Thứ Hai, 18 tháng 5, 2026

Lời chào ứng khẩu của Đức Thánh cha với các ứng sinh lớp Thêm sức thuộc Tổng Giáo phận Chính tòa Genova, 16.05.2026

Lời chào ứng khẩu của Đức Thánh cha với các ứng sinh lớp Thêm sức thuộc Tổng Giáo phận Chính tòa Genova, 16.05.2026

Lời chào ứng khẩu của Đức Thánh cha với các ứng sinh lớp Thêm sức thuộc Tổng Giáo phận Chính tòa Genova, 16.05.2026

*******

Sáng nay, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã gặp gỡ các ứng sinh lớp Thêm sức thuộc Tổng Giáo phận Chính tòa Genova.

Sau đây là lời chào ứng khẩu của Đức Giáo hoàng gửi đến những người hiện diện trong buổi gặp gỡ:

Lời chào của Đức Thánh cha


Xin cảm ơn lời chào [của Đức Tổng Giám mục], xin cảm ơn tất cả các con và anh chị em hiện diện tại đây. Chào tất cả mọi người!

Và chào mừng các con đến với Đền thờ Thánh Phêrô, đến Vatican, đến Rôma. Các con đến từ Genova, từ nhiều giáo xứ khác nhau. Có một giáo xứ mà cha biết rõ hơn một chút, đó là Manesseno. Các bạn đâu rồi? Các bạn có ở đây không? Tuyệt vời! Nhưng tất cả các con đều tuyệt vời! Xin chào mừng.

Tốt lắm. Một trong những niềm vui lớn nhất của một vị giám mục – cha nghĩ là trong tất cả các giáo phận – chính là cử hành Bí tích Thêm sức, bởi vì đây thực sự là món quà của Chúa Thánh Thần.

Một số trong các con đã lãnh nhận Bí tích này; những bạn khác vẫn đang chuẩn bị. Nhưng thật đẹp khi lãnh nhận Bí tích này, bởi vì sự viên mãn của Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta lòng nhiệt thành, sức mạnh, khả năng bước theo Chúa Giêsu Kitô, để luôn nói lời “xin vâng” với Chúa, không sợ hãi bước theo Người cách can trường, và sống đức tin của mình trong một thế giới vốn rất thường tìm cách kéo chúng ta rời xa Chúa Giêsu.

Và Chúa Thánh Thần ở cùng chúng ta một cách đặc biệt vào Chúa nhật tới, khi chúng ta cử hành Lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống: ngày tưởng nhớ trải nghiệm của các môn đệ đầu tiên, các tông đồ, những người lãnh nhận Chúa Thánh Thần để rồi sau đó lên đường loan báo Tin Mừng, loan báo tình yêu của Thiên Chúa. Và tất cả các con cũng sẽ tham gia vào sứ mạng đó, bởi vì tất cả chúng ta đều được sai đi: đến với gia đình mình, với bạn bè, với mọi người. Và các con phải trở thành những chứng nhân sống động của Thần Khí đang ngự trong chúng ta.

Vì thế, mặc dù việc ban Bí tích Thêm sức là một trong những niềm vui lớn lao nhất của một vị giám mục, thì có một khía cạnh khác khá buồn. Đó là đôi khi, sau khi đức giám mục trao ban Bí tích Thêm sức — hồng ân của Chúa Thánh Thần — người ta không còn gặp lại các bạn trẻ đó nữa! Các bạn biến mất khỏi giáo xứ. Và về điều này, cha muốn mời gọi các con đặc biệt lưu tâm đến một trong những món quà của Chúa Thánh Thần, đó là sự kiên trì. Đừng quên những gì các con đã trải nghiệm trong thời gian này; hãy để niềm vui đó cũng đến Rôma, để cùng nhau cử hành, cùng nhau cầu nguyện; xin cho niềm vui ấy sống mãi trong tâm hồn các con, và xin cho các con tiếp tục là những môn đệ trung thành của Chúa Giêsu Kitô; xin cho các con kiên vững trong đức tin; xin cho các con trở lại giáo xứ — nơi có biết bao sinh hoạt, biết bao cơ hội — nhưng trên hết là trong đời sống đức tin, bởi vì Chúa Giêsu Kitô muốn đồng hành với các con, với từng người các con, và với tất cả các con trong cộng đoàn, là điều hết sức quan trọng. Chúng ta không sống đức tin đơn độc; chúng ta sống đức tin cùng nhau. Và việc thiết lập những mối dây tình bạn và cộng đoàn này là một cách thức để sống sự kiên trì như là người môn đệ của Chúa Giêsu.

Vì vậy, đừng quên điều này. Thật tốt khi đến được Rôma, thật đẹp khi nhận lãnh Bí tích, thật tuyệt vời khi đón nhận sự viên mãn của Chúa Thánh Thần, nhưng điều quan trọng là mỗi người trong các con cũng phải thực hiện cam kết này, lời hứa này với Chúa: rằng các con thực sự ước ao tiếp tục là bạn hữu của Người, là môn đệ của Người, là nhà truyền giáo của Người, và các con ước ao kiên vững trong đức tin. Vì vậy, cha để lại cho các con những lời này.

Cha mời các con đứng lên, để chúng ta cùng nhau dâng lên lời cầu nguyện mà Chúa Giêsu đã dạy chúng ta. Sau đó, cha sẽ ban phép lành cho các con, và cha sẽ chào một số người trong các con khi ra về. Xin cho ngày hôm nay cũng là một sự trợ giúp lớn lao cho các con trên hành trình đức tin của mình.

Chúng ta cùng cầu nguyện: Lạy Cha chúng con…

Phép lành

Cha chúc tất cả các con những điều tốt đẹp nhất.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 17/05/2026]


Tiếp kiến các Tham dự viên Hội nghị Liên Nghị viện về Cuộc chiến chống Tội phạm Có tổ chức trong Khu vực OSCE, 15.05.2026

Tiếp kiến các Tham dự viên Hội nghị Liên Nghị viện về Cuộc chiến chống Tội phạm Có tổ chức trong Khu vực OSCE, 15.05.2026

Tiếp kiến các Tham dự viên Hội nghị Liên Nghị viện về Cuộc chiến chống Tội phạm Có tổ chức trong Khu vực OSCE, 15.05.2026

*******

Sáng nay, tại Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh cha Lêô XIV đã tiếp kiến các tham dự viên Hội nghị Liên Nghị viện về Cuộc chiến chống Tội phạm có Tổ chức trong khu vực OSCE, và sau đây là bài diễn văn của ngài:

Diễn văn của Đức Thánh cha


Thưa quý vị Nghị sĩ,
Thưa các vị đại diện của các quốc gia tham gia Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu, thưa ngài Đại sứ,
Thưa quý bà và quý ông,

Với niềm hy vọng sâu sắc và mối quan tâm mục vụ, tôi xin gửi lời chào đến quý vị khi quý vị cùng quy tụ tại Hội nghị Quốc tế lần thứ hai về Cuộc chiến chống Ma túy và Tội phạm có Tổ chức trong Khu vực OSCE, một hội nghị chuyên đề về cuộc đấu tranh đầy khó khăn và cấp bách chống lại tai họa ma túy bất hợp pháp. Sự hiện diện của quý vị, đến từ nhiều quốc gia thành viên OSCE trải dài từ Vancouver đến Vladivostok, là minh chứng cho quyết tâm tập thể nhằm đối phó với một hiện tượng đang nuôi dưỡng các mạng lưới tội phạm và đe dọa đến chính tương lai của các xã hội chúng ta.

Tòa thánh xác tín mạnh mẽ rằng pháp quyền, công tác phòng chống tội phạm và nền công lý hình sự phải cùng nhau được thúc đẩy trong sự hiệp nhất. Thật vậy, việc thực thi đích thực nguyên tắc pháp quyền vẫn là điều không thể thiếu cho sự phát triển toàn diện của con người. Không một xã hội thực sự công bằng nào có thể tồn tại bền vững nếu luật pháp — và không phải là ý chí tùy tiện của các cá nhân — không giữ vị thế tối thượng (x. Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội, số 408); đồng thời, không một cá nhân hay nhóm người nào, bất kể quyền lực hay địa vị, có thể tự cho mình quyền xâm phạm phẩm giá và các quyền của người khác hoặc của cộng đồng họ. Do đó, việc phòng ngừa và ứng phó với các hoạt động tội phạm có mối liên hệ chặt chẽ với việc tôn trọng và bảo vệ những quyền phổ quát của con người. Điều này đòi hỏi không chỉ nỗ lực của các cơ quan thực thi pháp luật mà còn cả sự tham gia của toàn xã hội, ở cấp độ quốc gia cũng như quốc tế.

Về phương diện này, Tòa thánh hoàn toàn ủng hộ mọi sáng kiến nhằm thiết lập một hệ thống công lý hình sự hiệu quả, công bằng, nhân đạo và đáng tin cậy, có khả năng ngăn chặn và chống lại việc sản xuất cũng như nạn buôn bán ma túy bất hợp pháp. Nhận thức được rằng công lý đích thực không thể chỉ thỏa mãn bằng hình phạt, những nỗ lực như vậy cũng phải bao gồm các phương pháp mang tính kiên trì và lòng nhân, hướng tới việc giáo dục lại và tái hòa nhập trọn vẹn vào đời sống xã hội cho những người phạm pháp. Chính sự tôn trọng đối với phẩm giá vốn có của mỗi con người, kể cả những người đã phạm tội, loại trừ việc áp dụng án tử hình, tra tấn, và mọi hình thức trừng phạt tàn bạo hoặc hạ nhục nhân phẩm.

Cần có những chương trình toàn diện để tiếp cận những người đang làm nô lệ cho chứng nghiện ngập, mang đến cho họ sự điều trị y khoa, hỗ trợ tâm lý và quá trình phục hồi kiên trì. Cách tiếp cận đa ngành như vậy phải nhìn nhận con người trong tính toàn vẹn của họ, vượt lên trên các biện pháp thuần túy trấn áp cũng như những giải pháp dễ dãi buông lỏng, cả hai cách này đều không thể giải thoát các cá nhân khỏi xiềng xích của sự lệ thuộc. Bằng cách này, họ có thể tái khám phá và sống lại sự viên mãn của phẩm giá do Thiên Chúa ban tặng.

Hơn nữa, tôi muốn nhấn mạnh rằng giáo dục là chìa khóa để phòng ngừa. Nó đặt nền tảng cho sự phát triển toàn diện con người và trang bị cho trẻ em cũng như thanh thiếu niên khả năng nhận thức được sự tàn phá sâu xa do ma túy gây ra. Trong thời đại của chúng ta, khi các phương tiện truyền thông xã hội thường xuyên lan truyền những thông tin sai lệch nguy hiểm xem nhẹ các rủi ro này, giáo dục phải bắt đầu từ trong gia đình và được củng cố ở học đường, truyền đạt kiến thức khoa học chính xác về những tác hại mang tính hủy hoại của chất ma túy đối với não bộ, cơ thể, hành vi cá nhân và công ích của cộng đồng.

Việc ngăn ngừa và chống tội phạm có tổ chức là điều thiết yếu để xây dựng những xã hội an toàn, công bằng và ổn định. Từ góc nhìn ngày, tôi muốn bày tỏ sự tri ân đối với tất cả các nhân viên thực thi pháp luật và các thành viên ngành tư pháp, những người đã hy sinh mạng sống hoặc chịu thương tật trong khi dũng cảm thi hành nhiệm vụ. Chứng tá của họ cần khơi dậy nơi chúng ta tâm tình biết ơn, trách nhiệm và quyết tâm được đổi mới.

Giáo hội Công giáo, thông qua nhiều tổ chức trên khắp thế giới và dựa trên kinh nghiệm lâu dài trong việc đồng hành với những người bị ảnh hưởng bởi chứng nghiện ngập, sẵn sàng đào sâu hơn nữa mối hợp tác hiệu quả với xã hội dân sự. Cùng nhau, trong tinh thần tôn trọng lẫn nhau và trách nhiệm chung, chúng ta có thể thúc đẩy những chính sách thực sự phục vụ ích chung và phẩm giá bất khả xâm phạm của mỗi con người.

Ước mong Hội nghị này sinh nhiều hoa trái dồi dào và bền vững trong các chiến lược hợp tác xuyên quốc gia, phòng ngừa hữu hiệu và niềm hy vọng đích thực. Tôi khẩn xin Thiên Chúa tuôn đổ dồi dào trên tất cả quý vị, trên các cuộc thảo luận của quý vị và trên các dân tộc mà quý vị đại diện, những phúc lành của sự khôn ngoan, lòng can đảm và nền hòa bình bền vững. Cảm ơn quý vị.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 17/05/2026]


Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2026

Đức Lêô XIV trở lại Đại học La Sapienza, nơi Đức Bênêđictô XVI từng bị buộc phải im tiếng

Đức Lêô XIV trở lại Đại học La Sapienza, nơi Đức Bênêđictô XVI từng bị buộc phải im tiếng

Mười tám năm sau khi các cuộc biểu tình buộc Đức Bênêđictô phải hủy chuyến thăm, biến cố đó vẫn cho thấy một xung đột sâu xa hơn giữa đức tin, lý trí và sự ngụy biện của phần lớn lòng bao dung thế tục.

Đức Lêô XIV trở lại Đại học La Sapienza, nơi Đức Bênêđictô XVI từng bị buộc phải im tiếng

Cảnh sát Ý phong tỏa cổng chính của Đại học La Sapienza ở Rôma khi sinh viên biểu tình phản đối Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI ngày 17 tháng 1 năm 2008. (Ảnh: FILIPPO MONTEFORTE / AFP qua Getty Images)

Edward Pentin

Vatican, 13 / 05 / 2026


Khi Đức Giáo hoàng Lêô XIV diễn thuyết tại Đại học La Sapienza ở Rôma vào thứ Năm này, ngài sẽ tránh được thử thách từng xảy đến với Đức Bênêđictô XVI, người cách đây 18 năm đã buộc phải hủy chuyến viếng thăm của ngài giữa làn sóng phản đối ngày càng tăng.

Chưa từng có vị giáo hoàng nào trước đó bị buộc phải hủy một bài diễn văn tại bất kỳ trường đại học nào trong thành phố. Thật trớ trêu, Đại học La Sapienza được thành lập bởi Đức Giáo hoàng Boniface VIII vào thế kỷ XIV, và chuyến viếng thăm của Đức Bênêđictô lẽ ra sẽ tiếp nối bước chân của các vị tiền nhiệm, Thánh Gioan Phaolô II năm 1991 và Thánh Phaolô VI năm 1964. Bản thân là một giáo sư lỗi lạc, bài diễn thuyết của Đức Bênêđictô đã được mong đợi với nhiều háo hức.

Thế nhưng, khi ngày diễn ra sự kiện đến gần, sự phản đối càng dữ dội hơn. Ngày 15 tháng 1 năm 2008, chỉ hai ngày trước khi ngài xuất hiện, Đức Giáo hoàng đã thực hiện một bước đi chưa từng có tiền lệ là hủy chuyến thăm, sau khi Bộ trưởng Nội vụ Ý cho biết có khả năng xảy ra đụng độ giữa các nhóm cực đoan. Đức Hồng y Tarcisio Bertone, khi ấy là Quốc vụ khanh Tòa Thánh, nói rằng quyết định này là một bước đi “thận trọng” nhằm “loại bỏ bất cứ cái cớ nào cho những cuộc biểu tình có thể gây khó chịu cho tất cả mọi người.” Thay vào đó, Đức Bênêđictô gửi đến trường đại học bài diễn văn mà ngài đã chuẩn bị sẵn.

Tôi còn nhớ rất rõ khi đưa tin về biến cố này, bởi việc hủy bỏ đã gây chấn động trong giới Giáo hội, dân sự và học thuật, khiến Tổng thống Ý và Đức Hồng y Đại diện Giáo phận Rôma phải lên tiếng ủng hộ, dù rất ít nhân vật nổi bật khác làm điều tương tự. Quan trọng hơn, vụ việc này đã làm lộ rõ một xung đột sâu sắc hơn giữa những xác tín của truyền thống Công giáo — đặc biệt về đức tin và lý trí — với một văn hóa tự do thế tục vốn tự trình bày mình là hợp lý, bao dung và hòa nhập, nhưng trên thực tế thường lại không như vậy.

Nguyên nhân trực tiếp xuất phát từ một nhận định mà Đức Bênêđictô đã đưa ra 18 năm trước đó, khi còn là Hồng y Joseph Ratzinger, và thật trớ trêu cũng tại Đại học La Sapienza, ngài trích dẫn nhà triết học khoa học bất khả tri người Mỹ gốc Áo Paul Feyerabend. Feyerabend lập luận rằng vào thời Galileo, “Giáo hội trung thành với lý trí hơn chính Galileo” và rằng khi xem xét các hệ lụy đạo đức và xã hội rộng lớn hơn của khoa học, phán quyết của Giáo hội là “hợp lý và công bình.”

Quan điểm của Đức Hồng y Ratzinger là vụ án Galileo không nên bị giản lược thành một câu chuyện đơn giản về việc Giáo hội chống lại khoa học, như lối diễn giải được hình thành từ thời Khai sáng. Thay vào đó, ngài dùng nó để lập luận rằng các cuộc tranh luận hiện đại về khoa học, lý trí và trách nhiệm phức tạp hơn thế nhiều. Khi trích dẫn Feyerabend (và nhà vật lý, kiêm triết gia người Đức Carl Friedrich von Weizsäcker, người từng thực hiện nghiên cứu hạt nhân cho Đức Quốc xã), ngài cho thấy ngay cả những nhà tư tưởng phi tôn giáo cũng đã mượn trường hợp Galileo để đặt câu hỏi liệu khoa học có phải lúc nào cũng biết tường tận nhất hay không, nhất là khi tiến bộ khoa học có thể dẫn đến những tổn hại nghiêm trọng. Ngài lưu ý rằng Weizsäcker đã xác định "một con đường rất trực tiếp" dẫn từ Galileo đến bom nguyên tử.

Tuy nhiên, các cuộc biểu tình tại La Sapienza đã bỏ qua hoàn toàn quan điểm của Đức Hồng y Ratzinger và thay vào đó biến nó thành cái cớ cho một cuộc phản đối mang nặng tính ý thức hệ, cho rằng đức tin chống lại tiến bộ khoa học. Marcello Cini, một giảng viên vật lý cao tuổi dẫn đầu phong trào phản đối, cảnh báo rằng thật "nguy hiểm" khi để Giáo hoàng phát biểu, cáo buộc Đức Bênêđictô tìm cách “khuất phục khoa học” dưới “tính duy lý giả tạo của giáo điều tôn giáo.” Theo ông, chuyến viếng thăm này đe dọa sự tự chủ của cả văn hóa lẫn trường đại học.

Bên cạnh những phản đối liên quan đến việc Đức Bênêđictô nhắc đến Galileo, các nhà phê bình còn cho rằng một bài diễn văn của giáo hoàng tại một học viện công lập, thế tục là điều “không thích hợp”, viện dẫn tính độc lập lâu đời của La Sapienza, bất kể đến nguồn gốc của trường này do giáo hoàng thành lập. Tổng cộng có 67 giáo sư, trong số khoảng 4.500 giảng viên và nhà nghiên cứu của trường, ký tên vào một bức thư phản đối chuyến thăm, trong khi có khoảng 100 sinh viên xuống đường biểu tình.

Thế nhưng, chính trong bài diễn văn mà ngài chưa bao giờ trực tiếp đọc, Đức Bênêđictô đã tiên liệu chính những phản đối như thế. Ngài nhấn mạnh rằng cả giáo hoàng lẫn đại học đều cùng chia sẻ một cam kết đối với chân lý, dù theo những phương pháp khác nhau. Ngài viết, giáo hoàng không áp đặt niềm tin "theo cách độc đoán," nhưng cống hiến truyền thống luân lý và trí thức của Giáo hội cho lý trí công luận (public reasoning). Về phần mình, đại học theo đuổi chân lý thông qua lý trí, bắt nguồn từ lối đặt vấn đề kiểu Socrate và sự tương tác lịch sử giữa đức tin và lý trí.

Ngài cảnh báo chống lại việc giản lược lý trí thành công cụ thuần túy hoặc chủ nghĩa thực chứng khoa học, từ đó đánh mất nhãn quan đặt ra các câu hỏi sâu xa hơn về ý nghĩa và sự thiện. "Sự thiện nào làm cho chúng ta trở nên chân thật?" Đức Bênêđictô đặt vấn đề. “Chân lý làm cho chúng ta nên tốt lành, và sự tốt lành chính là chân lý. Đây là niềm lạc quan sống động trong đức tin Kitô giáo, bởi vì đức tin ấy đã được ban tặng thị kiến về Logos, về Lý Trí sáng tạo, mà trong mầu nhiệm Nhập thể của Thiên Chúa đã đồng thời mặc khải chính mình là sự Thiện, là chính sự Thiện hảo.”

Sau cùng, ngài nhấn mạnh rằng cả giáo hoàng lẫn đại học đều phải gìn giữ một “sự nhạy bén trước chân lý”, khuyến khích con người, đặc biệt là trong đời sống học thuật, tiếp tục tìm kiếm chân lý luân lý và thiêng liêng, ngay cả khi gặp nhiều thử thách. Ngài cảnh báo: "Mối nguy cho thế giới phương Tây hiện nay là con người, chính vì xét đến sự vĩ đại của trí tuệ và quyền năng của mình, có thể đầu hàng trước câu hỏi về chân lý. “Và điều này đồng thời có nghĩa là cuối cùng lý trí sẽ sụp đổ dưới áp lực của những lợi ích cục bộ và dưới sức quyến rũ của tính thực dụng, buộc phải thừa nhận đó như là tiêu chuẩn tối hậu.”

Viết trên nhật báo L’Osservatore Romano, nhà toán học Giorgio Israel của Đại học La Sapienza bảo vệ Đức Bênêđictô, chỉ ra nghịch lý ở chỗ những người viện dẫn lời bảo vệ tự do ngôn luận nổi tiếng của Voltaire lại phản đối quyền được lên tiếng của Đức Giáo hoàng. Ông nhận xét rằng các đại học của Ý mở cửa cho mọi hình thức biểu đạt — mà dường như, ngoại trừ tiếng nói của Đức Giáo hoàng.

Ông Israel viết, giá như những người biểu tình chịu khó đọc toàn bộ bài diễn văn của Đức Bênêđictô, vì chủ đề của nó chính là cuộc khủng hoảng niềm tin vào chính khoa học, và bài viết đã trích dẫn sự thay đổi thái độ đối với vụ án Galileo như một ví dụ.

Chính trị học thuật, chủ nghĩa bài giáo sĩ thâm căn cố đế, và giới báo chí Ý phần lớn mang luận điệu thù nghịch cũng góp phần tạo nên cuộc xung đột này. Nhưng sự trớ trêu sâu xa hơn vẫn tồn tại: những người cáo buộc Đức Bênêđictô chống lại phương pháp khoa học rốt cuộc lại tái hiện chính sự bất khoan dung mà họ gán cho Giáo hội — bịt miệng một tiếng nói mà họ không đồng tình.

Như ông Israel nhận định, biến cố đó phơi bày một khuynh hướng trong văn hóa thế tục “không tranh luận, mà là ma quỷ hóa; không thảo luận, nhưng tạo ra những quái vật.” Theo nghĩa đó, nỗ lực ngăn chặn bài diễn văn của Đức Giáo hoàng không chỉ là một thất bại về văn hóa, mà còn về mặt dân sự.

Cách Đức Giáo hoàng Lêô XIV chọn để nhắc lại, hoặc có thể không nhắc lại, việc hủy bỏ chuyến viếng thăm của Đức Bênêđictô sẽ được theo dõi rất sát sao.

Đức Thánh Cha sẽ dành trọn buổi sáng ngày 14 tháng 5 tại Đại học La Sapienza, đọc diễn diễn văn lúc 11 giờ 30 phút sáng tại Aula Magna, sau lời chào mừng và một cuộc gặp riêng với viện trưởng. Chương trình bao gồm giờ cầu nguyện tại nhà nguyện của trường đại học, lời chào mừng của sinh viên, và nghi thức khánh thành tấm bia lưu niệm, trước khi ngài rời đi vào lúc 12 giờ 30.


[Nguồn: ncregister]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 14/05/2026]


Đức Hồng y Jean-Paul Vesco: Đức Lêô XIV là người xây dựng hiệp nhất, nhưng sẽ làm chúng ta ngạc nhiên

Đức Hồng y Jean-Paul Vesco: Đức Lêô XIV là người xây dựng hiệp nhất, nhưng sẽ làm chúng ta ngạc nhiên

Đức Hồng y Jean-Paul Vesco: Đức Lêô XIV là người xây dựng hiệp nhất, nhưng sẽ làm chúng ta ngạc nhiên

Đức Giáo hoàng Lêô XIV thăm Đền thờ lớn Hồi giáo Algiers “Djamaa El Djazair” cùng với Viện trưởng Đền thờ lớn Algiers, ông Mohammed Al-Mamoun Al-Qasimi Al-Hassani, và Đức Hồng y Jean-Paul Vesco, Tổng Giám mục Algiers, ngày 13 tháng 4 năm 2026.

I.Media

10/05/26


Đức Tổng Giám mục Algiers suy tư về chuyến tông du lịch sử của Đức Thánh cha đến quê hương của Thánh Augustinô tại Bắc Phi, nêu rõ nhãn quan vững vàng của ngài về nền hòa bình toàn cầu và sự hiệp nhất Giáo hội.

Một con người "đáng tin cậy và kiên định", nói năng “không quanh co”, và có khả năng trở thành biểu tượng hiệp nhất Giáo hội Công giáo nhờ "sự khôn ngoan táo bạo" của ngài: đó là cách Đức Hồng y Jean-Paul Vesco mô tả về Đức Thánh cha Lêô XIV. Một năm sau khi tham dự Mật nghị Hồng y, Đức Tổng Giám mục Algiers, người đã nghênh đón Đức Thánh cha đến thăm Algeria tháng Tư vừa qua, chia sẻ với I.Media những suy tư về chuyến đi lịch sử này. Ngài cũng trình bày quan điểm riêng về vị “Giáo hoàng đang ngày càng định hình rõ nét” và là người “sẽ làm chúng ta ngạc nhiên,” như ngài quả quyết.


Một chuyến thăm có tác động to lớn

Chỉ ít ngày sau chuyến thăm Algeria, Đức Hồng y đánh giá thế nào về thời gian Đức Thánh Cha hiện diện tại đây?

ĐHY Vesco: Điều làm tôi kinh ngạc là sự kiện này đã có một tác động rất lớn đối với người dân Algeria, đối với toàn thể dân chúng Algeria. Tôi đã hy vọng về cuộc gặp gỡ giữa một vị giáo hoàng và người dân Algeria từ rất lâu rồi. Dĩ nhiên, không có những cuộc bách bộ giữa đám đông như ở các quốc gia khác; đó hoàn toàn không phải là mục đích của chuyến đi.

Ngược lại, truyền thông đã dành sự quan tâm rất lớn. Mọi sự kiện đều được phát sóng trực tiếp, kể cả trên kênh truyền hình quốc gia. Người dân Algeria đã theo dõi; tại mỗi ngôi làng, họ đã sống trọn hai ngày theo nhịp điệu của chuyến viếng thăm. Tôi đã không nhận ra mức độ sâu rộng của điều đó. Cho đến tận hôm nay, tôi vẫn liên tục nhận được liên lạc từ những người muốn bày tỏ lời cảm ơn. Có người nói với tôi: “Khi nhìn ngài rời đi sau hai ngày, con có cảm giác như đang tiễn một người bạn.”


Chuyến đi này có đánh dấu một giai đoạn mới trong tiến trình đối thoại giữa người Hồi giáo và cộng đồng Kitô giáo nhỏ bé tại đây không?

ĐHY Vesco: Tôi muốn nói rằng chuyến đi này đã mang lại một niềm tự hào, sự cởi mở và lòng biết ơn. Tất cả những suy tư tôi được nghe, tất cả những thông điệp tôi nhận được, đều đi theo cùng một hướng: "Ngài đã đến thăm chúng ta". Họ không nói: "Các bạn có vui không?" Toàn bộ sự khác biệt nằm ở giữa chữ "các bạn" và "chúng ta" này. Điều đó hết sức tích cực, và tôi nghĩ rằng, theo một nghĩa nào đó, cuộc hành trình thực sự bắt đầu từ lúc Đức Giáo hoàng rời đi. Chúng tôi đã cùng nhau hoàn thành một điều sẽ trở thành cột mốc lịch sử trong đời sống của đất nước này.

Khi tôi hỏi Đức Hồng y Cristobal López Romero, Tổng Giám mục Rabat, về đánh giá của ngài đối với chuyến thăm Maroc của Đức Giáo hoàng Phanxicô, ngài nói rằng chúng ta không nên mong đợi “một cuộc cách mạng, nhưng là một sự tiến triển.” Và đó chính là điều mà chúng ta có quyền hy vọng.


Một thông điệp về hòa bình và tình huynh đệ

Theo Đức Hồng y, đâu là thông điệp chính mà Đức Lêô XIV đã để lại cho Algeria?

ĐHY Vesco: Tôi xin đề cập đến hai khoảnh khắc đặc biệt mạnh mẽ. Khoảnh khắc thứ nhất diễn ra tại Đài tưởng niệm các vị Tử đạo. Đức Thánh cha không hành động như bất kỳ một vị nguyên thủ quốc gia nào với việc đặt vòng hoa trong thinh lặng. Ngài đã trực tiếp ngỏ lời với người dân tại địa điểm mang tính biểu tượng rất cao này của nền độc lập, và ngài đã nói những lời rất mạnh mẽ, mà theo tôi, chưa từng có một người nước ngoài nào nói ra.

Ngài nhìn nhận tầm quan trọng của cuộc đấu tranh giành độc lập của Algeria, đồng thời cảnh báo rằng cuộc đấu tranh đó phải dẫn đến sự bình an trong tâm hồn, là điều chỉ có thể đạt qua việc tha thứ đầy khó khăn. Ngài nói thêm rằng chúng ta không thể tiếp tục chồng chất xung đột lên xung đột. Tôi nghĩ đất nước này cần được nghe những lời ấy, những lời nhìn nhận cuộc đấu tranh giành độc lập của họ và giá trị của lịch sử họ.

Khoảnh khắc thứ hai là chuyến viếng thăm Đền thờ lớn Hồi giáo Algiers. Chúng tôi đã không chọn tổ chức một hội nghị Hồi giáo–Kitô giáo, mà đơn giản là trải nghiệm một giây phút của lòng hiếu khách thiêng liêng.

Đức Giáo hoàng và vị viện trưởng, hai con người trong y phục trắng, đứng vai kề vai… từ xa, anh không thể phân biệt ai là người Hồi giáo và ai là người Kitô hữu. Khung cảnh ấy đã tự nói lên tất cả. Thế giới đang cần điều này; đối với tôi, đó là một cử chỉ tối hậu.

Xin kể một chi tiết nhỏ: sau khi đi qua sảnh cầu nguyện của đền thờ, liền có cuộc chụp ảnh. Tôi đứng bên trái vị viện trưởng, và bất chợt ngài nắm lấy tay tôi. Trước hàng loạt máy ảnh, không một chút phô trương, ngài nắm tay tôi suốt hai phút. Điều đó thật ấn tượng.

Sau khi Đức Giáo hoàng rời đi, tôi đã gửi tới ngài viện trưởng một thông điệp để cảm ơn sự đón tiếp và cử chỉ mà ngài đã dành cho tôi. Ngài hồi đáp bằng một lá thư, mà tiêu đề bằng tiếng Ả Rập ghi rằng: “Kính gửi Đức Hồng y, người anh em Jean-Paul Vesco.” Những cử chỉ ấy minh chứng cho sự chân thật của những gì đã được trải nghiệm giữa Đức Thánh cha và vị viện trưởng.


Một vị Giáo hoàng đáng tin cậy và đầy quan tâm

Đức Hồng y đã có nhiều ngày ở gần bên Đức Giáo hoàng. Theo Đức Hồng y, điều gì nổi bật nhất nơi con người và phong thái của ngài?

ĐHY Vesco: Tôi cảm nhận ngài vô cùng ân cần, luôn gần gũi trong từng cử chỉ và từng khoảnh khắc. Ngài không phải là người bộc lộ cảm xúc mạnh mẽ, nhưng lại rất tinh tế trong quan sát. Điều đó rất rõ ràng, và anh cũng có thể cảm nhận được điều đó qua cách ngài nhìn mọi người, qua cách ngài mỉm cười với họ. Ánh mắt của Đức Thánh Cha Lêô rất đặc biệt. Nó vừa dịu dàng vừa đầy nhân từ.

Một số người cho rằng chuyến đi đến châu Phi là bước ngoặt của triều đại giáo hoàng này. Đức Hồng y có đồng tình với nhận định đó không?

ĐHY Vesco: Không. Tôi nghĩ Đức Robert Prevost không phải là con người của những bước ngoặt. Ngài là một người rất thẳng thắn theo tất cả ý nghĩa của từ này. Tôi không thấy một bước ngoặt nào theo nghĩa có sự thay đổi trong các hành động hay cử chỉ của ngài.

Chuyến đi này đã bộc lộ chính vị Giáo hoàng như ngài vốn là ngay từ ngày đầu tiên. Ngài là một vị Giáo hoàng đang ngày càng định hình rõ nét. Ngài là người có những bước đi lớn, là người học hỏi rất nhanh. Bây giờ, ngài đã thẳng thắn hơn nhiều, phản ứng nhanh nhạy hơn nhiều trong các cuộc gặp gỡ với đám đông. Anh cũng cảm nhận được rằng ngài đang thể hiện một lập trường ngày càng vững chắc đối với vấn đề hòa bình và công lý.

Vị tiền nhiệm của ngài, Đức Phanxicô, đã biến tính cách khó đoán trước thành một cách sống Tin Mừng, điều mà đôi khi có thể tạo ra những xáo trộn — đôi khi lại là những xáo trộn hữu ích. Tôi nghĩ Đức Lêô XIV sẽ ngược lại. Ngài rất đáng tin cậy và kiên định. Ngài nói những gì ngài làm; ngài làm những gì ngài nói. Đó chính là những gì đã diễn ra trong chuyến đi tới Algeria này.

Vào ngày ngài được tuyển chọn, khi tôi nói với ngài rằng ngày 8 tháng 5 là lễ các Chân phước Tử đạo của Algeria, và tôi hy vọng ngài sẽ là vị giáo hoàng đầu tiên đến thăm đất nước này, ngài đáp lại: "Nếu được mời, tôi sẽ rất vui lòng đến". Vài ngày sau, tôi được biết trong buổi tiếp kiến ngoại giao đoàn, ngài đã ngỏ lời với Đại sứ Algeria tại Tòa thánh rằng ngài mong muốn được đến thăm đất nước này. Thư mời được chuẩn bị ngay lập tức. Đó chính là phong cách của Đức Lêô XIV.


Một con người của sự hiệp nhất và tổng hợp

Đức Hồng y là một trong các hồng y tham dự mật nghị đã bầu chọn ngài cách đây một năm. Đức Hồng y nhìn nhận năm đầu tiên của triều đại giáo hoàng này như thế nào?

ĐHY Vesco: Rõ ràng năm đầu tiên này đã được theo dõi rất sát sao. Chúng tôi đã chứng kiến ngài trở thành Giáo hoàng ngay trước mắt mình. Tôi rất ấn tượng bởi cách ngài khoác lên mình “phẩm phục giáo hoàng.”

Ngài có sự khiêm nhường đặc biệt, đón nhận những gì được trao đến cho mình như là trách vụ của một vị Giáo hoàng. Nhưng dần dần, ngài đang thực hiện điều đó theo cách riêng của ngài. Đó là một khối công việc khổng lồ khi đảm nhận một vị trí như vậy, mà đã có thể an định vững vàng như thế trong vai trò.

Không phải là tiết lộ bí mật khi nói rằng mật nghị đã chọn một chân dung phù hợp với ước ước muốn thầm kín của các hồng y là nhìn thấy Giáo hội tiến tới sự hiệp nhất lớn hơn. Rõ ràng, trong chính con người và những gì ngài làm, Đức Lêô XIV là một con người của sự hiệp nhất. Nhưng ngài không phải là người của những thỏa hiệp; đúng hơn, ngài là người của những tổng hợp.


Sự khôn ngoan táo bạo cho một thế giới phức tạp

Đức Hồng y hình dung những năm sắp tới như thế nào?

ĐHY Vesco: Từ sâu thẳm tâm hồn, ngài là một vị Giáo hoàng của hòa bình, người sẽ tiếp tục tiến bước trong một thế giới ngày càng phức tạp, ngày càng nguy hiểm — một thế giới có thể bùng nổ bất cứ lúc nào. Và trong thế giới đó, ngài đại diện cho một vị Giáo hoàng vững vàng, đưa ra những câu trả lời đơn sơ nhưng đặt nền móng trên lương tri.

Đức Thánh cha Phanxicô, với những "vũ khí công thành" của mình, đã phá vỡ nhiều cánh cửa — những cánh cửa chắc chắn cần phải được phá vỡ. Đức Lêô XIV không như vậy. Ngài không vội vàng trong các việc. Ngài lắng nghe, phân định, quyết định, nhưng tôn trọng con người. Một cách nghịch lý, ngài là một vị Giáo hoàng có phần dễ đoán trước, nhưng lại là người "sẽ làm chúng ta ngạc nhiên"!


Theo nghĩa nào?

ĐHY Vesco: Theo tôi, ngài là người có uy quyền lớn lao, và uy quyền ấy càng khó bị phủ nhận hơn vì ngài không phải là người thái quá. Ngài sẽ có thể nói và làm những điều rất quan trọng, trong khi vẫn giữ được sự chừng mực. Ngài sẽ có thể kiến tạo sự hiệp nhất, một sự hiệp nhất đạt được nhờ một hình thức “khôn ngoan táo bạo.”

Chúng ta có thể dẫn chứng, ví dụ như câu trả lời của ngài cho các ký giả liên quan đến việc chúc lành cho các đôi đồng giới. Ngài đã nói cách không quanh co, dung hòa giữa một Giáo hội chào đón và lập trường giáo lý hiện hành về các phép lành mang tính nghi thức chính thức. Ngài tái khẳng định rằng bất kể hoàn cảnh sống hay điều kiện gia đình của một người như thế nào, mọi người đều có quyền đón nhận phúc lành của Chúa. Đó chính là quan điểm của Đức Phanxicô, với di sản mà ngài tiếp nhận. Đồng thời ngài kêu gọi mọi người không biến luân lý tính dục thành nguồn gây chia rẽ trong Giáo hội.


Xây dựng Hồng y đoàn

Trong vài tuần tới, Đức Hồng y sẽ gặp lại Đức Lêô XIV tại công nghị tháng Sáu ở Rôma, nơi quy tụ tất cả các vị Hồng y đã bầu chọn ngài, giống như hồi tháng Giêng vừa qua. Đức Hồng y mong đợi điều gì trong cuộc gặp gỡ này?

ĐHY Vesco: Chúng tôi chưa nhận được chỉ dẫn đặc biệt nào. Với những cuộc gặp như thế, Đức Lêô XIV đơn giản là đang xây dựng một Hồng y đoàn. Ngài biết, cũng như chúng tôi biết, rằng khi bước vào mật nghị, chúng tôi hầu như không biết nhau. Ngoại trừ những vị thuộc Giáo triều Rôma, tất cả chúng tôi phần lớn đều là những người mới đến.

Đóng góp to lớn của công nghị đầu tiên là làm việc theo nhóm và làm quen với nhau vượt qua những khác biệt về sự nhạy cảm. Nhờ đó, Đức Giáo hoàng sẽ có một Hồng y đoàn thực sự, gồm những vị đến từ bốn phương trời trên trái đất và biết nhau như anh em.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 13/05/2026]


Thứ Tư, 13 tháng 5, 2026

Phỏng vấn Chủ tịch Hội đồng Giám mục Cameroon

Phỏng vấn Chủ tịch Hội đồng Giám mục Cameroon

Biến hòa bình thành hiện thực

Phỏng vấn Chủ tịch Hội đồng Giám mục Cameroon

07 tháng 05 năm 2026

Tại Cameroon, chặng thứ hai trong chuyến Tông du châu Phi, Đức Thánh cha Lêô đã đưa ra nhiều lời kêu gọi mạnh mẽ: kêu gọi hòa bình cho các vùng nói tiếng Anh của đất nước đang gặp bất ổn, kêu gọi đổi mới cam kết nhằm đẩy lùi nạn tham nhũng, và kêu gọi kiến tạo một tương lai cho giới trẻ của quốc gia này. Những lời ấy sẽ tạo nên ảnh hưởng như thế nào? Vatican News đã đặt câu hỏi này với Đức cha Andrew Nkea Fuanya, Tổng Giám mục Bamenda, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Cameroon, người đã mô tả chuyến viếng thăm này là “một phúc ân lớn lao”.

Dưới đây là bản ghi cuộc phỏng vấn đã được biên tập một chút.

Chuyến viếng thăm của Đức Thánh cha đã diễn ra như thế nào?

Đó là một cơ hội tuyệt vời đối với chúng tôi, và người dân Cameroon vô cùng hạnh phúc khi được đón tiếp Đức Thánh cha. Ngài đến đây với một thông điệp rất mạnh mẽ cho Cameroon và cho người dân Cameroon; anh có thể thấy qua các bài diễn văn của ngài rằng ngài đến đây với quyết tâm trao cho chúng tôi một phần của học thuyết xã hội của Giáo hội. Chúng tôi đã lắng nghe. Chúng tôi vô cùng hạnh phúc vì chuyến viếng thăm đã diễn ra tốt đẹp như vậy, và ở khắp mọi nơi, dân chúng đã đổ ra rất đông, nhưng không ghi nhận bất kỳ sự cố nào. Trên hết, chúng tôi nhận thấy rằng ở cả ba địa điểm đều không có mưa. Thời tiết thật đẹp, vì vậy đối với chúng tôi, đó là dấu chỉ cho thấy chính Thiên Chúa đã chúc lành cho chuyến viếng thăm với sự thành công mà chúng tôi đang cảm nhận lúc này.

Một trong những nơi Đức Giáo hoàng tới thăm là Bamenda, nơi Đức cha đang là Tổng Giám mục. Đức cha có thể chia sẻ đôi chút về tầm quan trọng của chuyến thăm đó từ Đức Giáo hoàng, và thông điệp mà ngài để lại?

Đó là một thông điệp rất quan trọng đối với chúng tôi, bởi không ai có thể thấu hiểu đầy đủ những gì chúng tôi đã trải qua ở Bamenda ngoại trừ những người sống tại đó. Mọi người đọc tin tức trên mạng xã hội, mọi người nghe các câu chuyện, nhưng những người chúng tôi đang sống tại đó thì sống trong tình trạng sang chấn tâm lý.

Trong khoảng tám năm, Bamenda gần như bị bỏ quên. Sân bay của chúng tôi không hoạt động, đường sá hư hỏng, hệ thống nước không chảy. Vì vậy, việc Đức Giáo hoàng đến, và tất cả những điều này bắt đầu vận hành trở lại, là một điều vô cùng lớn lao đối với chúng tôi. Chính anh cũng có thể chứng kiến người dân vui mừng như thế nào. Đã lâu lắm rồi chúng tôi không nhìn thấy cảnh tượng đó. Một phần quan trọng khác trong thông điệp của Đức Thánh cha liên quan đến giới trẻ — ngài khuyến khích họ không từ bỏ đất nước, hãy có niềm hy vọng vào tương lai. Một trong những vấn đề lớn nhất mà giới trẻ chúng tôi đang đối mặt là nạn thất nghiệp. Nhiều thanh niên tốt nghiệp với những bằng cấp rất tốt, nhưng lại không có việc làm. Và thứ đến là vấn đề di cư. Vì không có việc làm, họ chỉ nghĩ đến chuyện ra nước ngoài bằng đủ mọi cách, cố gắng băng qua sa mạc Sahara, hoặc tìm cách ẩn mình trong khoang bánh xe của máy bay. Thông điệp của Đức Thánh cha đến rất đúng lúc, đối với cả giới trẻ lẫn các nhà chức trách của chính quyền: hãy đầu tư vào người trẻ như là niềm hy vọng cho tương lai của mỗi quốc gia.

Đức Thánh cha cũng kêu gọi những người nắm giữ quyền lực, kêu gọi họ không quên trách nhiệm đối với những người kém may mắn hơn. Anh thấy đấy, một trong những vấn đề lớn mà nhiều quốc gia đang phát triển gặp phải là cách phân chia “chiếc bánh quốc gia”. Công ích là điều có tầm quan trọng sống còn đối với mọi quốc gia đang phát triển. Nếu một nhóm nhỏ bắt đầu hưởng thụ “chiếc bánh quốc gia” một mình, thì họ đang ủ mầm bất ổn cho cả đất nước. Do đó, các công tác xã hội mà Giáo hội đang thực hiện, cũng như việc tạo công ăn việc làm cho người trẻ của chúng tôi, là điều vô cùng quan trọng. Trên hết, chúng tôi phải lấy công ích làm định hướng nền tảng cho mọi hành động. Chúng tôi phải đặt câu hỏi điều gì là tốt cho toàn thể người dân Cameroon — chứ không phải điều gì tốt cho bộ tộc của tôi hay bạn bè của tôi.

Tất cả chúng ta đều đã nghe những lời rất mạnh mẽ của Đức Thánh cha. Theo Đức cha, cần phải làm gì để những lời ấy sinh hoa trái, để thông điệp ấy được đưa vào hành động?

Khi Đức Thánh cha đến một nơi nào đó, đó là một biến cố. Nhưng quả thật, biến cố đó không quan trọng bằng những gì diễn ra sau đó. Đức Thánh cha đã có những bài diễn văn và sứ điệp. Tất cả chúng tôi đều đã vỗ tay. Tất cả chúng tôi đều hạnh phúc. Nhưng rồi tiếp theo là gì? Câu hỏi đó rất quan trọng đối với tất cả chúng tôi. Tôi nghĩ rằng trên toàn đất nước, chúng tôi phải ngồi lại để suy ngẫm tất cả những sứ điệp đó. Và thứ đến, chúng tôi phải xem những gì là cần để có thể triển khai chúng. Tôi xin nêu một ví dụ. Tại Bamenda, ngài nói rằng thời điểm cho hòa bình là ngay bây giờ, không phải là ngày mai. Và anh thấy rằng người dân Bamenda chúng tôi phải bắt đầu suy tư một cách cụ thể về sứ điệp ấy. Nếu thời điểm của hòa bình là ngay bây giờ, thì làm thế nào để biến cái “ngay bây giờ” thành hiện thực?

Chúng tôi thực sự phải thành lập các ủy ban để nghiên cứu cách thức thực thi những lời của Đức Giáo hoàng và xem làm thế nào chúng tôi có thể biến nền hòa bình đó thành hiện thực. Làm thế nào để chúng tôi đối thoại với những người ly khai đang ở trong rừng, và làm thế nào để những người ly khai đó có thể đối thoại với chính phủ? Vì vậy, đây là những việc mà chúng tôi, các thành viên của xã hội dân sự và Giáo hội, phải thực hiện để bảo đảm rằng những lời của Đức Giáo hoàng không bị lãng phí. Hôm nọ tôi có nói chuyện với một linh mục ở Bamenda, tôi nói rằng chúng tôi phải soạn thảo một sách “giáo lý hòa bình” của Đức Thánh cha Lêô cho người dân tại đó. Chúng tôi phải để Văn phòng Giáo lý ngồi lại và nghiên cứu thông điệp này của Đức Thánh cha, chuyển nó thành một bản giáo lý, để mọi người có thể thấy Đức Giáo hoàng đã nói gì với chúng tôi, và chúng tôi có thể lựa chọn đường hướng hành động nào.

Đức cha có hy vọng rằng chuyến thăm này có thể mang lại hoa trái không?

Đó không chỉ là niềm hy vọng mà tôi có. Đó là niềm tin rằng chuyến viếng thăm đã bắt đầu sinh hoa trái, và hoa trái đó sẽ tiếp tục. Trong suốt tám năm qua, sân bay Bamenda bị đóng cửa. Tôi đã đáp máy bay của Đức Giáo hoàng tới Bamenda, đây là lần đầu tiên tôi tới đó bằng phi cơ. Đột nhiên sân bay được mở cửa. Các trang thiết bị hiện đại hoạt động trở lại. Đó là một phép lạ! Nếu Đức Giáo hoàng không đến, tôi có thể cam đoan với anh điều đó sẽ không bao giờ xảy ra.

Chúng tôi đã phải đối mặt với những con đường rất xấu và hư hỏng, vậy mà đột nhiên các con đường ở Bamenda bắt đầu được trải nhựa. Người ta đang sửa sang đường sá, lắp đặt đèn đường. Đây là một phép lạ! Chúng tôi đã không thấy điều này trong suốt mười năm qua. Vì vậy, chúng tôi không còn đợi chuyến viếng thăm này sinh hoa trái nữa. Chuyến viếng thăm đã bắt đầu sinh hoa trái trước cả khi Đức Giáo hoàng đến.

Đây là lần đầu tiên trong mười năm qua chính phủ và các nhóm ly khai nói cùng một ngôn ngữ. Trước đây, nếu chính phủ nói “có”, phe ly khai nói “không”, và nếu chính phủ nói “mọi người hãy ra đường”, thì phe ly khai sẽ nói không ai được ra ngoài. Nó như một trò chơi vậy. Nhưng với sự hiện diện của Đức Giáo hoàng, cả chính phủ và phe ly khai đều nói: “Mọi người hãy ra ngoài. Mọi người hãy chào đón Đức Giáo hoàng”. Đây là một phép lạ lớn lao khác. Chúng tôi chưa từng thấy điều này trong mười năm qua.

Con người của Đức Giáo hoàng đã trở thành yếu tố hiệp nhất mạnh mẽ nhất đối với những bên đang xung đột, bởi vì cả hai phía đều kính trọng ngài. Cả hai phía đều bước ra để đón tiếp ngài, và cả hai phía đều sẵn sàng lắng nghe thông điệp của ngài. Đây là một phép lạ. Và mặc dù anh không thể nhận diện được họ, nhưng đám đông ở Bamenda quá lớn đến mức chắc chắn có những người ly khai trong đó — điều này có nghĩa là họ cũng đã ở trên đường để reo mừng khi Đức Giáo hoàng đi qua. Vì vậy, trong khi chúng tôi đang hy vọng có được một nền hòa bình bền vững và dài lâu, tôi nghĩ rằng việc Đức Giáo hoàng đến đã mang lại cho chúng tôi một phúc lành lớn lao, và chúng tôi đã bắt đầu nhìn thấy những dấu chỉ của hòa bình.

(Joseph Tulloch thực hiện — Yaoundé)



[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 12/05/2026]


Phỏng vấn Chủ tịch Hội đồng Giám mục Angola và São Tomé

Phỏng vấn Chủ tịch Hội đồng Giám mục Angola và São Tomé

Lời mời gọi Dấn thân cho Công lý

Phỏng vấn Chủ tịch Hội đồng Giám mục Angola và São Tomé


07 tháng 05, 2026


Đức Tổng Giám mục José Manuel Imbamba, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Angola và São Tomé, đồng thời là Tổng Giám mục Giáo phận Saurimo, đã chia sẻ suy tư về chuyến viếng thăm Angola của Đức Thánh cha Lêô XIV trong cuộc phỏng vấn với truyền thông Vatican.


Chuyến viếng thăm Angola của Đức Thánh cha Lêô XIV mang ý nghĩa gì đối với Angola?

Đó là một cơ hội tuyệt vời, bởi vì Đức Thánh cha đã có thể trải nghiệm phần nào vẻ đẹp của đức tin, của nền văn hóa và của đời sống xã hội chúng tôi. Đó là một thời khắc tràn ngập niềm vui, của sự đón tiếp và của tinh thần chia sẻ tất cả những gì Tin Mừng mang đến cho chúng ta. Ngài đã dẫn dắt chúng tôi suy tư về căn tính của chúng tôi trong tư cách là Kitô hữu và là công dân, và thông điệp của ngài dành cho chúng tôi vô cùng mạnh mẽ: đừng né tránh điều chúng ta được mời gọi thực hiện với tư cách là những môn đệ của Đức Kitô. Sứ điệp của ngài gửi đến thế giới — về hòa bình, công lý và tình liên đới — cũng rất mạnh mẽ. Cá nhân tôi thấy hết sức mãn nguyện với tất cả những hoa trái mà chúng tôi đã đón nhận từ chuyến viếng thăm của Đức Thánh cha.


Giáo hội Angola sẽ tiến bước như thế nào từ nay về sau?

Giáo hội sẽ tiến bước trong niềm vui và hy vọng, như Đức Thánh cha đã mời gọi chúng tôi, không trốn tránh trước vô vàn thách đố. Chúng tôi phải tiếp tục gieo rắc Tin Mừng của công lý, tình yêu, hòa bình và hòa giải. Tin Mừng ấy phải trở thành cơ hội cho sự hoán cải đích thực, tránh xa tính hời hợt và mê tín. Để sự hoán cải của chúng ta trở nên chân thực, chúng ta phải hết lòng theo bước Chúa Giêsu Kitô trong hành động của mình, luôn hướng nhìn về Thiên Chúa, Đấng là Tình yêu.


Sứ điệp nào của Đức Thánh cha Lêô đặc biệt quan trọng cần được đón nhận và thực hành?

Đó là sứ điệp không để người khác phải sống trong cảnh nghèo đói. Chúng ta phải biết chia sẻ với tha nhân tất cả những gì Thiên Chúa đã ban cho mình. Nói "không" với bóc lột, không ích kỷ, không chủ nghĩa cá nhân. Chúng ta phải tôn trọng phẩm giá và sự phát triển toàn diện của mỗi con người. Lời kêu gọi của ngài cũng hướng đến các nhà lãnh đạo: hãy dấn thân cho công lý, biết trân trọng người khác, biết gặp gỡ và đối thoại — tất cả những gì góp phần xây dựng tình huynh đệ giữa chúng ta.


Giáo hội tại Angola hôm nay cần trở nên mạnh mẽ hơn trong những lãnh vực nào?

Giáo hội phải củng cố chính mình, như Đức Thánh cha cũng đã yêu cầu khi ngài gặp gỡ chúng tôi — các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ và các nhân viên mục vụ — tại giáo xứ Đức Mẹ Fatima ở Luanda. Chúng tôi phải trở thành những chứng nhân — những chứng nhân của niềm vui và của tình yêu Thiên Chúa. Chúng tôi phải trưởng thành trong sứ mạng, trong việc lắng nghe người nghèo và tất cả những ai đang bị gạt ra bên lề. Trên hết, chúng tôi phải củng cố việc đào tạo các linh mục và tu sĩ. Chúng tôi phải sống cách nhất quán và nỗ lực trở thành dấu chỉ ơn cứu độ giữa anh chị em mình.


Angola và Giáo hội tại đây đang cần điều gì nhất?

Angola cần hòa bình xã hội — một nền hòa bình bảo đảm cho mỗi gia đình có đủ những gì cần thiết để sống và phát triển. Hiện vẫn còn những xung đột ngăn cản chúng tôi chia sẻ các ân ban, những tài nguyên và sự phong phú văn hóa mà đất nước đang sở hữu. Chúng tôi phải hợp nhất trí tuệ, ý chí, sức mạnh và những nguồn năng lượng tích cực để đưa Angola thoát khỏi tình trạng nghèo nàn về nhân học, xã hội, văn hóa và kinh tế — một sự nghèo nàn trong não trạng. Angola có mọi điều kiện cần thiết để được hạnh phúc, để phát triển, và để chia sẻ những gì Thiên Chúa đã ban cho những người con của đất nước. Đây là một nỗ lực mà tất cả chúng tôi phải cùng nhau thực hiện, để Giáo hội có thể trở thành tiếng nói giáo dục lương tâm — một tiếng nói khơi dậy những suy nghĩ tốt đẹp hơn và xây dựng những nhịp cầu, để mọi người có thể đến với nhau cùng chung một lý tưởng, cùng bước đi trên một con đường, hướng tới sự khôn ngoan xã hội mà tất cả chúng ta đều phải tìm kiếm.


Những lời nào của Đức Thánh cha Lêô cần được ghi nhớ cách đặc biệt?

Trên hết là niềm hy vọng. Là thái độ tích cực, lòng hiếu khách, sự kính trọng người già, và sống đức tin mà không có mê tín. Xây dựng hòa bình trên nền tảng của Tin Mừng và nuôi dưỡng tình bằng hữu mà tất cả chúng ta được mời gọi sống trong Đức Giêsu Kitô. Những lời của ngài về niềm hy vọng là những lời khích lệ dành cho tất cả mọi người — đặc biệt là những người trẻ, họ không được sợ hãi khi tìm kiếm Đức Kitô, đón nhận Người vào cuộc đời của họ, và vượt qua những khó khăn mà họ gặp phải trên hành trình cuộc sống.

(Tiziana Campisi thực hiện — Luanda)



[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 11/05/2026]


Tiếp kiến các tham dự viên Hội nghị chuyên đề do Bộ Đối thoại Liên tôn và Viện Hoàng gia Nghiên cứu Liên tôn tổ chức, 11.05.2026

Tiếp kiến các tham dự viên Hội nghị chuyên đề do Bộ Đối thoại Liên tôn và Viện Hoàng gia Nghiên cứu Liên tôn tổ chức, 11.05.2026

Tiếp kiến các tham dự viên Hội nghị chuyên đề do Bộ Đối thoại Liên tôn và Viện Hoàng gia Nghiên cứu Liên tôn tổ chức, 11.05.2026

*******

Sáng nay, tại Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh cha Lêô XIV đã tiếp kiến các tham dự viên Hội nghị chuyên đề do Bộ Đối thoại Liên tôn và Viện Hoàng gia Nghiên cứu Liên tôn tổ chức.

Sau đây là diễn văn của Đức Thánh cha gửi tới những người hiện diện trong buổi gặp gỡ:


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Bình an cho anh chị em.
Chào mừng anh chị em.

Thưa Hoàng tử Hasan bin Talal,
Anh chị em thân mến,

Tôi rất vui mừng được chào đón tất cả anh chị em và bày tỏ lòng cảm kích về sự hiện diện của anh chị em tại đây nhân dịp hội nghị chuyên đề lần thứ tám này, do Bộ Đối thoại Liên tôn và Viện Hoàng gia Nghiên cứu Liên tôn đồng tổ chức.

Chủ đề mà anh chị em đã chọn cho năm nay, “Lòng trắc ẩn và sự đồng cảm của con người trong thời đại hiện nay”, đặc biệt mang tính thời sự cho thế giới chúng ta hôm nay. Quả thật, đây không phải là những tình cảm thứ yếu, mà là những thái độ cốt lõi của cả hai truyền thống tôn giáo chúng ta, đồng thời là những yếu tố quan trọng định nghĩa một đời sống con người đích thực. Truyền thống Hồi giáo liên kết lòng trắc ẩn, ra’fa, với lòng thương xót như một ân ban Thiên Chúa đặt vào tâm hồn các tín hữu; và một trong những tên gọi thần linh là al-Ra’uf nhắc nhở chúng ta rằng lòng trắc ẩn luôn bắt nguồn từ chính Thiên Chúa.

Tương tự như vậy, trong truyền thống Kitô giáo, Thánh Kinh mặc khải một Thiên Chúa không thờ ơ trước nỗi đau khổ, nhưng phán với ông Môsê rằng: “Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta... Ta đã nghe tiếng chúng kêu than” (Xh 3:7). Nơi Chúa Giêsu Kitô, lòng trắc ẩn thần linh này trở nên hữu hình và cụ thể. Thiên Chúa không dừng lại ở việc nhìn thấy và nghe thấy, nhưng Người đã mặc lấy bản tính nhân loại của chúng ta để trở thành hiện thân sống động của lòng trắc ẩn. Noi gương Chúa Giêsu, lòng trắc ẩn của người Kitô hữu trở thành sự chia sẻ hay “cùng đau khổ” với tha nhân, đặc biệt là với những người chịu nhiều thiệt thòi nhất. Chính vì thế, “lòng yêu thương dành cho người nghèo – dưới bất kỳ hình thức nghèo khổ nào – là dấu ấn Tin Mừng của một Giáo hội trung thành với trái tim của Thiên Chúa” (Dilexi Te, 103).

Đối với các truyền thống của chúng ta, lòng trắc ẩn và sự đồng cảm của con người không phải là điều phụ thêm hay tùy chọn, nhưng là tiếng gọi từ Thiên Chúa để phản chiếu sự thiện hảo của Người trong đời sống thường ngày của chúng ta.

Do đó, niềm tin này mang những hệ quả xã hội. Đức Giáo hoàng Lêô XIII dạy rằng người nghèo và người bị gạt ra bên lề xứng đáng nhận được sự quan tâm và giúp đỡ đặc biệt từ xã hội và nhà nước (x. Rerum Novarum, 37). Về điểm này, tôi xin bày tỏ sự trân trọng đối với những nỗ lực quảng đại của Vương quốc Hashemite Jordan trong việc đón nhận người tị nạn và hỗ trợ những người thiếu thốn trong các hoàn cảnh khó khăn.

Các bạn thân mến, thật đáng buồn, lòng trắc ẩn và sự đồng cảm ngày nay đang đứng trước nguy cơ biến mất. Những tiến bộ công nghệ giúp chúng ta được kết nối hơn bao giờ hết, nhưng chúng cũng có thể dẫn đến sự thờ ơ. Dòng chảy liên tục của những hình ảnh và video về nỗi khốn khó của người khác có thể làm chai cứng trái tim chúng ta thay vì làm chúng lay động. Đức Giáo hoàng Phanxicô cảnh báo rằng “chúng ta đã trở nên quen với nỗi đau của người khác [và nghĩ rằng]: điều đó không liên quan đến tôi, tôi không quan tâm, đó không phải việc của tôi” (Bài giảng, Lampedusa, ngày 8 tháng 7 năm 2013). Thái độ vô cảm này đang trở thành một trong những thách đố tinh thần nghiêm trọng nhất của thời đại chúng ta.

Trong bối cảnh đó, người Kitô hữu và người Hồi giáo, kín múc từ sự phong phú của các truyền thống của mình, được mời gọi thực hiện một sứ mạng chung: làm hồi sinh nhân tính ở những nơi nó đã trở nên nguội lạnh, lên tiếng cho những ai đang đau khổ và biến sự thờ ơ thành tình liên đới. Lòng trắc ẩn và sự đồng cảm có thể trở thành khí cụ của chúng ta, vì chúng có sức mạnh khôi phục phẩm giá của tha nhân.

Tôi hy vọng rằng Jordan sẽ tiếp tục là chứng nhân sống động cho lòng trắc ẩn này, cũng như là dấu chỉ của đối thoại, liên đới và hy vọng trong một khu vực đang chịu nhiều thử thách.

Ước mong sự cộng tác của chúng ta sinh hoa kết trái qua những cử chỉ cụ thể của hòa bình, sự đồng cảm và tình huynh đệ.

Cảm ơn anh chị em!

Và, cũng như trong các truyền thống của chúng ta, chúng ta tìm kiếm hòa bình như một trong những phúc lành quan trọng nhất của Thiên Chúa, tôi khẩn xin phúc lành của Thiên Chúa đổ xuống trên tất cả anh chị em.

Chúa ở cùng anh chị em. Xin phúc lành của Thiên Chúa Toàn Năng là Cha, và Con, và Thánh Thần ngự xuống trên anh chị em và ở lại cùng anh chị em luôn mãi. Amen.

Cảm ơn anh chị em rất nhiều.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 12/05/2026]


Tiếp kiến các thành viên Hội đồng Quản trị của Quỹ Đài Thiên văn Vatican, 11.05.2026

Tiếp kiến các thành viên Hội đồng Quản trị của Quỹ Đài Thiên văn Vatican, 11.05.2026

Tiếp kiến các thành viên Hội đồng Quản trị của Quỹ Đài Thiên văn Vatican, 11.05.2026

*******

Sáng nay, tại Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh cha Lêô XIV đã tiếp kiến các thành viên Hội đồng Quản trị Quỹ Đài Thiên văn Vatican và gửi đến họ diễn văn sau đây:

Diễn văn của Đức Thánh Cha


Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.
Bình an cho anh chị em.

Kính thưa Đức Hồng y,
Thưa Chủ tịch Chính quyền Thành quốc Vatican,
Các bạn thân mến,
Anh chị em thân mến,

Tôi vô cùng cảm kích khi được gặp gỡ anh chị em, các thành viên của Quỹ Đài Thiên văn Vatican, và tôi cảm ơn sự hỗ trợ trung thành và quảng đại của anh chị em đối với công việc của Đài Thiên văn Vatican – một định chế quý giá của Thành quốc Vatican trong việc phục vụ Tòa thánh và Giáo hội Hoàn vũ. Một trăm ba mươi lăm năm trước, vị tiền nhiệm của tôi là Đức Thánh cha Lêô XIII đã tái thiết lập Đài Thiên văn Vatican để “mọi người có thể thấy rõ rằng Giáo hội và các Mục tử của Giáo hội không chống lại khoa học chân chính và vững chắc, dù là thuộc về con người hay thần linh, nhưng trái lại các ngài đón nhận, khuyến khích và thúc đẩy khoa học với sự tận tâm cao nhất có thể” (Ut Mysticam, 14 tháng 3 năm 1891).

Trong kỷ nguyên đó, khoa học càng lúc càng được trình bày như một nguồn chân lý đối nghịch với tôn giáo, vì thế Giáo hội cảm thấy nhu cầu cấp thiết phải phản bác quan niệm ngày càng lan rộng rằng đức tin và khoa học là hai thù địch.

Nhưng ngày nay, cả khoa học và tôn giáo đều đang đối mặt với một mối đe dọa khác và có lẽ còn nguy hiểm hơn: đó là những người phủ nhận chính sự hiện hữu của chân lý khách quan. Quá nhiều người trong thế giới của chúng ta từ chối nhìn nhận điều mà cả khoa học và Giáo hội đều giảng dạy cách rõ ràng – rằng chúng ta mang trọng trách trong việc quản trị hành tinh này, và chăm lo cho hạnh phúc của những người cư ngụ trên đó, đặc biệt là những người dễ bị tổn thương nhất với cuộc sống đang bị đe dọa bởi sự khai thác vô trách nhiệm đối với cả con người và thế giới tự nhiên. Đây chính là lý do tại sao việc Giáo hội đón nhận khoa học nghiêm túc và trung thực không đơn thuần là điều đáng quý, mà còn là điều trọng yếu.

Thiên văn học giữ một vị trí đặc biệt trong sứ mạng này. Khả năng chiêm ngưỡng mặt trời, mặt trăng và các vì tinh tú với lòng kinh ngạc là một món quà được ban cho mỗi con người, bất kể địa vị hay hoàn cảnh. Nó đánh thức trong chúng ta sự khâm phục và cảm thức đúng đắn về mọi mối tương quan. Việc chiêm ngưỡng bầu trời mời gọi chúng ta nhìn vào những những nỗi sợ hãi và những thất bại của mình dưới ánh sáng vô biên của Thiên Chúa. Bầu trời đêm là một kho tàng vẻ đẹp mở ra cho tất cả mọi người – người giàu cũng như người nghèo – và trong một thế giới đang đau đớn vì chia rẽ, nó vẫn là một trong những nguồn vui thực sự mang tính phổ quát cuối cùng.

Thật đáng buồn, ngay cả món quà này hiện cũng đang bị đe dọa. Theo cách nói của Đức Thánh cha Bênêđictô, chúng ta đã lấp đầy bầu trời bằng ánh sáng do con người tạo ra làm chúng ta mù lòa trước những ánh sáng mà Thiên Chúa đã đặt để ở đó – và ngài gợi ý rằng đó là một hình ảnh tương thích với chính tội lỗi (x. Bài giảng, 07 tháng 4 năm 2012).

Chính trong bối cảnh này, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với công việc của Quỹ. Cam kết của anh chị em cho phép các nhà khoa học của Vatican tham gia cách có ý nghĩa với công chúng rộng lớn hơn và với cộng đồng khoa học toàn cầu. Sự quảng đại của anh chị em giúp Đài Thiên văn Vatican có thể chia sẻ sự kỳ diệu của thiên văn học với sinh viên từ khắp nơi trên thế giới, đồng thời tổ chức các cuộc hội thảo và các khóa học mùa hè cho những người đang phục vụ tại các trường học Công giáo và các giáo xứ. Sau cùng, chính lòng tận tâm của anh chị em đã giúp những kính thiên văn và phòng thí nghiệm của Đài Thiên văn luôn đúng với ý nghĩa vốn có: những nơi mà vinh quang của công trình sáng tạo của Thiên Chúa được gặp gỡ với lòng tôn kính, với sự sâu sắc và với niềm vui.

Chúng ta không bao giờ được đánh mất nhãn quan thần học vốn là động lực thúc đẩy tất cả những điều này. Tôn giáo của chúng ta là một tôn giáo của Mầu nhiệm Nhập Thể. Thánh Kinh dạy chúng ta rằng ngay từ thuở ban đầu, Thiên Chúa đã tỏ mình ra qua chính những gì Người đã tạo dựng (x. Rm 1:20), và rằng Thiên Chúa yêu thương công trình sáng tạo này đến nỗi Người đã sai chính Con của Người đi vào trong đó để cứu chuộc nó (x. Ga 3:16). Do đó, không có gì ngạc nhiên khi những người có đức tin sâu sắc cảm thấy bị cuốn hút bởi việc khám phá nguồn gốc và sự vận hành của vũ trụ. Khát khao muốn hiểu biết công trình sáng tạo một cách trọn vẹn hơn không gì khác hơn là sự phản chiếu của nỗi khắc khoải hướng về Thiên Chúa vốn nằm sâu trong trái tim của mọi linh hồn.

Một lần nữa, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với sự hỗ trợ của anh chị em, và khẩn xin muôn phúc lành của Thiên Chúa Toàn Năng đổ xuống trên anh chị em và gia đình. Cảm ơn anh chị em!


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 12/05/2026]


Thứ Ba, 12 tháng 5, 2026

Kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng ngày 10.05.2026 - Đức Thánh cha: Khi chúng ta thực sự yêu mến Thiên Chúa, chúng ta thực sự yêu thương nhau

Đức Thánh cha: Khi chúng ta thực sự yêu mến Thiên Chúa, chúng ta thực sự yêu thương nhau

Huấn từ của Đức Thánh cha tại giờ đọc kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng

Kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng ngày 10.05.2026 - Đức Thánh cha: Khi chúng ta thực sự yêu mến Thiên Chúa, chúng ta thực sự yêu thương nhau

*******

Vào lúc 12 giờ trưa hôm nay, Chúa nhật VI Phục Sinh, Đức Thánh cha Lêô XIV xuất hiện tại cửa sổ phòng làm việc của ngài trong Điện Tông tòa Vatican để đọc kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng cùng với các tín hữu và khách hành hương quy tụ tại Quảng trường Thánh Phêrô.

Đức Thánh cha suy niệm về giới răn yêu thương mà Chúa Giêsu đã truyền dạy trong Bữa Tiệc ly, và nhấn mạnh rằng đời sống Kitô hữu không xuất phát từ nỗ lực giành được tình yêu của Thiên Chúa, nhưng từ việc nhận biết rằng chúng ta được Người yêu thương: “chính tình yêu của Chúa Giêsu khai sinh tình yêu nơi chúng ta.”

Sau đây là huấn từ của Đức Thánh cha trước khi đọc kinh kính Đức Mẹ:

Huấn từ của Đức Thánh Cha


Anh chị em thân mến, chúc anh chị em Chúa nhật hạnh phúc!

Trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta đã nghe những lời Chúa Giêsu nói với các môn đệ trong Bữa Tiệc ly. Khi biến đổi bánh và rượu thành dấu chỉ sống động cho tình yêu của Người, Đức Kitô nói: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy” (Ga 14:15). Lời này giải thoát chúng ta khỏi một sự hiểu lầm — đó là ý nghĩ cho rằng chúng ta được yêu thương nếu chúng ta giữ các điều răn: khi đó, sự công chính của chúng ta dường như trở thành điều kiện để được Thiên Chúa yêu thương. Trái lại, tình yêu của Thiên Chúa mới là điều kiện cho sự công chính của chúng ta. Chúng ta thực sự giữ các điều răn, theo thánh ý Thiên Chúa, nếu chúng ta nhận biết tình yêu của Người dành cho chúng ta, như chính Đức Kitô đã mặc khải tình yêu ấy cho thế gian. Vì thế, lời của Chúa Giêsu là lời mời gọi bước vào một mối tương quan, chứ không phải là sự ép buộc hay là việc đặt lại vấn đề về giá trị của chúng ta.

Đó là lý do tại sao Chúa truyền cho chúng ta phải yêu thương nhau như Người đã yêu thương chúng ta (x. Ga 13:34): chính tình yêu của Chúa Giêsu khai sinh tình yêu nơi chúng ta. Chính Đức Kitô là tiêu chuẩn, là quy luật của tình yêu đích thực; Người là Đấng mãi luôn trung tín, tinh tuyền và vô điều kiện. Người là Đấng không biết đến chữ “nhưng” hay “có lẽ”; Người hiến trao chính mình mà không muốn chiếm hữu; Người là Đấng ban tặng sự sống mà không đòi hỏi bất cứ điều gì đáp lại. Bởi vì Thiên Chúa yêu thương chúng ta trước, nên chúng ta cũng có thể yêu thương; và khi chúng ta thực sự yêu mến Thiên Chúa, chúng ta cũng thực sự yêu thương nhau. Điều ấy cũng giống như sự sống: chỉ những ai đã lãnh nhận sự sống mới có thể sống; cũng vậy, chỉ những ai đã được yêu thương mới có thể yêu thương. Vì thế, các điều răn của Chúa là một con đường sống chữa lành chúng ta khỏi những tình yêu giả tạo; đó là một lối sống thiêng liêng, một hành trình dẫn tới ơn cứu độ.

Chính vì yêu thương chúng ta, Chúa không để chúng ta cô đơn giữa những thử thách của cuộc đời: Người hứa ban cho chúng ta Đấng Bảo Trợ, nghĩa là Đấng Biện Hộ, “Thần Khí sự thật” (Ga 14:17). Đó là một hồng ân mà “thế gian không thể đón nhận” (x. sđd.), chừng nào thế gian còn chìm đắm trong sự dữ vốn áp bức người nghèo, loại trừ người yếu thế và giết hại những người vô tội. Trong khi đó, những ai đáp lại tình yêu mà Chúa Giêsu dành cho mọi người sẽ tìm thấy nơi Chúa Thánh Thần một đồng minh không bao giờ thất tín. Chúa Giêsu nói, “Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em” (x. sđd.). Ở mọi lúc và mọi nơi, chúng ta có thể làm chứng cho Thiên Chúa, Đấng là tình yêu: lời này không có nghĩa là một ý niệm do trí khôn con người tạo ra, nhưng là thực tại của sự sống thần linh, nhờ đó muôn loài được tạo dựng từ hư không và được cứu chuộc khỏi sự chết.

Bằng cách ban tặng cho chúng ta tình yêu đích thực và vĩnh cửu, Chúa Giêsu cho chúng ta được chia sẻ căn tính của Người là Người Con được yêu dấu: “Thầy ở trong Cha Thầy, […] anh em ở trong Thầy và Thầy ở trong anh em” (c. 20). Sự hiệp thông sự sống cách trọn vẹn này bác bỏ kẻ tố cáo — nghĩa là kẻ đối nghịch với Đấng Bảo Trợ, thần khí chống lại Đấng Bảo Vệ chúng ta. Thật vậy, trong khi Chúa Thánh Thần là quyền năng của sự thật, thì kẻ tố cáo ấy là “cha sự gian dối” (Ga 8:44), kẻ muốn gây chia rẽ con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau: hoàn toàn trái ngược với những gì Chúa Giêsu làm, khi cứu chúng ta thoát khỏi sự dữ và hợp nhất chúng ta thành một dân tộc gồm những anh chị em trong Hội thánh.

Các bạn thân mến, đầy lòng biết ơn trước hồng ân này, chúng ta hãy phó thác bản thân cho sự chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ của Tình Yêu Thiên Chúa.


Sau kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng


Anh chị em thân mến:

Tôi đã nhận được những tin tức với sự quan ngại về tình trạng bạo lực gia tăng tại vùng Sahel, đặc biệt là ở Chad và Mali, những nơi là mục tiêu của các cuộc tấn công khủng bố trong thời gian gần đây. Tôi dâng lời cầu nguyện cho các nạn nhân và bày tỏ sự gần gũi với tất cả những ai đang đau khổ. Tôi mong ước mọi hình thức bạo lực chấm dứt và khuyến khích mọi nỗ lực nhằm phục vụ hòa bình và phát triển tại vùng đất thân yêu ấy.

Ngày 10 tháng 5 đánh dấu “Ngày Hữu nghị Công giáo – Chính thống Coptic.” Tôi xin gửi lời chào huynh đệ đến Đức Thượng phụ Tawadros II của Giáo hội Chính thống Coptic và bảo đảm lời cầu nguyện của tôi cho toàn thể Giáo hội Coptic thân yêu, với hy vọng rằng hành trình tình bạn của chúng ta sẽ dẫn chúng ta đến sự hiệp nhất trọn vẹn trong Đức Kitô, Đấng đã gọi chúng ta là “bạn hữu” (x. Ga 15:15).

Và bây giờ, tôi chào mừng tất cả anh chị em, người dân Rôma và anh chị em hành hương đến từ nhiều quốc gia! Cách riêng, tôi gửi lời chào nhóm “Đội Danh dự Thánh Tâm Chúa Giêsu,” đến từ nhiều thành phố khác nhau của nước Ý, và các “Tình nguyện viên Loan báo Tin Mừng” liên kết với gia đình Radio Maria; cũng như hiệp hội thiện nguyện “Komen Italia,” đang dấn thân trong công tác phòng ngừa ung thư vú.

Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn trước tinh thần hiếu khách của người dân quần đảo Canary vì đã tiếp nhận du thuyền “Hondius” chở các bệnh nhân nhiễm hantavirus cập cảng. Tôi vui mừng vì sẽ có thể gặp gỡ anh chị em vào tháng tới trong chuyến viếng thăm của tôi tới quần đảo này.

Hôm nay, chúng ta đặc biệt nhớ đến tất cả những người mẹ. Nhờ lời chuyển cầu của Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu và cũng là Mẹ chúng ta, chúng ta hãy cầu nguyện với lòng yêu mến và biết ơn cho tất cả những người mẹ, đặc biệt là những người đang sống trong hoàn cảnh khó khăn. Cảm ơn anh chị em! Xin Chúa chúc lành cho anh chị em!

Chúc tất cả anh chị em Chúa nhật hạnh phúc.


[Nguồn: exaudi]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 11/05/2026]