Thứ Hai, 29 tháng 6, 2026

Tiếp kiến Chủ tịch các Trường Cao đẳng và Đại học Dòng Tên tại Bắc Mỹ, ngày 25.06.2026

Tiếp kiến Chủ tịch các Trường Cao đẳng và Đại học Dòng Tên tại Bắc Mỹ, ngày 25.06.2026

Tiếp kiến Chủ tịch các Trường Cao đẳng và Đại học Dòng Tên tại Bắc Mỹ, ngày 25.06.2026

*******

Sáng nay, tại Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã tiếp kiến các Chủ tịch của các Trường Cao đẳng và Đại học Dòng Tên tại Bắc Mỹ.

Sau đây là bài diễn văn mà Đức Thánh Cha gửi tới những người hiện diện trong cuộc gặp gỡ:

_________________________

Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần.
Bình an cho anh chị em.

Anh chị em thân mến,

Tôi vui mừng được chào đón tất cả anh chị em tại đây sáng nay, các vị Chủ tịch và đại diện đến từ các Trường Đại học và Cao đẳng Dòng Tên tại Bắc Mỹ, và tôi xin cảm ơn sự hiện diện của anh chị em. Tôi tin rằng chuyến viếng thăm của anh chị em đến Rôma và Vatican sẽ góp phần củng cố mối hiệp thông của anh chị em với Đấng Kế vị Thánh Phêrô cũng như với ban lãnh đạo Dòng Tên, một dòng tu đã dấn thân trong lĩnh vực giáo dục suốt nhiều thế kỷ.

Trong khi chúng ta có thể nhìn về quá khứ với tâm tình biết ơn vì tất cả những gì đã được thực hiện trong lịch sử của mỗi cơ sở giáo dục của anh chị em, chúng ta cũng nhận thức rõ về vô vàn thách đố mà nhân loại đang phải đối diện hôm nay. Thật vậy, thời đại của chúng ta được gọi là một thời kỳ chuyển đổi mang tính lich sử. Các xã hội ngày càng bị thế tục hóa sâu sắc, với nhiều người tìm cách gạt bỏ mọi sự đề cập đến Thiên Chúa ra khỏi không gian công cộng cũng như ra khỏi văn hóa đại chúng. Các hệ thống chính trị thường không đáp lại tiếng kêu của người nghèo, người di cư và những người mà thế giới coi là bị loại trừ. Nhiều khi, người trẻ bị bỏ rơi không có hy vọng trong một thế giới dường như thiếu vắng lời hứa về một tương lai tốt đẹp hơn, và môi trường tự nhiên tiếp tục bị hủy hoại bởi những người sử dụng tài nguyên của hành tinh vì lợi ích riêng của họ thay vì vì ích chung. Thế giới của chúng ta cũng ngày càng ý thức hơn về tác động ngày càng lớn của trí tuệ nhân tạo, và những hệ quả sâu rộng mà nó có thể gây ra cho nhân loại.

Trong bối cảnh ấy, bốn Ưu tiên Tông đồ Phổ quát của Dòng Tên (Universal Apostolic Preferences), đã được vị tiền nhiệm của tôi phê chuẩn vào năm 2019, đề xuất những lộ trình có thể giúp giải quyết các thách đố này ở cấp giáo dục đại học. Tôi muốn cùng anh chị em suy tư về bốn Ưu tiên này.

Ưu tiên thứ nhất, là chỉ ra con đường dẫn đến Thiên Chúa qua Linh thao và sự phân định, bổ túc cách tự nhiên cho những nỗ lực học thuật của anh chị em. Những ai tiến hành nghiên cứu, những người theo đuổi con đường học vấn và tìm kiếm chân lý, xét cho cùng, là đang tìm kiếm Thiên Chúa, cho dù họ có nhận thức được điều đó hay không (x. Chuyến thăm mục vụ Đại học Sapienza ở Rôma, ngày 14 tháng 5 năm 2026). Vì thế, điều cốt yếu là phải tạo ra những con đường giúp các thành viên trong cộng đồng học thuật của anh chị em nhận biết Đấng là Chân lý. Thật vậy, trong thời đại của chúng ta, như tôi đã lưu ý trong chuyến thăm Tây Ban Nha gần đây, “nhiều người trẻ và người trưởng thành đang tái khám phá đức tin Kitô giáo, đôi khi sau một thời gian xa rời Thiên Chúa” (Canh thức Cầu nguyện, ngày 9 tháng 6 năm 2026). Trước sự khát khao Thiên Chúa một cách rõ rệt và ngày càng gia tăng nơi người trẻ, tôi khuyến khích anh chị em tiếp tục tạo mọi cơ hội để họ tham gia các khóa Linh thao được tổ chức tại các trường của anh chị em. Bằng cách này, các thành viên trong cộng đồng học thuật của anh chị em có thể có được cuộc gặp gỡ cá nhân với Chúa chúng ta và tự do tìm kiếm việc phụng sự Người trong đời sống hằng ngày. Tương tự như vậy, các nguyên tắc của Linh thao liên quan đến sự phân định có thể trở thành những công cụ hữu ích giúp anh chị em mở lòng đón nhận những thúc đẩy của Chúa Thánh Thần trong việc đưa ra các quyết định thường ngày.

Ưu tiên thứ hai của Dòng Tên, là đồng hành với người nghèo và những người bị gạt ra bên lề thế giới, đặc biệt quan trọng trong thời điểm khi số lượng những người anh chị em của chúng ta đang sống trong cảnh nghèo đói đã ở mức cao kỷ lục. Nhiều người cuối cùng bị buộc phải rời bỏ quê hương vì nhiều lý do khác nhau, chẳng hạn như chiến tranh, bách hại tôn giáo hoặc chính trị, nạn đói và những tác động của biến đổi khí hậu. Các học viện của anh chị em được mời gọi không chỉ giảng dạy cho sinh viên về những bất công mà những người ở bên lề xã hội đang phải đối mặt, nhưng còn phải trở thành những kênh mạnh mẽ trong việc thúc đẩy sự thay đổi mang tính hệ thống thông qua việc đề xuất những mô hình mới đặt nền trên tình liên đới và ích chung (x. Diễn văn gửi các Bề trên Cấp cao của Dòng Tên, ngày 24 tháng 10 năm 2025). Tương tự như vậy, điều quan trọng là phải mở ra những cơ hội để người nhập cư, người tị nạn và những người có hoàn cảnh kinh tế - xã hội thấp được hưởng lợi ích của một nền giáo dục tiên tiến. Bằng cách này, họ có thể hội nhập trọn vẹn hơn vào các xã hội nơi họ đang sinh sống, đồng thời làm phong phú cộng đồng sinh viên rộng lớn hơn bằng những kinh nghiệm và tầm nhìn đa dạng của họ.

Các trường cao đẳng và đại học của anh chị em cũng là những không gian tự nhiên để đồng hành với người trẻ trong việc kiến tạo một tương lai tràn đầy hy vọng, và đây là ưu tiên thứ ba. Sinh viên thường bắt đầu chặng đường học thuật của mình với tràn đầy lý tưởng và năng lượng, mong muốn phục vụ nhu cầu của tha nhân. Những chương trình học diễn ra trong các trường của anh chị em, những tình bạn tự nhiên nảy nở tại đó và cơ hội dành cho mọi người trong cộng đồng học thuật được tiếp cận tư tưởng và công trình nghiên cứu của những học giả lớn, cả trong quá khứ lẫn hiện tại, có thể mang đến một niềm hy vọng và lời hứa về những gì có thể thay đổi tốt đẹp hơn (x. Diễn văn gửi các giáo sư và sinh viên, Đại học Sapienza, ngày 14 tháng 5 năm 2026). Tôi mời gọi anh chị em tiếp tục nuôi dưỡng niềm hy vọng đó nơi các thành viên trong cộng đồng của anh chị em qua những cơ hội đối thoại, phục vụ và cầu nguyện, luôn ghi nhớ rằng sự phục sinh của Đức Kitô là nguồn mạch tối hậu của niềm hy vọng (x. 1 Pr 1:3), và rằng với Người, mọi sự đều có thể (x. Mt 19:26).

Ưu tiên thứ tư đề cập đến một trách nhiệm cấp bách khác, đó là cùng nhau cộng tác trong việc chăm sóc công trình tạo dựng. Đây là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trước những thực tế mà chúng ta đang cảm nghiệm hằng ngày về các tác động của biến đổi khí hậu, cũng như tình trạng bóc lột tài nguyên của một số ít người, gây thiệt hại cho công ích. Về phương diện này, tôi khuyến khích anh chị em kiên trì trong nỗ lực giáo dục những người trong các cơ sở của anh chị em về các mối nguy hiểm hiện nay, nhưng cũng hãy “để các cộng đồng của anh chị em trở thành mẫu gương về tính bền vững sinh thái, sự giản dị và lòng biết ơn đối với các ân huệ của Thiên Chúa” (Diễn văn trước các Bề trên Cấp cao của Dòng Tên, ngày 24 tháng 10 năm 2025). Bằng cách đó, các cơ sở của anh chị em sẽ có thể giáo huấn bằng chính mẫu gương sống, chứ không thuần túy bằng lý thuyết.

Sau cùng, thời đại của chúng ta là thời đại đang ngày càng chịu tác động mạnh mẽ bởi trí tuệ nhân tạo, cùng với đó là các “công nghệ mới khác đang mở ra một chân trời mở rộng theo những hướng có thể hình dung được nhưng chưa thể dự đoán một cách trọn vẹn” (Thông điệp Magnifica Humanitas, ngày 15 tháng 5 năm 2026, số 4). Điều quan trọng là phải bắt đầu ngay từ bây giờ để giải quyết các hệ lụy đến từ những tiến bộ này, cả tích cực lẫn tiêu cực. Các trường cao đẳng và đại học có một vai trò đặc biệt để thực hiện về mặt này, nhất là qua việc mang lại một động lực mới cho các nguyên tắc của Học thuyết Xã hội của Giáo hội, “theo một cách thức phù hợp và hiệu quả nhằm ứng phó với cuộc cách mạng kỹ thuật số” (sđd., số 47).

Các bạn thân mến, với những suy tư trên, tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với tất cả những gì các bạn đang thực hiện trong các nỗ lực giáo dục quan trọng của mình. Nhờ lời chuyển cầu của Thánh Inhaxiô Loyola, xin cho các bạn tiếp tục truyền thống của Dòng Tên trong việc đào tạo những người được trao phó cho các bạn chăm sóc trở thành “những người nam và người nữ sống cho tha nhân.” Tôi ban Phép lành Tông tòa cho từng người anh chị em, và tôi cũng ban phép lành đến những người thân yêu của các bạn cũng như đến cộng đồng các cơ sở giáo dục mà các bạn đại diện. Cảm ơn anh chị em.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 26/06/2026]


Trong một cuộc phỏng vấn, Ủy ban Cứu trợ Công giáo (CRS) chia sẻ về các vấn đề mà lưu vực Hồ Chad tại Châu Phi đang phải đối mặt

Trong một cuộc phỏng vấn, Ủy ban Cứu trợ Công giáo (CRS) chia sẻ về các vấn đề mà lưu vực Hồ Chad tại Châu Phi đang phải đối mặt

Ngala Killian Chimtom
Ngày 25 tháng 6 năm 2026 – Phóng viên thường trú châu Phi

Trong một cuộc phỏng vấn, Ủy ban Cứu trợ Công giáo (CRS) chia sẻ về các vấn đề mà lưu vực Hồ Chad tại Châu Phi đang phải đối mặt
Một trại tị nạn tại Adré, Chad, ngày 3 tháng 10 năm 2024. (Nguồn: Sam Mednick/AP.)

YAOUNDÉ, Cameroon – Khi thế giới nhìn vào lưu vực Hồ Chad, người ta thường chỉ thấy một cuộc khủng hoảng an ninh được định hình bởi chủ nghĩa cực đoan bạo lực và sự di tản. Nhưng thực tế tại thực địa phức tạp hơn rất nhiều. Đó là một mạng lưới chằng chịt giữa áp lực khí hậu, nghèo đói cùng cực, cơ sở hạ tầng đổ vỡ và cuộc cạnh tranh giành giật các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang ngày một cạn kiệt.

Kể từ năm 2009, hàng triệu người đã bị buộc phải rời bỏ quê hương, sinh kế bị phá hủy và lòng tin căn bản giữa những người láng giềng bị xói mòn.

Tuy nhiên, giữa nghịch cảnh kéo dài này, một câu chuyện khác về sức kiên cường phi thường của con người đang được viết nên.

Từ năm 2019, Ủy ban Cứu trợ Công giáo (Catholic Relief Services) đã triển khai Dự án Ổn định và Hòa giải tại vùng Hồ Chad (Stabilization and Reconciliation in the Lake Chad Region – STaR). Hiện bước sang giai đoạn thứ ba, STaR đang tiến xa hơn mô hình viện trợ nhân đạo truyền thống mang tính cục bộ.

Thay vào đó, dự án áp dụng một phương pháp tiếp cận kết hợp, bao gồm cơ sở hạ tầng, sinh kế kinh tế và quản trị địa phương nhằm tái thiết điều mà CRS gọi là “chất keo vô hình” của xã hội: sự gắn kết xã hội.

Trong cuộc phỏng vấn sâu rộng với Crux Now, ông Chris Bleers, Trưởng dự án STaR, đã vén bức màn để chia sẻ về cách thức công việc này đang thực sự diễn ra.

Dưới đây là những trích đoạn từ cuộc trò chuyện với ông Bleers…


Crux Now: Ông mô tả như thế nào về những cuộc khủng hoảng đang diễn ra tại lưu vực Hồ Chad, và tác động của chúng đối với các cộng đồng địa phương ra sao?

Chris Bleers: Khủng hoảng lưu vực Hồ Chad thường được mô tả như một cuộc khủng hoảng an ninh, nhưng những gì chúng ta chứng kiến ngày nay là sự tổng hợp phức tạp giữa xung đột, di tản, nghèo đói, áp lực khí hậu, cơ sở hạ tầng bị tàn phá hoặc yếu kém, và những cơ hội kinh tế hạn chế. Những yếu tố này tác động cộng hưởng mạnh lên nhau, từ đó làm trầm trọng và xấu đi tình hình của các cộng đồng theo chu kỳ lặp đi lặp lại.

Kể từ năm 2009, khi xung đột bùng phát, hàng triệu người đã phải di tản, sinh kế bị đứt đoạn nghiêm trọng, và lòng tin giữa các cộng đồng bị suy giảm. Nông dân mất quyền tiếp cận đất canh tác, người chăn nuôi mất các tuyến đường du mục truyền thống, giới trẻ chật vật tìm kiếm việc làm, và chính quyền địa phương có rất ít nguồn lực để ứng phó hiệu quả.

Đồng thời, tôi nghĩ điều quan trọng là phải nhìn nhận sức kiên cường của người dân vùng lưu vực Hồ Chad. Các cộng đồng đã thích ứng theo những cách phi thường. Điều chúng tôi học được qua STaR (Dự án Ổn định và Hòa giải tại vùng Hồ Chad) là khi con người được tiếp cận với cơ sở hạ tầng, các cơ hội kinh tế và những diễn đàn đối thoại, họ có khả năng tái thiết cuộc sống và phục hồi niềm tin xã hội cần có một cách đáng kinh ngạc.

Thách thức ngày nay không chỉ đơn thuần là ứng phó với một cuộc khủng hoảng. Mà đó là giúp các cộng đồng chuyển dịch từ trạng thái sinh tồn sang khả năng thích ứng và phát triển ngay cả trong nghịch cảnh kéo dài, tổn thương tâm lý hoặc những biến động liên tục.


Theo ông, đâu là những động lực chính dẫn đến cuộc khủng hoảng ở lưu vực Hồ Chad?

Không có một câu trả lời duy nhất, mà là sự kết hợp của nhiều yếu tố. Chắc chắn rằng tình trạng mất an ninh và chủ nghĩa cực đoan bạo lực đóng vai trò rất lớn. Nhưng ẩn dưới đó là những thách thức mang tính cấu trúc sâu xa hơn. Nghèo đói mang tính đặc hữu, sự tiếp cận rất hạn chế đối với các dịch vụ cơ bản, tỷ lệ thất nghiệp ở thanh niên cực kỳ cao, suy thoái môi trường, các hiểm họa khí hậu, sự tranh giành nguồn tài nguyên thiên nhiên và những thách đố mà chính phủ phải đối diện, tất cả đều góp phần gây nên bất ổn.

Một trong những bài học chúng tôi rút ra từ dự án STaR là xung đột thường là triệu chứng của những áp lực rộng lớn hơn. Khi sinh kế sụp đổ, khi các cộng đồng tranh giành nguồn tài nguyên khan hiếm, và khi người dân cảm thấy mình bị loại khỏi tiến trình ra quyết định, căng thẳng có thể bùng phát rất nhanh, và niềm tin bị phá vỡ. Sự gắn kết xã hội, chất keo vô hình của xã hội, bắt đầu tan rã.

Đó là lý do vì sao Ủy ban Cứu trợ Công giáo áp dụng một phương thức tiếp cận kết hợp. Chúng tôi không xem cơ sở hạ tầng, sinh kế, sự gắn kết xã hội và quản trị là những khu vực tách biệt. Chúng tôi cố gắng kết nối chúng với nhau. Nếu bạn cải thiện một lĩnh vực mà không giải quyết các lĩnh vực khác, thì những thành quả đạt được thường chỉ mang tính tạm thời và cục bộ. Sự ổn định bền vững đòi hỏi tiến trình phát triển đồng bộ ở tất cả các yếu tố.


Chắc chắn ông đã gặp nhiều người dân đang chịu đau khổ. Có trường hợp đặc biệt nào ông từng chứng kiến khiến ông phải dừng lại và tự nhủ rằng con người không thể tiếp tục chịu đựng như thế này được nữa không?

Đã có rất nhiều khoảnh khắc trong những năm qua vẫn còn đọng lại trong tôi. Một trường hợp nổi bật là một phụ nữ tham gia dự án STaR đã phải di tản rất nhiều lần. Bà mất nhà cửa, mất phương tiện sinh nhai và mất cả những người thân trong gia đình vì xung đột. Tuy nhiên, khi chúng tôi gặp bà, bà không nói về những gì bà đã mất. Sau khi tham gia các hoạt động phát triển sinh kế của STaR, bây giờ bà lại nói về con cái của bà và niềm hy vọng rằng chúng sẽ được đến trường và có một tương lai tốt đẹp hơn.

Điều khiến tôi xúc động không chỉ là những gian khổ mà bà đã phải chịu, mà còn là sức kiên cường mà bà thể hiện.

Anh sẽ bắt gặp những câu chuyện như thế khắp lưu vực Hồ Chad. Các gia đình đã nhiều lần phải di tản. Những người trẻ lớn lên mà hầu như không biết gì hơn ngoài tình trạng bất ổn. Những cộng đồng đang cố gắng tái thiết trong khi vẫn phải đối mặt với sự bấp bênh.

Những trải nghiệm đó càng củng cố lý do tại sao việc đầu tư dài hạn vào các nền tảng tăng cường khả năng chống chịu lại quan trọng đến như vậy. Không thể mong chờ người dân cứ liên tục làm lại cuộc đời từ đống đổ nát mà không có sự hỗ trợ có ý nghĩa. Hỗ trợ nhân đạo vẫn là điều thiết yếu, nhưng chúng ta cũng cần sự phục hồi, những cơ hội kinh tế và các hệ thống quản trị địa phương để các cộng đồng có thể đặt niềm tin vào, từ đó giúp họ vượt qua trình trạng khủng hoảng.


Năm 2019, Ủy ban Cứu trợ Công giáo (CRS) đã khởi động giai đoạn 1 của Dự án Ổn định và Hòa giải tại vùng Hồ Chad (STaR). STaR II được triển khai vào tháng 9 năm 2021 và hiện ông đang bước vào giai đoạn thứ ba. Các dự án STaR I và STaR II đã thành công như thế nào?

Tôi đánh giá giai đoạn một và hai của Dự án Ổn định và Hòa giải tại vùng Hồ Chad, hoặc STaR, là rất thành công, đồng thời cũng nhận thức rõ rằng vẫn còn rất nhiều việc phải làm.

Các đánh giá độc lập từ bên ngoài đối với giai đoạn I và II cho thấy đạt được rất lớn trên cả bốn thành phần của dự án: cơ sở hạ tầng, sinh kế, gắn kết xã hội và quản trị. Các cộng đồng báo cáo cho biết quyền tiếp cận các dịch vụ đã được cải thiện, hoạt động kinh tế địa phương mạnh mẽ hơn, niềm tin giữa các thành viên cộng đồng gia tăng, và sự tham gia nhiều hơn vào tiến trình ra quyết định ở địa phương.

Điều khiến tôi đặc biệt tự hào là thông qua dự án STaR, Ủy ban Cứu trợ Công giáo đã chứng minh rằng sự ổn định vẫn có thể thực hiện được ngay cả trong những môi trường hết sức mong manh. Chúng tôi đã chứng kiến các cộng đồng khôi phục trường học, cơ sở y tế, chợ, hệ thống cấp nước – thường được nâng cấp thành hệ thống sử dụng năng lượng mặt trời – các kho lưu trữ và hệ thống đường đường sá. Chúng tôi cũng chứng kiến những phụ nữ và thanh niên xây dựng được sinh kế thành công thông qua các nhóm tiết kiệm, cho vay, và đào tạo nghề. Chúng tôi chứng kiến những người lãnh đạo địa phương, nông dân, người chăn nuôi du mục, người di tản, và cộng đồng địa phương cùng tham gia đối thoại và giải quyết vấn đề chung.

Có lẽ quan trọng nhất là dự án đã đưa ra minh chứng cho thấy sự gắn kết xã hội và phục hồi kinh tế củng cố lẫn nhau. Khi con người có cơ hội, họ rất sẵn sàng đầu tư vào việc chung sống hòa bình. Khi các cộng đồng tin tưởng lẫn nhau, hoạt động kinh tế sẽ hồi sinh và trở nên thuận lợi hơn.

Bài học đó đã định hình thiết kế cho cả giai đoạn III và suy nghĩ của chúng tôi cho giai đoạn IV dự kiến, sẽ được triển khai từ năm 2027 đến năm 2030.


Ông hy vọng đạt được điều gì với Dự án STaR III?

Giai đoạn III của dự án STaR hướng đến việc đào sâu và củng cố những thành quả đạt được trong hai giai đoạn đầu, đồng thời đưa ra những nỗ lực phối hợp hướng tới sự bình đẳng giới và hòa nhập xã hội ở mức cao hơn.

Chúng tôi muốn tăng cường khả năng chống chịu của phụ nữ, của thanh niên và người khuyết tật tại một số cộng đồng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của xung đột trong lưu vực Hồ Chad. Điều đó đồng nghĩa với việc tiếp tục đầu tư vào cơ sở hạ tầng, sinh kế, gắn kết xã hội và quản trị địa phương, đồng thời đặt trọng tâm lớn hơn vào tính bền vững và sự hòa nhập.

Chúng tôi đặc biệt tập trung vào việc tạo ra những con đường kinh tế vững chắc hơn cho giới trẻ, mở rộng cơ hội cho phụ nữ, cải thiện các hệ thống quản trị địa phương và bảo đảm rằng chính các cộng đồng đóng vai trò chủ đạo trong tiến trình phát triển.

Mục tiêu cuối cùng không chỉ là triển khai các hoạt động. Mà là để lại những cộng đồng mạnh mẽ hơn, có khả năng ứng phó tốt hơn với các cú sốc, giải quyết tranh chấp một cách hòa bình và tự thúc đẩy tiến trình phát triển của mình.


Rất thường khi, các dự án như STaR sẽ dần mất hiệu quả sau khi tổ chức phi chính phủ (NGO) hoặc cơ quan thực hiện rút đi. Kế hoạch bền vững ở đây là gì? Ông đào tạo các cộng đồng làm chủ dự án như thế nào?

Đó là một câu hỏi hay, và là điều chúng tôi đã suy nghĩ ngay từ khi bắt đầu dự án STaR.

Triết lý của chúng tôi là tính bền vững không phải là điều bạn thêm vào cuối dự án. Nó phải được xây dựng ngay từ ngày đầu tiên trong thiết kế của dự án.

Đối với STaR, điều này bắt đầu từ việc lập kế hoạch do cộng đồng làm chủ. Các cộng đồng xác định những ưu tiên, tham gia vào quá trình ra quyết định và lập kế hoạch ngân sách cùng với chính quyền địa phương, đồng thời góp phần vào quá trình thực hiện. Các kế hoạch phát triển kinh tế địa phương, các Ủy ban Phát triển Khu vực, các Ủy ban Đất đai Cơ sở, các Ủy ban Vận hành và Bảo trì Cơ sở Hạ tầng Cộng đồng, các nhóm tiết kiệm và các cơ cấu quản trị địa phương đều đóng vai trò trung tâm.

Để bảo đảm tính bền vững lâu dài của dự án trong cộng đồng, chúng tôi cũng đầu tư mạnh mẽ vào việc nâng cao năng lực. Các thể chế địa phương được đào tạo để quản lý cơ sở hạ tầng, giám sát công tác bảo trì, huy động nguồn lực và giải quyết các tranh chấp. Chúng tôi hợp tác chặt chẽ với chính quyền địa phương để bảo đảm rằng các khoản đầu tư phù hợp với những ưu tiên của địa phương và hệ thống quy hoạch công, thay vì tạo ra những cơ cấu song song.


Một phần của dự án liên quan đến “sự gắn kết xã hội”, một tiêu chí rất khó đo lường. Ông đo lường thành công của tiêu chí đặc thù này như thế nào trong các cộng đồng đã phải chịu đựng nhiều năm xung đột?

Sự gắn kết xã hội có thể khó đo lường, nhưng chắc chắn có thể quan sát được.

Khung 3Bs – gồm Binding, Bonding và Bridging – là một khuôn khổ xem xét các mối quan hệ ở nhiều cấp độ khác nhau. Binding đề cập đến việc củng cố các mối quan hệ trong nội bộ từng nhóm. Bonding tập trung vào các mối quan hệ giữa những nhóm khác nhau trong cùng một cộng đồng. Bridging xem xét các mối quan hệ giữa các cộng đồng và thể chế khác nhau.

Phương pháp tiếp cận 4Ds – Discover (khám phá), Dream (ước mơ), Design (thiết kế) và Deliver (thực hiện) – cung cấp một tiến trình có cấu trúc để các cộng đồng nhận diện các điểm mạnh, hình dung một tương lai chung, cùng xây dựng các giải pháp và triển khai các giải pháp đó.

Điều làm cho các phương pháp này trở nên hiệu quả, chúng đưa con người từ việc thảo luận về các vấn đề sang việc cùng nhau tạo ra các giải pháp chung.

Chẳng hạn, nông dân, người chăn nuôi, các nhà lãnh đạo truyền thống, phụ nữ, thanh niên, người di tản và cộng đồng địa phương có thể cùng xác định một ưu tiên chung cho cộng đồng như chợ, điểm cấp nước hoặc đường giao thông. Cùng nhau làm việc vì một mục tiêu chung sẽ xây dựng niềm tin theo cách rất thực tế.

Theo thời gian, chúng tôi đo lường những thay đổi về mức độ tham gia, niềm tin, nhận thức về sự hòa nhập, sự hợp tác và khả năng giải quyết xung đột. Mặc dù sự gắn kết xã hội có vẻ vô hình, nhưng những kết quả của nó thường được thể hiện rất rõ trong đời sống và các tương tác hằng ngày của người dân.


Làm thế nào để cân bằng giữa nhu cầu về quản trị cấp nhà nước với tầm quan trọng của việc lập kế hoạch có sự tham gia và do cộng đồng làm chủ?

Đối với dự án STaR, đây không phải là việc đề xuất “hoặc cái này, hoặc cái kia”. Sự phát triển bền vững đòi hỏi cả các thể chế hoạt động hiệu quả lẫn những cộng đồng được trao quyền. Các cộng đồng thường là những chủ thể thích hợp nhất để xác định các ưu tiên vì họ phải sống với những thách đố đó mỗi ngày. Đồng thời, chính quyền địa phương có vai trò then chốt trong việc cung cấp dịch vụ, phân bổ nguồn lực và bảo đảm trách nhiệm giải trình.

Vì vậy, cách tiếp cận của Ủy ban Cứu trợ Công giáo là kết nối hai yếu tố này. Những ưu tiên của cộng đồng được ghi nhận thông qua các tiến trình lập kế hoạch có sự tham gia, rồi được liên kết theo chiều dọc với các cơ cấu chính quyền địa phương và những kế hoạch phát triển.

Khi mối tương quan này vận hành tốt, các cộng đồng sẽ có tiếng nói, chính quyền có được tính chính danh, và các khoản đầu tư phát triển trở nên bền vững hơn.

Xét trên nhiều phương diện, vai trò của chúng tôi là trở thành cầu nối giữa công dân và các thể chế, để cả hai đều có thể thực thi các vai trò của mình một cách hiệu quả hơn.


Tôi hiểu rằng Hoa Kỳ từng là một trong những nhà tài trợ lớn của CRS, nhưng gần đây đã có sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, bao gồm việc cắt giảm viện trợ nước ngoài. Điều này đã tác động như thế nào đến các dự án của CRS tại lưu vực Hồ Chad nói chung, và nó có thể làm trầm trọng thêm tình hình an ninh vốn đã bấp bênh như thế nào?

Việc cắt giảm viện trợ nước ngoài của Hoa Kỳ đã buộc nhiều tổ chức nhân đạo, trong đó có Ủy ban Cứu trợ Công giáo, phải đưa ra những quyết định khó khăn về sử dụng nguồn lực của mình như thế nào và ở đâu.

Tại một khu vực vốn đã phải đối mặt với xung đột và di tản, sự hỗ trợ bền bỉ là một phần quan trọng để giúp các cộng đồng đáp ứng những nhu cầu căn bản, đồng thời giúp họ xây dựng sự ổn định lâu dài.

Nhìn về tương lai, các khoản đầu tư liên tục từ các chính phủ, các nhà tài trợ và các đối tác sẽ mang tính quyết định để bảo đảm rằng những cộng đồng trong vùng Hồ Chad có đủ lương thực, được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe và những cơ hội kinh tế để phục hồi. Chúng tôi hoạt động thông qua Giáo hội địa phương và các mạng lưới cộng đồng đã hiện diện từ rất lâu trước khi khủng hoảng xảy ra và vẫn tiếp tục hiện diện rất lâu sau khi các tiêu điểm truyền thông lắng xuống. Cách tiếp cận này là sự đồng hành: gần gũi các cộng đồng, lắng nghe và phản hồi với lòng trắc ẩn cùng sự tôn trọng.

Cam kết của chúng tôi là tiếp tục hiện diện bên cạnh những người đang đau khổ, ngay cả khi nguồn lực trở nên hạn chế hơn. Nhu cầu đang gia tăng, và việc đứng về phía những người dễ bị tổn thương nhất chưa bao giờ quan trọng như lúc này. Thiết kế của dự án STaR phản ánh trọn vẹn cách tiếp cận “toàn thể cộng đồng”, và tri ân nguồn tài trợ ổn định, dài hạn và linh hoạt do Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Liên bang Đức cung cấp thông qua Ngân hàng Phát triển Liên bang Đức (KfW).


Đến khi STaR III kết thúc, thành công sẽ có diện mạo như thế nào?

Thành công của dự án STaR sẽ không đơn thuần được đo lường bằng số trường học được cải tạo, số người được đào tạo, số việc làm được tạo ra, hay số nhóm tiết kiệm và cho vay được thành lập. Thành công có nghĩa là các cộng đồng có khả năng chống chịu cao hơn so với trước đây.

Nó có nghĩa là phụ nữ và giới trẻ tham gia tích cực hơn vào đời sống kinh tế và dân sự. Nó có nghĩa là các thể chế địa phương vững mạnh hơn, có thể đáp ứng các nhu cầu của cộng đồng. Nó có nghĩa là các cộng đồng có khả năng giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình và cùng nhau làm việc vượt qua những chia rẽ xã hội.

Và sau cùng, thành công có nghĩa là người dân có niềm tin lớn hơn vào tương lai của họ.

Nếu một người trẻ có thể tìm được công việc có ý nghĩa và xứng với phẩm giá; nếu một người nông dân và một người chăn nuôi du mục có thể giải quyết tranh chấp mà không cần đến bạo lực; nếu một gia đình chịu ảnh hưởng bởi việc di tản có thể gây dựng lại sinh kế; và nếu các cộng đồng có thể tiếp tục tiến bộ mà không cần sự hỗ trợ từ bên ngoài, khi đó chúng tôi biết rằng mình đã đạt được một điều có ý nghĩa to lớn.

Đó là tương lai mà chúng tôi đang hướng đến – không chỉ là phục hồi sau khủng hoảng, mà còn là một nền tảng cho sự ổn định, để người dân có thể thích ứng và phát triển, đồng thời để những nhóm bị gạt ra bên lề – như phụ nữ và người khuyết tật – có thể tham gia tích cực và được hưởng lợi từ sự tăng trưởng kinh tế trên toàn lưu vực Hồ Chad.


[Nguồn: cruxnow]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 26/06/2026]


Thứ Năm, 25 tháng 6, 2026

Chuyến thăm Trụ sở Chương trình Lương thực Thế giới (WFP), 22.06.2026

Chuyến thăm Trụ sở Chương trình Lương thực Thế giới (WFP), 22.06.2026

Chuyến thăm Trụ sở Chương trình Lương thực Thế giới (WFP), 22.06.2026

*******

Sáng nay, Đức Thánh Cha đã rời Vatican và di chuyển bằng xe hơi đến trụ sở của Chương trình Lương thực Thế giới (WFP) tại Rôma, nơi ngài gặp gỡ các tham dự viên khóa họp thường niên của Ban Điều hành cơ quan thuộc Liên hợp quốc này, cùng với các nhân viên và gia đình của họ.

Sau đây là bài diễn văn của Đức Thánh Cha trong buổi họp và những lời nhận xét ứng khẩu của ngài với những người có mặt trong chuyến thăm:

_______________________


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Thưa quý vị Lãnh đạo,
Thưa quý vị Đại sứ,
Thưa quý bà và quý ông,

Tôi xin cảm ơn Bà Chủ tịch Cindy McCain vì nhã ý mời tôi phát biểu trong kỳ họp thường niên này của Ban Điều hành Chương trình Lương thực Thế giới của Liên hợp quốc. Đặc biệt, tôi xin gửi lời chào ông Carl Skau, Quyền Giám đốc Điều hành, và bà Carla Barroso Carneiro, Chủ tịch của hội nghị quan trọng này. Tôi cũng gửi lời chào đến những vị đại diện của các quốc gia thành viên, các vị khách quý tham dự cuộc họp và toàn thể ban nhân viên của tổ chức liên chính phủ này, đang dấn thân cứu các sinh mạng trong những tình huống khẩn cấp và cung cấp cứu trợ lương thực giữa các cuộc xung đột và thiên tai. Cam kết của tổ chức của quý vị cộng hưởng sâu sắc với sứ mạng của Giáo hội Công giáo trong việc bảo vệ phẩm giá con người và cổ võ tình huynh đệ, khởi nguồn từ tiếng gọi của Tin Mừng là yêu thương tha nhân (x. Mc 12:31). Cùng nhau, chúng ta chia sẻ nhiệm vụ cấp bách là đối mặt với nạn đói và suy dinh dưỡng, đồng thời giải quyết những nguyên nhân về cơ cấu đang duy trì những thực trạng đó. Để chu toàn nhiệm vụ này cách hiệu quả, chúng ta phải xét đến các thách đố trước mắt, những nguyên nhân gốc rễ của chúng và những con đường dẫn tới các giải pháp bền vững.

Ngày nay, khủng hoảng đã chuyển từ những trường hợp cục bộ thành những thực tại dai dẳng, được đánh dấu bởi các cuộc xung đột kéo dài, tình trạng mất an ninh lương thực kinh niên, sự bất ổn kinh tế và mức độ dễ bị tổn thương ngày càng tăng thêm trước biến đổi khí hậu. Điều này đặt ra một câu hỏi căn bản: mô hình nào của trật tự toàn cầu có thể tạo ra, tái tạo và đôi khi bình thường hóa những tình trạng như thế? Vấn đề không chỉ còn giới hạn ở cách thức phải can thiệp như thế nào; đúng hơn, nó đòi hỏi phải hiểu rõ tại sao hệ thống liên tục sản sinh ra những vấn đề mà sau đó buộc phải tìm cách sửa chữa nó.

Trật tự quốc tế ngày càng trở nên bị phân mảnh, một phần xuất phát từ cuộc khủng hoảng của hệ thống đa phương. Như tôi đã lưu ý gần đây trong Thông điệp Magnifica Humanitas: "Các tổ chức được thiết lập nhằm bảo vệ khái niệm về một tương lai chung cho mọi dân tộc và công ích toàn cầu dường như đã bị suy yếu" (số 201). Khi thiếu vắng một chân trời đạo đức chung đủ khả năng duy trì sự hợp tác thật sự, hệ thống quốc tế đã chuyển dịch từ chủ nghĩa đa phương sang 'một chủ nghĩa đa cực hỗn loạn và xung đột, với cảm thức ngờ vực chi phối" (sđd.). Hệ quả là các chính phủ ngày càng phân bổ nguồn lực của họ cho an ninh quốc gia, tăng trưởng kinh tế và ổn định trong nước, trong khi xem nhẹ mối liên hệ chặt chẽ giữa những vấn đề này với sự hợp tác đa phương.

Xu hướng này bộc lộ một nghịch lý rõ rệt: năng lực sản xuất toàn cầu chưa từng có tồn tại song song với sự mở rộng các vùng đặc biệt dễ bị tổn thương. Chính những động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế lại thường xuyên làm trầm trọng thêm tình trạng loại trừ và bị gạt ra bên lề. Mặc dù việc xoa dịu nỗi đau khổ của con người được nhìn nhận rộng rãi là cần thiết trên nguyên tắc, nhưng những mối quan tâm nhân đạo ngày càng có nguy cơ bị đẩy xuống hàng thứ yếu trong các ưu tiên quốc tế.

Chính trong khoảng cách giữa sự nhìn nhận trên nguyên tắc và ưu tiên trong thực hành mà chúng ta chứng kiến ngày càng gia tăng tình trạng quan liêu hóa tình liên đới, đi kèm với việc âm thầm thương mại hóa sự sống con người. Một mặt, hoạt động nhân đạo ngày càng bị đè nặng bởi những thủ tục hành chính có thể làm chậm trễ việc trợ giúp những người đang cần đến. Mặt khác, việc tiếp cận các nhu yếu phẩm thiết yếu, bao gồm cả lương thực, quá thường xuyên bị chi phối bởi những tính toán về kinh tế hoặc chiến lược. Hệ quả là những người không tạo ra giá trị đo lường được có nguy cơ trở nên vô hình.

Động lực hai mặt này tạo nên một thách đố đạo đức nghiêm trọng: con người không còn được đặt ở trung tâm của hoạt động quốc tế. Trong bối cảnh đó, điều quan trọng là phải thừa nhận rằng: "Trong khi các hình thức viện trợ và dự án phát triển bị cản trở bởi những quyết định chính trị phức tạp và khó hiểu, bởi các tầm nhìn thiên lệch theo hệ tư tưởng và những hàng rào hải quan không thể vượt qua, thì vũ khí lại không chịu như vậy" (Đức Phanxicô, Diễn văn trước Ban Điều hành Chương trình Lương thực Thế giới, ngày 13 tháng 6 năm 2016). Hệ quả là, các cuộc xung đột được “chu cấp” dễ dàng hơn là con người được nuôi dưỡng. Thực tế này phản ánh không chỉ những thiếu sót trong hoạt động, nhưng còn cho thấy sự mất cân bằng căn bản trong các ưu tiên chính trị và đạo đức.

Những hệ quả đó vượt xa hơn những người chịu ảnh hưởng trực tiếp. Không đơn thuần là một mối quan tâm nhân đạo, nạn đói còn làm xói mòn sự gắn kết xã hội, gia tăng nguy cơ xung đột và thúc đẩy các làn sóng di cư cưỡng bức. Hơn nữa, nó làm suy giảm khả năng của các chính phủ và xã hội trong việc xây dựng các định chế vững mạnh, cung cấp nền giáo dục hiệu quả và thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững. Vì thế, nó kéo dài những vòng luẩn quẩn của sự mong manh mà cuối cùng sẽ ảnh hưởng đến cộng đồng quốc tế rộng lớn hơn.

Từ góc nhìn này, rõ ràng hoạt động nhân đạo không phải là điều không liên quan đến trật tự quốc tế. Trái lại, nó phản ánh trách nhiệm của cộng đồng toàn cầu trong việc củng cố tình liên đới, chống lại sự loại trừ và nhìn nhận phẩm giá vốn có do Thiên Chúa ban cho mỗi người. Vì thế, vượt trên việc quản lý các cuộc khủng hoảng, các tổ chức quốc tế là hiện thân cho một nguyên tắc trách nhiệm chung và khẳng định rằng cộng đồng quốc tế được gắn kết với nhau qua sự quan tâm dành cho những người ở trong hoàn cảnh dễ bị tổn thương nhất. Theo nghĩa này, Chương trình Lương thực Thế giới không đơn thuần là một tác nhân chính trị, kinh tế hay kỹ thuật; nhưng là một biểu hiện cụ thể của tình liên đới quốc tế. Thật vậy, ở những nơi các tổ chức quốc gia suy yếu và các mạng lưới cộng đồng tan rã, sự hiện diện của quý vị góp phần ngăn chặn những cuộc khủng hoảng nhân đạo để không biến thành sự sụp đổ không thể tránh khỏi.

Vì lý do này, một cam kết đổi mới đối với hợp tác đa phương là điều thiết yếu. Trong một thế giới ngày càng bị phân mảnh và đa cực, không một quốc gia đơn lẻ nào có thể tự mình giải quyết các thách đố toàn cầu. Hòa bình dài lâu và sự phát triển con người toàn diện và bền vững chỉ có thể đạt được qua sự tham gia của tất cả mọi người, được thúc đẩy bởi cuộc đối thoại và hợp tác quốc tế chân thành, hướng tới ích chung. Cách tiếp cận như thế đòi hỏi một ý chí chính trị vững vàng, có khả năng vượt trên những tầm nhìn ngắn hạn và đầu tư vào các thiện ích công toàn cầu. "Mục tiêu này chỉ có thể đạt được nhờ sự hội tụ của các chính sách hiệu quả và việc triển khai phối hợp và hiệp lực của các biện pháp can thiệp. Lời mời gọi cùng nhau bước đi trong sự hòa hợp huynh đệ phải trở thành nguyên tắc định hướng" (Chuyến thăm Trụ sở Tổ chức FAO Liên Hợp quốc tại Rôma, ngày 16 tháng 10 năm 2025, số 6).

Trong tinh thần đó, tôi muốn kêu gọi các chính phủ và các dân tộc trên thế giới hãy đổi mới và củng cố cam kết của mình, gia tăng các nguồn lực dành cho việc chống lại nạn đói và những nguyên nhân gốc rễ của nó, đồng thời loại bỏ những trở ngại đang ngăn cản viện trợ đến được với những người đang thiếu thốn. Đồng thời, sự hỗ trợ này cũng cần được tăng cường cộng tác với Giáo hội và xã hội dân sự. Việc củng cố năng lực của tất cả các tác nhân này cùng nhau sẽ nhân lên hiệu quả tập thể của chúng ta trong cuộc chiến chống lại nạn đói.

Việc thực hiện lời kêu gọi này có hiệu quả đòi hỏi phải giảm thiểu những thủ tục hành chính không cần thiết, để tính minh bạch và trách nhiệm giải trình phục vụ con người thay vì cản trở việc trợ giúp. Trong những tình huống mà chính quyền thiếu sự kiểm soát hiệu quản trên lãnh thổ hoặc khi sự tiếp cận nhân đạo bị hạn chế, các đối tác địa phương đáng tin cậy là không thể thiếu. Giáo hội Công giáo – thông qua các giáo xứ, giáo phận, các cơ quan Caritas và những sáng kiến khác trên nền tảng đức tin – thường tiếp cận được với các nhóm dân cư dễ bị tổn thương trong những khu vực mà các tác nhân quốc tế không thể tiếp cận. Vì thế, tôi khuyến khích Chương trình Lương thực Thế giới và các đối tác tiếp tục hỗ trợ những nỗ lực đó.

Điều quan trọng không kém là phải chống lại việc thương mại hóa các nhu cầu căn bản của con người. Lương thực, nước sạch và chăm sóc sức khỏe không thể bị lệ thuộc vào những tính toán của thị trường hoặc các lợi ích địa chính trị. Được tiếp cận lương thực đầy đủ là một quyền căn bản của con người, đặt nền trên phẩm giá của mỗi con người. Việc đáp ứng nhu cầu này không chỉ làm vơi bớt đau khổ, mà còn giải quyết những nguyên nhân sâu xa của tình trạng bất ổn địa chính trị. Quả vậy, an ninh lương thực là một phần cấu thành cần thiết cho an ninh toàn cầu và toàn diện.

Về phương diện này, thật đáng trân trọng khi Chương trình Lương thực Thế giới, bên cạnh các hoạt động ứng phó khẩn cấp, còn mở rộng công việc của mình vượt ra ngoài việc cứu trợ tức thời để hướng đến những sáng kiến lâu dài, chẳng hạn như các chương trình cung cấp bữa ăn cho học sinh. Những đầu tư này củng cố nền giáo dục, sự phát triển con người và khả năng chống chịu của xã hội, phản ánh một tầm nhìn toàn diện về sự phát triển con người nhằm cổ võ phẩm giá, cơ hội và sự an lạc của toàn bộ con người.

Thưa quý vị, các bạn thân mến, điều đang bị đe dọa không chỉ là tính hiệu quả của một cơ quan, nhưng còn là uy tín của chính sự hợp tác quốc tế. Tổ chức của các bạn chứng minh rằng một con đường đổi mới là khả thi; tuy nhiên, điều đó đòi hỏi quyết tâm đơn giản hóa những gì đã trở nên quá phức tạp, ưu tiên cho những gì là thiết yếu và bảo đảm rằng không một ai bị lãng quên. Vì cam kết này được đặt nền trên việc nhìn nhận rằng mỗi con người đều có một phẩm giá nội tại và bất khả xâm phạm, vốn luôn nguyên vẹn bất kể hoàn cảnh, điều kiện sống hay địa vị xã hội. Xuất phát trong tình yêu vô điều kiện và vô biên của Thiên Chúa, phẩm giá này có thể được mô tả là vô hạn, vì không gì có thể làm suy giảm, xóa bỏ hay phủ nhận giá trị của nó (x. Thông điệp Magnifica Humanitas, số 53). Chính trong sự trung thành của chúng ta đối với chân lý này mà tính nhân bản của nền chính trị được đo lường – và cùng với nó, là tương lai của cộng đồng quốc tế.

Với những tâm tình này, tôi xin Thiên Chúa ban phúc lành dồi dào cho những nỗ lực của quý vị, để mọi người đều có thể nhận được lương thực hằng ngày và sống trong phẩm giá. Quý vị hãy tin rằng tôi luôn cầu nguyện cho quý vị, cho những người thân yêu của quý vị và cho tất cả những người mà quý vị đang phục vụ.

Cảm ơn quý vị.

______________________


Gặp gỡ với năm đại diện của WFP đến từ các quốc gia khác

Đức Giáo hoàng Lêô: Xin chào các bạn: chào buổi sáng, chào buổi chiều, và có lẽ cũng là chào buổi tối đến tất cả anh chị em đang hiện diện khắp nơi trên thế giới. Chúng tôi rất vui được có mặt nơi đây hôm nay để chia sẻ giây phút ngắn ngủi này với các vị đại diện của các quốc gia thành viên thuộc Chương trình Lương thực Thế giới, đồng thời với từng người trong anh chị em, những người đại diện cho biết bao con người đang hiện diện tại thực địa để đảm nhận nhiệm vụ khó khăn là chiến đấu chống nạn đói.

Tôi không biết liệu có thích hợp chăng nếu mời hai hoặc ba người trong anh chị em chia sẻ đôi lời về nơi mình đang phục vụ và về những thách đố khó khăn nhất là gì, bởi vì bằng cách đó, chính tôi cũng có thể được lắng nghe một phần thực tế của việc chiến đấu chống lại nạn đói nghĩa là gì. Tôi biết nhiều người trong anh chị em thực sự đang mạo hiểm cả mạng sống mình để có mặt tại những nơi anh chị em đang làm việc, và tôi muốn bảo đảm với tất cả anh chị em về những lời cầu nguyện và sự nâng đỡ của cộng đồng thế giới, và cách riêng của Giáo hội Công giáo, thường là một đối tác cộng tác với các chương trình mà anh chị em đang giám sát và làm việc. Dĩ nhiên, công việc chuyển cứu trợ đến với những người đang cần nhất thường là một thách đố lớn. Nhưng có lẽ được trực tiếp lắng nghe một vài kinh nghiệm của anh chị em cũng sẽ giúp cho mỗi người trong chúng tôi hiện diện tại Rôma sáng nay hiểu rõ hơn, từ góc nhìn cận cảnh, về những loại thách đố mà anh chị em đang phải đối mặt.

[Sau phần trình bày của diễn giả thứ ba]

Cảm ơn anh Cyril, vì sứ mạng mà anh đang thực hiện tại Lebanon. Một trong những điều người ta thường không nhận ra là tiến trình tuần hoàn gây ra những khó khăn ngày càng lớn cho nhiều nơi trên thế giới: nạn đói thường là nguyên nhân dẫn đến xung đột, và xung đột lại gây ra nhiều nạn đói hơn. Vì thế, chúng ta cứ tiếp tục đi quanh một vòng luẩn quẩn, như tôi chắc chắn rằng một số anh chị em, nếu không muốn nói là tất cả, đã chứng kiến qua công việc mình đang làm.

Thông thường, cuộc khủng hoảng đang tác động đến toàn thế giới trong lĩnh vực di cư cũng là hệ quả của nạn đói cùng cực và xung đột buộc người ta phải rời bỏ nhà cửa của họ, điều mà họ không làm vì họ muốn. Họ làm vì họ buộc phải làm để có thể sống sót. Do đó, công việc của mỗi người trong anh chị em, của tất cả anh chị em cùng nhau trong Chương trình Lương thực Thế giới – điều mà chúng tôi chắc chắn đang cố gắng hỗ trợ và thúc đẩy – là vô cùng quan trọng. Bởi vì cùng nhau, chúng ta không chỉ thực hiện sự cứu trợ tức thời, điều dĩ nhiên là hết sức quan trọng, qua việc cung cấp lương thực cho người đói; nhưng chúng ta còn được yêu cầu nhìn vào đâu là những nguyên nhân gốc rễ của nạn đói tại các khu vực khác nhau nơi anh chị em đang phục vụ, để từ đó vươn tới và cố gắng tìm ra những giải pháp cho các vấn đề này.

Thế giới ngày nay có thể sống mà không có nạn đói. Các nguồn lực đáng lẽ phải sẵn có. Năng lực sản xuất lương thực đang có sẵn, thế nhưng các nguồn lực ấy lại rất thường khi được dùng cho việc thúc đẩy chiến tranh, xung đột và những mục tiêu chung cuộc khác, nếu có thể nói như vậy, ít quan trọng hơn, để rồi nạn đói tiếp tục và thậm chí gia tăng ở một số nơi trên thế giới.

Tất cả anh chị em đều đang ở trên thực địa, nơi tuyến đầu, và chính nhờ anh chị em mà công việc của Chương trình Lương thực Thế giới mới có thể được thực hiện. Vì thế, tôi cảm ơn từng người trong anh chị em và tất cả những người mà anh chị em đại diện. Và tôi cũng muốn khích lệ anh chị em trong công việc của mình, bởi lẽ có những con người hỗ trợ Chương trình Lương thực Thế giới trong việc chuyển giao khoản cứu trợ này đến với biết bao người đang cần đến là vô cùng quan trọng.

Vì thế, xin cảm ơn anh chị em vì tất cả những gì anh chị em đang làm. Xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả anh chị em, và ước mong anh chị em tiếp tục kiên trì – anh chị em và các đồng nghiệp của mình. Xin chuyển thông điệp của tôi đến những người mà anh chị em đang cùng làm việc, và xin Thiên Chúa luôn chúc lành cho anh chị em trong công việc vô cùng, vô cùng quan trọng này. Xin cảm ơn anh chị em.
___________________________

Lời chào ứng khẩu bên ngoài trụ sở

Các bạn thân mến, xin chào buổi sáng, xin chào buổi chiều đến tất cả anh chị em, đến tất cả những ai đang theo dõi trực tuyến. Tôi rất vinh dự được hiện diện giữa anh chị em, và rất nhiều người trong anh chị em đại diện cho các nhân viên của Chương trình Lương thực Thế giới, những con người đang hy sinh cuộc đời mình cho một sứ mạng đặc biệt trên toàn thế giới, như bà McCain vừa nói, bao gồm cả những nơi mà có lẽ nhiều người chưa từng nghe tên trên những tuyến đầu, những vùng mà ở đó, họ thật sự phải liều mạng sống theo đúng nghĩa đen để bảo đảm rằng nguồn lương thực cứu trợ đến được với những người túng thiếu nhất. Đó thực sự là một sứ mạng cao cả, bởi đó là một cách nhìn nhận phẩm giá con người – phẩm giá do chính Thiên Chúa ban tặng – mà mỗi con người trên mặt đất này đều xứng đáng được hưởng. Vì thế, xin cảm ơn anh chị em rất nhiều vì sự phục vụ của mình.

Khi bước ra đây và đi ngang qua khu vườn, có một số giá trị và mục tiêu khác nhau của Chương trình Lương thực Thế giới được trình bày tại đó. Tôi muốn nhấn mạnh đến hai từ khi chia sẻ với anh chị em trong giây phút ngắn ngủi này.

Một trong hai từ ấy là từ “cộng đồng”. Đó là một từ mà về phương diện cá nhân là rất thân thương trong đời tôi, và là điều mà tôi nghĩ đang ngày càng trở nên quan trọng hơn trong thế giới hôm nay, khi chúng ta đang sống trong một thế giới bị phân cực, chia rẽ và bị ảnh hưởng bởi quá nhiều xung đột và chiến tranh; nơi mà các mối tương quan của con người đang tiếp tục bị phá hủy vì rất nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm cả công nghệ.

Thay vì giúp chúng ta xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn để sống, công nghệ lại quá thường xuyên được sử dụng như một phương tiện của chiến tranh, tàn phá và chết chóc. Vì thế, công việc mà anh chị em đang thực hiện – và có lẽ còn hơn cả công việc anh chị em đang làm, chính là tinh thần anh chị em chia sẻ khi cùng làm việc với nhau để xây dựng một cộng đồng, khi vươn tới những cộng đồng đang cần được trợ giúp – thực sự là một món quà đặc biệt. Và tôi muốn khích lệ tất cả anh chị em suy tư về vai trò của mình trong việc trở thành một gia đình – bà McCain cũng vừa sử dụng từ ấy, gia đình mà tất cả anh chị em đại diện – là xây dựng cộng đồng trên khắp thế giới, để anh chị em cùng với công việc và sự phục vụ của mình sẽ thực sự trở thành một lối đi giúp con người đến với nhau, được hiệp nhất và cùng nhau làm việc nhằm giải quyết những vấn đề gây nên nạn đói, và tìm ra những con đường để kiến tạo một thế giới công bằng hơn.

Và từ còn lại — từ cuối cùng tôi nhìn thấy khi đi ra — là từ “hy vọng”. Anh chị em đại diện, theo một cách rất chân thực, cho niềm hy vọng của thế giới, và đó là một sứ mạng mà tôi nghĩ tất cả chúng ta đều chia sẻ và đều hướng tới như một phần trong sứ mạng của mình, dù là Giáo hội Công giáo, những người trong chúng ta là tín hữu, hay những người làm việc với nhau vì họ tin vào phẩm giá của tất cả mọi người.

Chúng ta nói rằng chúng ta muốn xây dựng một thế giới nơi có niềm hy vọng cho tương lai. Biết bao lần chúng ta đọc thấy câu chuyện về những người trẻ không còn niềm hy vọng – những người trẻ, vì những khó khăn trong đời sống, dù không nhất thiết đang sống tại những nơi nghèo nhất trên thế giới, đã đánh mất tầm nhìn và cảm thức về ý nghĩa của cuộc đời mình. Họ đã đánh mất khả năng nhìn về tương lai và nói rằng: “Điều này đáng để làm. Điều này đáng để tôi dấn bước cuộc đời mình. Điều này đáng để cùng đến với nhau và tìm kiếm một lối đi để tiến về phía trước.” Anh chị em đại diện cho niềm hy vọng. Và công việc mà anh chị em làm, đặc biệt trong việc vươn tới những người thiếu thốn nhất, chắc chắn là một dấu chỉ của niềm hy vọng, một biểu hiện cụ thể của niềm hy vọng mà tất cả chúng ta đang tìm kiếm.

Vì vậy, tôi cảm ơn anh chị em về điều đó và bảo đảm với tất cả anh chị em rằng tôi luôn cầu nguyện cho công việc của anh chị em, cho sứ mạng của anh chị em và cho tất cả những ai đang phục vụ trong Chương trình Lương thực Thế giới. Xin cho tất cả anh chị em được thêm sức mạnh và được chở che trong khi thi hành sứ mạng đó, bởi vì lương thực cho thế giới là điều mà tất cả chúng ta đều mong muốn trao đi – lương thực cho thế giới theo nghĩa là của ăn mỗi ngày cho mỗi người, nhưng cũng là lương thực đem lại niềm hy vọng để xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn, một thế giới hòa bình, một thế giới trong đó tất cả chúng ta thực sự hiệp nhất. Xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả anh chị em, và cảm ơn anh chị em rất nhiều.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 23/06/2026]


Lời chào các tham dự viên chương trình “Estate Ragazzi in Vaticano” (Chương trình Hè dành cho thiếu nhi là con các nhân viên Vatican), ngày 22.06.2026

Lời chào các tham dự viên chương trình “Estate Ragazzi in Vaticano” (Chương trình Hè dành cho thiếu nhi là con các nhân viên Vatican), ngày 22.06.2026


Lời chào các tham dự viên chương trình “Estate Ragazzi in Vaticano” (Chương trình hè dành cho thiếu nhi là con các nhân viên Vatican), ngày 22.06.2026




Sáng nay, trong Hội trường Tiếp kiến, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã gặp gỡ các thiếu nhi, thanh thiếu niên và các hoạt náo viên tham gia chương trình “Estate Ragazzi in Vaticano” (Trại hè Thiếu nhi dành cho con các nhân viên Vatican).

Sau đây là bản văn ghi cuộc đối thoại của Đức Thánh Cha với các thiếu nhi và thanh thiếu niên hiện diện:


Đối thoại với Đức Thánh Cha

Federico:

Kính thưa Đức Thánh Cha Lêô, tại trại hè này, chúng con có những khoảng thời gian thật tuyệt vời mà không cần đến điện thoại, và chúng con biết rằng tất cả điều đó có được là nhờ Đức Thánh Cha. Tuy nhiên, chúng con phải thừa nhận rằng, trong thời gian còn lại của năm, khi trở về nhà, gần như chúng con không thể rời mắt khỏi màn hình. Chúng con thường cảm thấy có chút bị giam hãm bởi thế giới số, và lo sợ rằng mình có thể đánh mất những người bạn ngoài đời thực hoặc cuối cùng lại tự khép mình trong thế giới nhỏ bé của riêng bản thân. Làm thế nào để chúng con có thể trở thành những người vô địch trong việc sử dụng công nghệ để thực hiện những điều tốt đẹp mà không quên những người bạn đang ở xung quanh? Chúng con xin cảm ơn Đức Thánh Cha.


Đức Giáo hoàng Lêô XIV:

Trước hết, chào buổi sáng tất cả các con! Chào buổi sáng những người lớn và các thiếu nhi. Cha rất vui được ở đây với các con sáng nay.

Vậy, làm thế nào để chúng ta có thể rời mắt khỏi màn hình? Câu hỏi đại loại là như thế.

Ngay lúc này đây, nếu cha nhìn không lầm, chỉ có một bạn đang cầm điện thoại, và đó là vì bạn ấy đang chụp hình. Ngoài ra, không ai cầm cả, đúng không? Đó đã là một điều quan trọng rồi. Công nghệ có thể là rất tốt, và chúng ta cần đến nó cho nhiều công việc. Nhưng khi chúng ta ở bên nhau, không cần thiết phải giữ khư khư trên tay chiếc điện thoại di động, điện thoại thông minh hay máy tính bảng. Thật vậy, chúng ta cảm thấy vui, dù chỉ trong chốc lát, khi chúng ta không bị trói buộc vào máy tính bảng hay điện thoại. Đó là điểm thứ nhất. Điều rất quan trọng là xây dựng tình bạn – dành thời gian với nhau, cùng chơi với nhau, thậm chí là cùng học với nhau – như những con người, chứ không phải như những chiếc máy tính hay cỗ máy, cũng không phải như những robot công nghệ. Chúng ta là những con người; chúng ta là người. Sự tiếp xúc trực tiếp với người khác là điều hết sức quan trọng. Đó là điều thứ nhất.

Trong gia đình cũng vậy. Khi gia đình ở bên nhau, nếu mỗi người chỉ ngồi đó và dán mắt vào điện thoại của mình thì không đủ. Điều quan trọng là học cách trò chuyện với nhau, đối thoại với nhau, tận hưởng niềm vui ở bên nhau, cùng chơi với nhau và cùng cầu nguyện với nhau. Ngay cả khi chúng ta có thể có Kinh Thánh hoặc các kinh nguyện trên điện thoại, Thiên Chúa không muốn nhìn vào điện thoại của chúng ta; Chúa muốn nhìn vào tâm hồn và đời sống của chúng ta. Vì thế, chúng ta cần được tự do thoát khỏi những phương tiện này, những thứ mà tự bản chất có thể mang tính giải trí, có thể hữu ích và thậm chí là tốt đẹp, nhưng điều quan trọng hơn rất nhiều là phải phát triển nhân tính của chúng ta thông qua tình bạn, đối thoại và tất cả những hoạt động mà các con đang thực hiện tại đây trong những tuần này.

Cha nghĩ đó là điều rất quan trọng.

Còn một điểm nữa — và điều này đặc biệt dành cho các con lớn hơn một chút. Chúng ta cần phải cảnh giác trước cơ chế của một dạng lệ thuộc được chủ đích lập trình sẵn trong các chương trình và ứng dụng trên điện thoại. Chúng được thiết kế để khiến chúng ta phải lệ thuộc vào công nghệ này.

Nhiều khi, việc đặt ra những giới hạn sẽ hữu ích. Chẳng hạn: “Sau một thời gian nhất định nào đó vào buổi tối, tôi sẽ không nhìn vào điện thoại nữa”, hoặc: “Vào những thời điểm nhất định, tôi sẽ dành thời gian để trò chuyện với gia đình, và chúng tôi sẽ ở bên nhau”.

Cha nghĩ đây là những điều có thể giúp chúng ta ngắt kết nối một chút.

Đâu phải tất cả chúng ta đều bị cắm chặt vào một sợi dây cáp, phải không? Chúng ta là con người. Chúng ta phải sống và phát triển chiều kích nhân bản của cuộc đời mình. Đồng thời, chúng ta cũng phải nuôi dưỡng chiều kích thiêng liêng: tìm kiếm Thiên Chúa trong cầu nguyện, cùng nhau tìm kiếm Thiên Chúa trong gia đình, và sống tự do hơn một chút, không bị lệ thuộc vào công nghệ.

Cảm ơn các con.

_______________________

Michela:

Kính thưa Đức Thánh Cha Lêô, chủ đề của trại hè năm nay là “Vòng quanh thế giới trong tám mươi ngày”. Chủ đề này đưa chúng con vào một cuộc hành trình của trí tưởng tượng, khám phá nhiều thế giới khác nhau. Đức Thánh Cha đã đi rất nhiều trong cuộc đời mình, đến thăm những miền đất xa xôi và gặp gỡ những người từ nhiều nền văn hóa khác nhau. Đức Thánh Cha có thể chia sẻ với chúng con một bí quyết từ những chuyến đi của Cha được không?


Đức Giáo hoàng Lêô XIV:

Để cha kể cho các con nghe một câu chuyện nhỏ liên hệ với câu hỏi đầu tiên. Khi còn nhỏ, tất cả cha và các bạn bè đều học cách đọc bản đồ đường đi. Nếu phải di chuyển từ Rôma đến Naples, hay từ Rôma đến Tivoli, trước khi khởi hành, cha phải nghiên cứu bản đồ, tìm xem con đường nào là lộ trình tốt nhất... Ngày nay, mọi người chỉ đơn giản là bật hệ thống định vị GPS trên xe hoặc trên điện thoại rồi lên đường. Đã nhiều lần trong đời – ở Ý, tại các quốc gia châu Âu khác, tại Peru, và thậm chí có một lần tại Hoa Kỳ – cha tin tưởng GPS, và nó đã dẫn cha đi nhầm đường. Cha bị mắc kẹt và không thể đến được nơi mình muốn đến. Đó là lý do tại sao cha nói rằng, cũng liên hệ với câu hỏi thứ nhất, điều quan trọng là không trở nên quá lệ thuộc vào công nghệ. Sẽ tốt hơn nhiều nếu chúng ta học cách tự suy nghĩ và phát triển năng lực phán đoán phản biện cần thiết để biết mình đang đi đâu trong cuộc đời, trên những cuộc hành trình, và trong bất cứ điều gì chúng ta thực hiện. Hãy học tập thật tốt. Hãy sử dụng những khả năng mà Thiên Chúa đã ban cho các con! Cha không cần đến điện thoại nếu bộ não của cha đang hoạt động! Dĩ nhiên, nó có thể giúp cha và cung cấp những thông tin hữu dụng, nhưng điều quan trọng là phải chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi bắt đầu một hành trình.

Đây là điều cha đã học được. Một người được chuẩn bị chu đáo luôn có thể tìm ra giải pháp, ngay cả khi có điều bất ngờ xảy đến. Thiên Chúa ban cho chúng ta một món quà phi thường trong tâm trí và bộ não của chúng ta. Vì vậy, tóm lại, cha muốn nói rằng đây là điều có giá trị đối với tất cả mọi người.

Đức Thánh Cha được trao danh hiệu Trưởng đoàn Thám hiểm và được tặng Bộ dụng cụ Thám hiểm cùng một kỷ niệm chương của Trại hè.


Đức Giáo hoàng Lêô XIV:

Cha biết vẫn còn nhiều câu hỏi, nhưng tiếc là bây giờ cha phải đến một nơi khác. Tuy nhiên, trước khi đi, cha nghĩ sẽ thật tuyệt vời nếu tất cả các con có thể nói với cha mẹ rằng hôm nay các con đã cầu nguyện cùng với Đức Giáo hoàng, bởi vì cầu nguyện là điều vô cùng quan trọng đối với tất cả chúng ta. Chúng ta muốn Chúa Giêsu hiện diện ở đây với chúng ta! Giờ đây, chúng ta sẽ cùng nhau đọc – các con có thể vẫn ngồi nguyên tại chỗ của mình – lời kinh mà chính Chúa Giêsu đã dạy chúng ta, bằng một tiếng nói duy nhất:

“Lạy Cha chúng con ở trên trời…”

Phép lành.

Chúc các con có một ngày tuyệt vời! Cha gửi những lời chúc tốt đẹp nhất đến tất cả các con!


[Nguồn: vatican.va]


[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 23/06/2026]



Ngày nghiên cứu về “Dinh thự Bộ Truyền bá Đức tin”: nghệ thuật, lịch sử và sứ mạng giữa lòng Roma thời baroque

Ngày nghiên cứu về “Dinh thự Bộ Truyền bá Đức tin”: nghệ thuật, lịch sử và sứ mạng giữa trung tâm Roma của thời baroque

Thứ Ba, 9 tháng Sáu, 2026

Ngày nghiên cứu về “Cung điện Bộ Truyền bá Đức tin”: nghệ thuật, lịch sử và sứ mạng giữa lòng Roma thời baroque

wikipedia


Roma (Hãng tin Fides) – Nơi đây lưu giữ dấu ấn của cuộc cạnh tranh tài năng giữa nghệ sĩ vĩ đại Gian Lorenzo Bernini và đối thủ của ông là Francesco Borromini. Nơi đây kể lại câu chuyện của những chủng sinh đầu tiên từ châu Á, châu Phi và châu Mỹ đến Roma vào thế kỷ XVII để học thần học, rồi trở về quê nhà loan báo Tin Mừng của Đức Kitô. Nơi đây cũng thuật lại những khoản nợ chồng chất của các gia tộc các hồng y.

Trên hết, nơi đây minh chứng cho những bước khởi đầu trong cuộc phiêu lưu truyền giáo vĩ đại của Công giáo trong thời cận đại, cuộc phiêu lưu đã lan rộng khắp thế giới trong những năm sau khi Thánh bộ Truyền bá Đức tin (Sacra Congregatio de Propaganda Fide) được thành lập vào năm 1622.

Tất cả những điều này và nhiều điều khác nữa được tìm thấy trong lịch sử của Dinh thự Ferratini, tòa nhà có mặt tiền hướng ra Quảng trường Tây Ban Nha (Piazza di Spagna) ngay giữa trung tâm Rôma.

Tòa nhà thường được biết đến với tên gọi “Palazzo di Propaganda Fide” (Dinh thự Truyền bá Đức tin) không phải là một viện bảo tàng, nhưng hiện vẫn là nơi làm việc của các nhân viên thuộc một phân ban của Bộ Loan báo Tin Mừng, chuyên trách về Loan báo Tin Mừng tiên khởi và các Giáo hội địa phương mới. Một mạng lưới hoạt động đầy sức sống kết nối nhân sự của tòa nhà này mỗi ngày với những nhu cầu cấp thiết, tin tức, và những thách đố của các cộng đoàn Giáo hội trên khắp thế giới.

Tòa nhà này đã được “hiến tặng” cho Bộ Truyền bá Đức tin đúng 400 năm trước, vào ngày 1 tháng 6 năm 1626.

Bốn thế kỷ sau, vào thứ Năm, ngày 11 tháng 6 năm 2026, một ngày nghiên cứu quốc tế về “Dinh thự Bộ Truyền bá Đức tin” được tổ chức tại Aula Magna (Hội trường lớn) của Học viện Giáo hoàng Urbanô, trên đồi Janiculum, trong khuôn viên của Đại học Giáo hoàng Urbaniana. Sự kiện này đem đến cơ hội để khám phá những bước khởi đầu trong lịch sử đầy biến động của tòa nhà, đồng thời tái khám phá những kho tàng nghệ thuật mà nơi đây đang lưu giữ.

Ngày nghiên cứu bắt đầu lúc 9 giờ sáng với các bài giới thiệu ngắn gọn của Đức Hồng y Luis Antonio Gokim Tagle, Quyền Tổng trưởng Bộ Loan báo Tin Mừng; Giáo sư Vincenzo Buonomo, Viện trưởng Đại học Giáo hoàng Urbaniana; Cha Armando Nugnes, Viện trưởng Học viện Giáo hoàng Urbanô; và Đức ông José María Giaima Brosel Gavila, Quản nhiệm nhà thờ Santa Maria in Monserrato, Nhà thờ Quốc gia Tây Ban Nha tại Roma. Tiếp đó là hai phiên nghiên cứu: phiên thứ nhất tập trung vào lịch sử của dinh thự, còn phiên thứ hai về những khía cạnh nghệ thuật và kiến trúc đặc sắc của công trình.

Chương trình nghiên cứu trong ngày

Bốn trăm năm trước, linh mục người Valencia là Juan Bautista Vives đã hiến tặng “Palazzo di Propaganda Fide” làm trụ sở cho Thánh Bộ đặc trách việc truyền giáo trên toàn thế giới. Trước đó, tòa nhà này từng là đối tượng của một cuộc tranh chấp kéo dài giữa vị giám chức người Tây Ban Nha và những người thừa kế đang gặp khó khăn về tài chính của Đức Hồng y Ferratini, người đã cho xây dựng công trình gần Quảng trường Tây Ban Nha như một tư dinh.

Trong phiên thứ nhất – được điều phối bởi Giáo sư Pierantonio Piatti, Thư ký Ủy ban Giáo hoàng về Khoa học Lịch sử – Đức ông Flavio Belluomini, Lưu trữ viên của Văn khố Lịch sử Bộ Truyền bá Đức tin, trình bày về những sự kiện phức tạp và các lý do dẫn đến việc hiến tặng dinh thự này. Tiếp theo đó, bài thuyết trình thứ hai của ông Luca Balducci thuộc Thư viện Đại học Giáo hoàng Urbaniana tập trung vào việc di dời Học viện Urbanô, học viện đã là nơi lưu trú của các sinh viên tại Palazzo di Propaganda từ khi được thành lập năm 1627, đến địa điểm mới trên đồi Janiculum, được hoàn thành vào năm 1926. Bài thuyết trình của Balducci tập trung vào việc mua lại tòa nhà, các giai đoạn di dời khác nhau và những năm đầu tiên của tòa nhà mới nằm liền kề Đại học Giáo hoàng Urbaniana.

Điều này làm nổi bật tính liên tục giữa những sinh viên đầu tiên không phải là người châu Âu, những người đã được lưu trú tại tòa nhà hướng ra Quảng trường Tây Ban Nha từ thế kỷ XVII trở đi, và cộng đồng sinh viên hiện nay đang được tiếp đón tại Học viện Urbano, với hơn 160 sinh viên đến từ gần 40 quốc gia khác nhau.

Bernini, Borromini và Nhà nguyện Ba Vua

Các nhà sử học cho rằng mặt chính điện của Palazzo di Propaganda, hướng ra Quảng trường Tây Ban Nha và có Cột tượng Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, là của kiến trúc sư Gian Lorenzo Bernini. Mặt khác, kiến trúc sư Francesco Borromini đã định hình toàn bộ bản sắc kiến trúc của dinh thự với phong cách thử nghiệm của mình, bắt đầu từ mặt tiền trên đường Via di Propaganda, được hoàn thành vào khoảng năm 1662. Bên trong, Borromini cũng thay thế nhà nguyện nhỏ hình bầu dục của Bernini bằng nhà nguyện ngày nay được gọi là Nhà nguyện Ba Vua, hoàn thành vào năm 1666. Được hoàn thiện theo cách này, nhà nguyện mang một sơ đồ mặt bằng phức tạp, giàu những đường cong, các hốc tường và những bề mặt liên tục: một không gian phụng vụ dành riêng cho mầu nhiệm Hiển Linh, nằm trong một dinh thự nơi mọi sự luôn hướng đến việc đồng hành và nâng đỡ công cuộc tông đồ của Giáo hội trên toàn thế giới.

Phiên nghiên cứu thứ hai sẽ được khai mạc bởi linh mục Dòng Tên người Bồ Đào Nha Nuno da Silva Gonçalves, Giám đốc tạp chí La Civiltà Cattolica và giáo sư thuộc Khoa Lịch sử và Di sản Văn hóa Giáo hội tại Đại học Giáo hoàng Gregoriana. Sau đó là bài thuyết trình của Giáo sư Marisa Tabarrini thuộc Viện Lịch sử, Thiết kế và Phục chế Kiến trúc của Đại học Roma “La Sapienza” với chủ đề: “Dinh thự Bộ Truyền bá Đức tin và các kiến trúc sư của công trình”. Tiếp theo, Giáo sư Joseph Connors từ Đại học Notre Dame trình bày bài tham luận với tựa đề: “Từ Nhà nguyện nhỏ của Bernini đến Nhà nguyện lớn của Borromini”. Lúc 18 giờ, ngày nghiên cứu sẽ kết thúc bằng giờ cầu nguyện và tạ ơn tại Nhà nguyện Ba Vua trong Điện Bộ Truyền bá Đức tin, nơi giờ Kinh Chiều sẽ được cử hành. Sự kiện diễn ra vào thứ Năm, ngày 11 tháng 6 này đánh dấu sự khởi đầu của một loạt nghiên cứu do Bộ Loan báo Tin Mừng khởi xướng và điều phối, sẽ tiến tới cao điểm vào năm 2027 với một hội nghị quốc tế kỷ niệm 400 năm thành lập Học viện Urbano.

Các nhà báo và chuyên viên truyền thông có thể đăng ký tác nghiệp để tham dự ngày nghiên cứu tại Phòng Báo chí Tòa Thánh.

(GV) (Hãng tin Fides, ngày 9/6/2026).

[Nguồn: fides.org]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 20/06/2026]


Thứ Tư, 24 tháng 6, 2026

SỨ ĐIỆP VIDEO CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIVNHÂN DỊP KỶ NIỆM NĂM MƯƠI NĂMCÁC HỘI NGHỊ GIỚI TRẺ MÙA HÈ STEUBENVILLEMÙA HÈ NĂM 2026, HOA KỲ

SỨ ĐIỆP VIDEO CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIVNHÂN DỊP KỶ NIỆM NĂM MƯƠI NĂMCÁC HỘI NGHỊ GIỚI TRẺ MÙA HÈ STEUBENVILLEMÙA HÈ NĂM 2026, HOA KỲ

SỨ ĐIỆP VIDEO CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV
NHÂN DỊP KỶ NIỆM NĂM MƯƠI NĂM
CÁC HỘI NGHỊ GIỚI TRẺ MÙA HÈ STEUBENVILLE
MÙA HÈ NĂM 2026, HOA KỲ

[Đại học Phanxicô Steubenville, Ohio, ngày 10–12 tháng 7 năm 2026]


_________________________________


Các bạn thân mến,

Cha rất vui mừng được gửi lời chào đến tất cả các bạn khi các bạn quy tụ tại nhiều địa điểm khác nhau để tham dự những Hội nghị Giới trẻ Mùa hè Steubenville trong năm đánh dấu kỷ niệm năm mươi năm những cuộc gặp gỡ này. Như các con biết, năm nay chúng ta cũng đang kỷ niệm tám trăm năm ngày Thánh Phanxicô qua đời. Vì sự kiện này được tổ chức bởi Đại học Phanxicô Steubenville, nên cha nghĩ thật thích hợp để suy tư về sứ điệp mà Thánh Phanxicô muốn gửi đến người trẻ hôm nay. Cha nghĩ ngài có thể nói với chúng ta về nhiều điều, nhưng đặc biệt là về sự bình an đích thực và niềm vui trọn hảo, vì những chủ đề này là một phần quan trọng trong cuộc đời của ngài. Nếu các con gặp Thánh Phanxicô trên các nẻo đường của thành Assisi vào thế kỷ thứ mười ba, có thể ngài sẽ nhìn các con cùng với một nụ cười hiền hòa, đầy yêu thương và nói: “Pace e bene”, nghĩa là “Bình an và thiện hảo”. Đó là cách Thánh Phanxicô thường chào mọi người, và lời chào ấy diễn tả một trong những khát vọng trong tâm hồn ngài. Chúng ta cũng hãy tự hỏi mình: tôi có ước mong bình an đích thực cho những người tiếp xúc với tôi không? Tôi có đối xử với người khác theo cách mang lại bình an cho họ không? Giờ đây, các con có thể nói rằng điều đó không phải luôn dễ dàng. Đôi khi, cách cư xử của chúng ta, ngay cả đối với những người mà chúng ta yêu thương nhất, lại có thể mang đến sự thất vọng và xung đột hơn là bình an. Chúng ta phải nhớ rằng Thánh Phanxicô có thể gieo rắc bình an không phải nhờ những nỗ lực riêng của ngài, nhưng bởi vì ngài mang trong mình nguồn mạch của sự bình an đích thực. Cha đã nhiều lần nhắc lại rằng bình an là một món quà của Thiên Chúa, một món quà mà chúng ta nhận được khi mời Chúa ngự vào tâm hồn mình. Khi ấy, chúng ta được mời gọi trở thành những khí cụ bình an của Người, đem bình an này đến cho gia đình, cộng đoàn, quốc gia của chúng ta và cho toàn thế giới. Vì thế, Cha mời gọi các con hãy tận dụng những giây phút thinh lặng trong kỳ đại hội này để khám phá sự bình an của Đức Kitô mà Người đã hứa ban cho các môn đệ của Người (x. Ga 14:27).

Thánh Phanxicô cũng được biết đến là một người rất vui tươi. Ngài vui sướng trước vẻ đẹp của công trình tạo dựng, trước lòng nhân hậu và lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, cũng như trước sự hoán cải của những người tội lỗi. Tuy nhiên, có lẽ các con sẽ ngạc nhiên khi biết cách ngài giải thích thế nào là niềm vui trọn hảo. Một buổi tối mùa đông, khi đang trên đường trở về Assisi cùng với Sư huynh Lêô, một trong những thành viên đầu tiên của Dòng Phanxicô, Thánh Phanxicô bắt đầu kể một danh sách dài những điều xem ra là “tốt đẹp” nhưng không dẫn đến niềm vui trọn hảo. Đến một thời điểm, Sư huynh Lêô cuối cùng phải thốt lên: “Thưa Cha Phanxicô, con xin cha dạy cho con biết thế nào là niềm vui trọn hảo!”. Trong câu trả lời của mình, thánh nhân đã mô tả một hoàn cảnh bi đát gồm việc phải chịu đựng giá lạnh, đói khát và bị khước từ – hoàn toàn trái ngược với điều người ta mong đợi – rồi nói thêm rằng nếu những khó khăn như thế được đón nhận với lòng kiên nhẫn, không oán thán và với tình yêu mến Thiên Chúa, thì “đó chính là niềm vui trọn hảo”.

Có thể chúng ta tự hỏi: liệu thực sự có thể có niềm vui trong những hoàn cảnh khó khăn như thế không? Điều đó chỉ có thể xảy ra nếu đời sống của chúng ta được đặt nền tảng trên mối tương quan với Thiên Chúa như một Người Cha đầy yêu thương. Thật vậy, niềm vui của Thánh Phanxicô – niềm vui mà Thánh Phanxicô đang nói đến – không thể tìm thấy nơi các thiết bị điện tử, trong việc dành hàng giờ trước màn hình hay liên tục lướt mạng xã hội không ngơi tay mỗi ngày. Những hoạt động này thường làm lãng phí thời gian quý giá lẽ ra có thể được sử dụng cho những giây phút cầu nguyện trong thinh lặng, vun đắp những tình bạn chân thực, dành thời gian chất lượng cho gia đình, tìm hiểu sâu xa hơn về đức tin của chúng ta, học tập hoặc chơi thể thao. Niềm vui cũng không bao giờ tìm được qua việc sử dụng ma túy, lạm dụng rượu bia, lối sống buông thả, những mối quan hệ hời hợt, sự ám ảnh về hình ảnh bản thân, hay bất cứ hành vi gây hại nào. Đáng ngạc nhiên là niềm vui ấy cũng không thể tìm thấy nơi của cải vật chất như sự giàu có, sắc đẹp, danh tiếng hay thậm chí là sức khỏe, vì một ngày nào đó chúng ta sẽ phải bỏ lại tất cả những điều này phía sau.

Chỉ có tình yêu của Thiên Chúa mới có thể ban cho chúng ta niềm vui đích thực và trọn hảo. Nếu chúng ta có niềm xác tín sâu xa rằng Thiên Chúa chăm sóc chúng ta như những người con yêu dấu của Người, thì chúng ta sẽ không xao động hay nản lòng, ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn. Nhiều người trong các con đã được nghe từ khi còn nhỏ rằng Thiên Chúa yêu thương các con. Nhưng các con có thực sự tin điều đó không? Các con thật quý giá trước mắt Thiên Chúa! (x. Is 43:4) Các con được Người yêu thương vô điều kiện! Các con có chắc chắn về điều ấy không? Nếu các con vun trồng mối tương quan tín thác với Người, qua việc cầu nguyện thường xuyên, qua việc lãnh nhận các bí tích, nếu các con phó thác bản thân trong tay Người, thì những lo âu, buồn phiền và cô đơn sẽ dần tan biến khi ân sủng của Người đổ đầy trong các con và khi tình yêu của Người đốt cháy tâm hồn các con. Đây chính là bí quyết để có thể đối diện với những hoàn cảnh thử thách bằng một nụ cười. Hãy mở lòng để khám phá thực tại này.

Vì vậy, sứ điệp của Thánh Phanxicô, và của cha, thật đơn giản: bình an đích thực và niềm vui trọn hảo là những ân ban từ Thiên Chúa đến khi chúng ta mở lòng ra với Người và tin tưởng vào quyền năng biến đổi của Người. Chúng ta có thể dâng lên Người điều gì để đáp lại tình yêu cao cả và những món quà quảng đại như vậy? Không có gì khác ngoài chính bản thân chúng ta! Hôm nay, Chúa cần những nhà truyền giáo để loan báo Lời cho những ai chưa biết Người; cần những người nam và người nữ thánh thiện để xây dựng các gia đình Công giáo đầy yêu thương; cần những linh mục để trở thành những người cha linh hướng và những thừa tác viên của các bí tích; đồng thời cần những tu sĩ nam nữ để trở nên chứng nhân cho niềm vui đích thực của vương quốc của Người. Nếu các con cảm nhận rằng Chúa có thể đang mời gọi mình bước vào một trong những ơn gọi này, đừng khép kín lòng mình hoặc quay lưng đi trong sợ hãi, nhưng hãy tiến lên một bước và thưa với Chúa rằng: “Dạ, con đây, xin sai con đi!” (Is 6:8). Đồng thời, đừng ngại nói về điều này với một ai đó, với một người bạn đáng tin cậy, một linh mục hay một nữ tu.

Cha chúc tất cả các con có một đại hội sinh hoa kết trái, và cầu nguyện cho các con trong những ngày này được đổ đầy tình yêu của Đức Kitô, cũng như được gặp gỡ những bạn trẻ khác, những người cũng khao khát dâng hiến trọn vẹn đời mình cho Người, và nhờ đó tìm được hạnh phúc đích thực. Phó thác tất cả các con cho sự chuyển cầu từ mẫu của Đức Mẹ, Đấng làm cho chúng ta vui mừng, cha hân hoan khẩn cầu những ơn lành của Chúa là sự bình an và sức mạnh tuôn đổ xuống trên mỗi người các con.

Và xin Thiên Chúa toàn năng chúc lành cho tất cả các con: ✠ nhân danh Cha, và ✠ Con, và ✠ Thánh Thần. Amen.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 21/06/2026]