Thứ Ba, 29 tháng 9, 2026

Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Pháp và chuyến viếng thăm Trụ sở UNESCO (25–28 tháng 9 năm 2026) – Thăm xã giao Tổng thống Cộng hòa và Gặp gỡ Chính quyền, Xã hội Dân sự và Ngoại giao đoàn, 25.09.2026

Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Pháp và chuyến viếng thăm Trụ sở UNESCO (25–28 tháng 9 năm 2026) – Thăm xã giao Tổng thống Cộng hòa và Gặp gỡ Chính quyền, Xã hội Dân sự và Ngoại giao đoàn, 25.09.2026

Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Pháp và chuyến viếng thăm Trụ sở UNESCO (25–28 tháng 9 năm 2026) – Thăm xã giao Tổng thống Cộng hòa và Gặp gỡ Chính quyền, Xã hội Dân sự và Ngoại giao đoàn, 25.09.2026

*******

Chuyến thăm xã giao Tổng thống Cộng hòa

Vào lúc 11 giờ, Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Điện Élysée bằng xe hơi để thực hiện chuyến thăm xã giao Tổng thống Cộng hòa.

Khi đến nơi, Đức Thánh Cha được Tổng thống Cộng hòa Pháp Emmanuel Macron đón tiếp và dành nghi thức trọng thể với quân đội, tiếp đó là chụp ảnh lưu niệm chính thức, tặng quà tại Salon des portraits, cuộc gặp riêng và giới thiệu các thành viên gia đình.

Sau đó, Đức Giáo hoàng Lêô XIV tiến đến phòng Salle des fêtes để tham dự cuộc gặp gỡ tiếp theo.


Gặp gỡ Chính quyền, Xã hội Dân sự và Ngoại giao đoàn

Vào lúc 12 giờ 20 tại Salle des fêtes diễn ra cuộc gặp gỡ với các nhà lãnh đạo chính trị và tôn giáo, giới doanh nhân, các đại diện của xã hội dân sự và văn hóa, cùng Ngoại giao đoàn; trong dịp này, ngài Tổng thống Cộng hòa đã đọc diễn văn.

Sau đó, Đức Thánh Cha đọc diễn văn của ngài.

Kết thúc cuộc gặp gỡ, Đức Thánh Cha chào thăm một số người hiện diện.

Sau đó, Đức Thánh Cha Lêô XIV trở về Tòa Khâm sứ Tòa Thánh bằng xe hơi, nơi ngài dùng bữa riêng.

Sau đây là bài diễn văn Đức Thánh Cha trong cuộc gặp gỡ:


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Thưa ngài Tổng thống,
Thưa quý vị Lãnh đạo Chính quyền và Thành viên Ngoại giao đoàn,
Thưa quý bà và quý ông,

Tôi vui mừng được có mặt cùng quý vị hôm nay. Tôi đặc biệt cảm ơn ngài Tổng thống vì lời mời đầy ân cần dành cho tôi đến thăm đất nước Pháp, và xin cảm ơn ngài về những lời chào mừng. Qua ngài, tôi xin gửi lời chào đến toàn thể người dân đang sinh sống tại đất nước này, với kho tàng văn hóa và tôn giáo vô cùng phong phú. Cùng nhau, họ làm nên một dân tộc mà những nguồn gốc đa dạng đã làm sinh động và làm phong phú cho quốc gia cũng như nền dân chủ của đất nước. Thưa ngài Tổng thống, thưa quý bà và quý ông, tôi khẳng định với quý vị rằng nước Pháp thường xuyên hiện diện trong lời cầu nguyện của giáo hoàng, bởi ngài không quên nguồn cội của gia đình mình tại vùng Normandy và Béarn.

Chuyến viếng thăm Pháp của tôi bắt đầu tại Paris, thủ đô của đất nước, thường được gọi là Kinh đô Ánh sáng. Qua nhiều thế kỷ, nước Pháp đã là ngọn hải đăng về văn hóa, nghệ thuật và tinh thần, không chỉ đối với châu Âu mà còn đối với toàn thế giới. Với các trường học thuộc nhà thờ, các viện đại học và học viện chuyên tâm phục vụ sự thật, nước Pháp đã góp phần định hình cách nhìn của nhiều dân tộc vượt ra ngoài biên giới của mình. Nhiều học giả lỗi lạc người Pháp đồng thời cũng là những tín hữu Công giáo trung kiên đã minh chứng rõ ràng rằng khoa học và nghệ thuật, văn chương và triết học có thể góp phần vào thiện ích của nhân loại khi chúng được hướng đến việc tìm kiếm cái đẹp, điều thiện và chân lý, để thế giới được sống.

Khả năng chuyên môn của người Pháp đồng nghĩa với sự xuất sắc trong nhiều lãnh vực. Điều này đặc biệt được thể hiện qua dự án quy mô lớn trùng tu Nhà thờ Đức Bà Paris, trong đó ngay từ đầu đã có sự tham gia của nhiều tổ chức công và tư, và chính ngài Tổng thống cũng đặc biệt dành trọn tâm huyết. Tôi xin cảm ơn ngài về điều này. Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với đông đảo các nghệ sĩ, các nhà xây dựng, kỹ thuật viên và những công nhân lành nghề đã tham gia vào công cuộc trùng tu. Việc nhà thờ chánh tòa được mở cửa trở lại để cử hành phụng vụ thờ phượng Thiên Chúa, cũng như đón tiếp khách hành hương từ khắp nơi trên thế giới, không chỉ là một thành tựu kỹ thuật đầy ấn tượng mà còn là biểu tượng của niềm hy vọng được đổi mới. Điều đó cho thấy một điều tưởng chừng đã bị hủy hoại không thể cứu vãn vẫn có thể hồi sinh nhờ sự hợp với nhau, đồng thời là một minh chứng hùng hồn về sự hiệp nhất xuất phát từ việc dấn thân vì một sự nghiệp chung. Ước mong thành tựu đáng ghi nhận này khích lệ tất cả những người chịu trách nhiệm về đời sống chính trị, xã hội và tôn giáo của đất nước không ngừng nỗ lực và cùng nhau như một, được thúc đẩy bởi một niềm hy vọng vững chắc và sống động.

Pháp là một đất nước với những cội rễ Kitô giáo sâu xa. Từ thời Thánh Irenaeus và phép rửa của vua Clovis, linh hồn của dân tộc này đã kín múc từ Kitô giáo một sức sống tinh thần, văn hóa, trí thức, nghệ thuật và truyền giáo phong phú, và vẫn tiếp tục được lan tỏa trong thế giới ngày nay. Chính trong bối cảnh đó mà chủ nghĩa nhân văn đã nở rộ tại nước Pháp vào thế kỷ XVI, như một phương thế kết hợp giữa di sản của Hy Lạp và Rôma cổ đại với đức tin Kitô giáo. Với những nhà tư tưởng lớn của thời Phục hưng, rồi sau đó là thời kỳ Grand Siècle, tiếp đến là các nhà tư tưởng thời Khai sáng, nước Pháp đã góp phần tạo nên những tiến bộ quan trọng cho thế giới, trong đó có việc nhìn nhận các quyền con người được đặt nền tảng trên căn tính của con người, đặc biệt là quyền tự do tôn giáo. Sự quan tâm liên tục đến phẩm giá vốn có nơi mỗi con người này được âm vang trong tiêu ngữ quốc gia của quý vị. Tự do, bình đẳng và tình huynh đệ không chỉ là những từ ngữ được ghi khắc để trang trí trên mặt tiền các tòa nhà công cộng; chúng nói đến những mệnh lệnh luân lý phổ quát, đồng thời tìm thấy nơi sứ điệp Tin Mừng một nguồn cảm hứng và sự viên mãn bất tận.

Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, được công bố tại Paris này — trong quá trình soạn thảo, nhà luật học người Pháp và là chủ nhân Giải Nobel Hòa bình René Cassin đã giữ một vai trò chủ đạo — nỗ lực thúc đẩy một nhận thức rộng lớn hơn về phẩm giá bất khả xâm phạm của nhân vị. Thánh Gioan Phaolô II, người xem Tuyên ngôn này là “một dấu mốc thực sự trên con đường tiến bộ luân lý của nhân loại”, đã ý thức sâu sắc rằng “bất kỳ mối đe dọa nào đối với các quyền con người, dù trong lĩnh vực thực tại vật chất hay thực tại tinh thần, đều nguy hiểm như nhau đối với hòa bình, bởi trong mọi trường hợp, nó liên quan đến toàn bộ con người”. [1]

Vấn đề tôn trọng phẩm giá con người cùng các quyền căn bản và tự do phát xuất từ bản chất con người là vấn đề đặt ra trong mọi thời đại, và tất yếu phải song hành với những chuyển biến của xã hội cũng như tiến bộ công nghệ. Quả thật, “qua nhiều thế kỷ, sự phát triển công nghệ đã cải thiện đáng kể điều kiện sống của nhân loại. Đồng thời, mỗi giai đoạn tiến bộ cũng bộc lộ rõ tính mơ hồ của những công cụ có thể gây hại khi không được hướng về điều thiện” (Thông điệp Magnifica Humanitas, số 4). Sinh thời, nhà văn Georges Bernanos đã nhận thấy mối đe dọa rằng sự phục tùng mù quáng và thái độ vô trách nhiệm có thể dẫn đến một “thiên đường của máy móc”, và ông chỉ ra rằng nền văn minh Pháp từ nhiều thế kỷ qua đã tìm cách đào tạo nên những con người tự do, hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành động của mình. [2]

Vì lý do đó, tôi nhận thấy điều thiết yếu là phải đề cập đến chủ đề trí tuệ nhân tạo trong Thông điệp đầu tiên của tôi, với mục đích đưa con người trở lại vị trí trung tâm của mọi suy tư. Nếu chúng ta không muốn đánh mất nhân tính giữa một “thiên đường của máy móc” đang chiếm lĩnh và chi phối đời sống hằng ngày, thì việc giáo dục khả năng phân định luân lý và năng lực nhận biết sự thiện luân lý là nhu cầu cấp thiết. Điều này là tối cần thiết nếu chúng ta muốn nhận biết điều thiện đích thực, giúp con người được triển nở theo đúng với ơn gọi ban đầu của mình, trong sự tôn trọng vô điều kiện đối với tự do nội tâm và phẩm giá thánh thiêng của họ. Ở đây, tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa rằng “một xã hội tự do thật sự không áp đặt sự đồng nhất, nhưng bảo vệ sự đa dạng của lương tâm, ngăn ngừa những khuynh hướng độc đoán và thúc đẩy một cuộc đối thoại luân lý làm phong phú cơ cấu xã hội” (Diễn văn trước các thành viên ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh, ngày 9 tháng 1 năm 2026, số 9). Cuộc đối thoại này càng trở nên cấp bách hơn trong bối cảnh nước Pháp ngày nay, nơi những con người thuộc các nền văn hóa và tôn giáo khác nhau được mời gọi cùng chung sống và góp phần vào sự tiến bộ của xã hội.

Chính nhờ cơ cấu xã hội phong phú và đa dạng ấy mà nước Pháp qua nhiều thế kỷ đã nổi bật về tính nhạy bén trước sự đa dạng và cam kết mạnh mẽ đối với tình liên đới. Qua nỗ lực đáng khâm phục của những người nam và người nữ trung thành với nhân tính của mình và với các giá trị Tin Mừng, Giáo hội Công giáo Pháp đã không ngừng quan tâm đến phúc lợi của người nghèo và những người yếu thế, đồng thời tìm cách trở thành khuôn mặt sống động của lòng thương xót và trắc ẩn của chính Thiên Chúa. Chúng ta có thể nghĩ đến những công cuộc tông đồ của Thánh Vinh Sơn Phaolô, sự chấn hưng hoạt động bác ái vào thế kỷ XVII, và trong thời đại chúng ta, biết bao cơ sở Công giáo, nơi những người chăm sóc đồng hành với các anh chị em chúng ta trong nỗi đau khổ của họ. Những tấm gương chăm sóc và quan tâm này là một bài học thực tế về nhân tính; chúng cho thấy sự cao cả của lòng trắc ẩn và là một lời nhắc nhở mạnh mẽ về giá trị độc nhất và không thể thay thế của mỗi con người. Đồng thời, đó cũng là lời hiệu triệu ý thức mới về tình huynh đệ, dạy chúng ta đón nhận sự sống cách vô điều kiện, nâng đỡ sự yếu đuối bằng việc chăm sóc yêu thương, đồng hành với mọi giai đoạn của cuộc đời trong sự tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau, đồng thời với lòng can đảm và trắc ẩn, bảo vệ những người không thể làm cho tiếng nói của họ được nghe thấy và những người cảm thấy bị bỏ rơi hoặc lãng quên. Chính vì lẽ đó, tôi "khẳng định lại cách mạnh mẽ rằng việc bảo vệ quyền được sống là nền tảng không thể thiếu của mọi quyền con người khác" (sđd.).

Ngày nay, có một cám dỗ muốn trông đợi khoa học loại bỏ hoặc giảm nhẹ mọi hình thức đau khổ. Điều này thường mang đến nguy cơ tự huyễn hoặc bản thân. Bởi lẽ khi khoa học và công nghệ không được định hướng bởi sự khôn ngoan sâu sắc hơn, chúng có thể cung cấp những giải pháp tức thời tưởng chừng như đáp ứng được mong muốn và nỗi đau của con người, nhưng lại có thể làm chệch hướng cách nghiêm trọng sự tốt lành lớn lao hơn mà con người khao khát. Đôi khi tôi lo ngại về những xu hướng trong xã hội có nguy cơ biến khoa học và công nghệ thành những thương vụ chạy theo lợi nhuận, cổ xúy kỹ thuật di truyền (genetic manipulation), mang thai hộ, buôn bán các cơ quan nội tạng con người hoặc khả năng tự sắp đặt cái chết của mình. Chúng ta đừng quên rằng sự tôn trọng lẫn nhau và việc bảo vệ mọi sự sống con người là bổn phận thuộc về từng người trong chúng ta. Đó là một bổn phận bắt đầu từ sự hoán cải tâm trí và con tim, đồng thời đòi hỏi sự dấn thân chân thành và vô vị lợi vì ích lợi của các anh chị em mình.

Làm sao chúng ta có thể không nhìn nhận sự dấn thân như thế là một biểu hiện của tính “thế tục” đích thực (laïcité) nơi thành đô trần thế? Một Kitô hữu dấn thân phục vụ công và được ánh sáng lương tâm hướng dẫn, một lương tâm được soi sáng bởi đức tin, không thể bị xem là người vận động cải đạo hay là mối đe dọa đối với sự thống nhất của quốc gia. Thật vậy, tính thế tục đích thực không loại trừ tôn giáo, nhưng có khả năng nhìn nhận tôn giáo như một nguồn lực giáo dục (x. Diễn văn trước các tham dự viên Hội nghị Toàn quốc các Nhà giáo Tôn giáo Công giáo, ngày 25 tháng 4 năm 2026).

Chính vì thế, các trường Công giáo có một vị trí chính đáng trong bức tranh giáo dục của một đất nước như nước Pháp. Đây là một phần của một vấn đề rộng lớn hơn, có tính thiết yếu đối với mọi cuộc đối thoại, trong trường học cũng như trong toàn xã hội: học cách biết và yêu thương chính mình, để có thể gặp gỡ người khác trong sự tôn trọng và rộng mở (x. sđd.).

Như vậy, tính thế tục đích thực không hệ tại ở việc loại trừ tôn giáo khỏi đời sống công cộng hay giáo dục, nhưng ở nỗ lực bảo đảm rằng nhà nước và các tổ chức tôn giáo duy trì đối thoại và cùng hợp lực để phục vụ ích chung, để thế giới được sống. Về phương diện này, tôi bày tỏ sự trân trọng đối với công việc đang được thực hiện trong khuôn khổ Diễn đàn Đối thoại giữa Tòa Thánh, Giáo hội Công giáo Pháp và Chính phủ Pháp. Đóng góp của Giáo hội Công giáo, thông qua mạng lưới các hoạt động và tổ chức, chắc chắn là điều đáng khen ngợi và mang lại lợi ích cho toàn xã hội. Những hình thức hợp tác như thế là một minh họa tốt đẹp cho sự bổ túc lành mạnh được Công đồng Vaticanô II mô tả, theo đó cộng đồng chính trị và Giáo hội “dù dưới những danh nghĩa khác nhau, đều phục vụ ơn gọi cá nhân và xã hội của cùng một con người. Sự phục vụ của cả hai bên sẽ hiệu quả và mang lại lợi ích hơn cho tất cả mọi người nếu cả hai tổ chức phát triển sự hợp tác tốt đẹp hơn" (CÔNG ĐỒNG VẠTICANÔ II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 76).

Tôi cũng vui mừng nhận thấy rằng chính ước muốn hỗ trợ mọi người, bất kể nguồn gốc của họ, đã truyền cảm hứng cho sự hợp tác giữa nước Pháp và Giáo hội Công giáo từ nhiều thế kỷ qua trong việc trợ giúp các Kitô hữu tại Trung Đông. Công cuộc giáo dục, xã hội, văn hóa và nhân đạo được thực hiện tại những quốc gia đó, với sự cộng tác của nhiều tổ chức khác nhau như Aid to the Church in Need (Trợ giúp các Giáo hội Thiếu thốn) và L’Œuvre d’Orient, là một đóng góp quý giá cho cuộc đối thoại giữa các dân tộc và việc cổ võ các quyền của mỗi con người.

Qua đó, chúng ta thấy một chứng tá hùng hồn về cách thức văn hóa và đức tin đóng vai trò là những trụ cột nâng đỡ các nỗ lực xây dựng sự hòa hợp giữa các dân tộc và tôn giáo khác nhau, nhằm phục vụ hòa bình và làm trung gian giữa những cá nhân và cộng đồng. Giáo dục giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong vấn đề này và là một trong những lãnh vực hợp tác trọng tâm, được thể hiện một cách cụ thể và hiệu quả, đặc biệt thông qua Quỹ Fonds pour les écoles d’Orient (Quỹ dành cho các Trường học Đông phương). Tại đây, tôi muốn bày tỏ lòng tri ân đối với tất cả những người tham gia vào dự án này, dự án từ khi được thành lập vào năm 2021 đã giúp hỗ trợ hơn hai trăm sáu mươi cơ sở giáo dục tại Trung Đông, trong đó có bảy trường đại học ở Liban và Đại học Bêlem.

Làm sao chúng ta có thể nói về phần đất này của thế giới — nơi Hoàng tử Hòa bình đã được sinh ra cách đây hai ngàn năm — mà không đồng thời nghĩ đến tất cả những người nam, người nữ và trẻ em đang phải gánh chịu những hậu quả của xung đột và tai họa của chiến tranh? Chúng ta không thể thờ ơ trước nỗi đau của họ, một nỗi đau xúc phạm phẩm giá con người và kêu thấu tới Thiên Chúa để đòi công lý. Tính nghiêm trọng của những hoàn cảnh này phải thách thức chúng ta và phải thúc đẩy mỗi người, bất kể ở vị trí nào, thực sự hoán cải tâm hồn và thay đổi thái độ. Khi khiêm tốn nhìn nhận rằng chúng ta cần đến nhau, chúng ta sẽ có thể cùng nhau làm việc hiệu quả hơn để xây dựng một nền văn minh tình thương giữa lòng thế giới chúng ta, một thế giới đã trở nên phức tạp và phụ thuộc lẫn nhau hơn rất nhiều (x. Thông điệp Magnifica Humanitas, số 182). Đồng thời, như vị tiền nhiệm của tôi, Thánh Gioan XXIII đã chỉ ra vào thời của ngài: “Công lý, lý trí ngay thẳng và việc nhìn nhận phẩm giá con người khẩn thiết đòi hỏi phải chấm dứt cuộc chạy đua vũ trang. Những kho vũ khí được tích trữ tại các quốc gia khác nhau phải được tất cả các bên liên quan đồng bộ cắt giảm và cùng lúc. Vũ khí hạt nhân phải bị cấm. Phải đạt được một thỏa thuận chung về một chương trình giải trừ quân bị thích hợp, cùng với một hệ thống kiểm soát lẫn nhau hiệu quả” (Thông điệp Pacem in Terris, 112). Thật vậy, niềm tin sai lầm rằng sở hữu vũ khí hạt nhân là một bảo đảm cho an ninh đang lan rộng và làm bùng lên một cuộc chạy đua vũ trang mới rất khó kiểm soát (x. Magnifica Humanitas, 194). Hòa bình không phải là sự cân bằng sức mạnh; trái lại, nó được xây dựng từng ngày thông qua đối thoại và công lý.

Vì thế, tôi thúc giục quý vị đừng bao giờ cam chịu trước viễn cảnh chiến tranh hoặc coi chiến tranh là điều “không thể tránh khỏi”, nhưng hãy kiên trì cổ võ đối thoại và ngoại giao, nhằm gìn giữ những xã hội hòa bình biết tôn trọng phẩm giá và các quyền của cá nhân cũng như của các dân tộc. Trước những tin đồn về chiến tranh và những cuộc khủng hoảng đa dạng đang gây xáo trộn thế giới chúng ta, nước Pháp được mời gọi tiếp tục là một người bảo vệ không mệt mỏi cho hòa bình và chủ nghĩa đa phương, đặc biệt trong lòng châu Âu thân yêu của chúng ta. Mong sao nước Pháp, luôn trung thành với những giá trị truyền thống của mình, nỗ lực cho một nền hòa bình phi vũ trang và không dựa trên vũ lực, đồng thời có trách nhiệm đưa ra sự đóng góp độc đáo của mình cho mục tiêu đó. Ước mong tự do của quý vị ngày càng lớn lên trong sự quan tâm không ngừng đến ích chung. Ước mong tình huynh đệ của quý vị ôm trọn toàn thể gia đình nhân loại. Và mong rằng sự bình đẳng mà quý vị khao khát luôn được xây dựng trên nền tảng công lý và bác ái — không phải bằng cách xóa bỏ những khác biệt giữa con người, nhưng bằng cách giúp những khác biệt đó được phát triển cách hài hòa vì lợi ích của toàn xã hội.

Thưa ngài Tổng thống, thưa quý bà và quý ông, một lần nữa, tôi xin cảm ơn quý vị về cuộc gặp gỡ này. Thật vậy, khi nhắc lại những lời mà ngài đã nói với các Giám mục Pháp vào năm 2018, cuộc gặp gỡ này cho thấy rằng “một Giáo hội tuyên bố không quan tâm đến những vấn đề trần thế sẽ không chu toàn ơn gọi của mình; và một Tổng thống Cộng hòa tuyên bố không quan tâm đến Giáo hội và người Công giáo sẽ không chu toàn trách nhiệm của mình”. [3] Xin quý vị hãy vững tin vào những lời cầu nguyện tha thiết của tôi cho quốc gia vĩ đại của quý vị.

Xin Thiên Chúa ban cho nước Pháp nền hòa bình, hiệp nhất và thịnh vượng, để thế giới được sống. Tôi phó thác những niềm hy vọng này cho sự chuyển cầu từ mẫu của Đức Trinh Nữ Maria, Quan thầy của nước Pháp.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho nước Pháp và toàn thể người dân Pháp!

_____________________________________________________


[2] Cf. La France contre les robots, Rio de Janeiro 1946, 114.

[3] E. MACRON, Address by the President of the Republic to the Bishops of France, Collège des Bernardins, 9 April 2018.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 26/09/2026]


Tiếp kiến các thành viên Hàn lâm viện Giáo hoàng về Khoa học, 24.09.2026

Tiếp kiến các thành viên Hàn lâm viện Giáo hoàng về Khoa học, 24.09.2026

Tiếp kiến các thành viên Hàn lâm viện Giáo hoàng về Khoa học, 24.09.2026

*******

Sáng nay, tại Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã tiếp kiến các thành viên thuộc Hàn lâm viện Giáo hoàng về Khoa học, nhân phiên họp toàn thể với chủ đề “Tương lai của khoa học trong một thế giới đang thay đổi”.

Sau đây là bài diễn văn Đức Thánh Cha trước những người hiện diện trong buổi gặp gỡ:


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.
Bình an cho anh chị em.

Kính thưa Đức Hồng y,
Thưa quý vị thành viên của Hàn lâm viện Giáo hoàng về Khoa học,
Thưa bà và quý ông,

Tôi vui mừng chào đón quý vị nhân dịp Phiên họp toàn thể năm nay của Hàn lâm viện Giáo hoàng về Khoa học. Tôi cảm ơn Đức Hồng y Viện trưởng Turkson, và ngài Chủ tịch Joachim von Braun, cùng với Hội đồng, đã tổ chức cuộc gặp gỡ này để thảo luận về chủ đề “Tương lai của khoa học trong một thế giới đang thay đổi”. Vấn đề này quả thực mang tính thời sự cấp bách, bởi lẽ “trong những năm gần đây, ngày càng thấy rõ nét sự chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và robot đang biến đổi thế giới chúng ta một cách nhanh chóng và sâu sắc như thế nào” (Magnifica Humanitas, số 4). Dù tác động toàn diện của chúng vẫn chưa thể xác định, các công cụ này vẫn mang đến cho chúng ta lý do để hy vọng vào một tương lai tươi sáng hơn cho nhân loại. Chẳng hạn, chúng có thể dẫn đến những đột phá khoa học và đổi mới công nghệ giúp phát triển y khoa, cải thiện việc chẩn đoán và điều trị bệnh tật, củng cố các hệ thống lương thực và năng lượng, đào sâu sự hiểu biết của chúng ta về vũ trụ và thế giới tự nhiên, đồng thời mở ra những khả năng mới cho sự sáng tạo và hợp tác của con người.

Tuy nhiên, chính vì những phát triển này mang lại nhiều hứa hẹn như thế, chúng ta cũng phải nhận diện những nguy cơ đi kèm với chúng. Trí tuệ nhân tạo có thể được sử dụng để giám sát, thao túng và phân biệt đối xử (x. các số 103, 150). Những năng lực không gian mạng tinh vi và các loại vũ khí tự động, khi được phát triển hoặc triển khai mà không có những biện pháp bảo đảm thích đáng và sự giám sát của con người, có thể tạo ra những mối nguy mới đối với an ninh và hòa bình quốc tế (x. các số 183, 197). Hơn nữa, “các hệ thống AI hiện nay đòi hỏi nguồn năng lượng và nước khổng lồ, tác động đáng kể đến lượng khí thải carbon dioxide, đồng thời gây áp lực lớn lên các nguồn tài nguyên thiên nhiên” (số 101).

Những khả năng và nguy cơ này nhắc nhở chúng ta rằng tiến bộ công nghệ không bao giờ đơn thuần là một vấn đề kỹ thuật. Mọi công nghệ, dù rõ ràng hay theo cách ngầm hiểu, đều phản ánh một cách hiểu nhất định về con người, về xã hội và về tương lai mà chúng ta muốn xây dựng. Vì thế, tiến bộ khoa học và công nghệ phải đi đôi với sự gia tăng tương ứng về trách nhiệm. Sức mạnh biến đổi thế giới của chúng ta càng lớn bao nhiêu, thì khả năng phân định điều gì thực sự phục vụ phẩm giá con người do Thiên Chúa ban tặng, khả năng quản trị cách khôn ngoan và chăm lo cho những người có thể phải gánh chịu những hậu quả lớn nhất từ các lựa chọn của chúng ta càng phải lớn bấy nhiêu (x. số 173).

Cũng chính đòi hỏi về trách nhiệm đó càng trở nên cấp thiết trước tình trạng biến đổi khí hậu. Chúng ta đang chứng kiến những đợt nắng nóng, hạn hán, lũ lụt, bão tố, cháy rừng và các thiên tai khác xuất hiện ngày càng thường xuyên và với cường độ ngày càng tăng. Những cú sốc này giáng xuống nặng nề nhất trên vai người nghèo, trên các cộng đồng có ít nguồn lực nhất để thích ứng, và trên những người với sinh kế phụ thuộc trực tiếp vào đất đai, rừng và đại dương (x. Đức Phanxicô, Laudato Si’, số 25). Do đó, vấn đề khí hậu không chỉ đơn thuần là một thách thức về môi trường; về căn bản, đó là một vấn đề về công lý, phẩm giá con người và tình liên đới giữa các dân tộc và giữa các thế hệ. Chúng ta không thể chỉ ứng phó với những thách thức này sau khi thảm họa đã xảy ra. Chúng ta cần phải chuyển từ ứng phó khẩn cấp sang phòng ngừa, từ tình trạng dễ bị tổn thương sang sự chuẩn bị sẵn sàng, và từ những biện pháp ngắn hạn sang một tầm nhìn khôn ngoan và có viễn kiến về tương lai của nhân loại. Điều này đòi hỏi một cách tiếp cận có trách nhiệm và có sự phân định đối với khoa học nhằm xây dựng khả năng chống chịu: một cách tiếp cận cam kết khám phá, đồng thời ngay từ đầu cũng tính đến những hậu quả mà các lựa chọn khoa học và công nghệ có thể gây ra đối với nhân loại và sự toàn vẹn của công trình tạo dựng được Thiên Chúa trao phó cho chúng ta.

Trong nỗ lực này, sự hợp tác liên ngành là điều không thể thiếu. Khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu đòi hỏi sự cộng tác của các nhà khoa học, các kỹ sư, những kinh tế gia, thầy thuốc và các nhà khoa học xã hội, cùng với các cộng đồng địa phương và những nhà hoạch định chính sách. Những thách thức của một khí hậu đang biến đổi vượt qua mọi ranh giới giữa các ngành khoa học, các thể chế và các quốc gia; vì thế, cách thức ứng phó của chúng ta cũng phải vượt qua những ranh giới ấy. Như Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhắc nhở chúng ta, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng ta mời gọi chúng ta tiếp cận những thách thức về môi trường từ góc nhìn toàn cầu và cùng nhau hướng tới một kế hoạch chung (x. số 164). Vì lý do này, tôi hoan nghênh loạt Hội nghị thượng đỉnh về khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu mà Hàn lâm viện của quý vị đã tổ chức trong hai năm qua, cùng với Hàn lâm viện Giáo hoàng về Khoa học Xã hội và các đối tác khoa học đến từ nhiều nơi trên thế giới. Thật đáng khích lệ khi những cuộc gặp gỡ này quy tụ không chỉ các nhà khoa học, mà còn cả những người trẻ, các giới chức chính quyền, đại diện xã hội dân sự và thành viên của các truyền thống tôn giáo khác nhau. Các cuộc gặp gỡ như vậy tạo ra những không gian để tri thức được chia sẻ vượt qua các biên giới, để những kinh nghiệm thành công được học hỏi và thích ứng, và để sự hiểu biết khoa học được chuyển hóa thành những hành động cụ thể. Tôi khuyến khích quý vị tiếp tục tiến bước trên con đường này.

Với những tâm tình đó, tôi tha thiết hy vọng rằng suy tư của quý vị trong những ngày này sẽ mang lại sự định hướng quý giá cho tương lai của khoa học. Chúng ta được nhắc nhớ về tương lai qua sự hiện diện của những người trẻ giữa chúng ta! Và điều này hết sức, hết sức quan trọng. Tôi cầu nguyện để quý vị vun đắp một nền văn hóa khoa học đầy khát vọng nhưng khiêm tốn, nghiêm ngặt nhưng mở ra đối thoại, đổi mới nhưng có trách nhiệm, hợp tác toàn cầu và phải gồm cả những người đang đứng trước nguy cơ lớn nhất và những người đang cần được giúp nhất. Bằng cách đó, sự hợp tác khoa học, như một thiện ích công phục vụ hòa bình, có thể luôn tập trung vào việc bảo vệ phẩm giá con người do Thiên Chúa ban tặng, thúc đẩy ích chung và chăm sóc công trình tạo dựng.

Xin Chúa Thánh Thần, nguồn mạch của mọi đức ái và mối dây hiệp nhất, soi sáng tâm trí quý vị và củng cố những nỗ lực của quý vị. Và tôi khẩn xin muôn phúc lành của Thiên Chúa Toàn năng đổ xuống trên tất cả quý vị. Cảm ơn quý vị.

Vậy giờ đây, chúng ta cùng cầu nguyện và xin Thiên Chúa ban phúc lành, trước hết bằng những lời Chúa Giêsu đã dạy chúng ta. Lạy Cha chúng con… [Phép lành.]


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 26/09/2026]


Thứ Bảy, 26 tháng 9, 2026

TUYÊN PHONG CHÂN PHƯỚC ĐỨC CHA FULTON SHEEN/V – Peoria: Đức Hồng y Tagle tại quê hương của vị Chân phước tương lai: Ngài chỉ cho chúng ta con đường hoán cải truyền giáo

TUYÊN PHONG CHÂN PHƯỚC ĐỨC CHA FULTON SHEEN/V – Peoria: Đức Hồng y Tagle tại quê hương của vị Chân phước tương lai: Ngài chỉ cho chúng ta con đường hoán cải truyền giáo

Thứ Tư, ngày 23 tháng 9 năm 2026
Marie-Lucile Kubacki

TUYÊN PHONG CHÂN PHƯỚC ĐỨC CHA FULTON SHEEN/V – Peoria: Đức Hồng y Tagle tại quê hương của vị Chân phước tương lai: Ngài chỉ cho chúng ta con đường hoán cải truyền giáo


Peoria (Hãng Thông tấn Fides) – Trong sự tĩnh lặng của Nhà thờ Chánh tòa Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, ngôi thánh đường theo phong cách Gothic phục hưng vươn cao trên những con phố của Peoria, Đức Hồng y Luis Antonio Tagle cử hành Thánh lễ sáng ngày 22 tháng 9, bên cạnh phần mộ của Đấng Đáng kính Tổng Giám mục Fulton J. Sheen.

Chính tại nhà thờ chánh tòa này, Đức cố Tổng Giám mục Sheen đã được thụ phong linh mục năm 1919, và cũng tại đây, hài cốt của ngài được an nghỉ từ năm 2019. Hai ngày trước lễ phong chân phước tại St. Louis, nơi đây đã trở thành vừa là một đền thờ tưởng niệm, vừa là một lời hiệu triệu hướng đến sứ mạng truyền giáo.

Đức Hồng y Tagle, Quyền Tổng trưởng Bộ Loan báo Tin Mừng (Phân bộ Loan báo Tin mừng Lần đầu và các Giáo hội địa phương mới), đã đến với tư cách là đại diện của Đức Giáo hoàng, sẽ chủ sự Thánh lễ phong chân phước ngày 24 tháng 9.

Trước cộng đoàn tín hữu Peoria, ngài kết nối biến cố sắp tới không chỉ với sự tôn vinh dành cho một người con của thành phố, mà còn với một trách nhiệm cụ thể cho Giáo hội địa phương.

“Chúng ta ngợi khen và tạ ơn Chúa, Đấng đã quy tụ chúng ta và làm cho chúng ta trở thành một cộng đoàn, một gia đình đức tin,” ngài nói khi bắt đầu bài giảng. Ngài mô tả nhà thờ chánh tòa này trở nên “đẹp hơn nhờ sự hiện diện của Đức Fulton Sheen, người sắp được tuyên phong chân phước”, đồng thời nhắc nhở rằng một ân sủng như thế cũng kèm theo một mệnh lệnh.

Đức Hồng y Tagle nói, “Đây là một ân sủng dành cho tất cả chúng ta ở đây, nhưng đồng thời cũng là một trách nhiệm nặng nề. Từ nay, khi người ta biết anh chị em đến từ Peoria, họ sẽ nói: ‘Ồ, anh chị em có tinh thần truyền giáo như Đức cha Fulton Sheen không? Anh chị em có bén rễ sâu trong Lời Chúa như Chân phước Fulton Sheen không?’”

Giọng của Đức Hồng y vừa ấm áp và đôi lúc dí dỏm, nhưng lời kêu gọi của ngài rất rõ ràng: xét theo ý nghĩa sâu xa của nó, việc phong chân phước không phải là một sự vinh danh dành riêng cho địa phương, mà là một lời mời gọi hoán cải và loan báo Tin Mừng. Ngài nhấn mạnh: “Vì mọi ân sủng đều đến với chúng ta từ Thiên Chúa, nên luôn đi kèm với một trách nhiệm tương ứng.”

Suy niệm về đoạn Tin Mừng trong đó người ta báo cho Chúa Giêsu biết rằng thân mẫu và các anh em Người đang đứng bên ngoài tìm Người, Đức Hồng y Tagle đặt câu hỏi trung tâm của bài giảng trước cộng đoàn: gia đình của Đức Kitô là gì? Ngài nói, Chúa Giêsu không bác bỏ gia đình tự nhiên hay theo huyết thống. Đức Hồng y giải thích: “Người không coi thường, Người không phủ nhận gia đình theo huyết thống. Nhưng Người mở rộng cách hiểu về gia đình. ‘Ai là mẹ tôi, ai là anh chị em tôi? Những ai lắng nghe Lời Thiên Chúa và đem ra thực hành. Họ chính là mẹ tôi, là anh chị em tôi’”, ngài trích dẫn Tin Mừng.

“Gia đình tổng hợp” này không dựa trên nguồn gốc tổ tiên, nơi sinh hay uy thế địa phương, nhưng dựa trên việc lắng nghe và đem Lời Thiên Chúa ra thực hành. Đức Hồng y Tagle dí dỏm hỏi các tín hữu: “Vì thế, sau lễ phong chân phước, xin anh chị em đừng nói với những người đến từ Chicago rằng: ‘Chicago có sản sinh ra một vị chân phước nào chưa?’ ‘Ồ không, chúng tôi đến từ Peoria. Chúng tôi thuộc về gia đình được Chúa ưu ái. Ôi, Chicago tội nghiệp.’” Rồi ngài nói thêm: “Không ai phủ nhận sự thật rằng vị tôi tớ đáng kính của Thiên Chúa, vị chân phước, đã ở đây, đã là một linh mục tại đây. Nhưng rồi, trong khi chúng ta khẳng định dòng dõi tự nhiên đó, thì trước mắt Chúa, còn có một điều khác mà Người tìm kiếm.”

Sau đó, Đức Hồng y hướng sự chú ý đến Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu. Ngài nói, những lời của Chúa Giêsu không hề làm giảm giá trị của Mẹ, trái lại cho thấy chiều sâu ơn gọi của Mẹ. Đức Maria không chỉ là mẹ Chúa Giêsu về mặt huyết thống: Mẹ là mẹ bởi vì trước hết Mẹ là một môn đệ, bởi vì Mẹ đã lắng nghe lời Thiên Chúa và sẵn sàng vâng nghe lời ấy. Đức Hồng y Tagle nói: “Mẹ Người thực sự là một môn đệ, một người mẹ - môn đệ. Bởi vì Mẹ là môn đệ, nên Mẹ là mẹ. Và Mẹ thực sự là mẹ bởi vì Mẹ đã sống tư cách môn đệ của mình cách chân thực và trọn vẹn.”

Nơi con người Đức Fulton Sheen, người được toàn thế giới biết đến như một nhà tiên phong trong lĩnh vực truyền thông Công giáo, lời mời gọi này mang một sức mạnh truyền giáo đặc biệt. Đức Hồng y nhắc đến Đức Sheen không chỉ vì nguồn gốc Peoria hay là bậc thầy về truyền thông của ngài, nhưng còn vì một đời sống linh mục được đặt nền tảng trên Lời Chúa và hướng đến sứ mạng.

Lời nguyện tín hữu cuối Thánh lễ cầu nguyện cho các nhà truyền giáo được sai đi “để loan báo Tin Mừng đến tận cùng trái đất”, và cầu cho tất cả những người giảng dạy hoặc rao giảng bằng “mọi phương tiện truyền thông”, để ơn cứu độ được loan báo “với sự toàn vẹn và can đảm”.

Đức Hồng y Tagle kết luận bằng việc trở lại với ơn gọi của Peoria. Ngài nói: “Khi đó, Peoria trở thành một phần của gia đình rộng lớn hơn, gia đình rộng lớn của Thiên Chúa. Và Chúa Giêsu sẽ hài lòng.” Ngài nói thêm rằng thành phố được nhìn nhận không chỉ là nơi sinh của Đức Fulton Sheen, mà còn là một cộng đoàn gồm những thành viên biết lắng nghe lời Thiên Chúa và đem Lời ra thực hành.

Chiều tối, cũng tại nhà thờ chánh tòa này, tuần cửu nhật tiếp tục với một Giờ Chầu dành cho sứ mạng truyền giáo. Giờ Chầu do Linh mục Nguyễn Đình Anh Nhuệ, OFM Conv., Tổng Thư ký Liên hiệp Giáo hoàng Truyền giáo, chủ sự, và ngài đã hướng dẫn cộng đoàn tín hữu cầu nguyện.

Khi bắt đầu giờ cầu nguyện và suy niệm về sứ mạng truyền giáo, Cha Anh Nhuệ nhấn mạnh rằng Đức Fulton Sheen “không chỉ là một nhà giảng thuyết vĩ đại, một nhà truyền thông, hay một người của truyền thông.

Ngài là một con người được ngọn lửa truyền giáo thiêu đốt, một người khơi dậy tinh thần truyền giáo, một nhà đào tạo các nhà truyền giáo, một người nhiệt thành cổ võ và hỗ trợ các sứ vụ truyền giáo.” Cha nói thêm, niềm say mê truyền giáo của ngài “không kết thúc với cuộc đời trần thế. Di sản truyền giáo của ngài vẫn tiếp tục sinh hoa trái hôm nay. Tiếng nói của ngài vẫn tiếp tục loan báo Tin Mừng.”

“Các tác phẩm và những bản ghi âm của ngài vẫn tiếp tục đào tạo. Chứng tá của ngài vẫn tiếp tục đánh thức những tâm hồn truyền giáo.”

Như thế, vị Linh mục Dòng Phanxicô người Việt Nam và là Tổng Thư ký Liên hiệp Giáo hoàng Truyền giáo đã hướng dẫn cộng đoàn tín hữu cầu nguyện khi Peoria bước vào 48 giờ cuối cùng trước khi Giáo hội tuyên phong Đức Fulton J. Sheen là “Chân phước.”

(Hãng tin Fides, 23/9/2026)


[Nguồn: fides.org]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 24/09/2026]


Buổi tiếp kiến của Đức Thánh Cha Lêô XIV với Hội nghị của Liên hiệp các Dòng Capuchin Thánh Clara Khó nghèo tại Ý, 21.09.2026

Buổi tiếp kiến của Đức Thánh Cha Lêô XIV với Hội nghị của Liên hiệp các Dòng Capuchin Thánh Clara Khó nghèo tại Ý, 21.09.2026

Buổi tiếp kiến của Đức Thánh Cha Lêô XIV với Hội nghị của Liên hiệp các Dòng Capuchin Thánh Clara Khó nghèo tại Ý, 21.09.2026

*******

Sáng nay, tại Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã tiếp kiến Hội nghị của Liên hiệp các Dòng Capuchin Thánh Clara Khó nghèo tại Ý.

Sau đây là diễn văn Đức Thánh Cha trước những người hiện diện trong cuộc gặp gỡ:


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần.
Bình an ở cùng anh chị em! Và cũng có thể nói: “Bình an và thiện hảo!”

Quý chị em, anh em thân mến, chào buổi sáng và chào mừng tất cả anh chị em!

Tôi rất vui được gặp anh chị em và cùng anh chị em chia sẻ giây phút suy tư này. Chúng ta sẽ kín múc nguồn cảm hứng từ Phụng vụ hôm nay, lễ kính Thánh Matthêu, Tông đồ Thánh sử.

Trong Thư gửi tín hữu Êphêsô, Thánh Phaolô khuyên nhủ chúng ta như sau: “Anh em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh em. Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại… Anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng” (Êph 4:1-2.4).

Đó là lời kêu gọi trung thành, và Liên hiệp của quý chị đáp lại lời kêu gọi ấy theo đặc sủng của Thánh Clara và Thánh Phanxicô, qua đời sống cầu nguyện chiêm niệm, sự nghèo khó và sự gắn bó trọn vẹn với Tin Mừng. Vì mục đích này, công việc quý chị đã thực hiện trong việc sửa đổi và cập nhật Hiến pháp thật đáng trân trọng; những văn kiện này tập hợp các đóng góp của nhiều người. Các văn kiện đó tái khẳng định rằng “nhiệm vụ đầu tiên và cốt yếu của mọi tu sĩ là chiêm niệm những thực tại thần linh và không ngừng kết hợp với Thiên Chúa trong cầu nguyện” (Hiến pháp, 60; x. CIC, đ. 663). Như Thánh Clara viết cho Thánh Agnes Bohemia: “Hãy đặt tâm trí của em trong tấm gương vĩnh cửu; hãy đặt linh hồn em trong ánh huy hoàng của vinh quang; hãy đặt trái tim em trong hình ảnh của bản thể thần linh; và nhờ chiêm niệm, hãy biến đổi toàn thể con người em thành hình ảnh của chính Đấng Thần Linh” (Thư thứ Ba gửi Chân phước Agnes Bohemia, 12-13; FF 2888).

Và chính với “tâm trí trong tấm gương vĩnh cửu”, tôi mời quý chị nhìn vào thời đại hiện nay, với những cuộc đấu tranh và những sự bất định của nó, cũng như những thách đố của “thế giới nhỏ bé” của quý chị, một thế giới phong phú về quá khứ và được mời gọi hướng về tương lai trong niềm hy vọng. Đặc biệt, sự suy giảm ơn gọi có thể khiến một số người đưa ra những lựa chọn rút lui hoặc thỏa hiệp. Nhưng tôi muốn nhắc lại với quý chị điều tôi đã nói về tương lai của các giáo phận và các chủng viện tại Ý. Chúng ta hãy cố gắng thay đổi cách nhìn khi xem xét thực tại này. Thật vậy, những thách đố của nó có thể giúp chúng ta khám phá hoặc tái khám phá những tiềm năng bất ngờ, “không phải quá nhiều về mặt số lượng, nhưng về chất lượng của sự dâng hiến” (Diễn văn trước những người hành hương đến từ các giáo phận Toscana, ngày 11 tháng 10 năm 2025).

Tin Mừng hôm nay nhắc nhở chúng ta về điều đó khi nói rằng: “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần” (Mt 9:12). Sự giảm sút số thành viên của cộng đoàn, cùng với nỗi sợ kèm theo là đánh mất tính tự chủ, không thể khiến chúng ta lo âu hay cướp mất niềm hy vọng của chúng ta, nhưng phải thúc đẩy chúng ta canh tân cách sống và dấn thân hơn nữa vào việc đồng hành thiêng liêng với những người gõ cửa các đan viện, để vun đắp những cộng đoàn vui tươi và sống động, nơi người ta có thể cảm nghiệm sự mật thiết với Thiên Chúa, lòng nhân ái, sự hiệp thông và những mối tương quan chân thực. Ơn gọi không phát sinh từ việc áp dụng những chiến lược tổ chức, cũng không từ những chiến dịch được hoạch định tại bàn giấy, nhưng từ cầu nguyện, từ sự gắn bó với Tin Mừng, từ thinh lặng, từ việc biết đón nhận nhau với những bất toàn của mình (x. Gl 6:2), và từ cảm nhận mình là một phần của tổng thể tạo nên sự hiệp nhất. Và để làm được điều này, Chúa không đòi hỏi chúng ta phải hoàn hảo không tì vết, nhưng đòi chúng ta khiêm nhường để cho ân sủng của Người uốn nắn mỗi ngày.

Điều này cho chúng ta một gợi ý để nói về một chủ đề quan trọng khác: đó là việc đào tạo, cả đào tạo ban đầu lẫn đào tạo thường kỳ. Hãy đào tạo chính bản thân và người khác trong đời sống đan tu được sống trong tinh thần hiệp thông sâu xa với nhau và với Giáo hội; trong sự thinh lặng, mà giữa một xã hội bị thống trị bởi sự vội vã và ồn ào, làm cho con người cảm nhận cần có thời gian và không gian để dừng lại và phân định, không sợ bỏ lỡ “khoảnh khắc vụt qua”.

Sau cùng, đây cũng là chiều kích truyền giáo đặc thù của ơn gọi đan tu. Thánh vịnh 19, cũng được trích trong Phụng vụ hôm nay, viết rằng: “Chẳng một lời một lẽ, chẳng nghe thấy âm thanh, mà tiếng vang đã dội khắp hoàn cầu và thông điệp loan đi tới chân trời góc biển” (cc. 3-4). Được đào tạo trong trường học của Tin Mừng, Chúa kêu gọi quý chị trở nên những chứng nhân của Người trong thinh lặng và chiêm niệm, đặt quý chị giữa lòng lịch sử như một ký ức sống động và mang tính ngôn sứ về Tin Mừng.

Hơn nữa, với tư cách là các nữ tu của Dòng Thánh Clara, quý chị có một sứ điệp đặc biệt để công bố, trước hết được truyền đạt qua việc tuân giữ Luật Dòng và Hiến pháp của quý chị. Một phần thuộc về chính bản chất và sứ mạng của các chị là sống Tin Mừng qua việc từ bỏ tất cả những gì thuộc về thế gian, luôn hướng trọn vẹn về Mối tình đầu tiên và duy nhất của đời mình. Điều này đòi hỏi sự tiết độ, từ bỏ những của cải vật chất, việc hiến thân trong vâng phục và sự trong sáng, trong một đời sống đơn sơ nhưng đồng thời cũng triệt để và đòi hỏi nhiều hy sinh – một dấu chỉ quý giá của lòng trung thành, đặc biệt trong một thế giới toàn cầu hóa và bất an, nơi mà lòng khao khát và khả năng “bén rễ sâu” dường như đã bị đánh mất (x. Phanxicô, Tông hiến Vultum Dei quærere, 35).

Vì thế, quý chị thân mến, tôi muốn kết thúc bằng việc trở lại với một câu hỏi của Trợ lý Liên hiệp của quý chị: “Các đan viện nữ sống đời đan tu có thể đưa ra câu trả lời cho những vấn nạn về ý nghĩa mà nhân loại ngày nay đang phải đối diện hay không?” Để trả lời câu hỏi này, bốn phương thế đã được nêu ra mà tôi cho là quan trọng: lắng nghe lẫn nhau; koinonia, như sự hiệp thông về mục đích, để tránh sự cô lập; diakonia, để phục vụ và cùng nhau làm việc; và martyria, để làm chứng cho Tin Mừng. Tôi để lại những điều này cho chị em như những con đường chắc chắn cho hành trình của quý chị.

Quý chị thân mến, tôi cảm ơn quý chị vì những gì quý chị làm và vì chính con người của quý chị: những ngọn đuốc và những người canh gác cho Giáo hội và cho thế giới (x. Phanxicô, Sứ điệp gửi các tu sĩ chiêm niệm, 21 tháng 11 năm 2018), những dấu chỉ về sự hiện diện của Nước Thiên Chúa trên mặt đất.

Tôi rất vui mừng vì đã được gặp quý chị, và nhờ sự chuyển cầu của Đức Maria, Thánh Phanxicô và Thánh Clara Assisi, cùng Chân phước Maria Lorenza Longo, tôi trân trọng ban Phép lành Tông tòa cho quý chị.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 23/09/2026]


Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2026

TUYÊN PHONG CHÂN PHƯỚC ĐỨC CHA FULTON SHEEN/IV – Những người con của cùng một Cha. Đức Fulton Sheen và nạn phân biệt chủng tộc

TUYÊN PHONG CHÂN PHƯỚC ĐỨC CHA FULTON SHEEN/IV – Những người con của cùng một Cha. Đức Fulton Sheen và nạn phân biệt chủng tộc

Thứ Ba, ngày 22 tháng 9 năm 2026

TUYÊN PHONG CHÂN PHƯỚC ĐỨC CHA FULTON SHEEN/IV – Những người con của cùng một Cha. Đức Fulton Sheen và nạn phân biệt chủng tộc

Marie-Lucile Kubacki

Rochester (Hãng tin Fides) – “Xung quanh chúng ta có những người không bao giờ ngừng căm ghét một ai đó hoặc điều gì đó, luôn hô to: ‘Đả đảo chủ nghĩa tư bản! Đả đảo các nghiệp đoàn! Đả đảo tôn giáo! Đả đảo chính phủ! Đả đảo giới tài phiệt kinh tế! Đả đảo tư hữu! Đả đảo giai cấp này! Đả đảo giai cấp kia!’ Nhưng tôi nói: ‘Hãy vượt lên trên hận thù giai cấp! Hãy vượt lên trên mọi sự thù ghét! Chúng ta hãy ngừng đả đảo mọi thứ, và bắt đầu ngước nhìn lên, nhìn lên, nhìn lên, nhìn lên Thiên Chúa!’”

Đức cha Fulton J. Sheen đã cất lên những lời nổi tiếng này tại Los Angeles trong thời Thế chiến thứ Hai, trong một lời kêu gọi hòa bình giữa người Do Thái, người Tin Lành và người Công giáo nhằm chống lại khuynh hướng thù địch tập thể. Những lời đó cũng cho thấy một cái nhìn thoáng qua ít được chú ý trong chứng tá công khai của vị giáo sĩ người Mỹ này: sự phản đối kiên trì của ngài đối với nạn phân biệt chủng tộc, được thể hiện từ rất lâu trước khi các đạo luật về dân quyền được ban hành vào thập niên 1960.


Một bệnh viện phụ sản dành cho các bà mẹ da đen

Năm 1938, vị linh mục Công giáo nhận được một khoản thừa kế từ Nữ Công tước Brady, một ân nhân mà ngài đã gặp tại Lộ Đức. Thomas C. Reeves viết trong cuốn America’s Bishop: The Life and Times of Fulton J. Sheen rằng Cha Sheen đã dành phần lớn số tiền này cho Giáo phận Mobile, bang Alabama, để giúp các Nữ tu Lòng Thương xót (Sisters of Mercy) sử dụng khoản tiền ấy xây dựng một khu hộ sinh nhỏ dành cho các bà mẹ da đen. Tại Mobile, nơi nạn phân biệt chủng tộc đang thống trị, những người mẹ da đen bị loại khỏi các bệnh viện dành riêng cho bệnh nhân da trắng. Chương trình được tài trợ bằng nguồn quỹ này sau đó gắn liền với Bệnh viện Martin de Porres. Sáng kiến đó mở rộng theo thời gian. Năm 1950, một cơ sở bệnh viện lớn hơn được khánh thành sau một chiến dịch gây quỹ quy mô lớn, trong đó Cha Sheen tiếp tục tham gia. Ông Reeves cũng cho biết mối quan tâm của Cha Sheen đối với dự án này có liên quan đến Fanny Washington, người đầu bếp và quản gia người Mỹ gốc Phi của ngài.

Trong những năm tiếp theo, Đức cha Sheen đã hiến tặng tiền nhuận bút từ các cuốn sách của ngài và thù lao nhận được từ các buổi diễn thuyết trước công chúng cho các sáng kiến và tổ chức Công giáo tại Alabama. Những đóng góp này bao gồm việc ngài hỗ trợ cho Giáo điểm Truyền giáo Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ ở Hillview, Alabama, cũng như đóng góp cho các nhà nguyện và các dự án truyền giáo lưu động ở Bắc Carolina và Texas.

Năm 1942, sau khi nhận lời mời của một người phụ nữ da đen, ngài đi đến một thị trấn nhỏ ở Bắc Carolina, nơi ngài giảng một tuần đại phúc trên các bậc tam cấp của trường công lập địa phương. Một năm sau, ngài cùng một linh mục đi xuyên qua Alabama trên một chiếc xe kéo, nói chuyện “tại các góc phố và giữa những cánh đồng ngô với bất cứ ai chịu lắng nghe”, ông Reeves viết.

Những câu chuyện này diễn ra vào thời điểm người Công giáo da đen thường sống bên lề đời sống Giáo hội và dân sự Hoa Kỳ. Chúng cho thấy quyết tâm của Đức cha Sheen trong việc sử dụng ảnh hưởng, số tiền ngài quyên góp được và sự hiện diện công khai của mình để phục vụ những cộng đồng có rất ít khả năng tiếp cận những nguồn lực như vậy.


Từ Mobile đến Rochester

Sự trợ giúp cụ thể mà Đức cha Sheen dành cho các cộng đồng Công giáo da đen bắt nguồn từ một xác tín luân lý và thần học rộng lớn hơn. Nhân quyền, như ngài lập luận trong tác phẩm A Declaration of Dependence (1941), không bắt nguồn từ chính phủ và không thể bị phụ thuộc vào sở thích của số đông. Nền tảng của các quyền ấy là phẩm giá của nhân vị trước mặt Thiên Chúa. Về điểm này, chính quyền có thể công nhận và bảo vệ các quyền; nhưng chính quyền không thể gán giá trị thấp hơn cho một nhóm người này so với một nhóm người khác, theo bất kỳ tiêu chuẩn công lý căn bản nào.

Bắt nguồn từ truyền thống Kitô giáo, quan điểm này đã dẫn Đức cha Sheen đến chỗ coi thành kiến chủng tộc trước hết là sự khước từ nhìn nhận người khác như một người con của Thiên Chúa.

Khi Đức Sheen trở thành Giám mục Rochester năm 1966, ngài đến một thành phố đang chịu những hậu quả của tình trạng bất bình đẳng chủng tộc ở miền Bắc. Các cuộc bạo động vào tháng 7 năm 1964 đã làm bùng phát sự phẫn nộ do các biện pháp của cảnh sát, điều kiện nhà ở, việc làm và sự loại trừ khỏi những lợi ích kinh tế của một thành phố công nghiệp. Các tổ chức Công giáo tại Rochester trước đó đã bắt đầu có phản ứng: Hội đồng Liên chủng tộc Công giáo được thành lập năm 1960, trong khi các sáng kiến của giáo phận cung cấp sự trợ giúp cho trẻ em da đen và các gia đình Puerto Rico. Trong thời gian điều hành giáo phận, Đức cha Sheen đã thể hiện sự hỗ trợ rõ rệt cho hoạt động này. Báo chí Công giáo tại Rochester đưa tin rằng, giữa năm 1967 và 1968, chính ngài đã thành lập một tổ chức mà sau này phát triển thành Quỹ Nhà ở Hiệp nhất Giám mục Sheen (Bishop Sheen Ecumenical Housing Foundation), một cơ quan cung cấp nhà ở giá cả phải chăng hiện vẫn đang hoạt động trong vùng nhằm giải quyết tình trạng thiếu hụt nhà ở đàng hoàng cho cư dân có thu nhập thấp.

Sự phân biệt đối xử trong lĩnh vực nhà ở không chỉ giới hạn ở miền Nam. Tại các thành phố miền Bắc, tình trạng này tiếp diễn qua sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận với nhà cho thuê, mua bán nhà, các khoản vay thế chấp và tín dụng, cũng như thông qua các thông lệ phi chính thức nhằm hạn chế nơi các gia đình có thể sinh sống.

Tại Rochester, Đức cha Sheen cũng tham gia vào cuộc tranh luận công khai về việc làm và sự loại trừ chủng tộc tại Eastman Kodak, nhà tuyển dụng tư nhân lớn nhất thành phố. Một bài viết đăng trên tạp chí America liệt kê ngài vào số những người gây áp lực buộc Kodak phải cải thiện cơ hội tiếp cận đào tạo và việc làm cho các công nhân da đen (“Fulton Sheen, God’s Love and the Civil Rights Movement”, ngày 26 tháng 8 năm 2026).


Một viễn cảnh truyền giáo ôm lấy toàn thể nhân loại

Chiều kích quốc tế trong sứ vụ của Đức cha Sheen càng củng cố thêm góc nhìn này. Từ năm 1950 đến năm 1966, ngài đảm nhiệm vai trò Giám đốc Quốc gia Hội Truyền bá Đức tin (Society for the Propagation of the Faith) tại Hoa Kỳ. Vị trí này đã đưa ngài vào vai trò nói với người Công giáo Mỹ về một Giáo hội vượt lên trên các văn hóa, ngôn ngữ và quốc gia.

Trong các chuyến đi vào năm 1960, ngài đến thăm Argentina và Brazil, dành thời gian đặc biệt tại Buenos Aires và Rio de Janeiro. Tại Rio, ngài nhận thấy sự tương phản gay gắt giữa sự giàu có tột bậc và sự nghèo khổ khốn cùng: sự đối lập giữa các khu phố ven biển sang trọng của thành phố và sự thiếu thốn cơ cực chỉ cách đó một khoảng cách ngắn đã thách thức bất kỳ sự đánh đồng đơn thuần nào giữa thành công kinh tế và xã hội với nhân đức luân lý. Sau đó, ngài đến Kenya thăm các giáo điểm truyền giáo và các cộng đồng đang gánh chịu bệnh tật, cô lập và tình trạng bất an sâu sắc. Ngài dâng Thánh lễ trong một nhà thờ truyền giáo khiêm tốn với nền đất nén trộn phân gia súc, và sau đó nhớ lại cuộc gặp gỡ với một người phụ nữ, mẹ của mười người con, đã bị chồng bỏ rơi. Hành trình của ngài cũng đưa ngài đến Johannesburg, nơi ngài tận mắt chứng kiến chế độ phân biệt chủng tộc apartheid. Các bản tường thuật về chuyến thăm mô tả quyết tâm của ngài, bất chấp sự cản trở từ chính quyền, trong việc đến gặp một giáo lý viên da đen tại một khu vực bị phân biệt đối xử.

Tại một hội nghị truyền giáo ở St. Louis vào năm 1953, Đức cha Sheen đã liên kết một cách rõ ràng tính phổ quát của sứ mạng Công giáo với việc bác bỏ bất kỳ sự phân thứ bậc nào dựa trên sắc tộc. Theo một bài tường thuật kể lại cuộc quy tụ được đăng trên National Catholic Register, ngài nói với các nhà truyền giáo: “Đừng để ý đến chủng tộc hay màu da, vì trên thế giới không có người thấp kém khi họ là những người con của ân sủng nhờ các bí tích.” (“When Venerable Fulton Sheen addressed 270,000 people in St. Louis,” 14 tháng 4 năm 2026.) Cũng trong bài diễn văn đó, Đức cha Sheen đã đề cập đến niềm tin của người Hồi giáo vào một Thiên Chúa duy nhất và lòng tôn kính của họ dành cho Chúa Giêsu và Đức Mẹ. Ngài cũng nói về Trung Quốc như một đất nước vẫn mở ra cho sự canh tân đức tin, mặc dù đang trải qua một giai đoạn khó khăn.


Bác ái đối với “người lân cận” mà chúng ta không chọn làm người lân cận

Đức Fulton Sheen không dễ dàng được xếp vào các phạm trù chính trị đương thời. Theo thuật ngữ xuất hiện sau này trong phong trào dân quyền, ngài không phải là một nhà hoạt động dân quyền cũng không phải là một nhà lý luận về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc mang tính cơ cấu. Sự dấn thân của ngài được thể hiện qua các bài giảng, những sáng kiến từ thiện, các chuyến đi mục vụ và những lời kêu gọi lương tâm. Tuy nhiên, những hình thức hành động này đã có tác động đáng kể trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ: hỗ trợ việc chăm sóc thai sản tại những nơi mà chế độ phân biệt chủng tộc hạn chế khả năng tiếp cận điều trị y tế đối với phụ nữ da đen; trợ giúp những cộng đồng truyền giáo bị các cơ quan công quyền bỏ rơi; và bênh vực quyền có nhà ở và việc làm tại Rochester.

Sự nghiệp của ông Jerome Gary Cooper minh họa rất rõ cho phương pháp tiếp cận của Đức cha Sheen. Lớn lên tại Mobile, Alabama — một thành phố đậm nét phân biệt chủng tộc — Cooper vào học Đại học Notre Dame năm 1954 nhờ một học bổng và tốt nghiệp ngành tài chính bốn năm sau đó. Sau đó, ông nhập ngũ vào binh chủng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, trở thành sĩ quan Thủy quân Lục chiến gốc Phi đầu tiên chỉ huy một đại đội bộ binh chiến đấu trong Chiến tranh Việt Nam. Về sau, ông được thăng cấp thiếu tướng và được bổ nhiệm làm Đại sứ Hoa Kỳ tại Jamaica, nơi ông phục vụ từ năm 1994 đến năm 1997.

Tạp chí America và cơ sở dữ liệu tiểu sử BlackPast ghi nhận rằng một thư giới thiệu của Đức cha Fulton Sheen đã giúp Cooper nhận được học bổng vào Đại học Notre Dame.

Đối với Đức cha Sheen, người đó chính là ‘người lân cận’. Không phải là ‘người lân cận’ mà chúng ta lựa chọn vì người đó suy nghĩ như chúng ta hay có nét giống với chúng ta — theo luận lý của các thuật toán tạo ra các cộng đồng ảo — nhưng là người được đặt ở trước mặt chúng ta, thường theo một cách thức bất tiện, thường là ở bên vệ đường. Đức cha Sheen tin rằng, chính nơi con người đó mà các Kitô hữu có thể gặp gỡ hình ảnh của Thiên Chúa bằng cách làm chứng cho đức tin của mình vào Đức Kitô.
(Hãng tin Fides, 22/9/2026)


[Nguồn: fides.org]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 23/09/2026]


100 NĂM KỂ TỪ NGÀY TẤN PHONG SÁU GIÁM MỤC TRUNG QUỐC ĐẦU TIÊN/1 - Đức cha Odorico Cheng Hede và Giáo phận Puchi

100 NĂM KỂ TỪ NGÀY TẤN PHONG SÁU GIÁM MỤC TRUNG QUỐC ĐẦU TIÊN/1 - Đức cha Odorico Cheng Hede và Giáo phận Puchi

Thứ Ba, ngày 22 tháng 9 năm 2026

Một trăm năm sau ngày tấn phong sáu giám mục Trung Quốc đầu tiên trong thời kỳ hiện đại (28 tháng 10 năm 1926), Hãng tin Fides dành một chuỗi bài viết tư liệu về những vị kế nhiệm các Thánh Tông đồ và các giáo phận được trao phó cho các ngài. Việc truyền chức cho các ngài đã đánh dấu một thời điểm quan trọng trong lịch sử Giáo hội Công giáo tại Trung Quốc.

100 NĂM KỂ TỪ NGÀY TẤN PHONG SÁU GIÁM MỤC TRUNG QUỐC ĐẦU TIÊN/1 - Đức cha Odorico Cheng Hede và Giáo phận Puchi

Giáo sư Liu Zhiqing

Phổ Kỳ (Hãng tin Fides) – Hạt Phủ doãn Tông tòa Phổ Kỳ (Puchi - 蒲圻) là giáo khu đầu tiên của Giáo hội Công giáo tại Trung Quốc được trao cho sự lãnh đạo của một giáo sĩ người Trung Quốc. Hạt Phủ doãn được thành lập ngày 12 tháng 12 năm 1923. Vị giám mục đầu tiên của hạt là Đức cha Odorico Cheng Hede (成和德), một trong sáu giám mục Trung Quốc được Đức Giáo hoàng Piô XI tấn phong tại Đền thờ Thánh Phêrô ở Vatican ngày 28 tháng 10 năm 1926. Trước khi được truyền chức giám mục, ngài đã được bổ nhiệm làm Phủ doãn Tông tòa ngày 21 tháng 3 năm 1924, và Đức Giáo hoàng Piô XI bổ nhiệm ngài làm giám mục đắc cử ngày 24 tháng 6 năm 1926.


1. Lịch sử Giáo phận

Năm 1922, không lâu sau khi đến Trung Quốc với tư cách Khâm sứ Tòa Thánh đầu tiên, Đức Tổng Giám mục Celso Costantini bắt đầu xúc tiến mạnh mẽ việc thành lập các giáo khu để có thể được giao phó cho hàng giáo sĩ Trung Quốc. Sau này, ngài viết trong cuốn Cùng các nhà truyền giáo tại Trung Quốc, 1922–1933: Hồi ký về các sự kiện và tư tưởng:

“Tôi đề nghị với Rôma rằng đã đến lúc thành lập một hoặc hai giáo phận bản xứ. Bằng cách này, một số giám mục Trung Quốc có thể tham dự với tư cách là những đại diện chính thức tại Công đồng Toàn quốc (Công đồng Thượng Hải năm 1924).”

Khi đến Trung Quốc, Đức Tổng Giám mục Costantini đặt trụ sở tại Hán Khẩu và, vì những lý do địa lý, duy trì liên lạc thường xuyên với Hạt Đại diện Tông tòa Hán Khẩu. Hơn nữa, vì cả hai đều là người Ý, ngài đã xây dựng mối quan hệ đặc biệt thân tình với Cha Gratianus Gennaro (田瑞玉, 1863–1923), một tu sĩ Dòng Phanxicô người Ý và là Đại diện Tông tòa Hán Khẩu.

Do đó, Đức Tổng Giám mục Costantini biết rằng “Hạt Đại diện Tông tòa dự định trao mười giáo khu nhỏ nằm ở phía nam sông Dương Tử cho các tu sĩ Phanxicô người Mỹ.” Vì thế, ngài nghĩ đến việc “lấy bốn trong số các giáo khu này để thành lập một giáo phận giao phó cho một giám mục Trung Quốc, với Phổ Kỳ làm trung tâm, nơi công cuộc của Giáo hội đã đặt được một số nền móng.”

Vì vậy, Đức Tổng Giám mục Costantini tập trung nỗ lực thuyết phục vị Đại diện Tông tòa Hán Khẩu ủng hộ kế hoạch này. Sau này, ngài nhớ lại: “Tôi cố thuyết phục ngài Gennaro chấp thuận sáng kiến thành lập một giáo phận bản xứ. Ngài ngạc nhiên và, sau khi nêu ra một số khó khăn, kết luận: ‘Các linh mục Trung Quốc không có địa vị pháp lý tại Trung Quốc và không được chính quyền Trung Quốc tôn trọng. Nhưng nếu Rôma muốn như vậy, chúng ta không thể làm gì khác ngoài việc vâng phục.’” (sđd.)

Ngày 12 tháng 12 năm 1923, Hạt Phủ doãn Tông tòa Phổ Kỳ được thành lập sau khi tách khỏi Hạt Đại diện Tông tòa Đông Hồ Bắc (Houpe Oriental). Hạt Đại diện Tông tòa này do các tu sĩ Phanxicô người Ý quản lý và vào năm 1923 bao gồm năm phủ: Vũ Xương, Hán Dương, Hoàng Châu (Hwangchow), Đức An (Teian) và An Lục. Lãnh thổ được tổ chức thành năm giáo hạt: Vũ Xương, Hán Dương, An Lục, Đức An và Hoàng Châu.

Có 97 linh mục phục vụ trong Hạt Đại diện Tông tòa: 74 vị người nước ngoài và 23 vị người Trung Quốc. Như vậy, các linh mục Trung Quốc chiếm 23,71 phần trăm hàng giáo sĩ, một tỷ lệ tương đối thấp, khiến Hạt Đại diện Tông tòa này đứng thứ 39 trong số 57 Hạt Đại diện Tông tòa và Hạt Phủ doãn Tông tòa hiện diện tại Trung Quốc thời bấy giờ.

Ba vùng truyền giáo mới được thành lập từ Hạt Đại diện Tông tòa Đông Hồ Bắc. Hạt Đại diện Tông tòa Hán Khẩu (Hankow) có 54 giáo xứ với các linh mục thường trú và 43.914 tín hữu Công giáo đã được rửa tội.

Tháng 12 năm 1923, cùng lúc với việc thành lập Hạt Phủ doãn Tông tòa Phổ Kỳ, Hạt Phủ doãn Tông tòa Vũ Xương cũng được thành lập và trao cho các tu sĩ Phanxicô người Mỹ, trong khi Hạt Phủ doãn Tông tòa Hán Dương được trao cho Hội Truyền giáo Thánh Columban (S.S.C.).

Hạt Phủ doãn Tông tòa Phổ Kỳ và Vũ Xương đều được hình thành từ Giáo hạt Vũ Xương thuộc Hạt Đại diện Tông tòa Đông Hồ Bắc, trong khi Giáo hạt Hán Dương trở thành địa hạt của Hạt Phủ doãn Tông tòa Hán Dương.

Theo các thống kê hiện có, năm 1923, Giáo hạt Vũ Xương thuộc Hạt Đại diện Tông tòa Đông Hồ Bắc bao gồm mười giáo khu. Hạt Phủ doãn Tông tòa Phổ Kỳ sau này bao gồm bốn giáo khu Phổ Kỳ, Gia Ngư (Kiayu), Sùng Dương (Tsuogyang) và Đồng Thành (Tungcheng). Trong năm đó, chỉ có một giáo xứ tại Sùng Dương, với một linh mục Trung Quốc và 729 tín hữu.

Hạt Phủ doãn Tông tòa Vũ Xương sau này bao gồm Vũ Xương, Hàm Ninh (Sienning), Ngạc Thành (Wocheng), Đại Dã (Tayeh), Đồng Sơn (Tungshan) và Hưng Quốc (Hingkwo), với sáu giáo xứ và 2.793 tín hữu. Giáo hạt Hán Dương có 7.689 tín hữu.

Như vậy, ngày 12 tháng 12 năm 1923, Hạt Phủ doãn Tông tòa Phổ Kỳ được thành lập. Trong lịch sử Giáo hội tại Trung Quốc, đây được xem là giáo khu đầu tiên được trao cho một thành viên thuộc hàng giáo sĩ bản địa Trung Quốc. Trong năm đó, hạt có 866 tín hữu Công giáo được rửa tội, với bảy linh mục Trung Quốc và một linh mục người Ý hoạt động mục vụ.

Các nguồn lực vật chất của Hạt Phủ doãn Tông tòa mới hầu như không là con số không, và công cuộc truyền giáo vô cùng khó khăn. Để hỗ trợ vùng địa hạt mới này, Hạt Đại diện Tông tòa Đông Hồ Bắc (Hán Khẩu) đã phân bổ 100.000 lạng bạc cho các hoạt động loan báo Tin Mừng.

Ngày 10 tháng 5 năm 1951, Hạt Phủ doãn Tông tòa Phổ Kỳ được nâng lên hàng giáo phận, bao gồm bốn giáo khu Gia Ngư, Phổ Kỳ, Sùng Dương và Đồng Thành.

Theo những số liệu thống kê do Zhao Qingyuan ghi lại trong Niên biểu về việc phân chia các Giáo phận Công giáo tại Trung Quốc và sự kế thừa của các vị lãnh đạo, giáo phận có 19 nhà thờ và nhà nguyện, 10 linh mục Trung Quốc và 5.046 tín hữu Công giáo đã được rửa tội.


2. Các Giám mục của Giáo phận

Vị giám mục đầu tiên của Hạt Phủ doãn Tông tòa Phổ Kỳ là Đức cha Odorico Cheng Hede (Thành Hòa Đức) (成和德, 1873–1928), một tu sĩ thuộc Dòng Anh em Hèn mọn Phanxicô (OFM).

Đức cha Odorico Cheng Hede sinh ngày 22 tháng 7 năm 1873 tại Lão Hà Khẩu, tỉnh Hồ Bắc. Ban đầu, ngài theo học tại trường Chayuangou và năm lên mười tuổi, ngài được gửi sang Ý cùng với một chủng sinh Phanxicô khác để được đào tạo.

Ngày 7 tháng 8 năm 1894, ngài gia nhập Dòng Anh em Hèn mọn tại La Verna, Ý, và được thụ phong linh mục ngày 5 tháng 7 năm 1900. Tháng 1 năm 1903, ngài trở về Trung Quốc để dấn thân vào công cuộc truyền giáo. Từ năm 1907, ngài giữ chức phó giám đốc Tiểu Chủng viện tại Chayuangou, một chức vụ ngài đảm nhiệm trong 14 năm.

Đức cha Odorico có năng khiếu đặc biệt về thánh nhạc và thích đọc các tác phẩm lịch sử. Ngài dịch Luật Dòng Phanxicô sang tiếng Trung Quốc và soạn một quyển văn phạm tiếng Ý cho học sinh Trung Hoa. Ngài cũng viết Tiểu sử của hai Chân phước Tử đạo Liu Fangji và Dong Wenxue — tên tiếng Trung Hoa của hai vị tử đạo là Thánh Phanxicô Fernández de Capillas và Thánh Jean-Gabriel Perboyre — được nhà in Nhà thờ Xujiahui ở Thượng Hải xuất bản.

Ngày 21 tháng 3 năm 1924, ngài được bổ nhiệm làm Phủ doãn Tông tòa của Hạt Phủ doãn Tông tòa Phổ Kỳ, trở thành vị Phủ doãn Tông tòa người Trung Quốc đầu tiên. Mặc dù ngài Cheng Hede đảm nhiệm chức vụ này khi còn là linh mục và chưa phải là giám mục, việc bổ nhiệm ngài vẫn là một biến cố quan trọng đối với Giáo hội tại Trung Quốc, 250 năm sau lễ tấn phong giám mục cho tu sĩ Dòng Đa Minh Grêgôriô Luo Wenzao diễn ra vào năm 1674.

Năm 1924, Đức cha Cheng Hede cùng với một Phủ doãn Tông tòa người Trung Quốc khác tham dự Primum Concilium Sinense, Công đồng của Giáo hội Công giáo tại Trung Quốc, được triệu tập tại Thượng Hải.

Ngày 24 tháng 6 năm 1926, ngài được bổ nhiệm làm giám mục hiệu tòa Catenna. Ngày 28 tháng 10 năm 1926, tại Vương cung thánh đường Thánh Phêrô ở Rôma, ngài được Đức Giáo hoàng Piô XI truyền chức giám mục, trở thành một trong sáu vị giám mục Trung Quốc đầu tiên được tấn phong trong thời kỳ hiện đại.

Ngài qua đời ngày 14 tháng 11 năm 1928, hưởng dương 55 tuổi.

Sau khi ngài qua đời, linh mục Giuse Zhang Jingxiu (张敬修, 1881–1941) được bổ nhiệm làm Phủ doãn Tông tòa Phổ Kỳ ngày 16 tháng 4 năm 1929. Ngài qua đời ngày 20 tháng 4 năm 1941.

Ngày 23 tháng 2 năm 1949, một tu sĩ Phanxicô khác, linh mục Giuse Li Daonan, O.F.M. (李道南, 1902–1971), được bổ nhiệm làm Phủ doãn Tông tòa Phổ Kỳ. Ngày 10 tháng 5 năm 1951, khi Hạt Phủ doãn Tông tòa được nâng lên hàng giáo phận, Đức cha Li Daonan trở thành Giám mục Giáo phận Phổ Kỳ. Ngài qua đời năm 1971.


3. Sự phát triển của Giáo phận

Vào thời điểm được thành lập, Giáo phận Phổ Kỳ có nguồn lực rất hạn chế và địa hạt tương đối nhỏ, chỉ bao gồm bốn giáo khu. Ban đầu, trong vùng chỉ có một giáo xứ tại Sùng Dương, thuộc Giáo hạt Vũ Xương.

Sau 27 năm phát triển, số tín hữu Công giáo được rửa tội tăng lên 5.351 người, trong khi giáo phận có 10 linh mục Trung Quốc và 10 nữ tu Trung Quốc. Tuy nhiên, nhìn chung, sự phát triển các hoạt động mục vụ của giáo phận vẫn ở mức tương đối khiêm tốn và chưa đạt được những mức độ thực sự khả quan.

100 NĂM KỂ TỪ NGÀY TẤN PHONG SÁU GIÁM MỤC TRUNG QUỐC ĐẦU TIÊN/1 - Đức cha Odorico Cheng Hede và Giáo phận Puchi

(Hãng tin Fides, 22/9/2026)


[Nguồn: fides.org]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 22/09/2026]


Thứ Tư, 23 tháng 9, 2026

Buổi tiếp kiến của Đức Thánh Cha Lêô XIV với phái đoàn “Thế vận hội Đặc biệt”, 19.09.2026

Buổi tiếp kiến của Đức Thánh Cha Lêô XIV với phái đoàn “Thế vận hội Đặc biệt”, 19.09.2026

Buổi tiếp kiến của Đức Thánh Cha Lêô XIV với phái đoàn “Thế vận hội Đặc biệt”, 19.09.2026

*******

Sáng nay, tại Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã tiếp kiến một phái đoàn của hiệp hội thể thao Thế vận hội Đặc biệt.

Sau đây là lời chào của Đức Thánh Cha gửi đến những người hiện diện trong buổi gặp gỡ:


Lời chào của Đức Thánh Cha


Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.
Bình an ở cùng anh chị em!

Chào buổi sáng tất cả các bạn,

Tôi rất vui mừng được gặp các bạn sáng nay và được cùng chia sẻ với các bạn, trong khoảnh khắc này, niềm vui về những sự kiện thể thao mà các bạn đã trải qua. Như các bạn biết, tôi cũng rất yêu thích thể thao, và tôi vững tin vào giá trị giáo dục to lớn của thể thao, bởi thể thao vun đắp nơi con người những giá trị cao quý và chân thực; hơn nữa, thể thao mang lại cơ hội làm chứng cho những giá trị ấy cả trong thể thao chuyên nghiệp lẫn phong trào, và trên hết, trong chính đời sống của các vận động viên.

Tham gia thể thao có nghĩa là cam kết cách nghiêm túc và nỗ lực hết mình, rồi chia sẻ thành quả của sự kiên trì bằng tinh thần trung thực, lòng tin tưởng, sự cởi mở, tinh thần đồng đội và lòng can đảm. Các bạn thực hiện tất cả những điều đó, và các bạn biểu lộ vẻ đẹp ấy theo một cách thức thật đặc biệt cho những người tham gia và theo dõi các cuộc thi đấu, cũng như cho những người biết đến và gặp gỡ các bạn.

Khi tiếp một nhóm vận động viên của Thế vận hội Đặc biệt, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói rằng: “thể thao là một trong những ngôn ngữ phổ quát vượt qua những khác biệt về văn hóa, xã hội, tôn giáo cũng như thể lý, đồng thời có khả năng liên kết con người, làm cho họ trở thành những người cùng tham dự vào một cuộc chơi và cùng nhau trở thành những nhân vật chính trong chiến thắng cũng như thất bại” (13 tháng 10 năm 2017), và ngài đã đặc biệt trao phó cho anh chị em việc làm chứng cho điều này.

Hôm nay tôi cũng làm như vậy, bởi vì thế giới chúng ta đang rất cần những con người, giống như các bạn, nhắc nhở mọi người về các giá trị thật sự của cuộc sống; những người nam và người nữ bằng chính gương sáng của mình cho thấy rằng con đường chia sẻ và yêu thương là con đường duy nhất thật sự dẫn đến hạnh phúc và bình an.

Vì thế, tôi cảm ơn vì sự hiện diện của các bạn, vì niềm vui chân thành mà các bạn mang đến, vì thông điệp tích cực mà các bạn thể hiện, và tôi khuyến khích các bạn – các vận động viên, huấn luyện viên, những người quản lý, các trợ lý và nhân viên hỗ trợ – hãy tiếp tục công việc của mình với lòng nhiệt thành.

Các bạn thân mến, tôi phó thác các bạn cho sự chuyển cầu của Đức Maria và của Thánh Piergiorgio Frassati, một người trẻ yêu thể thao như các bạn, đã say mê Chúa Giêsu và cùng với nhiều bạn bè đã biết chuyển những giá trị của thể thao thành một cuộc sống tốt đẹp và quảng đại, thành một cuộc sống thánh thiện. Tôi ban phép lành cho các bạn, cùng với gia đình và tất cả những người thân yêu của các bạn. Cảm ơn các bạn!


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 22/09/2026]