“Thật đẹp khi nhìn năm mới theo cách này”
ALBERTO PIZZOLI | ALBERTO PIZZOLI
01/01/26
Đức Thánh Cha Lêô XIV đã cử hành Thánh lễ trọng thể Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa và ngày đầu năm mới. Dưới đây là bài giảng của Ngài.
“Mỗi ngày đều có thể là khởi đầu của một đời sống mới, nhờ tình yêu quảng đại của Thiên Chúa, lòng thương xót của Người và sự đáp trả cách tự do nơi chúng ta,” Đức Thánh Cha Lêô XIV khẳng định khi cử hành Thánh lễ vào ngày 1 tháng 1 năm 2026, trong ngày lễ trọng Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa.
Trong bài giảng mang chiều sâu từ Thánh Augustinô và Thánh Gioan Phaolô II, Đức Thánh Cha cũng lưu ý rằng đây là Ngày Thế giới Hòa bình.
Ngài mời gọi:
Chúng ta hãy đến gần [Hang đá Giáng sinh] như một nơi tuyệt vời của nền hòa bình “phi vũ trang và giải giới” – một nơi của ân phúc, nơi chúng ta nhớ đến những những kỳ công mà Chúa đã thực hiện trong lịch sử cứu độ cũng như trong chính cuộc đời mỗi người chúng ta.
ALBERTO PIZZOLI | ALBERTO PIZZOLI
Dưới đây là toàn văn bài giảng của Đức Thánh Cha:
__________________________________
Anh chị em thân mến,
Hôm nay, trong ngày Lễ Trọng Đức Maria, Thánh Mẫu Thiên Chúa, vào thời điểm khởi đầu của năm mới, Phụng vụ trao cho chúng ta một bản văn của lời chúc lành tuyệt đẹp: “Nguyện Đức Chúa chúc lành và gìn giữ anh (em)! Nguyện Đức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh (em) và dủ lòng thương anh (em)! Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh (em)!” (Ds 6:24-26).
Trong sách Dân Số, lời chúc lành này tiếp nối sau những chỉ dẫn về việc thánh hiến các Na-dia, qua đó làm nổi bật chiều kích thánh thiêng và hoa trái của việc dâng hiến các lễ vật trong mối tương quan giữa Thiên Chúa và dân Israel. Con người dâng lên Đấng Tạo Hóa tất cả những gì mình đã lãnh nhận, và về phần Người, Người đáp lại bằng cách hướng ánh nhìn nhân hậu về phía họ, như Người đã làm vào buổi bình minh của công trình tạo dựng (x. St 1:31).
Hơn nữa, dân Israel, những người đã được đón nhận lời chúc lành ấy, là một dân tộc đã được giải phóng, những con người được tái sinh sau một thời gian dài trong ách nô lệ, nhờ sự can thiệp của Thiên Chúa và sự đáp trả quảng đại của tôi tớ Người là ông Môsê. Tại Ai Cập, họ đã từng được hưởng những tiện nghi nhất định: có lương thực, có nơi trú ngụ và một sự ổn định nào đó. Nhưng tất cả phải trả bằng cái giá là sự tự do của họ; trong phận nô lệ, họ bị áp bức bởi một chế độ bạo quyền luôn đòi hỏi nhiều hơn trong khi ban phát ngày càng ít hơn (x. Xh 5:6–7). Giờ đây, trong sa mạc, nhiều tiện nghi trước đây đã mất đi. Nhưng đổi lại, họ có tự do, một sự tự do mang hình dạng của một con đường rộng mở hướng tới tương lai, được tìm thấy trong hồng ân của một lề luật khôn ngoan và trong lời hứa về một miền đất, nơi họ có thể sinh sống và phát triển mà không còn xiềng xích hay gông cùm. Nói tóm lại, đó là một cuộc tái sinh.
Vì vậy, vào buổi bình minh của năm mới, Phụng vụ nhắc nhở chúng ta rằng đối với mỗi người, mỗi ngày đều có thể là khởi đầu của một đời sống mới, nhờ tình yêu quảng đại của Thiên Chúa, lòng thương xót của Người và sự đáp trả cách tự do nơi chúng ta. Thật đẹp khi nhìn về năm mới theo cách này: như một hành trình rộng mở đang chờ được khám phá. Thật vậy, nhờ ân sủng, chúng ta có thể dấn bước trên hành trình ấy với lòng tin tưởng – là những người tự do và mang trong mình khả năng trao tự do, những người được tha thứ và là người đem đến sự tha thứ, tin tưởng vào sự gần gũi và lòng nhân hậu của Chúa, Đấng luôn đồng hành với chúng ta.
Chúng ta ghi nhớ chân lý này khi cử hành mầu nhiệm Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa. Nhờ tiếng “xin vâng”, Mẹ đã giúp trao ban một khuôn mặt nhân loại cho nguồn mạch của mọi lòng thương xót và nhân hậu: đó là khuôn mặt của Chúa Giêsu. Qua ánh mắt của Người – trước hết là một trẻ thơ, rồi đến một thiếu niên và một người trưởng thành – tình yêu của Chúa Cha chạm đến chúng ta và biến đổi chúng ta.
Vì thế, khi chúng ta bước vào những ngày mới và độc nhất đang chờ đón phía trước, chúng ta hãy xin Chúa giúp chúng ta cảm nghiệm được trong từng khoảnh khắc, ở xung quanh và trên chính chúng ta, hơi ấm từ vòng tay phụ tử và ánh sáng từ ánh nhìn nhân hậu của Người. Nhờ đó, chúng ta có thể hiểu rõ hơn và luôn ghi nhớ mình là ai và đang hướng tới vận mệnh kỳ diệu nào (x. Công đồng Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 41). Đồng thời, chúng ta cũng hãy tôn vinh Thiên Chúa qua lời cầu nguyện, qua đời sống thánh thiện, và bằng cách trở nên những tấm gương phản chiếu lòng nhân hậu của Người cho nhau.
Thánh Augustinô đã dạy rằng, nơi Đức Maria, “Đấng Tạo Hóa tạo dựng con người đã trở thành người: để dù Ngài điều khiển các vì sao, Ngài vẫn được nuôi dưỡng từ bầu sữa mẹ; dù Ngài là Bánh Hằng sống (x. Ga 6:35), Ngài vẫn chịu đói khát (x. Mt 4:2)… để giải thoát chúng ta, dù chúng ta bất xứng” (Bài giảng 191, 1.1). Qua đó, Thánh Augustinô nhắc lại một trong những nét căn bản trên dung mạo của Thiên Chúa: tính nhưng không hoàn toàn của tình yêu của Người. Như tôi đã nhấn mạnh trong Sứ điệp Ngày Thế giới Hòa bình, Thiên Chúa tỏ mình ra cho chúng ta “phi vũ trang và có sức giải giới”, trần trụi và mong manh như một trẻ sơ sinh nằm trong máng cỏ. Người làm như vậy để dạy chúng ta rằng thế giới không được cứu độ bằng cách mài gươm giáo, cũng không phải bằng cách xét đoán, áp bức hay loại trừ anh chị em mình. Trái lại, thế giới được cứu độ bằng cách kiên trì nỗ lực để thấu hiểu, tha thứ, giải phóng và đón nhận mọi người, không tính toán và không sợ hãi.
Đây chính là dung mạo của Thiên Chúa mà Đức Maria đã cho phép hình thành và lớn lên trong cung lòng mình, dung mạo đã biến đổi hoàn toàn cuộc đời Mẹ. Đó là dung mạo mà Mẹ đã loan báo qua ánh mắt vui tươi và dịu hiền khi cưu mang Người trong lòng; dung mạo với vẻ đẹp đã được Mẹ chiêm ngưỡng hằng ngày tại gia đình khi Chúa Giêsu lớn lên từ một trẻ thơ, trở thành một cậu bé rồi thành một thanh niên; và là dung mạo Mẹ đã dõi theo với tâm hồn của một người môn đệ khiêm hạ, khi Người bước đi trên những nẻo đường sứ vụ, cho đến tận thập giá và phục sinh. Để làm như vậy, Mẹ cũng đã phải gạt sang một bên mọi sự phòng vệ, từ bỏ những mong đợi, những đòi hỏi và tiện nghi – như những người mẹ vẫn thường làm – hiến dâng cuộc đời mình cách trọn vẹn cho Người Con mà Mẹ đã nhận lãnh bởi ân sủng, để đến lượt mình, Mẹ có thể trao tặng Người lại cho thế giới.
Vì thế, nơi tình mẫu tử thần linh của Đức Maria, chúng ta nhìn thấy sự gặp gỡ của hai thực tại bao la “không vũ trang”: đó là Thiên Chúa, Đấng từ bỏ mọi đặc quyền của Thiên Chúa để sinh ra trong xác phàm (x. Pl 2:6-11), và con người, với lòng tin tưởng trọn vẹn, đã đón nhận thánh ý Thiên Chúa. Trong một hành vi yêu thương hoàn hảo, Mẹ đã dâng lên cho Người sức mạnh lớn nhất mà Mẹ sở hữu: đó là sự tự do của chính mình.
Suy tư về mầu nhiệm này, Thánh Gioan Phaolô II đã mời gọi chúng ta chiêm ngắm những gì các mục đồng tìm thấy tại Bêlem: “sự dịu dàng có sức giải giới của Hài Nhi, sự nghèo khó đáng kinh ngạc của Người và sự đơn sơ khiêm hạ của Đức Maria và Thánh Giuse.” Những thực tại này đã biến đổi cuộc đời họ, khiến họ trở thành “những sứ giả của ơn cứu độ” (Bài giảng Lễ trọng Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, Ngày Thế giới Hòa bình lần thứ XXXIV, 1 tháng 1 năm 2001).
Ngài đã nói những lời ấy khi bế mạc Đại Năm Thánh 2000, với những lời vẫn vang vọng trong suy niệm của chúng ta hôm nay: “Biết bao hồng ân,” Ngài khẳng định, “biết bao cơ hội phi thường mà Đại Năm Thánh đã mang đến cho các tín hữu! Trong kinh nghiệm về việc được tha thứ và thứ tha, trong việc tưởng niệm các vị tử đạo, trong việc lắng nghe tiếng kêu của những người nghèo trên thế giới… chúng ta cũng đã thoáng thấy sự hiện diện cứu độ của Thiên Chúa trong lịch sử. Có thể nói, chúng ta đã cảm nhận cách hữu hình tình yêu của Người, tình yêu đổi mới bộ mặt trái đất” (sđd.) Rồi ngài kết luận: “Cũng như Người đã mời gọi các mục đồng vội vã đến thờ lạy Người, Đức Kitô cũng đòi hỏi các tín hữu, những người mà Ngài đã ban cho niềm vui được gặp gỡ Ngài, một sự sẵn sàng can đảm để lên đường một lần nữa hầu loan báo Tin Mừng của Người, vốn là xưa cũ nhưng lại luôn mới mẻ. Người sai họ đi để làm sống động lịch sử và văn hóa nhân loại bằng sứ điệp cứu độ của Người” (sđd.).
Anh chị em thân mến, trong ngày Lễ Trọng này, vào lúc khởi đầu của năm mới, và khi chúng ta tiến gần đến việc kết thúc Năm Thánh Hy Vọng, chúng ta hãy đến gần máng cỏ với đức tin. Chúng ta hãy tiến đến đó như một nơi của nền hòa bình “phi vũ trang và có sức giải giới” tuyệt hảo – một nơi của ân phúc, nơi chúng ta tưởng nhớ những kỳ công mà Chúa đã thực hiện trong lịch sử cứu độ, cũng như trong chính cuộc đời mỗi người. Rồi sau đó, giống như những nhân chứng khiêm hạ tại hang đá, chúng ta tiếp tục lên đường, “tôn vinh ca tụng Thiên Chúa” (Lc 2:20) vì tất cả những gì chúng ta đã thấy và đã nghe. Ước gì đây là cam kết và quyết tâm của chúng ta cho những tháng ngày sắp tới, và thực sự là cho toàn bộ đời sống Kitô hữu của chúng ta.
[Nguồn: aleteia]
[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 2/1/2026]
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét