được linh hứng trong bài ca Magnificat mà chúng ta đã nghe trong Tin Mừng (x. Lc 1:46–55). Trong bài ca này, qua những lời diễn đạt khiêm nhường của đức tin, Mẹ Thiên Chúa nói với chúng ta bằng những thuật ngữ giản dị về các mầu nhiệm cao cả mà Mẹ đã trải nghiệm, như việc Thiên Chúa làm người trong lòng Mẹ để cứu độ nhân loại, và Đấng Vĩnh Cửu tự mạc khải mình trong thời gian để mở lại cho chúng ta con đường dẫn vào vĩnh cửu. Đồng thời, trong thân phận là một “nữ tỳ khiêm hạ”, Thánh Phaolô VI nói rằng Mẹ Maria cho chúng ta thấy “chiều kích khiêm hạ” mà qua đó chúng ta cũng có thể gặp gỡ Chúa.

Chúng ta không cần tìm kiếm đâu xa để gặp được sự cao cả của Mầu nhiệm mà chúng ta cử hành. Chúng ta có thể gặp mầu nhiệm ấy ở bất cứ nơi nào có đức ái đích thực. Chẳng hạn, trong ánh mắt của một người cha và người mẹ trở về nhà sau một ngày dài, mệt mỏi nhưng hạnh phúc vì được ở bên con cái. Trên khuôn mặt của những người ông, người bà, dù phải chịu những cơn đau nhức và đau đớn của tuổi già, vẫn tràn đầy một nguồn năng lượng bất ngờ khi chăm sóc các cháu. Trong sự dấn thân của những người trẻ nỗ lực phát triển đạo đức và sự chân thành, sẵn sàng đi ngược lại xu hướng “mọi người đều làm”. Sau cùng, trong công việc hằng ngày của biết bao người nam và người nữ, những người với niềm tin và sự tận tụy, góp phần đem một chút Thiên Đàng xuống mặt đất và đưa trái đất đến gần Thiên Đàng hơn.

Các bạn thân mến, khuôn mặt tuyệt mỹ của Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời là độc nhất; khuôn mặt ấy vượt trên mọi hình ảnh có thể diễn tả, nhưng đồng thời lại gần gũi với chúng ta. Thậm chí ngay chính lúc này, chúng ta có thể nhìn thấy khuôn mặt của Mẹ nơi những người thân cận với chúng ta, như những anh chị em, trong đức tin, cùng chia sẻ của lễ dâng hằng ngày trong đời sống mình. Vì thế, cộng đoàn tín hữu nhận ra chính mình nơi người nữ của sách Khải Huyền, và Công đồng Vaticanô II mô tả Đức Maria là “hình ảnh và khởi đầu của Hội Thánh, […] như dấu chỉ của niềm trông cậy vững vàng và niềm an ủi” (Hiến chế tín lý Lumen Gentium, 68). Trong bản tính nhân loại thánh thiện của Mẹ, nhờ ân sủng của Thiên Chúa, chúng ta cũng nhìn thấy bản tính của mình; vì thế, chúng ta cũng được mời gọi sống cùng một đời sống tràn đầy ân sủng như Mẹ đã sống và được chia sẻ vinh quang của Mẹ.

Khi nói về sự phục sinh của Đức Kitô, Thánh Augustinô đã thúc giục các Kitô hữu thời ngài hãy lấy biến cố ấy làm kim chỉ nam và tâm điểm cho cuộc đời họ. Ngài nói: “Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết để Người không bao giờ phải chết nữa […]. Hãy đổi hướng, hãy đi theo ánh sáng! Hãy bắt đầu trỗi dậy từ chính nơi Người đã trỗi dậy” (Enarratio in Psalmos, 126,7).

Chúng ta hãy đón nhận lời mời gọi của ngài. Chúng ta hãy đi theo ánh sáng của Chúa Phục Sinh, và nếu cần, hãy đổi hướng. Nhất là hôm nay, chúng ta hãy thực hiện điều đó bằng cách hướng nhìn về Mẹ Maria, Đấng mà Thiên Chúa đã đội triều thiên vinh quang cả hồn và xác, và đã ban cho chúng ta làm Mẹ, là người hướng dẫn, là bạn đồng hành trên hành trình của chúng ta, và là Đấng bảo vệ trên con đường về Thiên Đàng.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 16/08/2026]


Papua New Guinea, phép lạ của sự hiệp nhất Giáo hội tại đất nước của 800 ngôn ngữ

Papua New Guinea, phép lạ của sự hiệp nhất Giáo hội tại đất nước của 800 ngôn ngữ

Thứ Tư, 12 tháng Tám, 2026

Papua New Guinea, phép lạ của sự hiệp nhất Giáo hội tại đất nước của 800 ngôn ngữ Thứ Tư, 12 tháng Tám, 2026  Cristian Sieland (personal collection) Marie-Lucile Kubacki Port Moresby (Hãng tin Fides) – Khi Giáo phận Bougainville đánh dấu cột mốc lịch sử 125 năm ngày các nhà truyền giáo Công giáo đầu tiên đặt chân đến, các cử hành năm thánh kéo dài ba tuần sẽ lên đến đỉnh điểm trong buổi bế mạc trọng thể tại Vùng Bắc từ ngày 14 đến ngày 17 tháng 8 năm 2026. Bắt đầu từ sự hiện diện của các tu sĩ Dòng Marist đầu tiên tại Pokpok (năm 1901) và Buin (năm 1903), Giáo hội địa phương đã phát triển từ một sứ mạng non trẻ, được các giáo lý viên giáo dân duy trì trong Thế chiến II và cuộc khủng hoảng Bougainville, thành một giáo phận đầy sức sống với hơn 200.000 tín hữu thuộc 35 giáo xứ. Điểm nhấn của chặng cuối này sẽ trùng với chuyến viếng thăm mục vụ của Đức Hồng y Luis Antonio Tagle, người sẽ chủ sự Thánh lễ Năm Thánh trọng thể vào ngày 16 tháng 8 tại Nhà thờ Chánh tòa Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời ở Hahela. Lịch trình bốn ngày của ngài tại Buka cũng bao gồm các chuyến thăm giáo xứ địa phương, thừa tác vụ bệnh viện, gặp gỡ các nhà lãnh đạo vùng và làm phép một tòa nhà mới của giáo phận. Nhân dịp các lễ kỷ niệm này, cha Christian Sieland, Giám đốc Quốc gia của Hội Giáo hoàng Truyền giáo, chia sẻ với Fides những suy tư về lịch sử loan báo Tin Mừng tại Papua New Guinea.   Thưa Cha, trước hết Cha có thể chia sẻ thêm về câu chuyện cá nhân của Cha? Tôi xin chia sẻ với tư cách là một người có đặc ân riêng được lớn lên tại Papua New Guinea trong một thời kỳ mà Giáo hội địa phương của chúng tôi có gần 90% nhân sự là các nhà truyền giáo nước ngoài. Cha tôi là một giáo dân truyền giáo được tổ chức Misereor tại Đức tuyển chọn, và ông đã làm việc sát cánh với các linh mục cùng các tu sĩ nam nữ trong hơn 20 năm. Ngày nay, tôi là một phần của hàng giáo sĩ địa phương đang ở trong giai đoạn chuyển tiếp then chốt — chuyển từ một Giáo hội truyền giáo thành một Giáo hội địa phương hoàn toàn. Cá nhân tôi tin rằng những giá trị quan trọng nhất mà tôi thừa hưởng là sự tôn trọng và lòng trân quý. Thế hệ hiện đại của chúng ta đã phần nào đánh mất mối liên hệ với quá khứ; nhiều người trẻ ngày nay gặp khó khăn trong việc nói tiếng bản địa của họ, chỉ giao tiếp bằng tiếng Tok Pisin và tiếng Anh. Bằng việc nuôi dưỡng sự tôn trọng và lòng trân quý sâu sắc, các giá trị địa phương có thể được gìn giữ, và các nhân đức của Tin Mừng có thể được hội nhập một cách rất ý nghĩa vào đời sống con người. Theo nghĩa đó, hội nhập văn hóa là một hành trình liên tục. Trong các chương trình đào tạo, chúng tôi luôn nhắc nhở các giáo lý viên, các nhà lãnh đạo giáo dân và các linh mục địa phương đừng bao giờ quên di sản văn hóa của họ, và làm cho thông điệp Tin Mừng thực sự trở thành của riêng họ. Đức tin đã bén rễ thành công, nhưng cần phải bén rễ sâu hơn nữa để đem lại những biến đổi xã hội triệt để cần thiết nhằm chữa lành hoàn toàn các vết thương như những cáo buộc liên quan đến pháp thuật, chế độ đa thê và chiến tranh bộ tộc.   Câu chuyện gia đình của Cha gắn bó chặt chẽ với lịch sử loan báo Tin Mừng tại Papua New Guinea. Chứng tá của những người họ hàng thân thuộc Papua của Cha lẫn các nhà truyền giáo đã ảnh hưởng thế nào đến ơn gọi linh mục của Cha? Sau khi học xong trung học tại Đức, tôi được gọi nhập ngũ. Tuy nhiên, theo lương tâm Kitô giáo, tôi đã chọn khước từ nhập ngũ. Thay vào đó, tôi gia nhập Dòng Ngôi Lời (SVD) với tư cách tình nguyện viên truyền giáo trẻ thông qua một chương trình mang tên “Missionar auf Zeit” (Nhà truyền giáo trong một thời gian). Chương trình này cho phép những người trẻ từ các quốc gia nói tiếng Đức có được kinh nghiệm truyền giáo thực tế trong 9 đến 15 tháng tại một vùng truyền giáo. Vì muốn phục vụ tại Papua New Guinea, tôi đã thực hiện công việc tình nguyện ở đó từ tháng 9 năm 1999 đến tháng 12 năm 2000. Cuộc gặp gỡ trực tiếp của tôi với cộng đoàn quốc tế các nhà truyền giáo Dòng Ngôi Lời, đặc biệt là tình bạn thân thiết của tôi với một số vị trong đó, đã khơi dậy nơi tôi tiếng gọi tiến tới chức linh mục. Nếu không có cuộc gặp gỡ ấy, hôm nay tôi đã không là linh mục. Tôi cũng xuất thân từ một gia đình Công giáo đạo đức. Nếu không nhờ công lao vất vả của cha mẹ tôi đã chủ tâm nuôi dạy chúng tôi theo các giá trị Kitô giáo, tôi đã không đáp lại tiếng gọi này. Vì thế, ơn gọi của tôi trước hết được hình thành từ chứng tá của gia đình, và thứ đến từ các nhà truyền giáo tận tụy, những người đã không mệt mỏi loan báo Tin Mừng cho dân tộc chúng tôi.   Nhìn lại hơn 120 năm hiện diện của Công giáo, Cha nhận thấy đâu là những giai đoạn chính trong hành trình từ các điểm truyền giáo đầu tiên đến một Giáo hội hiện nay phần lớn do hàng giáo sĩ địa phương lãnh đạo? Dựa trên hiểu biết, kinh nghiệm mục vụ và suy tư lịch sử của bản thân, tôi cho rằng hiện nay chúng ta đang chứng kiến thế hệ thứ tư hoặc thứ năm của những người đã đón nhận Tin Mừng kể từ khi Tin Mừng được các vị tiên phong rao giảng lần đầu tiên. Những nhà truyền giáo đầu tiên đến vùng chúng tôi đã đặt chân lên mảnh đất này vào đầu những năm 1930. Giáo xứ Denglagu quê hương của tôi là điểm truyền giáo Công giáo đầu tiên được thiết lập trong toàn vùng Cao nguyên Papua New Guinea, vào năm 1934. Từ căn cứ đó, các nhà truyền giáo đã tiến xa hơn vào các vùng lãnh thổ khác trên khắp miền Cao nguyên. Trước những năm 1930, người dân chúng chúng tôi chưa hề tiếp xúc với thế giới bên ngoài; khiến đó là một thời khắc lịch sử mang tính cột mốc — “năm 1492” của chính chúng tôi. Năm 2034, chúng tôi sẽ kỷ niệm 100 năm loan báo Tin Mừng tại vùng Cao nguyên. Sự hiện diện của Giáo hội cũng đem đến cho đất nước chúng tôi các dịch vụ xã hội thiết yếu và sự phát triển cơ cấu. Sau Thế chiến II — cuộc chiến đã gây tai họa khủng khiếp cho Giáo hội địa phương và nhiều hội dòng truyền giáo — làn sóng thứ hai các nhà truyền giáo đã đến để tái thiết cơ sở hạ tầng bị phá hủy. Thế hệ thứ ba và thứ tư các nhà truyền giáo đã đến vào những năm 1970 và 1980. Thập niên 1990 đánh dấu một bước ngoặt lớn với sự gia tăng đáng kể các ơn gọi bản địa; con số này còn mở rộng hơn nữa trong những năm 2000. Đây là lúc thế hệ lãnh đạo Kitô giáo hiện tại của chúng tôi xuất hiện. Hiện nay, chúng tôi là một Giáo hội địa phương đang trong giai đoạn chuyển tiếp. Điều này có nghĩa là chúng tôi phải học cách tự lực, tự quản lý và vững vàng trong căn tính Kitô giáo riêng biệt của mình với tư cách là một Giáo hội Melanesia. Đây là thách đố lớn mà chúng tôi phải đối diện trong những năm tới: khi số các nhà truyền giáo nước ngoài giảm dần, kỳ vọng đặt trên chúng tôi, hàng giáo sĩ địa phương, trong việc đảm nhận trọn vẹn trách nhiệm và lãnh đạo sẽ tiếp tục tăng lên.   Trong một quốc gia được đánh dấu bởi sự đa dạng văn hóa và bộ tộc mạnh mẽ, Cha thấy đâu là những thách đố chính trong việc xây dựng sự hiệp nhất trong Giáo hội, và những chuyển biến tích cực nào đem lại cho Cha hy vọng? Đất nước chúng tôi được mô tả một cách chính xác là một trong những quốc gia đa dạng nhất về văn hóa trên Trái Đất. Chúng tôi là một xã hội bộ tộc tự hào có hơn 800 ngôn ngữ và nhóm sắc tộc riêng biệt. Một phép lạ thật đẹp khi chúng tôi, với tư cách một quốc gia non trẻ, đã có thể kỷ niệm 50 năm độc lập (1975–2025) như một quốc gia thống nhất, dân chủ và chủ yếu theo Kitô giáo — bất chấp những thách đố to lớn về xã hội, bộ tộc, kinh tế và chính trị. Tôi tin chắc rằng yếu tố hiệp nhất mạnh mẽ nhất ở đất nước chúng tôi chính là căn tính Kitô giáo. Sự hiệp nhất này sống động nhất trong Giáo hội, nơi mọi người từ mọi tầng lớp, vùng miền và bộ tộc quy tụ lại với nhau như một gia đình. Thật là bằng chứng mạnh mẽ khi chứng kiến những khoảnh khắc các cá nhân thuộc những bộ tộc từng là đối thủ trong lịch sử ngồi lại và hợp tác như một đội ngũ trong hội đồng mục vụ giáo xứ. Kể từ buổi đầu loan báo Tin Mừng, các nhà thờ đã đóng một vai trò rất lớn trong việc hiệp nhất hàng ngàn bộ tộc ở New Guinea. Mặc dù sự thống nhất quốc gia vẫn là một tiến trình đang tiếp diễn, Giáo hội đã làm một công việc rất đặc biệt là đặt nền móng và vun đắp một bản sắc quốc gia chung, qua việc cung cấp các trường học và trung tâm y tế mở cửa cho tất cả mọi người, không phân biệt ranh giới bộ tộc. Những thách đố chính đối với sự hiệp nhất này xuất phát từ các chia rẽ chính trị và sự kìm kẹp kéo dài của các tập tục tổ tiên, chẳng hạn như hệ thống trả thù “mắt đền mắt”, vốn có thể châm ngòi cho những vòng xoáy bất tận của xung đột và chiến tranh bộ tộc.   Những tín ngưỡng truyền thống, bao gồm cả những nỗi sợ hãi liên quan đến phép thuật và thế giới tâm linh, vẫn còn hiện diện rất rõ ở một số vùng. Giáo hội tìm cách đồng hành với người dân trong sự tôn trọng như thế nào, đồng thời giúp họ đào sâu hiểu biết về Tin Mừng? Các niềm tin truyền thống, những cáo buộc liên quan đến yêu thuật, bạo lực và mối quan hệ với thế giới linh hồn dựa trên nỗi sợ hãi vẫn phổ biến ở nhiều nơi trong nước, ngay cả giữa những người Công giáo thực hành đức tin. Giáo hội là một trong số ít các định chế tiếp cận với các hệ thống tín ngưỡng truyền thống với sự nhạy bén mục vụ, trong khi vẫn kiên quyết nói lên sự thật về những thực hành văn hóa hoàn toàn không tương thích với đức tin Kitô giáo. Lập trường Công giáo là không thỏa hiệp: chúng ta không thể thực sự sống như người Công giáo trong khi vẫn tiếp tục nuôi dưỡng niềm tin vào phép thuật và yêu thuật. Giáo hội cũng kiên quyết phản đối chế độ đa thê, vốn vẫn còn phổ biến, đặc biệt những người đàn ông giàu có. Để giải quyết vấn đề này, giáo phận của tôi, cùng với nhiều nơi khác, điều hành các trung tâm mục vụ. Những trung tâm này tổ chức các khóa học và hội thảo, phối hợp chặt chẽ với các tổ chức phi chính phủ và các cơ quan chính quyền, nhằm đào tạo các nhà lãnh đạo Giáo hội và các tình nguyện viên cộng đồng. Những người tham dự được trang bị để trở thành những người bênh vực và tư vấn cho các nạn nhân của bạo lực gia đình, các cáo buộc liên quan đến phép thuật và những vấn đề xã hội mang tính cơ cấu khác. Ngoài ra, một số người được đào tạo chuyên biệt về giải quyết xung đột và trung gian hòa giải hòa bình, và được cử đến những khu vực đang xảy ra chiến tranh bộ tộc. Qua các sáng kiến này, cộng đoàn Giáo hội tích cực đồng hành với các nạn nhân bạo lực, đồng thời nâng cao nhận thức cộng đồng để loại bỏ các tập tục truyền thống có hại. Chúng tôi nỗ lực giúp người dân đón nhận sức mạnh biến đổi của chân lý, tình yêu và sự tha thứ của Tin Mừng. Tình hình chưa hoàn hảo, nhưng Giáo hội đang đi đầu trong việc bênh vực, bảo vệ và đào tạo con người.   Ở Papua New Guinea có sự đa dạng phong phú về các bộ tộc và văn hóa. Theo kinh nghiệm của Cha, sự đa dạng này tạo ra những cơ hội và thách thức nào cho việc xây dựng sự hiệp thông trong Giáo hội? Tôi có thể nói về thực tại này một cách sâu sắc từ kinh nghiệm mục vụ của mình với tư cách là một cựu linh mục chánh xứ. Những thách thức luôn hiện hữu. Thực tại của chúng tôi khá khác biệt với các xã hội đa văn hóa ở Châu Âu, nơi những người từ các quốc gia hoàn toàn khác nhau di cư đến để cùng sinh sống và làm việc. Tại Papua New Guinea, sự đa dạng của chúng tôi là nội tại — chúng tôi gồm các bộ tộc và nhóm sắc tộc khác nhau cùng chia sẻ một di sản Melanesia chung. Vì thế, viên gạch đầu tiên cho sự hiệp nhất của chúng tôi cách tự nhiên phải là bản sắc Melanesia chung ấy. Tuy nhiên, trên thực tế, ít khi đơn giản chỉ như vậy, bởi chúng tôi vẫn gắn chặt với một hệ thống bộ tộc địa phương phức tạp. Sự đa dạng to lớn này cần được nhìn nhận như một phúc lành sâu xa. Giáo hội có thể sử dụng điều đó để cho thấy rằng, cũng như những bộ phận khác nhau của một thân thể hợp thành một thể thống nhất, các bản sắc bộ tộc riêng biệt của chúng tôi có thể đóng góp cách độc đáo cho sự hiệp nhất của cả Giáo hội lẫn quốc gia độc lập. Một ví dụ đẹp về sự hiệp nhất này là Thánh Phêrô ToRot, một ân phúc của quốc gia chúng tôi. Dù ngài xuất thân từ Rabaul (New Britain), mọi người Công giáo trên khắp Papua New Guinea đều tự hào nhận ngài và nói: “Ngài là một người trong chúng tôi.” Nguồn gốc bộ tộc và vùng miền cụ thể của ngài mờ nhạt đi vì ngài đã ngã xuống với tư cách là một giáo lý viên, một vị tử đạo và một người Công giáo. Điều này cho thấy những cơ hội phi thường mà chúng tôi có để xây dựng sự hiệp thông thực sự. Tại những nơi các cuộc giao tranh bộ tộc tiếp tục tàn phá một số vùng, các nhà thờ luôn đi đầu trong công tác hòa giải, dẫn dắt các cuộc đàm phán hòa bình và nỗ lực hòa giải. Bởi vì người dân địa phương thường tin tưởng vào sự chính trực của Giáo hội hơn rất nhiều so với các nhà lãnh đạo chính trị, các buổi hội thảo đào tạo những người trung gian hòa bình trong cộng đồng của chúng tôi có tác động rất lớn. Chúng tôi vẫn còn một chặng đường dài để đạt tới một ý thức hoàn hảo về sự hiệp nhất quốc gia và tinh thần. Tuy nhiên, Giáo hội đã thành công trong việc mở đường. Với sự kiên nhẫn và bền chí tiếp tục, tôi tin tưởng rằng cam kết kiên định này cuối cùng sẽ sinh hoa trái là sự hòa giải và hiệp nhất bền lâu. (Hãng tin Fides, ngày 12/8/2026)  [Nguồn: fides.org]  [Chuyển ngữ: TRI KHOAN 13/08/2026]

Marie-Lucile Kubacki


Port Moresby (Hãng tin Fides) – Khi Giáo phận Bougainville đánh dấu cột mốc lịch sử 125 năm ngày các nhà truyền giáo Công giáo đầu tiên đặt chân đến, các cử hành năm thánh kéo dài ba tuần sẽ lên đến đỉnh điểm trong buổi bế mạc trọng thể tại Vùng Bắc từ ngày 14 đến ngày 17 tháng 8 năm 2026.

Bắt đầu từ sự hiện diện của các tu sĩ Dòng Marist đầu tiên tại Pokpok (năm 1901) và Buin (năm 1903), Giáo hội địa phương đã phát triển từ một sứ mạng non trẻ, được các giáo lý viên giáo dân duy trì trong Thế chiến II và cuộc khủng hoảng Bougainville, thành một giáo phận đầy sức sống với hơn 200.000 tín hữu thuộc 35 giáo xứ.

Điểm nhấn của chặng cuối này sẽ trùng với chuyến viếng thăm mục vụ của Đức Hồng y Luis Antonio Tagle, người sẽ chủ sự Thánh lễ Năm Thánh trọng thể vào ngày 16 tháng 8 tại Nhà thờ Chánh tòa Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời ở Hahela. Lịch trình bốn ngày của ngài tại Buka cũng bao gồm các chuyến thăm giáo xứ địa phương, thừa tác vụ bệnh viện, gặp gỡ các nhà lãnh đạo vùng và làm phép một tòa nhà mới của giáo phận.

Nhân dịp các lễ kỷ niệm này, cha Christian Sieland, Giám đốc Quốc gia của Hội Giáo hoàng Truyền giáo, chia sẻ với Fides những suy tư về lịch sử loan báo Tin Mừng tại Papua New Guinea.


Thưa Cha, trước hết Cha có thể chia sẻ thêm về câu chuyện cá nhân của Cha?

Tôi xin chia sẻ với tư cách là một người có đặc ân riêng được lớn lên tại Papua New Guinea trong một thời kỳ mà Giáo hội địa phương của chúng tôi có gần 90% nhân sự là các nhà truyền giáo nước ngoài. Cha tôi là một giáo dân truyền giáo được tổ chức Misereor tại Đức tuyển chọn, và ông đã làm việc sát cánh với các linh mục cùng các tu sĩ nam nữ trong hơn 20 năm. Ngày nay, tôi là một phần của hàng giáo sĩ địa phương đang ở trong giai đoạn chuyển tiếp then chốt — chuyển từ một Giáo hội truyền giáo thành một Giáo hội địa phương hoàn toàn.

Cá nhân tôi tin rằng những giá trị quan trọng nhất mà tôi thừa hưởng là sự tôn trọng và lòng trân quý. Thế hệ hiện đại của chúng ta đã phần nào đánh mất mối liên hệ với quá khứ; nhiều người trẻ ngày nay gặp khó khăn trong việc nói tiếng bản địa của họ, chỉ giao tiếp bằng tiếng Tok Pisin và tiếng Anh. Bằng việc nuôi dưỡng sự tôn trọng và lòng trân quý sâu sắc, các giá trị địa phương có thể được gìn giữ, và các nhân đức của Tin Mừng có thể được hội nhập một cách rất ý nghĩa vào đời sống con người. Theo nghĩa đó, hội nhập văn hóa là một hành trình liên tục.

Trong các chương trình đào tạo, chúng tôi luôn nhắc nhở các giáo lý viên, các nhà lãnh đạo giáo dân và các linh mục địa phương đừng bao giờ quên di sản văn hóa của họ, và làm cho thông điệp Tin Mừng thực sự trở thành của riêng họ. Đức tin đã bén rễ thành công, nhưng cần phải bén rễ sâu hơn nữa để đem lại những biến đổi xã hội triệt để cần thiết nhằm chữa lành hoàn toàn các vết thương như những cáo buộc liên quan đến pháp thuật, chế độ đa thê và chiến tranh bộ tộc.


Câu chuyện gia đình của Cha gắn bó chặt chẽ với lịch sử loan báo Tin Mừng tại Papua New Guinea. Chứng tá của những người họ hàng thân thuộc Papua của Cha lẫn các nhà truyền giáo đã ảnh hưởng thế nào đến ơn gọi linh mục của Cha?

Sau khi học xong trung học tại Đức, tôi được gọi nhập ngũ. Tuy nhiên, theo lương tâm Kitô giáo, tôi đã chọn khước từ nhập ngũ. Thay vào đó, tôi gia nhập Dòng Ngôi Lời (SVD) với tư cách tình nguyện viên truyền giáo trẻ thông qua một chương trình mang tên “Missionar auf Zeit” (Nhà truyền giáo trong một thời gian). Chương trình này cho phép những người trẻ từ các quốc gia nói tiếng Đức có được kinh nghiệm truyền giáo thực tế trong 9 đến 15 tháng tại một vùng truyền giáo.

Vì muốn phục vụ tại Papua New Guinea, tôi đã thực hiện công việc tình nguyện ở đó từ tháng 9 năm 1999 đến tháng 12 năm 2000. Cuộc gặp gỡ trực tiếp của tôi với cộng đoàn quốc tế các nhà truyền giáo Dòng Ngôi Lời, đặc biệt là tình bạn thân thiết của tôi với một số vị trong đó, đã khơi dậy nơi tôi tiếng gọi tiến tới chức linh mục. Nếu không có cuộc gặp gỡ ấy, hôm nay tôi đã không là linh mục.

Tôi cũng xuất thân từ một gia đình Công giáo đạo đức. Nếu không nhờ công lao vất vả của cha mẹ tôi đã chủ tâm nuôi dạy chúng tôi theo các giá trị Kitô giáo, tôi đã không đáp lại tiếng gọi này. Vì thế, ơn gọi của tôi trước hết được hình thành từ chứng tá của gia đình, và thứ đến từ các nhà truyền giáo tận tụy, những người đã không mệt mỏi loan báo Tin Mừng cho dân tộc chúng tôi.


Nhìn lại hơn 120 năm hiện diện của Công giáo, Cha nhận thấy đâu là những giai đoạn chính trong hành trình từ các điểm truyền giáo đầu tiên đến một Giáo hội hiện nay phần lớn do hàng giáo sĩ địa phương lãnh đạo?

Dựa trên hiểu biết, kinh nghiệm mục vụ và suy tư lịch sử của bản thân, tôi cho rằng hiện nay chúng ta đang chứng kiến thế hệ thứ tư hoặc thứ năm của những người đã đón nhận Tin Mừng kể từ khi Tin Mừng được các vị tiên phong rao giảng lần đầu tiên. Những nhà truyền giáo đầu tiên đến vùng chúng tôi đã đặt chân lên mảnh đất này vào đầu những năm 1930. Giáo xứ Denglagu quê hương của tôi là điểm truyền giáo Công giáo đầu tiên được thiết lập trong toàn vùng Cao nguyên Papua New Guinea, vào năm 1934. Từ căn cứ đó, các nhà truyền giáo đã tiến xa hơn vào các vùng lãnh thổ khác trên khắp miền Cao nguyên.

Trước những năm 1930, người dân chúng chúng tôi chưa hề tiếp xúc với thế giới bên ngoài; khiến đó là một thời khắc lịch sử mang tính cột mốc — “năm 1492” của chính chúng tôi. Năm 2034, chúng tôi sẽ kỷ niệm 100 năm loan báo Tin Mừng tại vùng Cao nguyên.

Sự hiện diện của Giáo hội cũng đem đến cho đất nước chúng tôi các dịch vụ xã hội thiết yếu và sự phát triển cơ cấu. Sau Thế chiến II — cuộc chiến đã gây tai họa khủng khiếp cho Giáo hội địa phương và nhiều hội dòng truyền giáo — làn sóng thứ hai các nhà truyền giáo đã đến để tái thiết cơ sở hạ tầng bị phá hủy. Thế hệ thứ ba và thứ tư các nhà truyền giáo đã đến vào những năm 1970 và 1980.

Thập niên 1990 đánh dấu một bước ngoặt lớn với sự gia tăng đáng kể các ơn gọi bản địa; con số này còn mở rộng hơn nữa trong những năm 2000. Đây là lúc thế hệ lãnh đạo Kitô giáo hiện tại của chúng tôi xuất hiện. Hiện nay, chúng tôi là một Giáo hội địa phương đang trong giai đoạn chuyển tiếp. Điều này có nghĩa là chúng tôi phải học cách tự lực, tự quản lý và vững vàng trong căn tính Kitô giáo riêng biệt của mình với tư cách là một Giáo hội Melanesia. Đây là thách đố lớn mà chúng tôi phải đối diện trong những năm tới: khi số các nhà truyền giáo nước ngoài giảm dần, kỳ vọng đặt trên chúng tôi, hàng giáo sĩ địa phương, trong việc đảm nhận trọn vẹn trách nhiệm và lãnh đạo sẽ tiếp tục tăng lên.


Trong một quốc gia được đánh dấu bởi sự đa dạng văn hóa và bộ tộc mạnh mẽ, Cha thấy đâu là những thách đố chính trong việc xây dựng sự hiệp nhất trong Giáo hội, và những chuyển biến tích cực nào đem lại cho Cha hy vọng?

Đất nước chúng tôi được mô tả một cách chính xác là một trong những quốc gia đa dạng nhất về văn hóa trên Trái Đất. Chúng tôi là một xã hội bộ tộc tự hào có hơn 800 ngôn ngữ và nhóm sắc tộc riêng biệt. Một phép lạ thật đẹp khi chúng tôi, với tư cách một quốc gia non trẻ, đã có thể kỷ niệm 50 năm độc lập (1975–2025) như một quốc gia thống nhất, dân chủ và chủ yếu theo Kitô giáo — bất chấp những thách đố to lớn về xã hội, bộ tộc, kinh tế và chính trị.

Tôi tin chắc rằng yếu tố hiệp nhất mạnh mẽ nhất ở đất nước chúng tôi chính là căn tính Kitô giáo. Sự hiệp nhất này sống động nhất trong Giáo hội, nơi mọi người từ mọi tầng lớp, vùng miền và bộ tộc quy tụ lại với nhau như một gia đình. Thật là bằng chứng mạnh mẽ khi chứng kiến những khoảnh khắc các cá nhân thuộc những bộ tộc từng là đối thủ trong lịch sử ngồi lại và hợp tác như một đội ngũ trong hội đồng mục vụ giáo xứ.

Kể từ buổi đầu loan báo Tin Mừng, các nhà thờ đã đóng một vai trò rất lớn trong việc hiệp nhất hàng ngàn bộ tộc ở New Guinea. Mặc dù sự thống nhất quốc gia vẫn là một tiến trình đang tiếp diễn, Giáo hội đã làm một công việc rất đặc biệt là đặt nền móng và vun đắp một bản sắc quốc gia chung, qua việc cung cấp các trường học và trung tâm y tế mở cửa cho tất cả mọi người, không phân biệt ranh giới bộ tộc.

Những thách đố chính đối với sự hiệp nhất này xuất phát từ các chia rẽ chính trị và sự kìm kẹp kéo dài của các tập tục tổ tiên, chẳng hạn như hệ thống trả thù “mắt đền mắt”, vốn có thể châm ngòi cho những vòng xoáy bất tận của xung đột và chiến tranh bộ tộc.


Những tín ngưỡng truyền thống, bao gồm cả những nỗi sợ hãi liên quan đến phép thuật và thế giới tâm linh, vẫn còn hiện diện rất rõ ở một số vùng. Giáo hội tìm cách đồng hành với người dân trong sự tôn trọng như thế nào, đồng thời giúp họ đào sâu hiểu biết về Tin Mừng?

Các niềm tin truyền thống, những cáo buộc liên quan đến yêu thuật, bạo lực và mối quan hệ với thế giới linh hồn dựa trên nỗi sợ hãi vẫn phổ biến ở nhiều nơi trong nước, ngay cả giữa những người Công giáo thực hành đức tin. Giáo hội là một trong số ít các định chế tiếp cận với các hệ thống tín ngưỡng truyền thống với sự nhạy bén mục vụ, trong khi vẫn kiên quyết nói lên sự thật về những thực hành văn hóa hoàn toàn không tương thích với đức tin Kitô giáo.

Lập trường Công giáo là không thỏa hiệp: chúng ta không thể thực sự sống như người Công giáo trong khi vẫn tiếp tục nuôi dưỡng niềm tin vào phép thuật và yêu thuật. Giáo hội cũng kiên quyết phản đối chế độ đa thê, vốn vẫn còn phổ biến, đặc biệt những người đàn ông giàu có.

Để giải quyết vấn đề này, giáo phận của tôi, cùng với nhiều nơi khác, điều hành các trung tâm mục vụ. Những trung tâm này tổ chức các khóa học và hội thảo, phối hợp chặt chẽ với các tổ chức phi chính phủ và các cơ quan chính quyền, nhằm đào tạo các nhà lãnh đạo Giáo hội và các tình nguyện viên cộng đồng. Những người tham dự được trang bị để trở thành những người bênh vực và tư vấn cho các nạn nhân của bạo lực gia đình, các cáo buộc liên quan đến phép thuật và những vấn đề xã hội mang tính cơ cấu khác. Ngoài ra, một số người được đào tạo chuyên biệt về giải quyết xung đột và trung gian hòa giải hòa bình, và được cử đến những khu vực đang xảy ra chiến tranh bộ tộc.

Qua các sáng kiến này, cộng đoàn Giáo hội tích cực đồng hành với các nạn nhân bạo lực, đồng thời nâng cao nhận thức cộng đồng để loại bỏ các tập tục truyền thống có hại. Chúng tôi nỗ lực giúp người dân đón nhận sức mạnh biến đổi của chân lý, tình yêu và sự tha thứ của Tin Mừng. Tình hình chưa hoàn hảo, nhưng Giáo hội đang đi đầu trong việc bênh vực, bảo vệ và đào tạo con người.


Ở Papua New Guinea có sự đa dạng phong phú về các bộ tộc và văn hóa. Theo kinh nghiệm của Cha, sự đa dạng này tạo ra những cơ hội và thách thức nào cho việc xây dựng sự hiệp thông trong Giáo hội?

Tôi có thể nói về thực tại này một cách sâu sắc từ kinh nghiệm mục vụ của mình với tư cách là một cựu linh mục chánh xứ. Những thách thức luôn hiện hữu. Thực tại của chúng tôi khá khác biệt với các xã hội đa văn hóa ở Châu Âu, nơi những người từ các quốc gia hoàn toàn khác nhau di cư đến để cùng sinh sống và làm việc. Tại Papua New Guinea, sự đa dạng của chúng tôi là nội tại — chúng tôi gồm các bộ tộc và nhóm sắc tộc khác nhau cùng chia sẻ một di sản Melanesia chung. Vì thế, viên gạch đầu tiên cho sự hiệp nhất của chúng tôi cách tự nhiên phải là bản sắc Melanesia chung ấy. Tuy nhiên, trên thực tế, ít khi đơn giản chỉ như vậy, bởi chúng tôi vẫn gắn chặt với một hệ thống bộ tộc địa phương phức tạp.

Sự đa dạng to lớn này cần được nhìn nhận như một phúc lành sâu xa. Giáo hội có thể sử dụng điều đó để cho thấy rằng, cũng như những bộ phận khác nhau của một thân thể hợp thành một thể thống nhất, các bản sắc bộ tộc riêng biệt của chúng tôi có thể đóng góp cách độc đáo cho sự hiệp nhất của cả Giáo hội lẫn quốc gia độc lập.

Một ví dụ đẹp về sự hiệp nhất này là Thánh Phêrô ToRot, một ân phúc của quốc gia chúng tôi. Dù ngài xuất thân từ Rabaul (New Britain), mọi người Công giáo trên khắp Papua New Guinea đều tự hào nhận ngài và nói: “Ngài là một người trong chúng tôi.” Nguồn gốc bộ tộc và vùng miền cụ thể của ngài mờ nhạt đi vì ngài đã ngã xuống với tư cách là một giáo lý viên, một vị tử đạo và một người Công giáo. Điều này cho thấy những cơ hội phi thường mà chúng tôi có để xây dựng sự hiệp thông thực sự.

Tại những nơi các cuộc giao tranh bộ tộc tiếp tục tàn phá một số vùng, các nhà thờ luôn đi đầu trong công tác hòa giải, dẫn dắt các cuộc đàm phán hòa bình và nỗ lực hòa giải. Bởi vì người dân địa phương thường tin tưởng vào sự chính trực của Giáo hội hơn rất nhiều so với các nhà lãnh đạo chính trị, các buổi hội thảo đào tạo những người trung gian hòa bình trong cộng đồng của chúng tôi có tác động rất lớn.

Chúng tôi vẫn còn một chặng đường dài để đạt tới một ý thức hoàn hảo về sự hiệp nhất quốc gia và tinh thần. Tuy nhiên, Giáo hội đã thành công trong việc mở đường. Với sự kiên nhẫn và bền chí tiếp tục, tôi tin tưởng rằng cam kết kiên định này cuối cùng sẽ sinh hoa trái là sự hòa giải và hiệp nhất bền lâu.
(Hãng tin Fides, ngày 12/8/2026)


[Nguồn: fides.org]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 13/08/2026]