Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2026

Tiếp kiến chung ngày 31.12.2025: Đức Thánh Cha: chúng ta hãy cầu xin Chúa để những kỳ công của ân sủng và lòng thương xót của Người được canh tân nơi chúng ta

Đức Thánh Cha: chúng ta hãy cầu xin Chúa để những kỳ công của ân sủng và lòng thương xót của Người được canh tân nơi chúng ta

Tiếp kiến chung

Tiếp kiến chung ngày 31.12.2025: Đức Thánh Cha: chúng ta hãy cầu xin Chúa để những kỳ công của ân sủng và lòng thương xót của Người được canh tân nơi chúng ta

*******

Trong buổi Tiếp kiến chung cuối cùng của năm 2025, Đức Thánh Cha suy niệm về Năm Thánh đang khép lại và mời gọi các tín hữu đặt trọn mọi sự trong tay Thiên Chúa, tạ ơn vì những hồng ân đã lãnh nhận, đồng thời xét mình để xin ơn tha thứ.

Dưới đây là toàn văn bài Giáo lý của Đức Thánh Cha trong buổi Tiếp kiến chung ngày 31 tháng 12 năm 2025:

*******

ĐỨC LÊÔ XIV

TIẾP KIẾN CHUNG

Quảng trường Thánh Phêrô
Thứ Tư, ngày 31 tháng 12 năm 2025
___________________________________


Bài Giáo lý của Đức Thánh Cha Lêô XIV trong buổi Tiếp kiến chung


Anh chị em thân mến, chào anh chị em và xin chào mừng!

Chúng ta quy tụ nơi đây để dành dành những giây phút suy tư vào ngày cuối cùng của niên lịch, gần thời điểm kết thúc Năm Thánh và đang ở trung tâm của Mùa Giáng Sinh.

Năm vừa qua chắc chắn đã được ghi dấu bởi những biến cố quan trọng: có những biến cố tràn đầy niềm vui như cuộc hành hương của đông đảo tín hữu nhân dịp Năm Thánh; nhưng cũng có những biến cố đau buồn như sự ra đi của Đức Cố Giáo hoàng Phanxicô, và những viễn cảnh chiến tranh vẫn tiếp tục làm rung chuyển hành tinh. Khi năm cũ khép lại, Giáo hội mời gọi chúng ta đặt tất cả mọi sự trước nhan Chúa, phó thác bản thân cho sự Quan Phòng của Người, và nài xin Người canh tân nơi chúng ta cũng như chung quanh chúng ta những kỳ công của ân sủng và lòng thương xót trong những ngày sắp tới.

Chính trong động lực đó, truyền thống hát Kinh Te Deum cách trọng thể tìm thấy ý nghĩa đích thực, qua đó tối nay chúng ta sẽ cảm tạ Chúa vì những phúc lành chúng ta đã nhận lãnh. Chúng ta sẽ hát: “Chúa là Thiên Chúa, chúng con ca ngợi Chúa”, “Nơi Chúa, lạy Chúa, là niềm hy vọng của chúng con”, “Xin thương xót chúng con”. Về điểm này, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhận xét rằng trong khi “lòng biết ơn của thế gian, niềm hy vọng của thế gian thì rõ ràng... nhưng chúng lại quy hướng về cái tôi, về những lợi ích cá nhân... Ngược lại, trong Phụng vụ này... chúng ta hít thở một bầu khí hoàn toàn khác: bầu khí của sự ngợi khen, của sự kinh ngạc và của lòng biết ơn” (Bài giảng Kinh Chiều Lễ Đức Maria Mẹ Thiên Chúa, 31/12/2023).

Với những tâm tình ấy, hôm nay chúng ta được mời gọi để suy niệm về những gì Chúa đã làm cho chúng ta trong năm qua, đồng thời thành tâm xét mình để đánh giá sự đáp trả của chúng ta trước những hồng ân của Người, và xin ơn tha thứ cho tất cả những lần chúng ta không biết trân trọng những soi sáng của Người, cũng như không làm sinh lợi cách tốt nhất những nén bạc Người trao (x. Mt 25:14-30).

Điều này dẫn chúng ta đến việc suy tư về một dấu chỉ lớn lao khác đã đồng hành với chúng ta trong những tháng gần đây: đó là dấu chỉ của “cuộc hành trình” và “đích đến”. Năm nay, không biết bao người hành hương từ khắp mọi miền trên thế giới đã đến cầu nguyện tại Mộ Thánh Phêrô và xác tín lòng trung thành của họ với Đức Kitô. Điều đó nhắc nhở chúng ta rằng toàn bộ cuộc đời chúng ta là một cuộc hành trình mà đích đến cuối cùng vượt lên trên không gian và thời gian, để được hoàn tất trong cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa và trong sự hiệp thông trọn vẹn và vĩnh cửu với Người (x. Giáo lý Hội thánh Công giáo, số 1024). Chúng ta cũng sẽ cầu xin điều này trong lời Kinh Te Deum khi thưa rằng: “Xin đưa chúng con cùng với các thánh của Người vào vinh quang muôn đời”. Không phải ngẫu nhiên mà Thánh Phaolô VI đã định nghĩa Năm Thánh là một hành vi đức tin cao cả trong việc “đón nhận trước những vận mệnh tương lai... mà chúng ta được nếm cảm và... chuẩn bị cho” (Tiếp kiến chung, 17/12/1975).

Dưới ánh sáng cánh chung của cuộc gặp gỡ giữa hữu hạn và vô hạn ấy, chúng ta còn có thể nhìn thấy một dấu chỉ thứ ba: việc bước qua Cửa Thánh, việc mà nhiều người trong chúng ta đã thực hiện, khi cầu nguyện và khấn xin ơn tha thứ cho bản thân cũng như cho những người thân yêu. Cử chỉ ấy diễn tả lời “xin vâng” của chúng ta với Thiên Chúa, Đấng mời gọi chúng ta, với ơn tha thứ của Người, bước qua ngưỡng cửa của một đời sống mới, được làm sinh động bởi ân sủng, được uốn nắn theo Tin Mừng và được làm bừng cháy bởi “ tình yêu dành cho tha nhân, mà trong định nghĩa ấy... bao gồm mọi người... đang cần được thấu hiểu, được trợ giúp, an ủi và hy sinh, ngay cả khi họ xa lạ với chúng ta, thậm chí gây phiền toái hay thù địch, nhưng họ vẫn mang phẩm giá vô song của một người anh em" (Thánh Phaolô VI, Bài giảng bế mạc Năm Thánh, 25/12/1975; x. Giáo lý Hội thánh Công giáo, số 1826-1827). Đó là lời “xin vâng” cho một đời sống dấn thân trong hiện tại và hướng về vĩnh cửu.

Anh chị em thân mến, chúng ta suy niệm những dấu chỉ này dưới ánh sáng của lễ Giáng Sinh. Về điểm này, Thánh Lêô Cả đã nhìn đại lễ Giáng Sinh của Chúa Giêsu như một lời công bố niềm vui cho tất cả mọi người. Ngài kêu lên: “Người thánh thiện hãy vui mừng, vì phần thưởng của họ đã gần kề; người tội lỗi hãy vui mừng, vì họ được ban ơn tha thứ; người ngoại giáo hãy vững lòng, vì họ được mời gọi bước vào sự sống” (Bài giảng thứ nhất về Lễ Giáng sinh của Chúa, 1).

Lời mời gọi của ngài hướng đến tất cả chúng ta hôm nay: những người nên thánh nhờ Bí tích Thánh tẩy, vì Thiên Chúa đã trở thành bạn đồng hành của chúng ta trên hành trình hướng tới Sự Sống thật; hướng tới chúng ta là những người tội lỗi, vì khi được tha thứ, cùng với ân sủng của Người, chúng ta có thể trỗi dậy và tiếp tục lên đường; và cuối cùng, hướng tới chúng ta, những con người nghèo hèn và mong manh, vì Chúa đã mặc lấy sự yếu đuối của chúng ta để cứu chuộc nó và cho chúng ta thấy vẻ đẹp cũng như sức mạnh của nhân tính hoàn hảo nơi Người (x. Ga 1:14).

Vì vậy, tôi muốn kết thúc bằng cách nhắc lại những lời mà Thánh Phaolô VI đã dùng để diễn tả sứ điệp nền tảng của Năm Thánh 1975. Sứ điệp ấy, ngài nói, được tóm gọn trong một từ: “tình yêu”. Và ngài nói thêm: “Thiên Chúa là Tình yêu! Đây là mạc khải khôn tả mà Năm Thánh, qua giáo huấn, qua ân xá, qua sự tha thứ và sau cùng là qua sự bình an đầy nước mắt và niềm vui, đã tìm cách lấp đầy tâm hồn chúng ta hôm nay và cuộc sống chúng ta mai sau: Thiên Chúa là Tình yêu! Chúa yêu tôi! Chúa chờ đợi tôi, và tôi đã tìm gặp được Ngài! Thiên Chúa là lòng thương xót! Thiên Chúa là sự tha thứ! Thiên Chúa là ơn cứu độ! Thiên Chúa, vâng, Thiên Chúa là sự sống!" (Tiếp kiến chung, 17/12/1975). Ước mong những tâm tình này đồng hành với chúng ta trong giây phút chuyển giao từ năm cũ sang năm mới, và mãi mãi trong suốt cuộc đời chúng ta.

____________________________________________________

Lời chào đặc biệt:

Tôi thân ái gửi lời chào mừng tất cả anh chị em hành hương và các du khách nói tiếng Anh tham dự buổi Tiếp kiến hôm nay, đặc biệt là những anh chị em đến từ Úc, Trung Quốc, Palestine, Philippines và Hoa Kỳ. Khi chúng ta chuẩn bị cử hành đại lễ Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa vào ngày mai, chúng ta hãy phó thác năm mới sắp đến cho sự chuyển cầu từ mẫu của Mẹ. Tôi gửi đến tất cả anh chị em và gia đình những lời cầu chúc một Mùa Giáng Sinh đầy ân phúc và một năm mới tràn đầy niềm vui và bình an. Xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả anh chị em!


[Nguồn: exaudi]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 31/12/2025]


Bên trong hang động nơi Sách Khải Huyền được viết

Bên trong hang động nơi Sách Khải Huyền được viết

Bên trong hang động nơi Sách Khải Huyền được viết

Aerial-motion | Shutterstock


Daniel Esparza

30/12/25


Hang động Khải Huyền tiếp tục thu hút du khách bởi nơi đây đặt một trong những bản văn thách đố nhất của Kitô giáo vào trong một bối cảnh lịch sử cụ thể.

Hang động Khải Huyền nằm dọc theo con đường nối liền Skala với Chóra trên đảo Patmos thuộc Hy Lạp. Trong nhiều thế kỷ, các Kitô hữu đã xác định hang động nhỏ bé này chính là nơi Thánh Gioan Tông đồ nhận những thị kiến được ghi lại trong Sách Khải Huyền. Địa điểm này hiện vẫn là một nơi thờ tự sống động của Giáo hội Chính thống giáo Hy Lạp và đã được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới vào năm 1999.

Theo truyền thống Kitô giáo sơ khai, Thánh Gioan đã bị đưa ra đảo Patmos dưới triều đại hoàng đế La Mã Domitianus. Lưu đày là một hình phạt phổ biến trong đế quốc, đặc biệt đối với những người bị nghi ngờ tham gia vào hoạt động ngôn sứ, điều mà chính quyền La Mã coi là một nguy cơ cho chính trị. Hòn đảo đóng vai trò như một nơi giam lỏng, và sự hiện diện của Thánh Gioan tại đây phản ánh áp lực rộng lớn hơn mà các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi phải đối mặt.

Bên trong hang động nơi Sách Khải Huyền được viết

Được viết trong hoàn cảnh chịu những áp lực và gửi đến các cộng đoàn dễ bị tổn thương, cuốn sách nói về lòng kiên trì và sự trung tín trước những thế lực tưởng chừng như áp đảo. Sự bền bỉ âm thầm của lời cầu nguyện tại hang động đã gìn giữ bối cảnh nguyên thủy đó sống động. Theastock | Shutterstock

Truyền thống khẳng định rằng chính trong thời gian bị lưu đày này, Thánh Gioan đã trải qua những thị kiến mà sau đó được lưu truyền giữa các giáo hội Kitô giáo trong vùng Tiểu Á. Với sự trợ giúp của môn đệ Prochoros, ngài đã đọc lại những gì mình thấy và nghe, gửi đến các cộng đoàn đang phải chật vật giữa cơn bách hại và bất ổn. Bản văn ra đời từ đó đã trở thành quyển sách cuối cùng của bộ Kinh Thánh Kitô giáo, nổi bật với những hình ảnh sống động và sự tập trung không ngừng vào lòng kiên trì, cuộc phán xét và niềm hy vọng.

Không gian bên trong hang động vẫn bảo tồn những đặc điểm gắn liền với truyền thống lâu đời này. Một khe nứt trên đá được ký ức địa phương xác định là nơi Thánh Gioan đã nghe thấy tiếng Thiên Chúa phán. Ba khe hở hẹp trên đá được giải thích mang tính biểu tượng như sự quy chiếu về Chúa Ba Ngôi. Một gờ đá và một hốc tường được chỉ ra là nơi vị tông đồ cao niên có thể đã nghỉ ngơi hoặc đọc lại những lời sấm của mình. Mặc dù những chi tiết như vậy không thể xác minh về mặt lịch sử, nhưng chúng tạo nên một phần của việc thực hành đạo đức liên tục của địa điểm này.

Phía trên hang động là Tu viện Thánh Gioan Thần học gia, được thành lập vào năm 1088 với sự bảo trợ của hoàng đế Byzantine Alexios Komnenos. Được xây dựng như một khu phức hợp kiên cố, tu viện đã định hình đời sống tôn giáo và dân sự của hòn đảo, đồng thời dẫn đến sự phát triển của Chóra như là trung tâm hành chính và thiêng liêng. Các bản thảo, tượng thánh, và các đồ phụng vụ được lưu giữ tại đây là minh chứng cho vai trò lâu đời của Patmos trong nghiên cứu học thuật và thờ tự Kitô giáo.

Khải Huyền ra đời từ một bối cảnh bị giam cầm hơn là từ sự ảnh hưởng. Hang động Khải Huyền tiếp tục thu hút du khách bởi nơi đây đặt một trong những bản văn thách đố nhất của Kitô giáo vào trong một bối cảnh lịch sử cụ thể. Được viết trong hoàn cảnh chịu những áp lực và gửi đến các cộng đoàn dễ bị tổn thương, cuốn sách nói về lòng kiên trì và sự trung tín trước những thế lực tưởng chừng như áp đảo. Sự bền bỉ âm thầm của lời cầu nguyện tại hang động đã gìn giữ bối cảnh nguyên thủy đó sống động.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 31/12/2025]