Thứ Bảy, 29 tháng 11, 2025

Đức Thánh Cha Lêô XIV tại Thổ Nhĩ Kỳ: “Đất nước này là một cầu nối giữa Đông và Tây”

Đức Thánh Cha Lêô XIV tại Thổ Nhĩ Kỳ: “Đất nước này là một cầu nối giữa Đông và Tây”

Trong chuyến tông du đầu tiên ra ngoài nước Ý kể từ khi bắt đầu triều đại giáo hoàng vào tháng Năm, Đức Thánh Cha đã kêu gọi sự hiệp nhất xã hội, tôn trọng sự đa dạng, và bảo vệ công trình sáng tạo, trong cuộc gặp gỡ với các nhà lãnh đạo tại Ankara, nhân dịp kỷ niệm 1700 năm Công đồng Nicea.

Đức Thánh Cha Lêô XIV tại Thổ Nhĩ Kỳ: “Đất nước này là một cầu nối giữa Đông và Tây”

*******

Đức Thánh Cha Lêô XIV đã thực hiện chuyến tông du quốc tế đầu tiên vào thứ Năm, đến thăm Thổ Nhĩ Kỳ như một cử chỉ mang tính biểu tượng để củng cố đối thoại liên tôn và tình huynh đệ toàn cầu. Được bầu chọn làm Người kế vị Thánh Phêrô vào ngày 8 tháng 5 năm 2015, và chính thức bắt đầu sứ vụ Phêrô với Thánh lễ tại Quảng trường Thánh Phêrô vào ngày 18 tháng 5, chuyến đi này đánh dấu hành trình đầu tiên Đức Thánh Cha ra ngoài nước Ý. Chuyến tông du, trong đó bao gồm cả chuyến thăm Li-băng, bắt đầu tại Ankara với một bài diễn văn đầy cảm xúc trước các nhà chức trách Thổ Nhĩ Kỳ, xã hội dân sự và ngoại giao đoàn, nhấn mạnh vai trò lịch sử của Thổ Nhĩ Kỳ như là cái nôi của Kitô giáo và là một “nhịp cầu” giữa các châu lục và các nền văn hóa.

Trong hội trường phủ kín các đại diện chính phủ, các nhà lãnh đạo tôn giáo và nhà ngoại giao, Đức Thánh Cha Lêô XIV — người đã đảm nhận chức vụ giáo hoàng sau khi Đức Phanxicô qua đời vào năm 2024 — nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng “tình huynh đệ” trong một thế giới bị phân cực bởi xung đột và bất bình đẳng. “Vùng đất này gắn bó khăng khít với nguồn cội của Kitô giáo, và hôm nay, nó mời gọi những người con của Abraham và toàn thể nhân loại hướng đến một tình huynh đệ biết nhìn nhận và trân trọng những khác biệt,” Đức Thánh Cha tuyên bố trong phần mở đầu bài diễn văn, trước Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ và những người hiện diện.

Bài diễn văn, được trình bày bằng tiếng Anh với bản dịch tiếng Thổ Nhĩ Kỳ cùng lúc, tập trung vào hình ảnh cây cầu bắc qua Eo biển Dardanelles, biểu tượng chính thức của chuyến đi, như một ẩn dụ cho căn tính Thổ Nhĩ Kỳ. “Trước khi nối kết Châu Á với Châu Âu, Đông với Tây, cây cầu này kết nối Thổ Nhĩ Kỳ với chính mình,” đồng thời nhấn mạnh rằng sự đa dạng trong đất nước không phải là một yếu điểm, mà là một sự phong phú nuôi dưỡng các nền văn minh vĩ đại. Về vấn đề này, ngài cảnh báo chống lại “sự đồng nhất” làm nghèo nàn xã hội và ủng hộ một “văn hóa gặp gỡ,” lấy cảm hứng từ những lời dạy của vị tiền nhiệm là Đức Thánh Cha Phanxicô, và từ hình ảnh Thánh Gioan XXIII, được biết đến là “Vị Giáo hoàng của Thổ Nhĩ Kỳ” vì sứ vụ của ngài trong vai trò là Khâm sứ Tòa Thánh tại quốc gia này từ năm 1935 đến năm 1945.

Đức Thánh Cha Lêô XIV tại Thổ Nhĩ Kỳ: “Đất nước này là một cầu nối giữa Đông và Tây”

Đức Thánh Cha mở rộng thông điệp của mình sang các vấn đề toàn cầu cấp bách. Ngài kêu gọi bảo vệ công trình sáng tạo của Thiên Chúa trước vẻ đẹp thiên nhiên của Thổ Nhĩ Kỳ, chỉ trích “những tham vọng và lựa chọn chà đạp lên công lý và hòa bình.” Nhắc đến những tiến bộ của công nghệ, ngài cảnh báo về nguy cơ trí tuệ nhân tạo có thể “làm trầm trọng thêm sự bất công” nếu nó không được định hướng vì ích chung, tái tạo “những thiên vị của riêng chúng ta” thay vì thúc đẩy tình liên đới. Ngài tuyên bố: “Công lý và lòng thương xót thách thức não trạng ‘sức mạnh tạo nên lẽ phải’, và can đảm đòi hỏi rằng lòng trắc ẩn và tình liên đới phải là những tiêu chí đích thực cho sự phát triển,” đồng thời nhắc lại Thiên Chúa “giàu lòng thương xót và từ bi” của Thánh vịnh 103.

Đức Thánh Cha dành một chương đặc biệt cho gia đình, một trụ cột của văn hóa Thổ Nhĩ Kỳ, như là “tế bào đầu tiên của đời sống xã hội” nơi giá trị của “người khác” được học hỏi. Ngài ca ngợi các sáng kiến ​​địa phương hỗ trợ hôn nhân và sinh sản, bác bỏ “các nền kinh tế tiêu thụ” biến sự cô đơn thành một ngành kinh doanh. Ngài cũng đề cao vai trò của phụ nữ trong xã hội Thổ Nhĩ Kỳ: “Qua việc học tập và tham gia tích cực vào đời sống chuyên môn, văn hóa và chính trị, phụ nữ phục vụ đất nước mình và tạo ra ảnh hưởng tích cực trên trường quốc tế.” Điểm nhấn mạnh sự bình đẳng và việc trao quyền cho phụ nữ hòa điệu với những nỗ lực hiện đại hóa xã hội của Thổ Nhĩ Kỳ, mặc dù những thách thức liên quan đến quyền giới tính và quyền tự do dân sự vẫn còn tồn tại.

Đức Thánh Cha Lêô XIV nhắc lại các chuyến viếng thăm của những vị tiền nhiệm — Đức Phaolô VI năm 1967, Đức Gioan Phaolô II năm 1979, Đức Bênêđictô XVI năm 2006, và Đức Phanxicô vào năm 2014 — như bằng chứng về “mối quan hệ tốt đẹp” giữa Tòa Thánh và Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ. Ngài khẳng định: “Chúng tôi mong muốn hợp tác xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn với sự đóng góp của đất nước này, một cầu nối giữa Đông và Tây, giữa Châu Á và Châu Âu, và là giao điểm của các nền văn hóa và tôn giáo.” Trong bối cảnh kỷ niệm Công đồng Nicea, ngài kêu gọi tinh thần đối thoại của tám công đồng đại kết đầu tiên được tổ chức trên vùng đất hiện nay là Thổ Nhĩ Kỳ, kêu gọi mọi người “thúc đẩy đối thoại với ý chí kiên định và quyết tâm bền bỉ.”

Đức Thánh Cha đã không né tránh những căng thẳng toàn cầu: ngài lên án một “cuộc thế chiến thứ ba diễn ra từng phần,” được nuôi dưỡng bởi các chiến lược quyền lực kinh tế và quân sự làm chệch hướng những nguồn lực khỏi những thách đố thật sự như hòa bình, cuộc chiến chống đói nghèo, y tế, giáo dục và bảo vệ môi trường. “Tương lai của nhân loại đang bị đe dọa. Chúng ta hoàn toàn không được phép đầu hàng điều này!” ngài cảm thán, và đề xuất rằng Tòa Thánh, với “sức mạnh tinh thần và luân lý,” sẽ cộng tác với các quốc gia cam kết phát triển toàn diện. Ngài kết luận trước cử tọa với tràng pháo tay nồng nhiệt: “Chúng ta hãy cùng nhau tiến bước, trong sự thật và tình bạn, khiêm nhường tin cậy vào sự trợ giúp của Thiên Chúa.”

Đức Thánh Cha Lêô XIV tại Thổ Nhĩ Kỳ: “Đất nước này là một cầu nối giữa Đông và Tây”

Chuyến tông du kéo dài đến ngày 2 tháng 12 và bao gồm Li-băng, diễn ra vào thời điểm bất ổn của khu vực, được ghi dấu bởi các cuộc xung đột ở Trung Đông và căng thẳng di cư ở Địa Trung Hải. Sự hiện diện của Đức Lêô XIV tại Thổ Nhĩ Kỳ — một quốc gia có thiểu số Kitô giáo chỉ chiếm 0,2% trong 85 triệu dân — tái khẳng định cam kết của Giáo hội Công giáo đối với đại kết và đối thoại liên tôn, trong bối cảnh Hồi giáo Sunni chiếm ưu thế dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Recep Tayyip Erdoğan. Các nhà phân tích xem chuyến đi này là một cử chỉ tiếp nối di sản của Đức Thánh Cha Phanxicô, nhưng với trọng tâm mới nhấn mạnh vào “sự hiệp nhất của gia đình nhân loại” trước tình trạng phân cực toàn cầu.

Bài diễn văn đã được cộng đồng Công giáo địa phương, với khoảng 35.000 tín hữu đón nhận với sự lạc quan, và các nhà quan sát ngoại giao nhấn mạnh tiềm năng của Thổ Nhĩ Kỳ như một trung gian trong các cuộc khủng hoảng toàn cầu. Khi Đức Thánh Cha chuẩn bị cho cuộc hành hương đến İznik, thông điệp của ngài vang lên như một lời kêu gọi khẩn thiết về sự hòa giải trong một thế giới đang rạn nứt.

*******

CHUYẾN TÔNG DU CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV

TỚI THỔ NHĨ KỲ VÀ LI-BĂNG

VỚI CUỘC HÀNH HƯƠNG ĐẾN IZNIK (THỔ NHĨ KỲ)

NHÂN DỊP KỶ NIỆM 1700 NĂM CÔNG ĐỒNG ĐẠI KẾT NICEA I

(27 tháng 11 – 2 tháng 12 năm 2025)

GẶP GỠ CÁC NHÀ CHỨC TRÁCH, XÃ HỘI DÂN SỰ VÀ NGOẠI GIAO ĐOÀN
DIỄN VĂN CỦA ĐỨC THÁNH CHA
Ankara
Thứ Năm, ngày 27 tháng 11 năm 2025

____________________________________


Thưa ngài Tổng thống,

Thưa các nhà Lãnh đạo,

Thưa quý vị thành viên trong Ngoại giao đoàn,

Thưa quý ông và quý bà,

Xin chân thành cảm ơn sự chào đón nồng hậu của quý vị! Tôi rất vui mừng được bắt đầu các chuyến tông du trong triều giáo hoàng của tôi bằng việc đến thăm đất nước của quý vị, vì vùng đất này gắn bó khăng khít với nguồn cội của Kitô giáo, và hôm nay, nó mời gọi những người con của Abraham và toàn thể nhân loại hướng đến một tình huynh đệ biết nhìn nhận và trân trọng những sự khác biệt.

Vẻ đẹp tự nhiên của đất nước quý vị thúc giục chúng ta bảo vệ công trình sáng tạo của Thiên Chúa. Hơn nữa, sự phong phú về văn hóa, nghệ thuật và tinh thần của những miền đất quý vị đang sinh sống nhắc nhở chúng ta rằng khi các thế hệ, các truyền thống và ý tưởng khác nhau gặp gỡ, những nền văn minh vĩ đại sẽ được hình thành, nơi sự phát triển và khôn ngoan hòa quyện thành sự hiệp nhất. Một mặt, đúng là lịch sử nhân loại đã trải qua nhiều thế kỷ xung đột, và thế giới chung quanh chúng ta vẫn bị bất ổn bởi những tham vọng và lựa chọn chà đạp lên công lý và hòa bình. Đồng thời, khi đối diện với những thách đố, việc là một dân tộc có quá khứ vĩ đại như vậy vừa là một ân ban vừa là một trách nhiệm.

Hình ảnh cây cầu bắc qua Eo biển Dardanelles, được chọn làm biểu tượng cho chuyến đi của tôi, diễn tả một cách hùng hồn vai trò đặc biệt của đất nước quý vị. Quý vị giữ một vị trí quan trọng trong hiện tại và tương lai của Địa Trung Hải, và của toàn thế giới, trên hết là bằng việc trân quý sự đa dạng nội tại của mình. Ngay cả trước khi nối kết Châu Á với Châu Âu, Đông với Tây, cây cầu này kết nối Thổ Nhĩ Kỳ với chính mình. Nó liên kết các miền khác nhau của đất nước, khiến cho đất nước này từ bên trong, có thể nói, trở thành một “giao điểm của những cảm thức.” Trong bối cảnh như vậy, sự đồng nhất sẽ trở thành sự nghèo nàn. Thật vậy, một xã hội chỉ sống động nếu nó có sự đa dạng, vì điều làm cho nó trở thành một xã hội dân sự chính là những nhịp cầu liên kết con người với nhau. Thế nhưng, ngày nay, các cộng đồng nhân loại ngày càng bị phân cực và bị xé nát bởi những quan điểm cực đoan làm chúng bị phân mảnh.

Tôi xin khẳng định với quý vị rằng người Kitô hữu mong muốn đóng góp tích cực vào sự hiệp nhất của đất nước quý vị. Họ là, và họ cảm nhận mình là thành phần của căn tính Thổ Nhĩ Kỳ, điều mà Thánh Gioan XXIII đã đánh giá rất cao, người mà quý vị nhớ đến là “vị Giáo hoàng của Thổ Nhĩ Kỳ” vì tình bạn sâu đậm gắn bó ngài với dân tộc của Quý vị. Ngài là Giám quản Hạt Đại diện Tông tòa Latinh Istanbul và Khâm sứ Tòa Thánh tại Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp từ năm 1935 đến năm 1945, và đã làm việc không mệt mỏi để bảo đảm rằng người Công giáo không tự tách mình ra khỏi sự phát triển của nền Cộng hòa non trẻ của quý vị. Trong những năm ấy, ngài đã viết rằng tại quốc gia này, “chúng tôi, những người Công giáo Latinh ở Istanbul, cùng với người Công giáo thuộc các nghi lễ khác, Armenia, Hy Lạp, Canđê, Syria, v.v., là một thiểu số khiêm tốn sống trên bề mặt của một thế giới rộng lớn mà chúng tôi chỉ có những tiếp xúc hạn chế. Chúng tôi thường tự phân biệt mình với những người không tuyên xưng cùng đức tin của chúng tôi: những anh em Chính thống, Tin lành, Do Thái, Hồi giáo, các tín đồ thuộc các tôn giáo khác và những người không tin … Xem ra có vẻ hợp lý khi mỗi người nên lo việc riêng của mình, truyền thống gia đình hoặc dân tộc mình, giữ mình trong vòng giới hạn của cộng đồng riêng … Thưa anh chị em rất thân mến, các con thân mến, tôi phải nói với anh chị em rằng dưới ánh sáng của Tin Mừng và các nguyên tắc Công giáo, đây là một lập luận sai lầm.”[1] Kể từ đó, những bước tiến lớn đã được thực hiện trong Giáo hội và trong xã hội của quý vị, và những lời đó vẫn vang lên mạnh mẽ trong thời đại chúng ta, và tiếp tục truyền cảm hứng cho một cách suy nghĩ mang tinh thần Tin Mừng và chân thực hơn, điều mà Đức Thánh Cha Phanxicô gọi là “văn hóa gặp gỡ.”

Thật vậy, từ trung tâm Địa Trung Hải, vị tiền nhiệm khả kính của tôi đã phản đối tình trạng “toàn cầu hóa sự thờ ơ,” bằng cách mời gọi chúng ta cảm nhận nỗi đau của người khác, và lắng nghe tiếng kêu của người nghèo và của trái đất. Do đó, ngài khuyến khích chúng ta hành động với lòng trắc ẩn, đó là sự phản chiếu chính Thiên Chúa duy nhất, Đấng giàu lòng thương xót và từ bi, “chậm giận và giàu tình thương” (Tv 103:8). Hình ảnh cây cầu vĩ đại của quý vị cũng hữu ích theo nghĩa này, vì Thiên Chúa, khi tỏ mình ra, đã thiết lập một nhịp cầu giữa trời và đất. Người làm như vậy để trái tim chúng ta có thể được biến đổi, trở nên giống như trái tim của Người. Đó là một cây cầu treo rộng lớn, gần như thách thức các quy luật vật lý. Tương tự như vậy, ngoài những khía cạnh riêng tư và mật thiết, tình yêu cũng mang một chiều kích hữu hình và công khai.

Hơn nữa, công lý và lòng thương xót thách thức não trạng “sức mạnh tạo nên lẽ phải,” và can đảm đòi hỏi rằng lòng trắc ẩn và tình liên đới phải được xem là những tiêu chí đích thực cho sự phát triển. Vì lý do này, trong một xã hội như Thổ Nhĩ Kỳ, nơi tôn giáo đóng một vai trò hữu hình, điều cần thiết là phải tôn vinh phẩm giá và quyền tự do của tất cả con cái Thiên Chúa, cả nam và nữ, đồng bào và người nước ngoài, người nghèo và người giàu. Tất cả chúng ta đều là con cái của Thiên Chúa, và điều này bao hàm cá nhân, xã hội và chính trị. Những người có tâm hồn vâng nghe trước ý muốn của Thiên Chúa luôn thúc đẩy ích chung và tôn trọng tất cả mọi người. Ngày nay, đây là một thách đố lớn, phải định hình lại các chính sách địa phương và quan hệ quốc tế, đặc biệt trước những phát triển của công nghệ, mà nếu không như vậy, nó có thể làm trầm trọng thêm tình trạng bất công thay vì giúp vượt qua nó. Ngay cả trí tuệ nhân tạo cũng chỉ đơn giản là tái tạo những sở thích của riêng chúng ta và đẩy nhanh những tiến trình, mà khi xét kỹ hơn, không phải là công trình của máy móc, nhưng của chính con người. Vì vậy, chúng ta hãy cùng nhau làm việc để thay đổi hướng đi của sự phát triển và khắc phục những tổn hại đã gây ra cho sự hiệp nhất của gia đình nhân loại chúng ta.

Thưa quý vị, tôi vừa đề cập đến gia đình nhân loại. Phép ẩn dụ này mời gọi chúng ta thiết lập một sự kết nối – một lần nữa, là một nhịp cầu – giữa vận mệnh chung của chúng ta và kinh nghiệm của mỗi cá nhân. Thật vậy, đối với mỗi người chúng ta, gia đình là tế bào đầu tiên của đời sống xã hội, nơi chúng ta học được rằng không có “người khác” thì không có “tôi.” Gia đình vẫn giữ tầm quan trọng lớn trong văn hóa Thổ Nhĩ Kỳ hơn ở các quốc gia khác, và không thiếu những sáng kiến ​​hỗ trợ vai trò trung tâm của gia đình. Thật vậy, những thái độ thiết yếu cho sự chung sống dân sự, cùng với cảm thức ban đầu và nền tảng về ích chung, được trưởng thành chính trong gia đình. Tất nhiên, mọi gia đình cũng có thể khép kín trong bản thân, nuôi dưỡng sự thù địch, hoặc ngăn cản một số thành viên thể hiện chính mình đến mức cản trở sự phát triển những tài năng của họ. Tuy nhiên, con người không có nhiều cơ hội hơn hoặc hạnh phúc hơn ở một nền văn hóa theo cá nhân chủ nghĩa, cũng không phải bằng cách tỏ thái độ khinh rẻ hôn nhân hay khước từ mở lòng đón nhận sự sống.

Hơn nữa, các nền kinh tế tiêu thụ có tính lừa dối ở chỗ nó biến sự cô đơn thành một ngành kinh doanh. Chúng ta phải đáp lại điều này bằng một nền văn hóa trân quý tình cảm và sự kết nối cá nhân. Bởi chỉ khi cùng nhau, chúng ta mới có thể trở thành con người thật của mình. Chỉ qua tình yêu, đời sống nội tâm của chúng ta mới trở nên sâu sắc và căn tính của chúng ta mới trở nên mạnh mẽ. Những ai coi thường các mối liên kết cơ bản của con người, và không học cách chấp nhận những giới hạn và sự mong manh của bản thân, sẽ dễ trở nên bất khoan dung và không thể tương tác với thế giới phức tạp của chúng ta. Đồng thời, chính trong đời sống gia đình mà giá trị của tình yêu vợ chồng và sự đóng góp của phụ nữ nổi bật lên một cách rõ nét. Đặc biệt, qua việc học tập và tham gia tích cực vào đời sống chuyên môn, văn hóa và chính trị, phụ nữ đang ngày càng dấn thân vào việc phục vụ đất nước quý vị, và có ảnh hưởng tích cực trên trường quốc tế. Do đó, chúng ta phải đánh giá cao những sáng kiến ​​quan trọng trong lãnh vực này, nhằm hỗ trợ gia đình và sự đóng góp của phụ nữ cho sự triển nở toàn diện của đời sống xã hội.

Thưa Ngài Tổng thống, ước mong Thổ Nhĩ Kỳ trở thành một nguồn mạch của sự ổn định và xích lại gần nhau giữa các dân tộc, phục vụ một nền hòa bình công bằng và dài lâu. Các chuyến viếng thăm Thổ Nhĩ Kỳ của bốn vị Giáo hoàng – Đức Phaolô VI năm 1967, Đức Gioan Phaolô II năm 1979, Đức Bênêđictô XVI năm 2006 và Đức Phanxicô năm 2014 – cho thấy Tòa Thánh không chỉ duy trì mối quan hệ tốt đẹp với Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ, mà còn mong muốn hợp tác xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn với sự đóng góp của đất nước này, là một cầu nối giữa Đông và Tây, giữa Châu Á và Châu Âu, và là giao điểm của các nền văn hóa và tôn giáo. Dịp đặc biệt trong chuyến viếng thăm của tôi, kỷ niệm 1700 năm Công đồng Nicea, nhắc chúng ta về sự gặp gỡ và đối thoại, cũng như tám công đồng đại kết đầu tiên đã được tổ chức trên các vùng đất của Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay.

Ngày nay, hơn bao giờ hết, chúng ta cần những người thúc đẩy đối thoại và thực hành đối thoại với ý chí kiên định và quyết tâm kiên trì. Sau những thảm kịch của hai cuộc thế chiến, vốn đã dẫn đến ​​việc thành lập các tổ chức quốc tế lớn, giờ đây chúng ta đang trải qua một giai đoạn được ghi dấu bằng mức độ xung đột gia tăng trên bình diện toàn cầu, được nuôi dưỡng bởi các chiến lược quyền lực kinh tế và quân sự đang chi phối. Việc này đang tạo đà cho điều mà Đức Thánh Cha Phanxicô gọi là “cuộc thế chiến thứ ba diễn ra từng phần.” Chúng ta hoàn toàn không được phép đầu hàng điều này! Tương lai của nhân loại đang bị đe dọa. Năng lượng và nguồn lực bị cuốn vào động lực hủy diệt ấy đang bị chuyển hướng khỏi những thách đố thực tế mà gia đình nhân loại lẽ ra phải cùng nhau đối mặt hôm nay, cụ thể là hòa bình, cuộc chiến chống đói nghèo, y tế và giáo dục, và bảo vệ công trình sáng tạo.

Tòa Thánh, với sức mạnh tinh thần và luân lý của mình, mong muốn hợp tác với tất cả các quốc gia luôn quan tâm đến sự phát triển toàn diện của mỗi con người. Vậy chúng ta hãy cùng nhau tiến bước, trong sự thật và tình bạn, khiêm nhường tin cậy vào sự trợ giúp của Thiên Chúa.

Xin cảm ơn Quý vị.

________________________

[1] Angelo G. Roncalli (John XXIII), La predicazione a Istanbul. Omelie, discorsi e note pastorali (1935-1944), Olschki, Firenze 1993, 367-368.


[Nguồn: exaudi]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 28/11/2025]


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét