Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2026

Caphácnaum, Thành của Chúa Giêsu

Caphácnaum, Thành của Chúa Giêsu

Caphácnaum, Thành của Chúa Giêsu


07 Tháng Tám 2026

Francesco Patton


Thánh sử Mátthêu mô tả việc Chúa Giêsu rời bỏ nơi Người đã lớn lên để đến cư ngụ tại nơi ở mới, “thành của mình” (Mt 9:1), vào lúc khởi đầu sứ vụ công khai như sau: “Khi Đức Giê-su nghe tin ông Gioan đã bị nộp, Người lánh qua miền Galilê. Rồi Người bỏ Nadarét, đến ở Caphácnaum, một thành ven biển hồ Galilê, thuộc địa hạt Dơ-vu-lun và Náptali” (Mt 4:12-13). Matthêu Lêvi, người làm nghề thu thuế cho quân La Mã chiếm đóng trên con đường từ Caphácnaum đến Đamát, cũng đưa ra động cơ thần học đằng sau việc đổi nơi cư trú của Chúa Giêsu: “để ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia nói: Này đất Dơ-vu-lun, và đất Náptali, hỡi con đường ven biển, và vùng tả ngạn sông Giođan, hỡi Galilê, miền đất của dân ngoại! Đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi” (Mt 4:14-16).

Ngày nay, người hành hương đến Caphácnaum bên bờ hồ Tibêria vẫn có trải nghiệm đặc biệt được nhìn thấy ngôi thành nơi Chúa Giêsu đã trải qua phần lớn thời gian ba năm thi hành sứ vụ tại Galilê. Chính tại đây, Người đã gọi các Tông đồ, nơi Người rao giảng, chữa lành bệnh nhân và thực hiện những dấu lạ quyền năng nhằm mạc khải căn tính sâu xa của Người là Đấng Mêsia và là Con Thiên Chúa. Cha Stanislao Loffreda, nhà khảo cổ Dòng Phanxicô thuộc Học viện Kinh Thánh Phanxicô (SBF) tại Giêrusalem, đã dành trọn cuộc đời cho địa điểm này; ngài là phụ tá chính của Cha Virgilio Canio Corbo trong 19 đợt khai quật được thực hiện tại đây từ năm 1968 đến năm 1986. Trong quyển sách hướng dẫn về Caphácnaum, nguồn tư liệu chính của bài viết này, cha nhắc lại mục tiêu thực sự của ngành khảo cổ học:

“Những nhà khảo cổ chúng tôi khai quật các di tích vật chất của quá khứ, nhưng thực ra chúng tôi đang tìm kiếm một điều hơn thế. Mục tiêu cuối cùng của chúng tôi, trong mức độ có thể, là thiết lập sự tiếp xúc với các thế hệ quá khứ, đối thoại với họ và để họ cất tiếng nói với các thế hệ hôm nay” (x. S. Loffreda, Cafarnao, Giêrusalem, 1995, tr. 7). Khi nghĩ về Caphácnaum như “thành phố của Chúa Giêsu” và của các Tông đồ đầu tiên, chúng ta lập tức nhận ra tầm quan trọng của những di tích cổ xưa nơi đây đối với toàn thể nhân loại. Đối với các tu sĩ thuộc Dòng Quản lý Thánh Địa, những người gìn giữ nơi này và sống tại đây như một cộng đoàn cầu nguyện, chào đón, Caphácnaum vượt xa hơn một di tích khảo cổ: đây là thành phố của Chúa Giêsu, là nhà của Chúa.


Một ngôi làng ven hồ

Địa điểm khảo cổ nằm trên bờ phía tây bắc hồ Tibêria (Kinneret), thuộc miền Galilê, thấp hơn mực nước biển khoảng 210 mét, cách Tibêria 16 km, cách Tabgha 3 km và cách nơi sông Giođan đổ vào hồ 5 km. Tên Semit nguyên thủy của địa điểm là Kfar Nahum, nghĩa là làng của ông Nahum (một trong những vị được gọi là “tiên tri nhỏ” cũng mang tên này). Triết gia Origenes dịch tên này là “cánh đồng an ủi” (từ gốc Hê-brơ nhm), trong khi thánh Giêrônimô dùng thuật ngữ “thành phố xinh đẹp” (từ gốc n’m). Sử gia Flavius Josephus chọn Capharnaoum, cách chuyển ngữ gần nhất với lối phát âm tiếng Hê-brơ (x. S. Loffreda, sđd., tr. 14-15).

Tàn tích Caphácnaum cổ đại trải rộng trên khoảng bảy héc-ta. Hai phần ba thuộc về Dòng Phanxicô Quản lý Thánh địa. Phần còn lại ở phía đông thuộc về Tòa Thượng phụ Chính thống Hy Lạp. Ngôi làng cổ bị bỏ hoang khoảng 1.000 năm trước, dù một số gia đình Ả Rập thuộc bộ tộc Semekiyeh vẫn sinh sống ở đó cho đến cuộc chiến tranh Ả Rập-Israel năm 1948 (x. S. Loffreda, sđd., tr. 10).

Vào thời Chúa Giêsu, Caphácnaum là một thành ở biên giới có trạm thu thuế (x. Mc 2:13-15), nằm trên con đường đế quốc dẫn đến Đamát. Là thị trấn duy nhất trên bờ tây bắc của Hồ, nơi đây cách miền Thượng Giođan 5 km; khu vực này đánh dấu biên giới giữa lãnh địa của tiểu vương Hêrôđê Antipas và vùng Gôlan được giao cho người em là Philipphê của ông (cả hai đều là con của Hêrôđê Cả). Năm 1975, một cột mốc khắc tên Hoàng đế Hadrianô đã được tìm thấy cách hội đường chừng 100 mét về phía tây bắc, xác nhận từng có một con đường đế quốc tại đó (x. S. Loffreda, sđd., tr. 18-19).

Sự hiện diện của một phân đội lính La Mã, được ghi nhận trong các sách Tin Mừng (x. Lc 7:1-10; Mt 8:5-13), cho thấy tầm quan trọng của làng này như một điểm trung chuyển. Caphácnaum có quan hệ thương mại với vùng Thượng Galilê, Gôlan, Syria, Tiểu Á, Sýp, châu Phi và người Phênixi, như được xác nhận qua các đồng tiền và đồ gốm tìm thấy. Điều khiến Cha Loffreda ngạc nhiên là sự thiếu vắng mối liên hệ với miền trung và miền nam Palestine (x. S. Loffreda, sđd., tr. 19).

Chúa Giêsu rời Nadarét và đến cư ngụ tại Caphácnaum

Như đã đề cập ở trên, Chúa Giêsu rời Nadarét và đến sống tại Caphácnaum. Quyết định này không phải là ngẫu nhiên. Nadarét “là một vùng đồi núi, tách biệt khỏi các tuyến giao thông chính”, trong khi Caphácnaum nằm trên một con đường chiến lược và “đủ xa các trung tâm đô thị lớn, nhất là Tibêria, nơi Hêrôđê Antipas đã đặt thủ phủ”. Nhờ đó, Chúa Giêsu có thể “phổ biến sứ điệp thiên sai của Người một cách rộng rãi, mà không gây ra phản ứng ngay lập tức từ các nhà lãnh đạo chính trị và tôn giáo”. Hơn nữa, Caphácnaum có dân cư đa dạng: ngư dân, nông dân, thợ thủ công, thương nhân, người thu thuế. Mối quan hệ của thành phố với người Rôma được đánh dấu “bởi một sự thân tình đặc biệt, đến nỗi một viên đại đội trưởng Rôma đã xây hội đường cho cộng đồng Do Thái” (x. S. Loffreda, sđd., tr. 68-69). Vì thế, không có gì ngạc nhiên khi Chúa Giêsu gọi những môn đệ đầu tiên từ cộng đồng này: các ngư phủ là Phêrô, Anrê, Giacôbê và Gioan, cùng Matthêu người thu thuế.

Nhà của thánh Phêrô: từ domus-ecclesia đến đền tưởng niệm

Khám phá có ý nghĩa nhất do các cuộc khai quật của Dòng Phanxicô đưa ra ánh sáng là khu vực được gọi là insula sacra. Do Cha Virgilio Corbo và Cha Stanislao Loffreda dẫn đầu, các cuộc khai quật năm 1968 đã cho phép tái dựng lịch sử của nơi này, qua việc xác định bốn giai đoạn then chốt. Lịch sử ngôi nhà nơi Chúa Giêsu đã sống “có thể được tóm tắt như sau:

1. Thời điểm khởi đầu là vào thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên.

2. Bắt đầu từ cuối thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên, một phần của ngôi nhà […] đã được chuyển thành một domus-ecclesia, tức là nơi dành cho các cuộc hội họp tôn giáo.

3. Vào thế kỷ thứ tư, nhà được gọi là domus-ecclesia được mở rộng và tách khỏi phần còn lại của làng bằng một bức tường bao quanh đồ sộ.

4. Vào nửa sau thế kỷ thứ năm, toàn bộ các công trình của insula sacra bị phá dỡ và một nhà thờ hình bát giác được xây dựng” (x. S. Loffreda, sđd., tr. 51).

Việc căn phòng này là nơi thờ tự của Kitô giáo được chứng thực qua các hình khắc mang tên Chúa Giêsu và chữ lồng (monogram), các công thức phụng vụ như Amen và Kyrie Eleison, cùng một dòng chữ bằng tiếng Paleo-Estrangelo — một biến thể của tiếng Syriac cổ — có vẻ như ám chỉ đến Bí tích Thánh Thể. “Sự đa dạng ngôn ngữ cho phép giả định chắc chắn rằng domus-ecclesia không chỉ được các tín hữu địa phương sử dụng, mà còn bởi những người hành hương” (x. S. Loffreda, sđd., tr. 60).

Trong tác phẩm De locis sanctis, thầy Phêrô Phó tế (1107-1140 sau Công nguyên) thuật lại lời chứng của người hành hương tên Egeria (thế kỷ IV sau Công nguyên) mô tả domus-ecclesia như sau:

“Tại Caphácnaum, nhà của vị thủ lãnh các Tông đồ đã được biến thành một nhà thờ. Các bức tường của ngôi nhà vẫn còn đứng vững cho đến ngày nay, và tại đây Chúa đã chữa lành người bại liệt. Nơi đây cũng có hội đường, trong đó Chúa đã chữa người bị quỷ ám. Hội đường này được xây bằng các khối đá vuông và có nhiều bậc thang dẫn lên lối vào” (Petrus Diaconus, Liber de Locis Sanctis, trong Itineraria et alia geographica, ed. R. Weber, CCL, 175, Turnhout 1965, tr. 98-99).

Ngôi nhà thờ hình bát giác từ nửa sau thế kỷ thứ năm được thiết kế với một khối bát giác trung tâm phía trên ngôi nhà, nhằm chỉ cho khách hành hương “vị trí chính xác ngôi nhà của Thánh Phêrô, khi ấy đã bị chôn vùi bên dưới nền cao của nhà thờ” (x. S. Loffreda, sđd., tr. 66). Vào khoảng cuối thế kỷ thứ năm sau Công nguyên, một giếng rửa tội và một cung thánh hình bán nguyệt được thêm vào phía đông công trình (x. J. Patrich, Baptism in the Holy Land: 4th – 7th Centuries, Milano 2025, tr. 103-104). Đền tưởng niệm hiện đại, do kiến trúc sư người Ý Ildo Avetta thiết kế, được thánh hiến ngày 29 tháng 6 năm 1990. Sau khi qua đời năm 1991, Cha Corbo, người đã chủ trì các công trình, được an táng bên dưới đền để tôn kính Thánh Phêrô.

Các hội đường: từ thế kỷ thứ tư và từ thời Chúa Giêsu

Công trình tưởng niệm lớn khác tại Caphácnaum là hội đường “trắng”. Khác với các nhà dân thường được xây bằng đá bazan sẫm màu, công trình này được xây dựng hoàn toàn bằng những khối đá vôi trắng, nặng tới bốn tấn, được đưa đến từ các mỏ đá cách đó vài cây số. Các yếu tố trang trí của hội đường rất tinh xảo và phong phú với các biểu tượng Do Thái.

Cha Geiger viết: “Liên quan đến hội đường vào thời Chúa Giêsu, cho đến đầu thế kỷ XX, các nhà khảo cổ tiên phong phần lớn tin rằng họ đã tìm thấy nó. Tuy nhiên, khi các nhà khảo cổ Đức Heinrich Kohl và Carl Watzinger phân tích các phế tích trong giai đoạn 1905-1916, họ đã định niên đại chúng vào năm 200 sau Công nguyên. Vì các phế tích không thể thuộc về hội đường hiện hữu vào thời Chúa Giêsu, từ các năm 1968 đến năm 1990, các tu sĩ Phanxicô đã nỗ lực kiểm chứng hết sức thận trọng xem có một hội đường sớm hơn nằm bên dưới công trình đang thấy hay không. Một bất ngờ ban đầu là việc tìm thấy hơn 30.000 (!) đồng tiền trên nền của hội đường đương thời, có niên đại vào cuối thế kỷ IV sau Công nguyên (383-395)” (H. Fürst – G. Geiger, Terra Santa. Guida francescana per pellegrini e viaggiatori, Milano 2018², tr. 220-221/1021).

Dựa trên việc phân tích các đồng tiền và đồ gốm thời hậu La Mã được tìm thấy ở các tầng khác nhau của di tích, các cuộc khai quật của Cha Corbo và Cha Loffreda đã cho phép xác định niên đại của hội đường là cuối thế kỷ thứ tư. Hơn nữa, bên dưới hội đường trắng, các nhà khảo cổ đã tìm thấy một nền lát đá bazan có từ thế kỷ I, thuộc về một công trình công cộng lớn đến mức không thể là một ngôi nhà tư nhân. Cha Corbo và Cha Loffreda công nhận rằng “nền lát đá lớn có từ thế kỷ thứ nhất được phát hiện bên dưới gian chính của hội đường trắng có thể là một phần của hội đường từng được tìm kiếm từ lâu, tức là hội đường do viên đại đội trưởng La Mã xây dựng và từng được Chúa Giêsu thăm viếng” (S. Loffreda, sđd, tr. 32-49). Chính trong hội đường này, Chúa Giêsu đã giảng dạy như một Đấng có uy quyền trong ngày sabát, trừ quỷ (x. Mc 1:21-28) và công bố bài giảng về bánh hằng sống (x. Ga 6:22-71).

Sự chung sống của cộng đồng Kitô giáo và Do Thái giáo

Các phát hiện xác nhận rằng một cộng đoàn Kitô giáo chiếm đa số và một cộng đoàn Do Thái giáo thiểu số đã cùng sinh sống bên cạnh nhau trong ngôi làng thời Byzantine (thế kỷ IV đến VII sau Công nguyên). Những mảnh gốm mang hình thập giá được tìm thấy rất nhiều ở hầu như khắp nơi trên phần địa điểm thuộc Dòng Phanxicô, và các hiện vật như mặt dây chuyền khắc Tetragrammaton Thánh xác nhận hội đường vẫn hoạt động. Caphácnaum là một trường hợp đặc biệt trong khu vực, nơi các cộng đồng tôn giáo khác nhau nhìn chung có xu hướng định cư tại các làng riêng biệt thay vì sống chung với nhau (x. S. L. Mattila, “Capernaum, Village of Nahum: From Hellenistic to Byzantine Times”, trong: Galilee in the Late Second Temple and Mishnaic Periods: Vol. 2, 2015, tr. 249-251).

Lịch sử khảo cổ

Lịch sử khảo cổ của Caphácnaum bắt đầu năm 1838, khi Edward Robinson nhận diện được các tàn tích của hội đường, nhưng chưa liên kết chúng với địa điểm trong Tin Mừng. Charles Wilson đã xác định chính xác các tàn tích hội đường vào năm 1866. Năm 1894, Dòng Quản lý Thánh Địa, thông qua Tu huynh Giuseppe Baldi, đã mua các phế tích này từ người Bedouin. Hội Orient-Gesellschaft của Đức (Kohl và Watzinger), kế đến là Cha Wendelin von Menden, OFM, bắt đầu các cuộc khai quật vào đầu những năm 1900. Trong thập niên 1920, Cha Orfali, OFM (1889-1926), một tu sĩ Phanxicô người Nadarét, đã đưa Vương cung thánh đường Byzantine ra ánh sáng.

Sau một thời gian dài gián đoạn, năm 1968, Dòng Quản lý Thánh Địa giao việc khai quật cho Cha Virgilio Corbo, OFM (1918-1991) và Cha Stanislao Loffreda, OFM (1932-2025). Các ngài được hỗ trợ bởi Cha Bellarmino Bagatti, OFM, và Cha Godfrey Kloetzly, OFM. Cùng năm đó, họ đã phát hiện ra một domus ecclesia có niên đại từ thế kỷ thứ tư bên dưới ngôi nhà thờ hình bát giác, và sâu hơn nữa là một ngôi nhà từ thế kỷ thứ nhất, xác nhận rằng nửa thế kỷ sau cái chết của Chúa Giêsu, một khu vực trong nhà đã được chuyển thành nơi thờ phượng Kitô giáo để tôn kính Thánh Phêrô. Các cuộc khai quật của Cha Corbo đã dẫn đến việc tái dựng toàn bộ niên đại của di tích, từ Thời đại Đồ Đồng Trung (khoảng 2000-1550 trước Công nguyên) đến thời kỳ Ả Rập (thế kỷ VII), cũng như điều chỉnh niên đại của hội đường đồ sộ và tìm thấy một hội đường sớm hơn từ thời Chúa Giêsu. Các công trình của Cha Corbo kết thúc bằng đền tưởng niệm phía trên Nhà của Thánh Phêrô (1990). Người tiếp nối cha là Cha Loffreda, người đã nghiên cứu các giai đoạn Byzantine và Ả Rập, đồng thời biên tập bộ sách khoa học “Capernaum” (9 quyển, SBF). Cha Eugenio Alliata, OFM, đã lập danh mục toàn bộ vật liệu đá của địa điểm (x. https://www.custodia.org/it/santuari/cafarnao/).

Trong khi đó, tại phía đông bắc thị trấn — tài sản của Tòa Thượng phụ Chính thống Hy Lạp tại Giêrusalem — các cuộc khai quật do nhà khảo cổ Vassilios Tzaferis dẫn đầu (1978-1987) đã phát hiện bốn khu vực chính. Nhóm khảo cổ cũng tìm thấy một tường chắn biển đồ sộ dài khoảng 200 mét, với hai cầu tàu vuông góc vươn ra hồ, cùng một kho báu nhỏ gồm 282 đồng dinar bằng vàng thuộc giai đoạn chuyển tiếp Ả Rập-Byzantine (x. Mattila, sđd., tr. 226-228).

Sự hiện diện của Dòng Phanxicô

Cho đến ngày nay, mỗi ngày, các tu sĩ Dòng Quản lý Đất Thánh vẫn chào đón những khách hành hương đến Caphácnaum để chạm đến “thành của Chúa Giêsu”, với những nơi Người đã nhìn ngắm, nơi tiếng nói của Người từng vang lên và nơi Người đã thực hiện các công cuộc của mình. Vẻ huy hoàng của hội đường trắng, nét đơn sơ của những ngôi nhà xây bằng đá bazan, nhà của thánh Phêrô, trước tiên được chuyển thành một domus ecclesia, rồi sau đó thành một vương cung thánh đường Byzantine, và ngày nay là một đền tưởng niệm dâng kính thánh Phêrô, cùng sự tĩnh lặng của hồ nước phía trước: tất cả đều nói lên một sự hiện diện mà đức tin nhận biết vẫn đang sống động. Khi chiêm ngắm những tàn tích của Caphácnaum cổ, người hành hương có thể “thấy” những ngôi nhà và cư dân của ngôi làng cổ cùng các câu chuyện Tin Mừng diễn ra tại đó, “nghe thấy” lời Chúa Giêsu về Bánh Hằng Sống vang vọng và cùng với thánh Phêrô tuyên xưng: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6:68).



[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 12/08/2026]


Công nghệ cần sự sáng tạo

Công nghệ cần sự sáng tạo

Công nghệ cần sự sáng tạo

07 tháng 8 năm 2026
Tác giả Arturo López

Với con số hơn bốn triệu bản bán ra và được dịch sang hơn 30 ngôn ngữ, nhờ sự khảo cứu lịch sử kỹ lưỡng và lối hành văn giản dị được kết tinh từ 35 năm sự nghiệp nhà báo chính trị, nữ tiểu thuyết gia Tây Ban Nha Julia Navarro thực sự đã để lại dấu ấn trong nền văn học hiện đại. Những nhân vật đa dạng của bà — một Hiệp sĩ Dòng Đền, một đứa trẻ đi tìm căn tính của mình, một nhà báo — sống trong những câu chuyện đầy kịch tính, hấp dẫn, đau khổ, hy vọng và sự cứu độ, cho thấy khả năng của bà Navarro trong việc chạm đến tâm hồn con người hiện đại. Trong cuộc phỏng vấn sau đây, diễn ra vào cuối tháng Sáu khi bà có mặt tại Rôma cùng một nhóm văn sĩ để tham dự buổi tiếp kiến Đức Giáo hoàng Lêô XIV nhân dịp kỷ niệm một trăm năm thành lập LEV (Nhà Xuất bản Vatican), bà Navarro nói về tính siêu việt, những công nghệ mới và âm nhạc.

“Như bà biết, viết là một hành vi của sự thật, của sự mặc khải, vì nó tỏ lộ chúng ta là ai, chúng ta tin tưởng và hy vọng điều gì, thế giới mà chúng ta hướng đến và tương lai mà chúng ta mơ ước”, Đức Thánh Cha đã nói trong buổi tiếp kiến dành cho các văn sĩ. Việc tìm kiếm ý nghĩa là một chủ đề thường xuyên trở lại trong các sách của bà. Theo bà, những câu hỏi căn bản nào mà con người ngày nay vẫn tiếp tục tự đặt ra cho mình?

Tôi nghĩ rằng con người đã tự đặt ra những câu hỏi này từ buổi bình minh của nhân loại. Chúng ta là ai? Tại sao chúng ta hiện diện ở đây? Tại sao? Tại sao? Tại sao? Lý do tồn tại của chúng ta, lý do của sự siêu việt, nhu cầu về sự siêu việt — tôi nghĩ đó là những câu hỏi mà nhân loại vẫn đặt ra và đã đặt ra qua các thế kỷ.

Tác phẩm của bà tràn ngập âm nhạc và nghệ thuật nói chung. Bà có nghĩ rằng thi ca và âm nhạc cũng là một ngôn ngữ và một phương tiện để nói về hy vọng và sự siêu việt không?

Vâng, tôi nghĩ như vậy. Bất kỳ hình thái biểu đạt nghệ thuật nào, dù là âm nhạc, văn học, hội họa hay điêu khắc, cũng đều là một phương cách khác để nói, để tìm kiếm sự siêu việt này, và để chia sẻ khái niệm về sự siêu việt với người khác. Tôi nghĩ rằng ngôn ngữ không chỉ là lời nói. Có rất nhiều cách để chúng ta diễn đạt bản thân. Đôi khi ngôn ngữ có thể là một rào cản, nhưng âm nhạc thì không, hội họa thì không, điêu khắc thì không, và văn chương cũng không, bởi lẽ thật may mắn, ngày nay văn chương có thể được dịch thuật. Có những cách khác để giao tiếp với người khác.

Bởi vì trên thực tế, âm nhạc là sự đa dạng xoay quanh một cảm xúc. Đó có thể là sự khắc khoải, như chúng ta thường thấy…

Nó có thể là sự khắc khoải. Mọi cảm xúc đều được phản ánh trong âm nhạc. Qua nhiều thế kỷ, các nhạc sĩ đã phản chiếu những cảm xúc, cũng như sự tiến bộ của con người và những tư tưởng của con người. Âm nhạc vượt lên trên và nói với chúng ta về mỗi thời đại, mỗi thời khắc mà nhân loại được kêu gọi để sống. Cũng như hội họa, văn chương hay bất cứ hình thức biểu đạt nghệ thuật nào khác, đó là bức ảnh chụp lại một khoảnh khắc, một thời điểm.

Trong một xã hội ngày càng mang tính công nghệ, văn chương có thể mang lại điều gì cho đời sống con người?

Tôi nghĩ điều mà công nghệ thiếu là trí tưởng tượng. Đó là lý do vì sao văn chương không do máy móc viết ra — bởi vì đối với tôi, đó không phải là văn chương — và phát xuất từ con người vẫn còn rất nhiều điều để cống hiến, bởi vì máy móc sẽ không bao giờ theo kịp chiều kích nhân bản. Máy móc tiếp nhận những gì người khác đã viết, những gì người khác đã suy nghĩ, nhưng máy móc không suy nghĩ. Vì thế, những lời phát xuất từ tâm trí con người vẫn có thể khuấy động tình cảm và cảm xúc và chạm đến tâm hồn. Chúng ta sẽ không bị máy móc thay thế. Điều đó hoàn toàn không thể. Bởi vì máy móc không có linh hồn. Khả năng sáng tạo của con người thuộc về tinh thần, thuộc về linh hồn.

Thông điệp đầu tiên của Đức Giáo hoàng Lêô XIV là một suy tư về lời nói và truyền thông. Bà nhìn nhận thế nào về tương lai của lời nói trong kỷ nguyên kỹ thuật số?

Tôi muốn nhìn điều đó với niềm hy vọng. Các công nghệ mới đã hiện diện và đó là một thực tại. Người Tây Ban Nha chúng tôi biết, nhờ Cervantes và tác phẩm Don Quixote, cách chiến đấu chống lại thực tại; chúng tôi hiểu thế nào là chiến đấu với những kẻ thù trong tưởng tượng. Người ta không thể chiến đấu chống lại những cối xay gió, bởi vì chúng hiện hữu. Chúng là một phần của thực tại. Nhưng tôi vẫn nhấn mạnh rằng các công nghệ mới không thể thay thế con người. Chúng có thể là những công cụ mà chúng ta sử dụng theo cách tốt hoặc xấu. Thông điệp của Đức Giáo hoàng nói chính xác về điều này. Nhưng ngoài cách chúng ta sử dụng chúng, tôi xin nhắc lại rằng máy móc không có linh hồn, và vì thế, không thể thay thế con người.



[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 10/08/2026]


Thứ Năm, 13 tháng 8, 2026

Huấn từ Kinh Truyền tin của Đức Thánh Cha ngày 09.08.2026 - “Đón rước Chúa Giêsu qua cầu nguyện, các bí tích và lắng nghe Lời Người”

“Đón rước Chúa Giêsu qua cầu nguyện, các bí tích và lắng nghe Lời Người”

Huấn từ Kinh Truyền tin của Đức Thánh Cha

Huấn từ Kinh Truyền tin của Đức Thánh Cha ngày 09.08.2026 - “Đón rước Chúa Giêsu qua cầu nguyện, các bí tích và lắng nghe Lời Người”

*******

Vào trưa nay, Chúa nhật XIX Thường niên, Đức Thánh Cha Lêô XIV xuất hiện tại cửa sổ phòng làm việc của ngài trong Điện Tông tòa Vatican để cùng đọc Kinh Truyền tin với các tín hữu và người hành hương quy tụ tại Quảng trường Thánh Phêrô.

Đức Giáo hoàng khuyến khích mọi người tín thác vào Chúa, Đấng nói với các môn đệ: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!”

Sau đây là huấn từ của Đức Thánh Cha trước khi đọc kinh kính Đức Mẹ:

_________________________________


Huấn từ của Đức Giáo hoàng

Anh chị em thân mến, chúc anh chị em Chúa nhật hạnh phúc!

Bài Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu đi trên mặt nước Hồ Galilê để đến với các môn đệ giữa cơn giông tố (x. Mt 14:22-33).

Sau phép lạ bánh và cá (x. Mt 14:13-21), Thầy thúc giục các môn đệ xuống thuyền và sang bờ bên kia, trong khi Người lên núi để cầu nguyện một mình. Khi đã ra xa bờ, các môn đệ bị sóng gió vùi dập và vật lộn để tiến lên. Sau một kinh nghiệm thành công, trong đó các ông là những nhân vật chính của một dấu lạ phi thường, giờ đây họ lại thấy mình bất lực và sợ hãi trước sự đe dọa của sóng biển và gió ngược.

Khi đêm sắp tàn, Chúa Giêsu đi trên mặt nước cuộn sóng mà đến với các ông; và các ông hoảng sợ, tưởng Người là ma (c. 26). Nhưng Người bảo các ông: “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!” (c. 27). Sự hiện diện của Chúa làm thay đổi mọi sự: Phêrô thậm chí còn đi được vài bước trên sóng nước để tiến về phía Người; nhưng rồi khi mất bình tĩnh, ông bắt đầu chìm, và Chúa Giêsu cứu ông. Khi Thầy bước lên thuyền, cơn bão liền lặng yên, và một lời tuyên xưng đức tin tự trong lòng các môn đệ bật lên: “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa!” (c. 33).

Để nhận thức được điều này, chỉ chứng kiến một phép lạ hoặc thành công trước mắt đám đông là không đủ; trái lại, các ông phải trải nghiệm sự yếu đuối của bản thân và trong chính sự yếu đuối đó, nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa. Chỉ kinh nghiệm này mới có thể mở mắt và mở lòng họ trước sự gần gũi của Ngài, để tìm thấy sự bình an ngay giữa cơn bão tố.

Sau đó ít lâu, Chúa Giêsu nói với các ông: “Nếu anh em có lòng tin và không chút nghi nan… nếu anh em bảo núi này: ‘Dời chỗ đi, nhào xuống biển!’, thì sự việc sẽ xảy ra như thế” (Mt 21:21). Điều này tương tự với những gì các ông đã trải qua trên hồ: sự bình an của Đức Kitô, Đấng đang ở trên núi cầu nguyện, đã đến với các ông giữa những cơn sóng dữ.

Do đó, phép lạ này dạy chúng ta một điều quan trọng. Trước hết, đừng để thành công cuốn đi và đừng bao giờ tự phụ. Đồng thời, đừng tuyệt vọng, ngay cả trong những thời khắc tăm tối, khi chúng ta cảm thấy bất lực trước các vấn đề, và dù đã nỗ lực hết sức, dường như chúng ta vẫn đang thụt lùi thay vì tiến lên. Dù trong hoàn cảnh nào, Chúa Giêsu không bỏ rơi chúng ta; và nếu chúng ta khiêm tốn đón nhận Người vào con thuyền cuộc đời mình — qua cầu nguyện, qua các bí tích và lắng nghe Lời Người — thì nơi Người, chúng ta sẽ tìm được bình an, ánh sáng và sức mạnh cho hành trình của mình.

Xin Đức Maria, Đấng được tuyên xưng là có phúc vì đã tin (x. Lc 1:45), giúp chúng ta sống trong sự phó thác đầy tin tưởng vào Thiên Chúa.

________________________


Sau Kinh Truyền Tin

Anh chị em thân mến,

Tôi tiếp tục theo dõi với sự lo ngại về tình hình bi thảm tại Sudan, đặc biệt là tại thành phố el-Obeid. Trong khi bày tỏ sự gần gũi tinh thần với toàn thể người dân của quốc gia này, tôi lặp lại lời kêu gọi các nhà cầm quyền hãy bảo đảm những hành lang nhân đạo cho dân thường. Đồng thời, tôi thúc giục cộng đồng quốc tế hỗ trợ các nỗ lực nhằm đạt được một lệnh ngừng bắn ngay lập tức. Chúng ta hãy cầu nguyện để Chúa nâng đỡ những người đang đau khổ, biến đổi tâm hồn những người gieo rắc bạo lực, và ban cho nền hòa bình mà mọi người hằng mong đợi.

Những báo cáo đau lòng về những người vô tội bị giết và bị thương tại Ukraine và Nga vẫn tiếp tục đến. Các sự việc này xảy ra nối tiếp nhau, thậm chí ngày càng gia tăng, khiến số nạn nhân là dân thường, trong đó có trẻ em, ngày càng tăng lên. Tôi nghĩ đến gia đình các nạn nhân, những người bị thương và tất cả những người đang đau khổ vì cuộc xung đột đang tiếp diễn. Trước quá nhiều khổ đau, tôi một lần nữa tha thiết kêu gọi tôn trọng luật nhân đạo và cả hai bên chấm dứt các cuộc tấn công vào những mục tiêu dân sự. Chiến tranh chỉ sinh ra thêm chiến tranh và gây nên những đau khổ khôn lường. Đã đến lúc phải chấm dứt vòng xoáy bạo lực luẩn quẩn này và dành chỗ cho ngoại giao và đối thoại, nhằm mở ra con đường cho hòa bình.

Giờ đây, tôi gửi lời chào thân ái đến tất cả anh chị em, người dân Roma và những anh chị em hành hương đến từ nhiều quốc gia khác nhau!

Cha đặc biệt chào các bạn trẻ thuộc Cộng đoàn Thánh Maria Mađalêna của Tổng Giáo phận Milan, những người đã đi bộ theo con đường Via Francigena từ Siena đến Roma; các Hướng đạo sinh từ Enna tổ chức trại trên các ngọn đồi của Roma; và các bạn trẻ đến từ Pernumia, thuộc Giáo phận Padova.

Sự hiện diện của rất nhiều nhóm bạn trẻ, những người đã chọn dành một phần của kỳ nghỉ hè cho các hoạt động đào tạo và tình bạn, là một dấu chỉ hy vọng, cũng như cuộc gặp gỡ của các bạn trẻ Phanxicô mà cha đã có niềm vui được gặp gỡ hôm thứ Năm vừa qua tại Assisi.

Gửi tới tất cả các con, những thanh niên nam nữ đang lắng nghe cha, cha muốn nhắc nhở các con rằng trong những ngày này, lịch phụng vụ mang đến cho chúng ta một số mẫu gương tuyệt vời của các thánh nam nữ, những người mà cha mời gọi các con tìm hiểu kỹ hơn. Hôm qua là lễ Thánh cả Đa Minh, Đấng sáng lập Dòng Giảng Thuyết; hôm nay là lễ Thánh nữ Têrêsa Bênêđicta Thánh Giá, Edith Stein, một nữ tu Dòng Cát Minh bị sát hại tại Auschwitz và là Đồng Bổn mạng của Châu Âu; ngày mai là lễ Thánh Laurensô, phó tế của Giáo hội Roma; và ngày kia là lễ Thánh Clara thành Assisi, người đã rời bỏ cuộc sống tiện nghi để theo Chúa Giêsu, nghèo khó và khiêm nhường, theo bước chân của người đồng hương là Thánh Phanxicô. Các bạn trẻ thân mến, hãy cho phép bản thân được truyền cảm hứng bởi những chứng nhân gương mẫu này của Tin Mừng!

Cảm ơn tất cả anh chị em hiện diện ở đây, và chúc anh chị em một Chúa nhật phúc lành!


[Nguồn: exaudi]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 10/08/2026]


Tìm thấy các dầm gỗ từ Đền thờ Salômôn dưới bãi đậu xe ở Giêrusalem

Tìm thấy các dầm gỗ từ Đền thờ Salômôn dưới bãi đậu xe ở Giêrusalem

08/08/26|

D. R. Esparza

Tìm thấy các dầm gỗ từ Đền thờ Salômôn dưới bãi đậu xe ở Giêrusalem

Credit: Sasha Taran | Shutterstock

Các nhà khảo cổ đã phát hiện gỗ sung sycamore bị cháy sém, được bảo tồn suốt 2.600 năm. Các vòng vân gỗ bên trong có thể giúp các nhà nghiên cứu xác định niên đại cuộc tàn phá với độ chính xác trong phạm vi một thập niên.

Bên dưới một bãi đậu xe tại Thành Đavít, các nhà khảo cổ thuộc Cơ quan Cổ vật Israel và Đại học Tel Aviv đã phát hiện những xà gỗ lớn bị cháy sém, được cho là có niên đại thuộc một trong những thời điểm hệ trọng nhất của lịch sử Giêrusalem cổ đại: cuộc tàn phá Đền Thờ Salômôn do vua Babylon Nabucôđônôsor II thực hiện vào năm 586 trước Công nguyên.

Thông cáo được đưa ra ngày 20 tháng 7 năm 2026 — chỉ ít ngày trước lễ Tisha B’Av, ngày chay của người Do Thái tưởng niệm việc cả hai Đền Thờ bị phá hủy.


Những gì được tìm thấy

Các dầm gỗ dường như từng tạo thành mái của sân trong của một tòa nhà thuộc thời Đền thờ thứ nhất. Khi tòa nhà bị phá hủy, phần mái nhà đổ sập xuống nền. Lớp vữa từ tường bị nóng chảy sau đó phủ lên phần gỗ cháy sém, tạo điều kiện giúp các dầm gỗ này tồn tại khoảng 2.600 năm. Gỗ được xác định là gỗ sung sycamore — loại gỗ thường được dùng trong các công trình lớn tại Giuđa cổ đại.

Thật ra, đây là lần thứ hai các dầm mái từ chính tòa nhà này được tìm thấy tại khu vực khai quật ở Bãi đậu xe Givati. Khám phá đầu tiên đến từ khu vực phía nam của tòa nhà; phát hiện mới này đến từ một khu vực khác của cùng một cấu trúc — điều này cho thấy tòa nhà rất rộng lớn, có tầm quan trọng, và gần như bị phá hủy hoàn toàn trong trận hỏa hoạn do người Babylon gây ra.

Cùng với các dầm gỗ, như tờ Times of Israel đưa tin, các nhà khảo cổ cũng tìm thấy một bộ sưu tập các hiện vật phù hợp với đời sống tại Giêrusalem thời Đền thờ thứ nhất: đồ gốm, các bình chứa và các vật dụng hành chính; tất cả phác họa hình ảnh một công trình bình thường trong một thành phố ngay trước thảm kịch.


Khoa học: xác định niên đại trong phạm vi một thập niên

Điều khiến phát hiện này đặc biệt về mặt khoa học là số lượng khác thường các vòng tuổi cây được bảo tồn trong gỗ. Tiến sĩ Johanna Regev, chuyên gia xác định niên đại bằng carbon phóng xạ tại Cơ quan Cổ vật Israel, cho biết: “Tại Israel, việc tìm thấy gỗ có số lượng vòng tuổi lớn như vậy là điều rất hiếm. Tại đây, trong Thành Đa-vít, chúng tôi đã tìm thấy những xà gỗ dày với nhiều vòng vân, mang lại tiềm năng nghiên cứu đáng kể — vì càng có nhiều vòng tuổi thì độ phân giải trong việc xác định niên đại càng cao. Cho đến nay, chúng tôi chỉ có thể xác định niên đại các phát hiện trong phạm vi hàng trăm năm. Giờ đây, chúng tôi có thể đạt được độ chính xác cao hơn nhiều, thu hẹp khoảng niên đại xuống chỉ còn mười năm.”

Như Phys.org giải thích, các dầm gỗ này mang đến một cơ hội hiếm cho việc phân tích tuổi cây — phương pháp khoa học xác định năm tuổi của gỗ dựa vào các vòng sinh trưởng — tại một khu vực mà gỗ cổ được bảo tồn là vô cùng hiếm. Nếu việc xác định niên đại thành công, đây sẽ là một trong những mốc thời gian khảo cổ chính xác nhất từng đạt được đối với các biến cố thuộc thời kỳ Đền thờ thứ nhất.


Ký ức được bảo tồn trong tàn tích

Các nhà nghiên cứu tin rằng cư dân Giêrusalem có lẽ đã chọn lưu giữ ký ức về sự tàn phá bằng cách chủ ý để nguyên các phế tích tại chỗ. Giám đốc cuộc khai quật, Yiftah Shalev, nói: “Gìn giữ ký ức là một nhu cầu của con người, nhằm bảo tồn những gì từng hiện hữu. Ở đây, chúng ta thấy điều ấy dưới hình thức rõ ràng nhất: một lựa chọn có chủ ý là để nguyên các tàn tích như một minh chứng của sự tàn phá và xây lớp nền mới chồng lên trên.”

Chi tiết ấy rất đáng chú ý. Những người trở về Giêrusalem sau cuộc lưu đày tại Babylon đã không dọn sạch đống đổ nát. Họ xây dựng chồng lên đó, lớp này trên lớp khác, để bằng chứng về những gì đã xảy ra được niêm phong kín bên dưới — một chứng tích bằng đá và gỗ cho một biến cố đã làm tan vỡ thế giới của họ, một biến cố được con cháu của họ tưởng niệm hằng năm, suốt nhiều thiên niên kỷ, vào ngày Tisha B’Av.

Đền Thờ Salômôn, được xây dựng vào thế kỷ X trước Công nguyên làm nơi đặt vĩnh viễn Hòm Bia Giao Ước, là trung tâm đời sống tâm linh của Israel cổ đại. Việc Đền Thờ bị Nabucôđônôsor II phá hủy năm 586 trước Công nguyên — sau một cuộc vây hãm mà sách Các Vua và Sách Tiên tri Giêrêmia đều thuật lại chi tiết — đã đánh dấu sự khởi đầu của cuộc lưu đày Babylon và mở ra điều các học giả gọi là thời kỳ Đền thờ thứ hai, thời kỳ mà chính Chúa Giêsu sau này sống và thờ phượng. Việc Đền thờ thứ hai bị La Mã phá hủy vào năm 70 sau Công nguyên cũng được tưởng niệm vào cùng ngày chay — Tisha B’Av — như biến cố Đền thờ thứ nhất bị phá hủy.

Việc phân tích toàn diện các dầm gỗ vẫn đang tiếp diễn. Một ấn phẩm khoa học được bình duyệt dự kiến sẽ ra mắt vào cuối năm nay.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 09/08/2026]


Thứ Hai, 10 tháng 8, 2026

Tổ chức bác ái Công giáo nói với Crux Now rằng chính phủ Anh phải làm nhiều hơn để bảo vệ người đi biển

Tổ chức bác ái Công giáo nói với Crux Now rằng chính phủ Anh phải làm nhiều hơn để bảo vệ người đi biển

Charles Collins
Ngày 7 tháng 8 năm 2026 | Tổng Biên tập

Tổ chức bác ái Công giáo nói với Crux Now rằng chính phủ Anh phải làm nhiều hơn để bảo vệ người đi biển


LEICESTER, Vương quốc Anh – Một tổ chức cứu trợ Công giáo hàng đầu đang tham gia các nỗ lực nhằm chấm dứt tình trạng bóc lột người đi biển tại Vương quốc Anh.

Stella Maris, trước đây được biết đến với tên gọi Tông đồ Biển, là tổ chức bác ái hàng đầu hỗ trợ người đi biển tại Vương quốc Anh và trên toàn thế giới. Tổ chức này cho biết đời sống của ngư dân và người đi biển vốn đã “có nhiều nguy hiểm và cô đơn”, ngay cả khi họ được bảo vệ đầy đủ.

Stella Maris cử các tuyên úy và những người thăm viếng tàu thuyền để cung cấp cho ngư dân và người đi biển trên khắp thế giới sự hỗ trợ thiết thực cũng như mục vụ, thông tin và sự lắng nghe.

Trong cuộc phỏng vấn riêng với Crux Now, ông Tim Hill, Tổng giám đốc điều hành kiêm Giám đốc quốc gia của Stella Maris, nói rằng phần lớn các doanh nghiệp đánh bắt cá đối xử tốt với người lao động, nhưng “những điểm yếu trong hệ thống nhập cư, việc thực thi luật về thị trường lao động” và các quy định của ngành “cho phép việc bóc lột ngư dân nước ngoài”.

Ông Hill nói, “Qua công việc của chúng tôi với các ngư dân nước ngoài, Stella Maris đã chứng kiến tổn hại lâu dài về mặt con người khi những người này bị bỏ mặc trong tình trạng dễ bị bóc lột”.

Liên đoàn Công nhân Vận tải Quốc tế (ITF) cùng bốn tổ chức khác đang kêu gọi chính phủ Anh cải cách các quy định về tình trạng nhập cư, quyền lao động, tuyển dụng và việc thực thi pháp luật hiện hành đối với người đi biển.

Một cải cách then chốt là tạo điều kiện dễ dàng hơn để người đi biển chuyển đổi việc làm mà không ảnh hưởng đến quyền làm việc của họ tại Vương quốc Anh.

Trong một tuyên bố, ông Hill nói, “Trong bối cảnh lộ trình cấp thị thực Lao động Kỹ năng (Skilled Worker visa) cho ngành đánh bắt hải sản sẽ bị dừng vào tháng 12, Chính phủ phải đưa ra một giải pháp thay thế công bằng và hợp pháp trước khi có thêm nhiều ngư dân bị đẩy vào các sắp xếp thiếu an toàn”.

“Những cải cách này sẽ bảo vệ người lao động, đồng thời hỗ trợ một ngành đánh bắt cá trong đó các chủ sử dụng lao động có trách nhiệm có thể tuyển dụng những người họ cần”, ông nói.

Dưới đây là cuộc trao đổi của Crux Now với ông Tim Hill thuộc Stella Maris...

____________________________________

Crux Now: Những vấn đề mà người lao động nước ngoài trong ngành đánh bắt cá tại Vương quốc Anh đang phải đối mặt là gì?

Ông Hill: Đại đa số các doanh nghiệp đánh bắt cá đối xử tốt với thủy thủ đoàn của họ. Tuy nhiên, hoạt động đánh bắt cá phần lớn diễn ra ngoài tầm quan sát của công chúng, và việc tiếp cận đối với tàu thuyền cùng các hải cảng bị hạn chế có thể khiến hành vi ngược đãi khó bị phát hiện.

Ngư dân nước ngoài đặc biệt dễ bị tổn thương vì công việc, chỗ ở và tình trạng nhập cư của họ đều phụ thuộc vào cùng một chủ sử dụng lao động. Những vấn đề được báo cáo gồm trả lương thấp hoặc giữ lại lương, giờ làm việc quá mức, làm giả hồ sơ làm việc, điều kiện không an toàn, nợ phát sinh từ việc tuyển dụng và hạn chế đi lại.

Người lao động cũng có thể bị đe dọa sa thải, trục xuất hoặc đưa vào danh sách đen nếu họ nêu lên các quan ngại. Trong những trường hợp nghiêm trọng nhất, các ngư dân làm việc trong ngành thủy sản tại Vương quốc Anh đã được chính thức công nhận là nạn nhân của tình trạng nô lệ hiện đại.

Sự cô lập của đời sống trên biển khiến ngư dân khó tiếp cận thông tin độc lập, liên hệ với các tổ chức phúc lợi hoặc báo cáo những gì đang xảy ra.

Nỗi sợ mất sinh kế lẫn tình trạng nhập cư có thể khiến họ cảm thấy mình hầu như không còn lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục ở lại trong hoàn cảnh bị bóc lột.


Tại sao ông muốn thay đổi luật thị thực liên quan đến ngành đánh bắt cá?

Những điểm yếu trong hệ thống nhập cư của Vương quốc Anh, việc thực thi luật về thị trường lao động và quy định đối với ngành đánh bắt cá đã tạo ra những điều kiện cho phép bóc lột ngư dân nước ngoài.

Stella Maris muốn các ngư dân này được công nhận và bảo vệ với tư cách người lao động. Họ cần có tình trạng nhập cư rõ ràng, được tiếp cận các biện pháp bảo vệ việc làm tại Vương quốc Anh, và có khả năng báo cáo hành vi ngược đãi mà không sợ mất việc cũng như mất quyền được ở lại nước này.

Trong lá thư chung gửi Bộ Nội vụ, chúng tôi đã nêu mười đề xuất cải cách then chốt liên quan đến tình trạng nhập cư, quyền lao động, tuyển dụng và thực thi pháp luật đối với ngư dân nước ngoài.

Các đề xuất này bao gồm việc thiết lập một loại Thị thực Lao động Đánh bắt cá (Fishing Worker Visa) chuyên biệt, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tuyển dụng đủ nhân lực cần thiết, vừa cho phép ngư dân linh hoạt đổi chủ sử dụng lao động khi cần thiết, đồng thời bảo đảm cho họ quyền tiếp cận mạnh mẽ hơn với các cơ chế bảo vệ lao động.

Điều này đặc biệt cấp bách vì lộ trình thị thực Lao động Kỹ năng dành cho các nghề đánh bắt cá dự kiến sẽ dừng vào cuối năm 2026. Nếu không có một giải pháp thay thế công bằng và hợp pháp, ngành này có khả năng sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào thị thực quá cảnh, làm tăng số ngư dân được tuyển dụng qua một lộ trình vốn chưa bao giờ được thiết kế cho những người sinh sống và làm việc trong thời gian dài tại các hải cảng của Vương quốc Anh.


Kẽ hở Thị thực Quá cảnh (Transit Loophole) là gì, và tại sao Stella Maris lại lo ngại về điều đó?

Kẽ hở Thị thực Quá cảnh đề cập đến việc sử dụng Giấy phép Nhập cảnh Thuyền viên theo Hợp đồng (Code 7 Contract Seaman Leave) để tuyển dụng ngư dân nước ngoài làm việc trên các tàu đánh bắt cá của Vương quốc Anh.

Sắp đặt này được thiết kế dành cho những người đi biển quá cảnh qua Vương quốc Anh để đến con tàu mà họ sẽ cùng khởi hành.

Nó không được dự liệu như một lộ trình việc làm dài hạn cho các ngư dân làm việc tại các cảng của Vương quốc Anh. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp sử dụng nó để thuê ngư dân trên các tàu vượt ngoài ranh giới 12 hải lý, rồi thường xuyên quay về các cảng của Anh.

Do đó, một ngư dân có thể trải qua nhiều tháng làm việc cho một chủ sử dụng lao động Anh trên một con tàu mang cờ Vương quốc Anh, trong khi theo luật nhập cư, họ lại bị đối xử như thể chỉ đang quá cảnh qua nước này. Điều đó có thể tước đi của ngư dân nước ngoài các quyền về việc làm và sự bảo hộ lao động dành cho những người lao động khác tại Vương quốc Anh.

Stella Maris quan ngại vì điều này đặt ngư dân vào một tình cảnh vô cùng bấp bênh. Giấy phép của họ bị ràng buộc chặt chẽ với một con tàu cụ thể.

Rời bỏ một chủ sử dụng lao động ngược đãi có thể đồng nghĩa với việc mất đi căn cứ cho phép họ ở lại Anh và phải đối diện với nguy cơ bị trục xuất hoặc đưa vào danh sách đen.

Khi làm việc ngoài lãnh hải Vương quốc Anh, có thể không rõ cơ quan nào và những biện pháp bảo vệ việc làm nào được áp dụng; trong khi bất kỳ công việc nào bên trong lãnh hải Vương quốc Anh và trên đất liền đều có thể bị coi là vi phạm các điều kiện nhập cư của họ, ngay cả khi họ làm theo chỉ thị của chủ sử dụng lao động.

Điều này có thể khiến người lao động chán nản không báo cáo tình trạng bị giữ tiền lương, giờ làm việc quá mức hoặc gian lận giờ làm việc, điều kiện không an toàn và các hành vi lạm dụng khác.

Hệ quả là một hệ thống trong đó sự sắp đặt nhập cư vốn dành cho mục đích quá cảnh tạm thời có thể được sử dụng để kiểm soát người lao động và khiến tình trạng bóc lột bị che giấu, khó bị phát hiện.


Tại sao các quyền của những người trong ngành đánh bắt cá lại phức tạp như vậy?

Những người làm cùng một công việc trên các tàu đánh cá của Vương quốc Anh có thể có những quyền rất khác nhau, tùy theo hình thức làm việc, tình trạng nhập cư và phạm vi họ đang làm việc.

Một số ngư dân là công dân Anh hoặc đã định cư làm việc với tư cách tự làm chủ theo mô hình “ngư dân cổ phần”, nhận một phần giá trị sản lượng đánh bắt thay vì tiền lương thông thường.

Những người khác là người làm công.

Ngư dân nước ngoài có thể có thị thực Lao động Kỹ năng, nhập cảnh qua thị thực quá cảnh hoặc có một dạng tình trạng nhập cư khác. Mỗi hình thức lại cung cấp những quyền và sự bảo vệ khác nhau.

Các quy định cũng nằm phân tán trong luật nhập cư, luật lao động và luật hàng hải, cũng như các tiêu chuẩn quốc tế.

Trách nhiệm thực thi được phân chia giữa các cơ quan khác nhau, và việc thực thi có thể thiếu nhất quán. Các đợt thanh tra có thể tập trung chủ yếu vào an toàn tàu thuyền và giấy tờ, hơn là chú ý đến tiền lương, quy định tuyển dụng hoặc các dấu hiệu bóc lột.

Hệ thống này có thể rất khó để dò tìm ngay cả đối với các chuyên gia; do đó, sẽ không thực tế nếu kỳ vọng một ngư dân nước ngoài bị lệ thuộc vào nhà tuyển dụng môi giới hoặc chủ sử dụng lao động để có thông tin, hiểu đầy đủ những quyền nào được áp dụng và cách thực thi các quyền ấy.


Tất cả những điều này ảnh hưởng thế nào đến đời sống thiêng liêng của ngư dân, đặc biệt là các ngư dân Công giáo?

Tòa Thánh nhìn nhận sự hy sinh và đóng góp của những người làm việc trên biển và các tuyến đường thủy nội địa, bao gồm cả các ngư dân; nhìn nhận họ không chỉ vì công việc thiết yếu họ thực hiện, mà còn như những con người có hy vọng, có những mối tương quan và những ước mơ riêng.

Nghề đánh bắt cá vốn đã đòi hỏi những khoảng thời gian dài xa nhà, xa gia đình và đời sống giáo xứ.

Khi điều này cộng hưởng với giờ làm việc quá mức, hạn chế đi lại, cách đối xử tệ hoặc nỗi lo sợ về tình trạng di trú, nó có thể gây ra sự cô lập sâu sắc, lo âu và đánh mất hy vọng.

Đối với các ngư dân Công giáo, việc không thể rời tàu có thể đồng nghĩa với nhiều tháng không được tham dự Thánh lễ, lãnh nhận các bí tích hoặc có thời gian sinh hoạt với một cộng đoàn Công giáo.

Các ngư dân đã nói với các tuyên úy của Stella Maris về ý nghĩa to lớn khi họ được thăm viếng, được cùng cầu nguyện và có cơ hội chia sẻ cởi mở với một người mà họ tin tưởng.

Stella Maris hỗ trợ những ngư dân bị ảnh hưởng bởi tình trạng nô lệ và bóc lột lao động.

Các tuyên úy của chúng tôi cung cấp sự hỗ trợ thiết thực, mục vụ và thiêng liêng, đồng thời đồng hành với những người này trong các cuộc điều tra và những thủ tục pháp lý kéo dài.

Trong một kinh nghiệm mà ở đó rất nhiều quyền tự quyết đã bị lấy khỏi họ, sự hiện diện bền bỉ ấy có thể giúp ngư dân duy trì sự gắn kết với đức tin và nhận ra rằng họ không bị lãng quên.

Tuy nhiên, sự hỗ trợ mục vụ không thể bù đắp cho một hệ thống nhập cư và việc làm khiến con người bị cô lập hoặc lo sợ khi tìm kiếm sự trợ giúp.

Đức tin Công giáo kêu gọi chúng ta bảo vệ phẩm giá của mọi người lao động. Đó là lý do Stella Maris vừa trực tiếp hỗ trợ ngư dân, vừa vận động cho những đạo luật giúp họ có thể làm việc an toàn và thực thi các quyền của mình.


[Nguồn: cruxnow]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 08/08/2026]


Caritas đang chiến đấu với đợt bùng phát dịch Ebola lây lan nhanh nhất tại CHDC Congo như thế nào

Caritas đang chiến đấu với đợt bùng phát dịch Ebola lây lan nhanh nhất tại CHDC Congo như thế nào

Ngala Killian Chimtom
Ngày 7 tháng 8 năm 2026 | Phóng viên thường trú châu Phi

Caritas đang chiến đấu với đợt bùng phát dịch Ebola lây lan nhanh nhất tại CHDC Congo như thế nào Ngala Killian Chimtom Ngày 7 tháng 8 năm 2026 | Phóng viên thường trú châu Phi  Đống đổ nát bị đốt cháy khi các nhân viên y tế và tuyến đầu biểu tình tại Trung tâm Điều trị Ebola Elikya ở Bunia, Cộng hòa Dân chủ Congo, ngày 25 tháng 7 năm 2026. (Ảnh AP/Constant Same Bagalwa) Miền đông Cộng hòa Dân chủ Congo hiện đang chống chọi với đợt bùng phát Ebola lớn nhất và lây lan nhanh nhất trong lịch sử đất nước. Liên Hợp Quốc cho biết đến nay đã xác nhận 3.973 ca bệnh, và hơn 1.800 người đã tử vong vì căn bệnh này. Đợt bùng phát do chủng Bundibugyo hiếm gặp của virus gây ra. Trong khi các cộng đồng đang vật lộn với nỗi sợ hãi rất lớn, sự tàn phá kinh tế và những sang chấn tâm lý do xung đột vũ trang, công tác ứng phó nhân đạo lại càng trở nên phức tạp vì việc đình chỉ viện trợ quốc tế gần đây. Trong cuộc phỏng vấn sâu rộng với Crux Now, Cha Edouard Makimba Milambo, Tổng Thư ký Caritas Congo, đã phân tích những thực tế khắc nghiệt tại hiện trường và giải thích vì sao các biện pháp can thiệp y tế thuần túy, truyền thống là không đủ. Cha Milambo cảnh báo, “Chúng ta không thể chống lại nỗi sợ này chỉ bằng các thông điệp mang tính kỹ thuật”. Cha giải thích, “Chúng ta chống lại nó bằng sự gần gũi, lắng nghe và đối thoại”. Vị linh mục cũng thảo luận về cách Giáo hội Công giáo, với sự gắn bó sâu sắc từ lâu trong các cộng đồng địa phương, đang tạo cho Caritas một vị thế đặc biệt để tái lập lòng tin đã rạn nứt, giải quyết các tập tục tang lễ nhạy cảm về mặt văn hóa, và duy trì niềm hy vọng trước một dịch bệnh ngày càng tồi tệ hơn. Sau đây là bản ghi cuộc phỏng vấn của Crux Now với cha Edouard Makimba Milambo thuộc Caritas Congo…  Crux Now: Liên Hiệp Quốc đã mô tả đây là đợt bùng phát lớn nhất và lan nhanh nhất từng được ghi nhận, khiến hơn 1.800 người tử vong, với gần 4.000 ca đã được ghi nhận. Từ góc nhìn của Caritas tại miền đông CHDC Congo, mô tả này có phản ánh thực tế tại hiện trường không? Cha Edouard Makimba Milambo: Vâng, đáng tiếc là mô tả này hoàn toàn phù hợp với những gì các nhóm Caritas đang quan sát cùng với các tổ chức Caritas giáo phận liên quan.  Đằng sau các con số là những gia đình sống trong sợ hãi, những ngôi làng với đời sống thường nhật bị đảo lộn, và các nhân viên y tế đang làm việc dưới áp lực rất lớn. Đợt bùng phát đang lây lan nhanh chóng, với các ca bệnh ảnh hưởng đến nhiều vùng y tế, và khả năng địa phương đã bị dồn đến mức giới hạn. Tại miền đông CHDC Congo, tình trạng di tản dân cư, mất an ninh, sự chuyển dịch liên quan đến các hoạt động khai thác khoáng sản và sự mong manh của hệ thống y tế đang làm cho việc kiểm soát đợt bùng phát trở nên khó khăn hơn đáng kể.  Đối với Caritas Congo ASBL, thực trạng này đại diện cho một tình trạng khẩn cấp về y tế, một cuộc khủng hoảng xã hội và một thách thức lớn đối với các cộng đồng. Tác động rất sâu rộng và đang được cảm nhận trong đời sống hằng ngày của các hộ gia đình. Các gia đình sống trong nỗi sợ hãi về căn bệnh, sợ mất người thân yêu hoặc bị cách ly kéo dài. Các chợ hoạt động cầm chừng, một số doanh nghiệp nhỏ đang chứng kiến lượng khách hàng giảm sút, và người lao động công nhật có thể mất đi nguồn thu nhập chính của họ. Đối với những hộ gia đình dễ bị tổn thương nhất, việc mất thu nhập nhanh chóng dẫn đến tình trạng mất an ninh lương thực. Các trung tâm y tế vốn đã đối mặt với sự thiếu hụt nhân sự, thiết bị và thuốc men, nay phải tăng cường các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn, trong khi vẫn phải tiếp tục cung cấp chăm sóc thiết yếu. Một trong những hệ lụy đáng lo ngại nhất là một số người trì hoãn việc tìm đến chăm sóc y tế vì sợ bị xác định là các ca nghi nhiễm.  Caritas đã bày tỏ “tình liên đới trọn vẹn” với các cộng đồng bị ảnh hưởng. Cha có thể chia sẻ một ví dụ cụ thể hoặc lời kể của một thành viên trong nhóm của Cha để minh họa những gì các gia đình bị ảnh hưởng đang phải trải qua không? Một ví dụ thường xuất hiện trong các cuộc trao đổi của chúng tôi với các nhóm địa phương tại những giáo phận bị ảnh hưởng là các gia đình có nhiều người chết chỉ trong vài ngày, trong khi lại phải đối mặt với sự cách ly, nỗi sợ hãi từ hàng xóm và sự bất định về tương lai. Chúng tôi nghe những báo cáo về những người cha người mẹ không còn được ôm con mình trong tay khi đứa trẻ đang được chăm sóc hoặc theo dõi y tế, về những đứa trẻ không hiểu tại sao người thân yêu của chúng lại bị đưa đi, và về những gia đình phải chấp nhận các biện pháp bảo đảm một lễ an táng xứng đáng và an toàn ngay cả khi họ đang trải qua nỗi đau thương mất mát to lớn.  Các biện pháp này bị từ chối không phải vì các gia đình không muốn bảo vệ cộng đồng; đôi khi chúng khó được chấp nhận vì chạm đến những cách thực hành văn hóa, tâm linh và gia đình rất nhạy cảm. Chính trong những thời điểm như thế, sự đồng hành mục vụ, xã hội và cộng đồng của chúng tôi mới thể hiện trọn vẹn ý nghĩa: lắng nghe, giải thích, nâng đỡ và giúp các gia đình cảm thấy mình không cô đơn.  Các nỗ lực ứng phó Ebola tại CHDC Congo thường vấp phải sự nghi ngờ sâu sắc từ các cộng đồng, đôi khi còn dẫn đến bạo lực chống lại các nhân viên y tế. Sự nghi ngờ này bắt nguồn từ đâu, và đang biểu hiện như thế nào trong bối cảnh của đợt bùng phát hiện nay? Sự nghi ngờ vực này bắt nguồn từ nhiều yếu tố: những kinh nghiệm trong quá khứ khi cộng đồng cảm thấy họ không được tham gia đầy đủ vào việc ra quyết định; sự lan truyền các tin đồn; sang chấn tâm lý liên quan đến xung đột vũ trang, nghèo đói và sự thiếu lòng tin vào một số định chế. Trong bối cảnh hiện nay, điều này có thể biểu hiện qua sự miễn cưỡng báo cáo triệu chứng, đồng ý truy vết tiếp xúc hoặc tuân thủ các biện pháp phòng ngừa. Đó là lý do tại sao một phản ứng thuần túy y khoa là không đủ. Truyền thông phải minh bạch, phù hợp với ngôn ngữ địa phương và dựa trên cuộc đối thoại chân thành với các cộng đồng.  Là một tổ chức tôn giáo bén rễ sâu trong các cộng đồng địa phương, Caritas làm thế nào để vượt qua những dè dặt này? Làm thế nào để tổ chức có thể thuyết phục những người dân đang hoảng sợ tin tưởng vào các can thiệp y tế? Trước khi yêu cầu mọi người tin tưởng chúng ta, trước hết chúng ta phải dành thời gian để lắng nghe họ.  Khi một cộng đồng đối mặt với một căn bệnh nguy hiểm, nhất là trong bối cảnh bị phủ bóng bởi xung đột, tin đồn và đau khổ, sợ hãi là một phản ứng tự nhiên. Chúng ta không thể chống lại nỗi sợ này chỉ bằng các thông điệp mang tính kỹ thuật; chúng ta phải chống lại nó bằng sự gần gũi, lắng nghe và đối thoại. Sức mạnh của Caritas nằm ở chỗ chúng tôi hiện diện bên cạnh các cộng đồng từ rất lâu trước khi khủng hoảng xảy ra. Qua các giáo xứ, các cơ cấu giáo phận, các điểm kết nối cộng đồng và các cơ sở y tế tôn giáo, chúng tôi thường chia sẻ đời sống hằng ngày của người dân. Những người chúng tôi hỗ trợ đã biết rõ chúng tôi, và mối quan hệ tin cậy này tạo điều kiện cho việc truyền thông trong những thời điểm khó khăn. Trên thực tế, chúng tôi dành thời gian lắng nghe các mối lo ngại của người dân, trả lời các câu hỏi bằng ngôn ngữ địa phương và làm việc với những người được tin cậy: các linh mục, tu sĩ, lãnh đạo cộng đồng, lãnh đạo phụ nữ, người trẻ và những người sống sót. Khi một thông điệp được truyền tải bởi một người mà cộng đồng biết rõ và tôn trọng, thông điệp ấy sẽ được hiểu rõ hơn và dễ được đón nhận hơn. Kinh nghiệm của chúng tôi cho thấy các cộng đồng có nhiều khả năng ủng hộ những can thiệp y tế hơn khi họ cảm thấy được tôn trọng, được lắng nghe và được tham gia vào công tác ứng phó.  Lòng tin được xây dựng khi các gia đình hiểu rằng những biện pháp được đề xuất nhằm bảo vệ họ, gìn giữ phẩm giá của họ và cứu sống con người. Chính lòng tin mang tính nhân bản này, được xây dựng theo thời gian, là một trong những tài sản lớn nhất của Caritas.  Có những quan ngại rất lớn về việc USAID gần đây cắt giảm và dừng viện trợ, điều gây ra lo ngại làm suy yếu các nỗ lực ứng phó y tế toàn cầu. Trên thực tế, những cắt giảm nguồn tài trợ này hiện đang ảnh hưởng thế nào đến cuộc chiến chống Ebola tại CHDC Congo? Sự bất định hoặc chậm trễ về nguồn tài trợ đang cản trở công tác ứng phó ở nhiều cấp độ. Trong một đợt bùng phát Ebola, tốc độ ứng phó là điều thiết yếu. Truy vết người tiếp xúc, giám sát cộng đồng, vận chuyển mẫu bệnh phẩm, sự sẵn có trang thiết bị bảo hộ cá nhân và đào tạo nhân viên y tế đều đòi hỏi các nguồn lực có thể được huy động nhanh chóng. Ở giai đoạn này, điều Caritas quan sát được trước hết là áp lực ngày càng lớn đối với các cơ sở địa phương, phải đáp ứng những nhu cầu ngày càng tăng với nguồn lực hạn chế. Chúng ta không thể khẳng định chắc chắn rằng các trung tâm y tế đã đóng cửa chỉ vì sự cắt giảm ngân sách. Tuy nhiên, rõ ràng là một số hoạt động thiết yếu có thể bị chậm lại, trì hoãn hoặc chịu áp lực nghiêm trọng khi nguồn tài trợ không được cung cấp kịp thời. Tình hình này có nguy cơ làm tổn hại đến hiệu quả của công tác ứng phó và càng khiến các nỗ lực bảo vệ những nhóm dân cư dễ bị tổn thương nhất trở nên phức tạp hơn.  Khi các nhà tài trợ truyền thống, như Hoa Kỳ, thu hẹp sự hỗ trợ của họ, hiện nay ai đang tài trợ cho công tác ứng phó với đợt bùng phát này? Các nhà tài trợ khác có lấp đầy được khoảng trống, hay đang có một sự thiếu hụt kinh phí nghiêm trọng? Công tác ứng phó do Chính phủ CHDC Congo điều phối, với sự hỗ trợ của WHO, hệ thống Liên Hợp Quốc, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Châu Phi, cùng nhiều đối tác kỹ thuật, tài chính, nhân đạo và tôn giáo. Trong mạng lưới Caritas Internationalis, các tổ chức như Caritas International Bỉ, CRS, CAFOD, Caritas Đức, Secours Catholique-Caritas Pháp, Caritas Tây Ban Nha, Caritas Ý và Caritas Áo đang cung cấp sự hỗ trợ quý giá về tài chính, kỹ thuật, thể chế và nhân đạo. Dù có sự hỗ trợ này, nhu cầu vẫn còn rất lớn, đặc biệt là trong việc huy động cộng đồng, hỗ trợ tâm lý xã hội, hậu cần địa phương, phòng ngừa và tăng cường bền vững các cơ sở y tế. Việc tiếp tục huy động nguồn lực vẫn là điều thiết yếu để bảo đảm một sự ứng phó hiệu quả.  Caritas hiện đang triển khai những hoạt động cụ thể nào tại thực địa ở miền đông CHDC Congo để ngăn chặn sự lây lan của virus và hỗ trợ các cộng đồng bị ảnh hưởng? Caritas chủ yếu tham gia vào việc huy động cộng đồng, nâng cao nhận thức về các biện pháp phòng ngừa, phổ biến thông tin đáng tin cậy, chuyển tuyến các ca nghi nhiễm đến những dịch vụ phù hợp và hỗ trợ các gia đình bị ảnh hưởng. Về mặt thực hành, điều này có nghĩa là tiếp cận cộng đồng, làm việc với các lãnh đạo địa phương, giải thích những dấu hiệu cảnh báo, khuyến khích việc rửa tay, thúc đẩy sự chấp nhận truy vết người tiếp xúc, hỗ trợ các gia đình có tang và góp phần giảm kỳ thị đối với những người bị ảnh hưởng hoặc đã hồi phục. Qua các mạng lưới giáo xứ, giáo phận và y tế, Caritas cũng góp phần thúc đẩy sự chấp nhận những can thiệp y tế, bằng cách cho thấy rằng công tác ứng phó không bị áp đặt lên cộng đồng, mà được xây dựng trên sự hợp tác với họ. Chúng tôi đang làm việc để bảo đảm rằng các cộng đồng không đơn thuần là đối tượng thụ hưởng, mà còn là những người tham gia tích cực vào công tác ứng phó. Vai trò của chúng tôi cũng là nêu bật các nhu cầu nhân đạo liên quan: lương thực, hỗ trợ tâm lý xã hội, bảo vệ trẻ em, hỗ trợ người di tản và trợ giúp các cơ sở y tế dễ bị tổn thương.  Đứng trước một dịch bệnh lây lan nhanh, việc cắt giảm viện trợ quốc tế và nỗi sợ hãi trong các cộng đồng, điều gì mang lại hy vọng cho Cha và các nhóm của Cha hôm nay? Nguồn hy vọng chính của chúng tôi là sức kiên cường của các cộng đồng. Dù sợ hãi, nhiều người sẵn sàng tìm kiếm thông tin, báo cáo các ca nghi nhiễm, bảo vệ gia đình và hỗ trợ những người hàng xóm. Chúng tôi cũng được khích lệ bởi sự dấn thân của nhân viên y tế, các cộng tác viên cộng đồng, các nhà lãnh đạo tôn giáo và những đối tác vẫn tiếp tục làm việc trong những điều kiện vô cùng khó khăn. Kinh nghiệm của CHDC Congo trong cuộc chiến chống Ebola cho thấy một đợt bùng phát có thể được kiểm soát khi công tác ứng phó nhanh chóng, có sự phối hợp chặt chẽ và đặt trên lòng tin. Hy vọng của chúng tôi cũng bắt nguồn từ tình liên đới: từ các gia đình nâng đỡ lẫn nhau, các cộng đồng tự tổ chức, nhân viên y tế tiếp tục chăm sóc người bệnh và các đối tác tăng cường trợ giúp. Đối với Caritas Congo ASBL, hy vọng bén rễ trong tình liên đới, lòng tin và vững tin rằng mỗi sinh mạng được cứu là thành quả của nỗ lực tập thể.  [Nguồn: cruxnow]  [Chuyển ngữ: TRI KHOAN 08/08/2026]

Đống đổ nát bị đốt cháy khi các nhân viên y tế và tuyến đầu biểu tình tại Trung tâm Điều trị Ebola Elikya ở Bunia, Cộng hòa Dân chủ Congo, ngày 25 tháng 7 năm 2026. (Ảnh AP/Constant Same Bagalwa)

Miền đông Cộng hòa Dân chủ Congo hiện đang chống chọi với đợt bùng phát Ebola lớn nhất và lây lan nhanh nhất trong lịch sử đất nước. Liên Hợp Quốc cho biết đến nay đã xác nhận 3.973 ca bệnh, và hơn 1.800 người đã tử vong vì căn bệnh này.

Đợt bùng phát do chủng Bundibugyo hiếm gặp của virus gây ra.

Trong khi các cộng đồng đang vật lộn với nỗi sợ hãi rất lớn, sự tàn phá kinh tế và những sang chấn tâm lý do xung đột vũ trang, công tác ứng phó nhân đạo lại càng trở nên phức tạp vì việc đình chỉ viện trợ quốc tế gần đây.

Trong cuộc phỏng vấn sâu rộng với Crux Now, Cha Edouard Makimba Milambo, Tổng Thư ký Caritas Congo, đã phân tích những thực tế khắc nghiệt tại hiện trường và giải thích vì sao các biện pháp can thiệp y tế thuần túy, truyền thống là không đủ.

Cha Milambo cảnh báo, “Chúng ta không thể chống lại nỗi sợ này chỉ bằng các thông điệp mang tính kỹ thuật”.

Cha giải thích, “Chúng ta chống lại nó bằng sự gần gũi, lắng nghe và đối thoại”.

Vị linh mục cũng thảo luận về cách Giáo hội Công giáo, với sự gắn bó sâu sắc từ lâu trong các cộng đồng địa phương, đang tạo cho Caritas một vị thế đặc biệt để tái lập lòng tin đã rạn nứt, giải quyết các tập tục tang lễ nhạy cảm về mặt văn hóa, và duy trì niềm hy vọng trước một dịch bệnh ngày càng tồi tệ hơn.

Sau đây là bản ghi cuộc phỏng vấn của Crux Now với cha Edouard Makimba Milambo thuộc Caritas Congo…
____________________________________

Crux Now: Liên Hiệp Quốc đã mô tả đây là đợt bùng phát lớn nhất và lan nhanh nhất từng được ghi nhận, khiến hơn 1.800 người tử vong, với gần 4.000 ca đã được ghi nhận. Từ góc nhìn của Caritas tại miền đông CHDC Congo, mô tả này có phản ánh thực tế tại hiện trường không?

Cha Edouard Makimba Milambo: Vâng, đáng tiếc là mô tả này hoàn toàn phù hợp với những gì các nhóm Caritas đang quan sát cùng với các tổ chức Caritas giáo phận liên quan.

Đằng sau các con số là những gia đình sống trong sợ hãi, những ngôi làng với đời sống thường nhật bị đảo lộn, và các nhân viên y tế đang làm việc dưới áp lực rất lớn.

Đợt bùng phát đang lây lan nhanh chóng, với các ca bệnh ảnh hưởng đến nhiều vùng y tế, và khả năng địa phương đã bị dồn đến mức giới hạn. Tại miền đông CHDC Congo, tình trạng di tản dân cư, mất an ninh, sự chuyển dịch liên quan đến các hoạt động khai thác khoáng sản và sự mong manh của hệ thống y tế đang làm cho việc kiểm soát đợt bùng phát trở nên khó khăn hơn đáng kể.

Đối với Caritas Congo ASBL, thực trạng này đại diện cho một tình trạng khẩn cấp về y tế, một cuộc khủng hoảng xã hội và một thách thức lớn đối với các cộng đồng.

Tác động rất sâu rộng và đang được cảm nhận trong đời sống hằng ngày của các hộ gia đình. Các gia đình sống trong nỗi sợ hãi về căn bệnh, sợ mất người thân yêu hoặc bị cách ly kéo dài.

Các chợ hoạt động cầm chừng, một số doanh nghiệp nhỏ đang chứng kiến lượng khách hàng giảm sút, và người lao động công nhật có thể mất đi nguồn thu nhập chính của họ. Đối với những hộ gia đình dễ bị tổn thương nhất, việc mất thu nhập nhanh chóng dẫn đến tình trạng mất an ninh lương thực.

Các trung tâm y tế vốn đã đối mặt với sự thiếu hụt nhân sự, thiết bị và thuốc men, nay phải tăng cường các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn, trong khi vẫn phải tiếp tục cung cấp chăm sóc thiết yếu.

Một trong những hệ lụy đáng lo ngại nhất là một số người trì hoãn việc tìm đến chăm sóc y tế vì sợ bị xác định là các ca nghi nhiễm.


Caritas đã bày tỏ “tình liên đới trọn vẹn” với các cộng đồng bị ảnh hưởng. Cha có thể chia sẻ một ví dụ cụ thể hoặc lời kể của một thành viên trong nhóm của Cha để minh họa những gì các gia đình bị ảnh hưởng đang phải trải qua không?

Một ví dụ thường xuất hiện trong các cuộc trao đổi của chúng tôi với các nhóm địa phương tại những giáo phận bị ảnh hưởng là các gia đình có nhiều người chết chỉ trong vài ngày, trong khi lại phải đối mặt với sự cách ly, nỗi sợ hãi từ hàng xóm và sự bất định về tương lai.

Chúng tôi nghe những báo cáo về những người cha người mẹ không còn được ôm con mình trong tay khi đứa trẻ đang được chăm sóc hoặc theo dõi y tế, về những đứa trẻ không hiểu tại sao người thân yêu của chúng lại bị đưa đi, và về những gia đình phải chấp nhận các biện pháp bảo đảm một lễ an táng xứng đáng và an toàn ngay cả khi họ đang trải qua nỗi đau thương mất mát to lớn.

Các biện pháp này bị từ chối không phải vì các gia đình không muốn bảo vệ cộng đồng; đôi khi chúng khó được chấp nhận vì chạm đến những cách thực hành văn hóa, tâm linh và gia đình rất nhạy cảm.

Chính trong những thời điểm như thế, sự đồng hành mục vụ, xã hội và cộng đồng của chúng tôi mới thể hiện trọn vẹn ý nghĩa: lắng nghe, giải thích, nâng đỡ và giúp các gia đình cảm thấy mình không cô đơn.


Các nỗ lực ứng phó Ebola tại CHDC Congo thường vấp phải sự nghi ngờ sâu sắc từ các cộng đồng, đôi khi còn dẫn đến bạo lực chống lại các nhân viên y tế. Sự nghi ngờ này bắt nguồn từ đâu, và đang biểu hiện như thế nào trong bối cảnh của đợt bùng phát hiện nay?

Sự nghi ngờ vực này bắt nguồn từ nhiều yếu tố: những kinh nghiệm trong quá khứ khi cộng đồng cảm thấy họ không được tham gia đầy đủ vào việc ra quyết định; sự lan truyền các tin đồn; sang chấn tâm lý liên quan đến xung đột vũ trang, nghèo đói và sự thiếu lòng tin vào một số định chế.

Trong bối cảnh hiện nay, điều này có thể biểu hiện qua sự miễn cưỡng báo cáo triệu chứng, đồng ý truy vết tiếp xúc hoặc tuân thủ các biện pháp phòng ngừa. Đó là lý do tại sao một phản ứng thuần túy y khoa là không đủ. Truyền thông phải minh bạch, phù hợp với ngôn ngữ địa phương và dựa trên cuộc đối thoại chân thành với các cộng đồng.


Là một tổ chức tôn giáo bén rễ sâu trong các cộng đồng địa phương, Caritas làm thế nào để vượt qua những dè dặt này? Làm thế nào để tổ chức có thể thuyết phục những người dân đang hoảng sợ tin tưởng vào các can thiệp y tế?

Trước khi yêu cầu mọi người tin tưởng chúng ta, trước hết chúng ta phải dành thời gian để lắng nghe họ.

Khi một cộng đồng đối mặt với một căn bệnh nguy hiểm, nhất là trong bối cảnh bị phủ bóng bởi xung đột, tin đồn và đau khổ, sợ hãi là một phản ứng tự nhiên. Chúng ta không thể chống lại nỗi sợ này chỉ bằng các thông điệp mang tính kỹ thuật; chúng ta phải chống lại nó bằng sự gần gũi, lắng nghe và đối thoại.

Sức mạnh của Caritas nằm ở chỗ chúng tôi hiện diện bên cạnh các cộng đồng từ rất lâu trước khi khủng hoảng xảy ra. Qua các giáo xứ, các cơ cấu giáo phận, các điểm kết nối cộng đồng và các cơ sở y tế tôn giáo, chúng tôi thường chia sẻ đời sống hằng ngày của người dân. Những người chúng tôi hỗ trợ đã biết rõ chúng tôi, và mối quan hệ tin cậy này tạo điều kiện cho việc truyền thông trong những thời điểm khó khăn.

Trên thực tế, chúng tôi dành thời gian lắng nghe các mối lo ngại của người dân, trả lời các câu hỏi bằng ngôn ngữ địa phương và làm việc với những người được tin cậy: các linh mục, tu sĩ, lãnh đạo cộng đồng, lãnh đạo phụ nữ, người trẻ và những người sống sót.

Khi một thông điệp được truyền tải bởi một người mà cộng đồng biết rõ và tôn trọng, thông điệp ấy sẽ được hiểu rõ hơn và dễ được đón nhận hơn.

Kinh nghiệm của chúng tôi cho thấy các cộng đồng có nhiều khả năng ủng hộ những can thiệp y tế hơn khi họ cảm thấy được tôn trọng, được lắng nghe và được tham gia vào công tác ứng phó.

Lòng tin được xây dựng khi các gia đình hiểu rằng những biện pháp được đề xuất nhằm bảo vệ họ, gìn giữ phẩm giá của họ và cứu sống con người. Chính lòng tin mang tính nhân bản này, được xây dựng theo thời gian, là một trong những tài sản lớn nhất của Caritas.


Có những quan ngại rất lớn về việc USAID gần đây cắt giảm và dừng viện trợ, điều gây ra lo ngại làm suy yếu các nỗ lực ứng phó y tế toàn cầu. Trên thực tế, những cắt giảm nguồn tài trợ này hiện đang ảnh hưởng thế nào đến cuộc chiến chống Ebola tại CHDC Congo?

Sự bất định hoặc chậm trễ về nguồn tài trợ đang cản trở công tác ứng phó ở nhiều cấp độ.

Trong một đợt bùng phát Ebola, tốc độ ứng phó là điều thiết yếu. Truy vết người tiếp xúc, giám sát cộng đồng, vận chuyển mẫu bệnh phẩm, sự sẵn có trang thiết bị bảo hộ cá nhân và đào tạo nhân viên y tế đều đòi hỏi các nguồn lực có thể được huy động nhanh chóng.

Ở giai đoạn này, điều Caritas quan sát được trước hết là áp lực ngày càng lớn đối với các cơ sở địa phương, phải đáp ứng những nhu cầu ngày càng tăng với nguồn lực hạn chế.

Chúng ta không thể khẳng định chắc chắn rằng các trung tâm y tế đã đóng cửa chỉ vì sự cắt giảm ngân sách.

Tuy nhiên, rõ ràng là một số hoạt động thiết yếu có thể bị chậm lại, trì hoãn hoặc chịu áp lực nghiêm trọng khi nguồn tài trợ không được cung cấp kịp thời.

Tình hình này có nguy cơ làm tổn hại đến hiệu quả của công tác ứng phó và càng khiến các nỗ lực bảo vệ những nhóm dân cư dễ bị tổn thương nhất trở nên phức tạp hơn.


Khi các nhà tài trợ truyền thống, như Hoa Kỳ, thu hẹp sự hỗ trợ của họ, hiện nay ai đang tài trợ cho công tác ứng phó với đợt bùng phát này? Các nhà tài trợ khác có lấp đầy được khoảng trống, hay đang có một sự thiếu hụt kinh phí nghiêm trọng?

Công tác ứng phó do Chính phủ CHDC Congo điều phối, với sự hỗ trợ của WHO, hệ thống Liên Hợp Quốc, Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Châu Phi, cùng nhiều đối tác kỹ thuật, tài chính, nhân đạo và tôn giáo.

Trong mạng lưới Caritas Internationalis, các tổ chức như Caritas International Bỉ, CRS, CAFOD, Caritas Đức, Secours Catholique-Caritas Pháp, Caritas Tây Ban Nha, Caritas Ý và Caritas Áo đang cung cấp sự hỗ trợ quý giá về tài chính, kỹ thuật, thể chế và nhân đạo.

Dù có sự hỗ trợ này, nhu cầu vẫn còn rất lớn, đặc biệt là trong việc huy động cộng đồng, hỗ trợ tâm lý xã hội, hậu cần địa phương, phòng ngừa và tăng cường bền vững các cơ sở y tế. Việc tiếp tục huy động nguồn lực vẫn là điều thiết yếu để bảo đảm một sự ứng phó hiệu quả.


Caritas hiện đang triển khai những hoạt động cụ thể nào tại thực địa ở miền đông CHDC Congo để ngăn chặn sự lây lan của virus và hỗ trợ các cộng đồng bị ảnh hưởng?

Caritas chủ yếu tham gia vào việc huy động cộng đồng, nâng cao nhận thức về các biện pháp phòng ngừa, phổ biến thông tin đáng tin cậy, chuyển tuyến các ca nghi nhiễm đến những dịch vụ phù hợp và hỗ trợ các gia đình bị ảnh hưởng.

Về mặt thực hành, điều này có nghĩa là tiếp cận cộng đồng, làm việc với các lãnh đạo địa phương, giải thích những dấu hiệu cảnh báo, khuyến khích việc rửa tay, thúc đẩy sự chấp nhận truy vết người tiếp xúc, hỗ trợ các gia đình có tang và góp phần giảm kỳ thị đối với những người bị ảnh hưởng hoặc đã hồi phục.

Qua các mạng lưới giáo xứ, giáo phận và y tế, Caritas cũng góp phần thúc đẩy sự chấp nhận những can thiệp y tế, bằng cách cho thấy rằng công tác ứng phó không bị áp đặt lên cộng đồng, mà được xây dựng trên sự hợp tác với họ. Chúng tôi đang làm việc để bảo đảm rằng các cộng đồng không đơn thuần là đối tượng thụ hưởng, mà còn là những người tham gia tích cực vào công tác ứng phó.

Vai trò của chúng tôi cũng là nêu bật các nhu cầu nhân đạo liên quan: lương thực, hỗ trợ tâm lý xã hội, bảo vệ trẻ em, hỗ trợ người di tản và trợ giúp các cơ sở y tế dễ bị tổn thương.


Đứng trước một dịch bệnh lây lan nhanh, việc cắt giảm viện trợ quốc tế và nỗi sợ hãi trong các cộng đồng, điều gì mang lại hy vọng cho Cha và các nhóm của Cha hôm nay?

Nguồn hy vọng chính của chúng tôi là sức kiên cường của các cộng đồng.

Dù sợ hãi, nhiều người sẵn sàng tìm kiếm thông tin, báo cáo các ca nghi nhiễm, bảo vệ gia đình và hỗ trợ những người hàng xóm. Chúng tôi cũng được khích lệ bởi sự dấn thân của nhân viên y tế, các cộng tác viên cộng đồng, các nhà lãnh đạo tôn giáo và những đối tác vẫn tiếp tục làm việc trong những điều kiện vô cùng khó khăn.

Kinh nghiệm của CHDC Congo trong cuộc chiến chống Ebola cho thấy một đợt bùng phát có thể được kiểm soát khi công tác ứng phó nhanh chóng, có sự phối hợp chặt chẽ và đặt trên lòng tin.

Hy vọng của chúng tôi cũng bắt nguồn từ tình liên đới: từ các gia đình nâng đỡ lẫn nhau, các cộng đồng tự tổ chức, nhân viên y tế tiếp tục chăm sóc người bệnh và các đối tác tăng cường trợ giúp.

Đối với Caritas Congo ASBL, hy vọng bén rễ trong tình liên đới, lòng tin và vững tin rằng mỗi sinh mạng được cứu là thành quả của nỗ lực tập thể.


[Nguồn: cruxnow]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 08/08/2026]