Thứ Hai, 23 tháng 2, 2026

Tiếp kiến Hàng Giáo sĩ Giáo phận Roma, 19.02.2026

Tiếp kiến Hàng Giáo sĩ Giáo phận Roma, 19.02.2026

Tiếp kiến Hàng Giáo sĩ Giáo phận Roma, 19.02.2026

*******

Sáng nay, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã gặp gỡ hàng giáo sĩ của Giáo phận Roma tại Hội trường Phaolô VI, và sau đây là diễn văn của ngài:


Diễn văn của Đức Thánh Cha
Đối thoại giữa Đức Thánh Cha và các linh mục Roma


Diễn văn của Đức Thánh Cha:

Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.
Bình an cho anh em.

[Diễn văn chào mừng của Đức Hồng y Giám quản]

Anh em thân mến,

Tôi vui mừng chào đón anh em và cảm ơn anh em đã hiện diện nơi đây sáng nay. Tôi cảm ơn Đức Hồng y Giám quản vì những lời ngài vừa dành cho tôi, và tôi thân ái chào tất cả anh em: các thành viên Hội đồng Giám mục, các linh mục chánh xứ, và toàn thể các linh mục đang hiện diện. Và tôi xin nói rằng, nếu đúng là chúng ta đang bắt đầu hành trình Mùa Chay, thì đây không phải là một hình thức đền tội: ít nhất đối với tôi, đây là một niềm vui lớn lao! Tôi nói điều đó với tất cả sự chân thành!

Khởi đầu năm mục vụ, chúng ta hãy để mình được truyền cảm hứng bởi lời Chúa Giêsu nói với người phụ nữ Samaria bên giếng Giacóp: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban” (Ga 4:10).

Ân huệ, như chúng ta biết, cũng là một lời mời gọi sống trách nhiệm sáng tạo. Chúng ta không chỉ đơn thuần được đặt vào dòng chảy của truyền thống như những người thực thi thụ động một chương trình mục vụ đã được định sẵn, nhưng ngược lại, với sự sáng tạo và các đặc sủng của mình, chúng ta được mời gọi cộng tác vào công trình của Thiên Chúa. Về điểm này, những lời Thánh Tông đồ Phaolô gửi cho Timôthê soi sáng: “Tôi nhắc anh phải khơi dậy đặc sủng của Thiên Chúa, đặc sủng anh đã nhận được khi tôi đặt tay trên anh” (2 Tm 1:6). Những lời này không chỉ dành cho cá nhân mà còn cho cả cộng đoàn, và hôm nay chúng ta có thể nghe thấy lời đó gửi đến chính chúng ta: Giáo hội Roma, hãy khơi dậy ân huệ của Thiên Chúa!

Khơi dậy có nghĩa là gì? Thánh Phaolô gửi lời khuyến dụ này đến một cộng đoàn phần nào đó đã đánh mất sự tươi mới ban đầu và lòng nhiệt thành mục vụ; với bối cảnh thay đổi và thời gian trôi qua, có thể nhận thấy một sự mệt mỏi, chút thất vọng hoặc chán nản, và một sự sa sút nào đó về thiêng liêng và đạo đức. Vì thế, Thánh Tông đồ nói với Timôthê và cộng đoàn ấy: hãy nhớ khơi dậy ân huệ anh đã nhận được. Động từ mà Thánh Phaolô sử dụng – khơi dậy – gợi lên hình ảnh những cục than hồng ẩn dưới lớp tro tàn, và như Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói, nó “gợi lên hình ảnh một người thổi vào đống lửa để làm bừng lên ngọn lửa” (Giáo lý, ngày 30 tháng 10 năm 2024).

Chúng ta cũng có thể nói điều ấy về hành trình mục vụ của giáo phận chúng ta: ngọn lửa đã được thắp lên, nhưng nó phải được khơi dậy liên tục.

Ngọn lửa đang cháy rực ấy chính là ân huệ không thể hủy bỏ mà Chúa đã ban cho chúng ta; đó chính là Chúa Thánh Thần, Đấng đã vạch ra con đường cho Giáo hội, lịch sử và truyền thống mà chúng ta đã lãnh nhận, và những gì chúng ta thường xuyên thực hiện trong các cộng đoàn. Đồng thời, chúng ta phải khiêm tốn nhìn nhận rằng ngọn lửa này không phải lúc nào cũng giữ được sức sống như trước và cần được khơi dậy. Bị thúc bách bởi những thay đổi văn hóa đột ngột và những bối cảnh mà sứ vụ chúng ta đang diễn ra, đôi khi bị tấn công bởi sự mệt mỏi và gánh nặng của thói quen, hoặc nản lòng trước sự xa rời đức tin và thực hành tôn giáo ngày càng gia tăng, chúng ta cảm thấy ngọn lửa ấy phải được tiếp thêm nhiên liệu và làm bừng sáng trở lại.

Điều này đặc biệt áp dụng cho một số lĩnh vực của đời sống mục vụ mà tôi muốn nêu ra cách vắn tắt sau đây.

Lĩnh vực đầu tiên chắc chắn liên quan đến mục vụ giáo xứ thông thường. Và ở đây, trước hết tôi muốn chia sẻ một tâm tình biết ơn với anh em, khi nhắc lại những lời Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói với anh em trong một Thánh lễ Truyền Dầu gần đây: “Cảm ơn anh em vì sự phục vụ. Cảm ơn vì những điều thiện hảo âm thầm anh em thực hiện... Cảm ơn vì thừa tác vụ của anh em, thường được thực hiện với rất nhiều nỗ lực, nhưng lại ít được nhìn nhận và không phải lúc nào cũng được thấu hiểu” (Bài giảng Thánh lễ Truyền Dầu, ngày 6 tháng 4 năm 2023). Tuy nhiên, những khó khăn và hiểu lầm cũng có thể mang đến cơ hội để suy tư về những thách đố mục vụ phải đối mặt. Đặc biệt, liên quan đến mối tương quan giữa khai tâm Kitô giáo và công cuộc loan báo Tin Mừng, chúng ta cần một sự thay đổi hướng đi rõ ràng. Thật vậy, mục vụ thông thường đang được cấu trúc theo một mô hình cổ điển, chủ yếu quan tâm đến việc bảo đảm rằng các Bí tích được cử hành, và mô hình như vậy hàm ý rằng đức tin bằng cách nào đó cũng được truyền tải bởi môi trường xung quanh, bởi xã hội cũng như môi trường gia đình. Trên thực tế, những thay đổi về văn hóa và nhân học diễn ra trong những thập niên gần đây cho thấy điều đó không còn đúng nữa; ngược lại, chúng ta đang chứng kiến sự xói mòn liên tục trong việc thực hành tôn giáo.

Vì thế, điều khẩn thiết đó là trở lại với việc loan báo Tin Mừng: đây là ưu tiên hàng đầu. Với lòng khiêm nhường, nhưng cũng không để mình nản lòng, chúng ta phải nhìn nhận rằng “một bộ phận những người đã được rửa tội của chúng ta thiếu cảm thức thuộc về Giáo hội”, và điều này mời gọi chúng ta cảnh giác với việc “cử hành các bí tích tách rời khỏi những hình thức loan báo Tin Mừng khác” (Tông huấn Evangelii Gaudium, số 63). Chúng ta hãy nhớ những câu hỏi của Thánh Phaolô Tông đồ: “Làm sao họ tin Đấng họ không được nghe? Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng?” (Rm 10:14). Như trong tất cả các đại đô thị, thành phố Roma được đặc trưng bởi sự dịch chuyển liên tục, bởi một cách thức cư trú và trải nghiệm thời gian mới, bởi các mối tương quan gia đình và xã hội ngày càng đa dạng và đôi khi bị rạn nứt. Vì vậy, mục vụ giáo xứ cần phải tái tập trung vào việc rao giảng, tìm kiếm những con đường và phương thế để giúp mọi người kết nối lại với lời hứa của Chúa Giêsu. Trong bối cảnh này, việc khai tâm Kitô giáo, thường được rập khuôn theo nhịp điệu học đường, cần được xem xét lại: chúng ta cần thử nghiệm những cách thức truyền đạt đức tin khác ngoài những lối mòn truyền thống, nhằm cố gắng lôi cuốn thiếu nhi, giới trẻ và các gia đình theo những cách thức mới.

Khía cạnh thứ hai là: học cách làm việc cùng nhau, trong sự hiệp thông. Để dành ưu tiên cho việc loan báo Tin Mừng dưới mọi hình thức đa dạng, chúng ta không thể suy nghĩ và hành động một cách đơn độc. Trong quá khứ, giáo xứ liên kết chặt chẽ hơn với địa phương và bao gồm tất cả những người sống tại đó; tuy nhiên ngày nay, các mô hình và lối sống đã chuyển từ ổn định sang lưu động, và nhiều người, ngoài lý do công việc, còn di chuyển vì nhiều loại hình trải nghiệm khác nhau, sống các mối tương quan vượt ra ngoài ranh giới địa giới và văn hóa nơi họ thuộc về. Chỉ riêng giáo xứ là không đủ để khởi động một tiến trình loan báo Tin Mừng có khả năng vươn đến những người không thể tham dự một cách đầy đủ. Trong một địa bàn rộng lớn như Roma, chúng ta phải vượt qua cám dỗ của tính quy ngã, vốn gây ra sự quá tải công việc và phân tán, để cùng nhau làm việc nhiều hơn, đặc biệt là giữa các giáo xứ lân cận, chia sẻ các đặc sủng và tiềm năng, cùng nhau lập kế hoạch và tránh các sáng kiến chồng chéo. Cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn, điều này không thuần túy như một biện pháp mục vụ, mà nhằm diễn tả sự hiệp thông linh mục của chúng ta.

Khía cạnh cuối cùng tôi muốn nhấn mạnh: sự gần gũi với giới trẻ. Nhiều người trong số họ – như chúng ta biết – “sống mà không có bất kỳ sự quy chiếu nào về Thiên Chúa và Giáo hội” (Diễn văn tại Phiên họp toàn thể của Bộ Giáo lý Đức tin, ngày 29 tháng 1 năm 2026). Vì thế, vấn đề là phải thấu hiểu và giải thích nỗi bất an hiện sinh sâu sắc đang hiện diện trong họ, sự hoang mang, nhiều khó khăn của họ, cũng như những hiện tượng lôi cuốn họ vào thế giới ảo và các triệu chứng của sự hung hăng đáng lo ngại, đôi khi dẫn đến bạo lực. Tôi biết anh em nhận thức được thực tại ấy và đang dấn thân giải quyết. Chúng ta không có những giải pháp dễ dàng bảo đảm kết quả tức thời, nhưng trong khả năng có thể, chúng ta có thể lắng nghe người trẻ, hiện diện bên họ, chào đón họ và chia sẻ một phần cuộc sống của họ. Đồng thời, vì những vấn đề này ảnh hưởng đến nhiều chiều kích của đời sống, chúng ta hãy thử đối thoại, với tư cách là các giáo xứ, và tương tác với các cơ quan địa phương, các trường học, các chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục và khoa học nhân văn, và với những người quan tâm đến vận mệnh và tương lai của giới trẻ.

Và khi nói về giới trẻ, tôi muốn gửi một lời khích lệ đến các linh mục trẻ – phần lớn anh em đang hiện diện ở đây, phải không? – những người thường trực tiếp cảm nghiệm tiềm năng và những cuộc đấu tranh của thế hệ mình và của thời đại này. Trong một bối cảnh xã hội và giáo hội khó khăn và ít tưởng thưởng hơn, có nguy cơ anh em nhanh chóng cạn kiệt năng lượng, tích tụ sự thất vọng và rơi vào cô đơn. Tôi thúc giục anh em hãy trung thành trong mối tương quan với Chúa mỗi ngày, và làm việc với lòng nhiệt thành cho dù anh em chưa nhìn thấy hoa trái của sứ vụ tông đồ ngay lập tức. Trên hết, tôi mời gọi anh em đừng bao giờ khép kín: đừng sợ chia sẻ những kinh nghiệm, kể cả sự mệt mỏi và khủng hoảng của bản thân, đặc biệt là với những anh em linh mục mà anh em tin rằng có thể trợ giúp. Chắc chắn, tất cả chúng ta được mời gọi có thái độ lắng nghe và quan tâm, qua đó chúng ta có thể sống tình huynh đệ linh mục một cách cụ thể. Chúng ta hãy đồng hành và nâng đỡ lẫn nhau.

Các bạn thân mến, tôi vui mừng được chia sẻ khoảnh khắc này với anh em. Như tôi đã nhắc lại gần đây, bổn phận đầu tiên của chúng ta là “gìn giữ và nuôi dưỡng ơn gọi thông qua một hành trình hoán cải không ngừng, và lòng trung thành được đổi mới, đây không bao giờ là một con đường thuần túy cá nhân nhưng đòi hỏi chúng ta phải chăm sóc lẫn nhau” (Tông thư A Fidelity that Generates the Future, số 13). Bằng cách này, chúng ta sẽ là những mục tử như lòng Chúa mong ước và chúng ta sẽ có thể phục vụ Giáo phận Roma cách tốt đẹp nhất. Cảm ơn anh em!

________________________________


Đối thoại giữa Đức Thánh Cha và các linh mục Rôma:

Đức Hồng y Baldo Reina

Thưa Đức Thánh Cha, cảm ơn người vì những điều người đã chia sẻ với chúng con. Chắc chắn đó sẽ là nguồn mạch cho những suy tư sâu xa hơn. Chúng con cũng cảm ơn người vì thời gian người sẽ dành cho chúng con bây giờ. Người đã bày tỏ sự sẵn lòng đối thoại với các linh mục.

Nhiều Cha muốn đặt ra cho người nhiều câu hỏi. Chúng con đã tập hợp các câu hỏi lại thành bốn nhóm theo độ tuổi. Người đầu tiên sẽ là Cha Francesco Melone, một trong những linh mục được người truyền chức vào ngày 31 tháng 5, sẽ đặt câu hỏi về những gì Đức Thánh Cha đã nói ở cuối bài diễn văn, cụ thể là về những khó khăn của hàng giáo sĩ trẻ. Sau đó, Cha Giacomo Pavanello, cha sở giáo xứ San Gregorio Magno alla Magliana, một giáo xứ khoảng 40.000 dân, sẽ nêu câu hỏi về những thách đố mục vụ của thời đại chúng ta.

Tiếp đến là Cha Romano De Angelis, đã từng làm cha sở tại nhiều giáo xứ trong thành phố, và trong vài tháng qua là tuyên úy tại Bệnh viện Nhi Bambin Gesù, sẽ đề cập đến chủ đề về tình huynh đệ linh mục, cũng là một chủ đề người đã nhắc đến. Sau cùng, Cha Tonino Panfili, người đã gắn bó với đời sống thánh hiến nhiều năm tại Khu Tông tòa và hiện là quản nhiệm Vương cung thánh đường Santa Croce in Gerusalemme, sẽ đặt câu hỏi về các linh mục cao niên.

Nhân đây, chúng con cũng nhớ đến những anh em linh mục già đau yếu đang ở nhà hưu dưỡng San Gaetano tại Divino Amore. Như vậy, bốn Cha sẽ đại diện cho tất cả linh mục. Xin cảm ơn Đức Thánh Cha.


Câu hỏi thứ nhất

Kính chào Đức Thánh Cha. Con xin thay mặt các linh mục trẻ của giáo phận gửi những lời này tới người, mặc dù Đức Thánh Cha đã trả lời nhiều câu hỏi mà chúng con đang ấp ủ trong lòng. Xin cảm ơn Đức Thánh Cha! Trong hầu hết các trường hợp, chúng con thi hành thừa tác vụ mục vụ giữa giới trẻ trong cộng đoàn. Chúng con cảm nhận nơi họ một khao khát lớn lao về chiều sâu và sự mật thiết với Thiên Chúa, cũng như nhu cầu được lắng nghe và hiệp thông. Nhưng đồng thời, chúng con cũng nhìn thấy nơi họ rất nhiều những vết thương trong mối tương quan và cảm xúc, thường đi kèm với lo âu và sợ hãi, buồn bã và cô đơn.

Vì thế, đôi khi có vẻ dễ dàng hơn, và có lẽ đối với các linh mục chúng con, thậm chí thấy thoải mái và thuận tiện hơn, khi chỉ chăm sóc trên bình diện cảm xúc, làm dịu nỗi đau qua các sự kiện gây ấn tượng mạnh và những cảm xúc mạnh, thay vì giúp họ đi vào cuộc đối thoại với Thiên Chúa.

Tuy nhiên, mối tương quan này không phô trương, ồn ào, với những đám đông chen chúc hoặc qua những nhà lãnh đạo lôi cuốn, nhưng được nuôi dưỡng trong việc cầu nguyện riêng tư, khiến chúng con không phải là những nhân vật chính mà là những thừa tác viên của sự tín thác vào Chúa. Chỉ có tình bạn với Chúa Giêsu mới lấp đầy nỗi cô đơn của chúng con, như chính Đức Thánh Cha đã nhắc lại vào ngày 10 tháng 1 khi người chào đón giới trẻ Roma và các nhà giáo dục của họ.

Vì thế, con xin hỏi Đức Thánh Cha, người có lời khuyên gì cho các linh mục trẻ chúng con để sống Tin Mừng trong thế giới hôm nay, đặc biệt là giữa giới trẻ, xuất hiện trước họ như những người trưởng thành đáng tin cậy, mà không biến việc loan báo Tin Mừng thành giải trí, và việc phân định thành trò tiêu khiển? Con xin cảm ơn người.


Trả lời của Đức Thánh Cha Lêô XIV

Rất tốt. Điều đầu tiên tôi muốn nói rằng đây là một tình trạng, một thực trạng của xã hội ngày nay mà theo một nghĩa nào đó chúng ta không thể thay đổi, nhưng chúng ta phải giữ mắt mình luôn tỉnh táo. Đó là thực trạng của các gia đình và những thách đố mà chúng ta phải đối diện với người trẻ hôm nay, chính vì họ thường xuất thân từ những gia đình đã trải qua những khủng hoảng nghiêm trọng, sự thiếu vắng người cha, cha mẹ ly hôn hoặc tái hôn, nhiều bạn trẻ cũng trải qua sự bỏ rơi, những khó khăn mà người trẻ phải đối mặt trong cuộc sống hiện nay.

Do đó, đối với linh mục, việc đồng hành với những người trẻ này cũng có nghĩa là biết rõ thực tại của họ, gần gũi họ theo nghĩa ấy, đồng hành với họ, nhưng không chỉ đơn giản là trở thành một người trong số những người trẻ. Điều này cũng rất quan trọng: chứng tá của linh mục. Linh mục trẻ có thể trao cho người trẻ một mẫu gương sống, đó là việc trở thành một người bạn của Chúa Giêsu có thể thực sự làm tròn đầy cuộc sống của họ. Nhưng điều này có nghĩa là chính linh mục, dù trẻ hay không còn trẻ, phải sống một đời sống bạn hữu với Chúa Giêsu, để mang đến cho những người trẻ này không chỉ là một mẫu gương, mà là một kinh nghiệm sống có thể thay đổi đời sống của họ. Tiếp đến, tôi cũng nghĩ rằng tinh thần loan báo Tin Mừng mà chúng ta đã nói cách đây ít phút cũng phải được áp dụng cho giới trẻ.

Trong quá khứ, tất cả người trẻ đều đến giáo xứ. Chắc chắn nhiều giáo xứ của anh em đều có một nhà nguyện sinh hoạt (oratory), một nơi để giới trẻ quy tụ và vui chơi. Một số vẫn còn đến, nhưng chúng ta không thể chỉ bằng lòng với số những người đến giáo xứ. Vì vậy, có lẽ cùng với chính người trẻ, chúng ta cần tổ chức, suy nghĩ và tìm kiếm những sáng kiến có thể mở ra một lối thoát. Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói rất nhiều về một Giáo hội “đi ra ngoài”. Chúng ta phải đi ra, chúng ta phải mời gọi những người trẻ khác, cùng họ bước ra các nẻo đường; có lẽ đề xuất những cách thức, hoạt động khác nhau… Thể thao cũng có thể là một con đường để mời gọi giới trẻ. Các hoạt động khác như nghệ thuật, văn hóa... Mời gọi người trẻ đến, bắt đầu làm quen với nhau. Có lẽ việc làm quen với nhau trước hết là một trải nghiệm nhân bản về tình bạn, từ đó có thể dần dần giúp dẫn đến một trải nghiệm hiệp thông.

Nhiều người trẻ sống trong sự cô lập, một sự cô đơn không thể tin được, nhất là sau đại dịch, nhưng nó không bắt đầu từ đó. Với chiếc điện thoại thông minh quen thuộc mà có lẽ tất cả chúng ta đều mang theo trong túi hôm nay, chúng ta sống cô độc, dù họ nói rằng: “Không, bạn tôi ở đây”, nhưng lại không có sự tiếp xúc trực tiếp giữa người với người. Họ sống một dạng xa cách với người khác, một sự lạnh nhạt, mà không biết đến sự phong phú và giá trị của các mối tương quan đích thực của con người. Vì vậy, ở đó nữa, chúng ta cũng phải tìm cách mang đến cho giới trẻ một kinh nghiệm khác về tình bạn, về sự chia sẻ, và từng bước một là sự hiệp thông, và từ kinh nghiệm đó mời gọi họ nhận biết Chúa Giêsu, Đấng mời gọi chúng ta không phải làm tôi tớ, nhưng làm bạn hữu của Người.

Để làm được tất cả những điều này đòi hỏi rất nhiều thời gian, sự hy sinh và suy tư, nhằm tìm ra cách để tiếp cận những người trẻ ngày nay thường bị cuốn vào một lối sống tệ hại, nghiện ngập, phạm pháp, bạo lực, những khó khăn, cô lập... Cách đây không lâu, một bạn trẻ đã hỏi tôi câu này: “Đức Thánh Cha nói rất nhiều về sự hiệp thông và hiệp nhất, tại sao vậy? Nó có giá trị gì?” Nói cách khác, với kinh nghiệm của bản thân, bạn ấy cũng không hiểu rằng có một giá trị rất lớn khi bước ra khỏi sự cô đơn để tìm kiếm bạn bè và sự hiệp thông. Vì vậy, tôi nghĩ rằng theo cách này, ngay cả các linh mục trẻ, những người gần gũi hơn với giới trẻ về tuổi tác, văn hóa và sự đào tạo, có thể thực hiện sứ vụ tuyệt vời trong việc loan báo thông điệp này, một thông điệp mà xét cho cùng, luôn luôn là Tin Mừng.


Câu hỏi thứ hai

Kính thưa Đức Thánh Cha, con xin chào Đức Thánh Cha và cảm ơn người rất nhiều vì khoảnh khắc này. Con muốn đặt một câu hỏi về thời đại chúng ta đang sống, thời đại được đánh dấu bằng sự gạt bỏ tôn giáo dần dần ra khỏi bối cảnh xã hội đương đại, đặc biệt là ở các thành phố lớn như Roma. Làm thế nào để chúng con có thể trở nên hiệu quả trong nền văn hóa hậu hiện đại này mà tất cả chúng ta đang sống và hít thở, mà không quay lại những khuôn mẫu của quá khứ vốn có phần lỗi thời?

Đâu nên là ưu tiên trong thừa tác vụ mục vụ của chúng con để đáp lại những thách đố của thời đại chúng ta theo tinh thần Tin Mừng? Nói cách khác, Tin Mừng luôn luôn được hội nhập văn hóa, nhưng ngày nay chúng con có lẽ đang đối mặt với một sự hội nhập văn hóa mới. Làm thế nào chúng con có thể bảo đảm rằng sự hội nhập văn hóa này được khích lệ và đồng hành, chứ không bị cản trở bởi các sáng kiến của chúng con? Con xin cảm ơn người.


Trả lời của Đức Thánh Cha Lêô XIV

Một điều mà chính tôi cũng đang cố gắng tìm hiểu là làm thế nào để đáp lại thách đố này, bắt đầu từ nhu cầu thực sự thấu hiểu cộng đoàn nơi tôi được kêu gọi phục vụ. Tôi nói từ kinh nghiệm cá nhân. Tôi đã sống ở Roma bốn năm vào thập niên 1980, sau đó là mười hai năm, từ năm 2000 đến 2012-2013, và bây giờ là ba năm, và mỗi lần tôi trở lại Roma, theo một nghĩa nào đó, tôi lại gặp một Roma khác.

Có nhiều thứ... “Thành phố vĩnh cửu”, cứ cho là vậy, những con đường vẫn thế, những ổ gà vẫn thế, nhưng cuộc sống đã thay đổi quá nhiều. Vì vậy, để phục vụ với tư cách là Giám mục Roma, tôi đã suy nghĩ rất nhiều về điều này khi chúng tôi đến Ostia vào Chúa nhật tuần trước để nói chuyện với những người dân ở đó. Chúng ta cần bắt đầu bằng việc tìm hiểu thực tại của họ một cách thấu đáo nhất có thể. Tôi thậm chí không thể áp dụng tính liên tục cách máy móc: nếu tôi được chuyển từ giáo xứ này sang giáo xứ khác, tôi không thể nghĩ rằng: “Cái này đã hiệu quả ở đó, cứ tiếp tục làm như vậy ở đây”. Nếu bạn muốn yêu một ai đó, trước hết bạn phải biết rõ họ. Nếu các Cha muốn yêu mến và phục vụ một cộng đoàn, điều quan trọng trước hết là phải hiểu biết cộng đoàn đó.

Và có nhiều thực tại trong thế giới hay thay đổi này, điều mà tôi đã nói qua một chút, đang thay đổi không ngừng. Và vì thế, cần có một nỗ lực thực sự từ phía các linh mục chánh xứ, các linh mục và tất cả những người cộng tác trong hội đồng giáo xứ để thực sự tìm thấy đâu là những thách đố vào lúc này tại nơi đây, trong giáo xứ này, điều mà chúng ta cần phải nhìn thấy và hiểu biết phần nào.

Tiếp theo, liên quan đến thực tại của thế giới ngày nay, tôi vẫn chưa nói đến một thực tại đang ập đến với chúng ta dù chúng ta muốn hay không: trí tuệ nhân tạo, việc sử dụng internet, vốn cũng hiện hữu trong đời sống của linh mục. Nhân đây, tôi mời gọi anh em hãy chống lại cám dỗ soạn bài giảng bằng trí tuệ nhân tạo! Cũng như tất cả các cơ bắp trong cơ thể sẽ chết nếu chúng ta không sử dụng chúng, nếu chúng ta không vận động chúng, thì não bộ cũng cần được sử dụng, vì vậy trí tuệ của chúng ta, trí tuệ của anh em, cần được rèn luyện một chút để không đánh mất khả năng này.

Nhưng còn cần nhiều hơn thế, bởi vì để có một bài giảng thực thụ, tức là chia sẻ đức tin, trí tuệ nhân tạo sẽ không bao giờ có thể chia sẻ đức tin! Đây là phần quan trọng nhất: nếu chúng ta có thể thực hiện một việc phục vụ, có thể nói là hội nhập văn hóa, tại địa phương, tại giáo xứ nơi chúng ta đang mục vụ, mọi người muốn nhìn thấy đức tin của anh em, kinh nghiệm của anh em về việc đã nhận biết và yêu mến Chúa Giêsu Kitô và Tin Mừng của Người. Và đây là điều chúng ta phải không ngừng vun trồng.

Và vì thế tôi nói rất chân thành rằng, để trả lời cho mọi câu hỏi, rằng một phần của câu trả lời chính là tầm quan trọng của đời sống cầu nguyện. Không chỉ là thói quen đọc kinh Nhật tụng càng nhanh càng tốt, là kinh mà tôi cũng có trên điện thoại di động, nhưng là thời gian để ở với Chúa, để lắng nghe Lời Chúa, để cầu nguyện với các Thánh vịnh, là lời ngợi khen Thiên Chúa.

Nhưng còn là khả năng bước vào cuộc đối thoại, để thực sự lắng nghe và bày tỏ những khó khăn mà tôi mang trong lòng: “Lạy Chúa, tại sao, Chúa muốn gì nơi con? Con có thể làm gì?” Rồi từ kinh nghiệm về một đời sống thực sự bén rễ trong Chúa, chúng ta có thể hiến trao một điều gì đó không phải của riêng mình. Không phải vì tôi là tôi nên tôi trao tặng chính con người tôi; đây thường là một sự lừa dối trên internet, trên TikTok, khi chúng ta muốn là chính mình: “Tôi có rất nhiều người theo dõi, rất nhiều lượt thích, vì họ thấy những gì tôi đang nói...”.

Đó không phải là bạn: nếu chúng ta không truyền đạt sứ điệp của Chúa Giêsu Kitô, có lẽ chúng ta đang sai lầm, và chúng ta cần suy xét lại một cách rất thận trọng và với lòng khiêm tốn sâu xa về việc chúng ta là ai và chúng ta đang làm gì. Nhưng với thái độ yêu thương, phục vụ, khiêm nhường và lắng nghe này, chúng ta có thể thực sự khám phá ra những gì mình có thể làm để đáp lại cộng đoàn nơi chúng ta được gọi để phục vụ.


Câu hỏi thứ ba

Kính thưa Đức Thánh Cha, trong 39 năm từ ngày thụ phong linh mục, con đã có thể trải nghiệm rằng tình huynh đệ linh mục là điều có thể, và nó thật tốt đẹp. Điều này cũng vì trong linh mục đoàn của chúng con tại Roma, chúng con có cơ hội tiếp đón các linh mục từ những giáo phận khác, họ là một kho tàng, không chỉ vì sự giúp đỡ họ mang đến, mà còn vì việc nuôi dưỡng tình huynh đệ linh mục. Và đúng là khi ở bên nhau, chúng con cảm nghiệm được điều mà Thánh Gioan Berchmans đã nói: “Đời sống cộng đoàn là một sự đền tội lớn, nhưng tôi đã kinh nghiệm được rằng đó cũng là nguồn vui khôn tả”.

Ba câu chuyện đơn sơ: sau khi con cảm thấy không khỏe vào một buổi chiều, sáng hôm sau con nhận ra rằng các anh em linh mục của con, không nói với con điều gì, đã tự tổ chức trong đêm thành những phiên trực theo từng giờ để đến kín đáo kiểm tra và xem tình trạng của con ra sao. Một biến cố khác khiến con xúc động là khi mẹ con qua đời — con là con một, và cha con đã mất trước đó — một người anh em trẻ tuổi, thấy con hơi bàng hoàng, đã nói với con: “Anh Romano, hãy nhớ rằng bao lâu em còn sống, anh sẽ không bao giờ cô đơn trong cuộc đời”. Con cũng đã trải qua một khoảnh khắc đau đớn, một sự hiểu lầm đau lòng, và chính tại đó Tin Mừng đã soi sáng cho con: cầu nguyện cho người ấy, cho người anh em đó, và xin Chúa chúc lành cho họ. Và, sau vài tháng, là niềm vui của thông điệp hòa giải.

Vì vậy, trước tất cả điều này, tuy nhiên, thưa Đức Thánh Cha, con nói rằng vẫn có những mối nguy hiểm mà con xin trình bày với người để xin lời khuyên và một vài gợi ý. Thứ nhất là khó khăn trong việc sống đúng với chính mình vì sợ những lời đàm tiếu, sợ bị bán với giá ba mươi đồng bạc, để rồi ai đó có thể làm cho họ trở nên đẹp đẽ bằng cách dệt nên những câu chuyện. Tiếp đến, những khác biệt về tính nhạy cảm giữa chúng con chắc chắn có thể là một kho tàng; nhưng cám dỗ lại là, thay vì biến chúng thành cơ hội, lại hình thành những phe nhóm đối lập và xung đột với nhau.

Và rồi, điều mà đối với con dường như là mối nguy hiểm lớn nhất, đó là lòng ghen tị: tức là không thể vui mừng trước những khả năng của một người anh em, người có nguy cơ trở thành kẻ thù chỉ đơn giản vì người ấy được đánh giá cao và thành công trong công việc mục vụ. Thỉnh thoảng, những lời hơi cay đắng của một người anh em chợt hiện lên trong đầu con, nhưng chúng lại có phần xác đáng: “Nếu bạn muốn làm hại ai đó, hãy nói tốt về họ”, bởi vì khi đó bạn phơi bày họ ra để họ bị tổn thương. Nhưng chắc chắn Đức Thánh Cha có thể cho chúng con một số hướng dẫn quý giá về cách tận dụng tốt nhất tất cả những điều ấy. Con xin cảm ơn Đức Thánh Cha!


Trả lời của Đức Thánh Cha Lêô XIV

Cảm ơn Cha. Tôi có thể nói như vị giáo sư: “Nhưng bạn đã tự trả lời câu hỏi của chính mình rồi, vậy thì...”. Tôi sẽ bắt đầu với một điều thật sự đau lòng – tôi muốn nói là tiêu cực – mức độ nào đó, có những lúc giống như một trong những “đại dịch” của hàng giáo sĩ ở cấp độ hoàn vũ. Nó được gọi là invidia clericalis, đó là khi một linh mục thấy linh mục khác được gọi làm chánh xứ của một giáo xứ lớn hơn, đẹp hơn, được gọi làm đại diện, được gọi làm gì đó tôi không biết... thì khi đó các mối tương quan bị phá vỡ; và không chỉ vậy, mà còn với những lời đàm tiếu, chỉ trích, nói ra nói vào… Nó phá hủy thay vì tìm cách xây dựng những mối dây liên kết, những nhịp cầu của tình bạn, của tình huynh đệ linh mục. Vì vậy, tôi nói điều này ngay lập tức để gác nó sang một bên, nhưng xin anh em hãy cẩn thận trước thực tại này.

Tất cả chúng ta đều là con người, chúng ta có cảm xúc, có tình cảm, nhiều thứ, nhưng với tư cách là linh mục – và tôi hy vọng là ngay từ trong chủng viện – chúng ta có thể đưa ra những mẫu gương sống, nơi các linh mục thực sự có thể là bạn hữu, là anh em, chứ không phải là những kẻ thù hoặc dửng dưng với nhau. Và tôi không biết điều nào tệ hơn: là kẻ thù hay dửng dưng với người khác, cả hai đều cần phải suy xét.

Tôi đã chứng kiến những gương mẫu rất đẹp của tình huynh đệ linh mục, và tôi xin kể lại vài trường hợp, vì chúng có thể hữu ích cho các Cha, cả trẻ lẫn già. Một linh mục ở Chicago đã lập một thỏa ước với các bạn cùng lớp chủng viện vào ngày truyền chức của họ: mỗi tháng – tôi không rõ, họ chọn ngày thứ Năm của tuần thứ tư hay sao đó, tôi cũng không rõ – hàng tháng, mỗi tháng một lần, họ sẽ gặp nhau. Đó là một “lớp” gồm một số khá đông các linh mục, và tôi có dịp biết họ khi một người trong nhóm, khi đó đã là giám mục phụ tá ở Chicago, đã 93 tuổi, và những người còn sống đến tuổi ấy vẫn tiếp tục họp mặt. Họ muốn tiếp tục tình bạn đẹp mà họ đã hình thành trong chủng viện suốt cuộc đời mình. Nhưng đó không chỉ là một cuộc họp mặt, đó là một kinh nghiệm cầu nguyện, trong đó họ dành một khoảng thời gian trong ngày để cầu nguyện, sau đó là học hỏi.

Và ở đây tôi muốn nói thêm một điều với tất cả anh em: việc học hỏi trong đời sống của chúng ta phải là thường xuyên và liên tục. Khi tôi nghe có người nói với tôi – đây là chuyện có thật, một linh mục đã nói với tôi –: “Từ ngày rời chủng viện đến giờ tôi chưa hề mở lại một cuốn sách nào”. Trời ơi, tôi nghĩ, thật buồn biết bao! Và thật buồn cho các tín hữu của linh mục đó, những người phải lắng nghe, có Chúa mới biết là những gì. Chúng ta cũng cần phải cập nhật, và nhóm linh mục đó, trong buổi họp hàng tháng, sẽ nói với nhau, theo lượt: “Đến lượt anh, hãy chọn một bài báo, một chủ đề gì đó”. Người đến lượt sau đó sẽ gửi nó cho tất cả mọi người trước, mọi người sẽ đọc nó, và đến lúc chia sẻ, họ sẽ trao đổi về thần học, mục vụ, các sáng kiến mới, thực tại của Giáo hội, v.v. Đó là một điều rất đẹp. Và đó là sáng kiến của chính họ.

Và ở đây còn một điểm khác rất quan trọng: nếu tôi ngồi đây và nói: "Chẳng có ai đến thăm tôi" — điều này có thể xảy ra với một số anh em — thì chúng ta đừng ngại gõ cửa nhà người khác, hãy chủ động, đừng ngại nói với các bạn đồng hành hoặc với một nhóm bạn, với một số người trong số họ: "Tại sao thỉnh thoảng chúng ta không gặp nhau để cùng học hỏi, cùng suy tư, có một giờ cầu nguyện và sau đó là một bữa trưa ngon miệng?" Cha sở nào có người nấu ăn giỏi nhất có thể mời những người khác, để anh em có bữa ăn trưa ngon miệng cùng nhau. Những người mà tôi đang nói đến, các linh mục ở Chicago, tất cả các linh mục giáo phận ở đó đều chơi golf. Vì vậy, vào mùa hè, họ cũng chơi một vài môn thể thao với nhau.

Vấn đề là phải có ai đó chủ động. Có lẽ không thể làm như vậy với tất cả mọi người – tôi cũng rất thực tế ở đây – Thiên Chúa tạo dựng nên chúng ta đều khác nhau, tạ ơn Chúa! Không có hai người giống hệt nhau, có thể nói như vậy, và tôi cảm thấy thoải mái hơn với người này hoặc với người kia. Người kia là một người tốt, nhưng tôi không có sự tin tưởng – đó là điều Cha đã nói trong câu hỏi của mình – bạn không thể kể toàn bộ câu chuyện cuộc đời mình cho bất cứ ai đi ngang qua. Bạn cần tìm một vài người để chia sẻ kinh nghiệm, để có thể có cơ hội hình thành một tình bạn, một mối tương quan huynh đệ có chiều sâu hơn một chút, và để chia sẻ cuộc sống của mình, để bạn không thấy mình cô đơn. Giống như linh mục trẻ đã nói với Cha: “Chừng nào em còn ở đây, anh sẽ không bao giờ cô đơn”.

Chúng ta cũng phải cố gắng xây dựng các mối tương quan huynh đệ linh mục theo nghĩa này. Không phải lúc nào cũng là cha sở với các cha phó của mình; có lẽ một nhóm các cha sở sẽ tốt hơn, tôi không biết, chúng ta cần nhìn vào thực tế. Tuy nhiên, chúng ta cần tạo ra những tình huống giúp phá vỡ xu hướng đưa chúng ta đến sự cô đơn và tách biệt khỏi nhau. Chúng ta thực sự cần cố gắng dành một chút thời gian – dĩ nhiên không phải mỗi ngày – nhưng với một sự đều đặn nhất định, để gặp gỡ nhau, và không phải là qua màn hình. Điều đó là quan trọng, nó cũng có thể có giá trị, nhưng phải là gặp trực tiếp, ở bên nhau, có một buổi họp mặt, để chia sẻ những niềm vui và cả những khó khăn của cuộc sống. Chia sẻ những kinh nghiệm.

Có thể có lúc một người thấy mình rơi vào khủng hoảng, dù là do sức khỏe hay một khó khăn nào khác, và nếu người ấy cô đơn, cuộc khủng hoảng ấy thường đưa chúng ta đi rất xa khỏi những gì thuộc đời sống của chúng ta. Nếu tôi có một nhóm tin cậy mà tôi đã cùng chia sẻ kinh nghiệm, tôi có thể tiếp tục bước đi với họ, nếu có ai đó để chia sẻ những khó khăn, những lúc thử thách, v.v. Vì thế, đây sẽ là một hình thức kinh nghiệm rất cụ thể mà chúng ta vẫn có thể mơ ước ngày nay; đời sống linh mục như thế, để thúc đẩy tình huynh đệ linh mục đích thực.


Câu hỏi thứ tư

Thưa Đức Thánh Cha, trong ngày ngài được tuyển chọn, con chợt nhận ra rằng bây giờ con là một trong những linh mục cao tuổi nhất. Ngay cả Đức Giáo hoàng cũng trẻ hơn con một tuổi! Và khi con tham dự các cuộc họp tại Khu Tông tòa, mọi người đều trẻ hơn con – từ Đức Hồng y, Đức Phó Đại diện, Đức Giám mục, các Giám đốc – và vì thế, đó là một kinh nghiệm thường xuyên về tuổi này, bây giờ là trưởng thành.

Trong giáo xứ có một đức cha hưu trí lớn tuổi hơn con, nhưng có ba linh mục từ các giáo phận khác nhau, và ở đó chúng con có kinh nghiệm đẹp về tình huynh đệ, để tiếp tục cuộc thảo luận rất quan trọng này. Và những Cha trẻ này là một kho tàng. Vì vậy, con đại diện cho thế hệ các linh mục cao niên; hôm nay con là tiếng nói của tất cả các linh mục đã cao tuổi. Nhiều Cha cảm thấy cô đơn sau một cuộc đời hiến dâng trọn vẹn cho Tin Mừng và cho Giáo hội: sau biết bao nhiêu con người, là bấy nhiêu sự cô đơn.

Đáng tiếc là nhiều Cha, bị ghi dấu bởi bệnh tật, đã phải lùi bước ngay cả trước tuổi nghỉ hưu. Câu hỏi gồm hai phần: Đức Thánh Cha có gợi ý gì cho những người trong chúng con đang cô đơn và bệnh tật, những người giờ đây dâng lên sự mong manh và những giới hạn của mình lên Chúa Giêsu, cùng với Bánh Thánh Thể, làm hy lễ? Nhưng con cũng xin hỏi người điều này, thưa Đức Thánh Cha: làm thế nào chúng con, với tư cách là những linh mục cao niên trong linh mục đoàn của mình, có thể giúp các linh mục trẻ hơn giữ được sự trẻ trung thiêng liêng, nhiệt thành trong việc loan báo Lời Chúa, say mê trong việc xây dựng Giáo hội là hiền thê của Đức Kitô?


Trả lời của Đức Thánh Cha Lêô XIV

Một điều tôi muốn nói là: cho dù chúng ta không thể làm mọi sự cách hoàn hảo, chúng ta cũng phải chuẩn bị cho mình trong cuộc sống, theo một nghĩa nào đó, để khi thời điểm đến, chúng ta có thể đón nhận tuổi già, sự yếu đau, bệnh tật và cả cô đơn. Tuy nhiên, nếu một người đã sống cả cuộc đời với tinh thần đối thoại, tình bạn, hiệp thông và huynh đệ, người đó thực sự có thể tìm thấy những câu trả lời rất cụ thể cho kinh nghiệm cô đơn và đau bệnh này chẳng hạn.

Có những người – chúng ta hãy nói thẳng điều này – ngay cả khi còn trẻ, đã đi qua cuộc đời với một sự cay đắng nào đó, chưa bao giờ biết đến kinh nghiệm về tình bạn, tình huynh đệ hay sự hiệp thông. Và vì thế, ngay cả khi còn trẻ, hoặc từ tuổi trung niên trở đi, họ sống với sự cay đắng ấy, không bao giờ hài lòng với bất cứ điều gì và luôn mang một tinh thần có phần tiêu cực này.

Nếu chúng ta sống trọn cuộc đời mình như một hành trình đưa chúng ta tiến về phía trước, ngay cả với sức nặng của năm tháng, và nhiều khi – dù trẻ hay già – mang những bệnh tật, những khó khăn ấy, nhờ ơn Chúa, chúng ta sẽ có khả năng đón nhận thập giá, sự đau khổ khi nó đến, bởi vì chúng ta sẽ đón nhận với cùng một tinh thần cầu nguyện và hy sinh mà chúng ta muốn có trong ngày thụ phong linh mục, khi chúng ta thưa với Chúa: “Vâng, lạy Chúa, con muốn theo Chúa trong mọi sự, và con sẽ đón nhận những gì cuộc đời mang đến cho con như một phần trong thánh ý của Chúa”.

Vì vậy, điều cần thiết ở đó là một nền linh đạo toàn diện phải được vun trồng thậm chí từ thời Chủng viện trở đi. Tôi không thể nói với một thanh niên 22 tuổi: “Hãy chuẩn bị cho mình khi con 80 tuổi”, nhưng tất cả là một hành trình, tất cả là một cách bước vào đời với một tinh thần biết ơn. Tôi vẫn chưa nói về điều này, nhưng bắt đầu với lòng tri ân vì đã được gọi làm linh mục. Vì chúng ta rất thường quên rằng ơn gọi của chúng ta lớn lao biết dường nào, và nó quan trọng như thế nào với đời sống Giáo hội. Không phải với tinh thần giáo sĩ trị – “Tôi đây” – nhưng bởi vì Chúa đã gọi chúng ta làm bạn hữu của Người, làm môn đệ, làm người phục vụ của toàn thể dân Người, và điều đó thật đẹp! Vì vậy, sống với tinh thần tri ân ngay từ ngày đầu tiên của đời linh mục sẽ giúp tôi sống, ngay cả khi là một người già, khi là một người vác thập giá của bệnh tật, để thưa: “Cảm tạ Chúa vì cuộc sống, vì ân huệ Chúa đã ban cho con”.

Anh em biết rất rõ rằng tại nhiều quốc gia – ở Châu Âu, ở Ý... Ở Canada đã trở thành hợp pháp – cái chết êm dịu đang được bàn luận ở nhiều nơi: vấn đề về cuối đời, những người không còn thấy ý nghĩa của cuộc sống và đang ở đó với thập giá của một căn bệnh và nói: “Tôi không muốn mang thứ này nữa, tôi muốn tự kết thúc đời mình”. Nếu chúng ta quá tiêu cực về cuộc sống của mình, và đôi khi còn ít đau khổ hơn nhiều so với người khác phải chịu, làm sao chúng ta có thể nói với họ: “Không, bạn không thể tự kết thúc đời mình, bạn phải chấp nhận...”? Nhưng rồi chính chúng ta lại cư xử theo cách như vậy, rất tiêu cực về mọi sự. Nghĩa là, chúng ta phải là những chứng nhân đầu tiên cho thực tế rằng sự sống có giá trị lớn lao. Và lòng biết ơn suốt cả cuộc đời là điều hết sức quan trọng.

Lòng khiêm nhường nữa. Khiêm nhường: thái độ muốn nhìn nhận rằng không phải là tôi, nhưng chính Chúa đã cho tôi sự sống, chính Chúa là Đấng đồng hành với tôi và ẵm tôi trong vòng tay của Người, ngay cả trong những lúc tôi yếu đuối nhất. Chúa ở đó với chúng ta. Và sống với tinh thần này mang lại sự sống, mang lại niềm hy vọng.

Thêm vào đó là sự gần gũi. Và ở đây tôi muốn mời gọi tất cả anh em hiện diện suy nghĩ: chắc chắn tất cả chúng ta đều biết một số người già, một số người bệnh tật, linh mục, giáo dân, tu sĩ... những người đang trải qua những khoảnh khắc vô cùng khó khăn. Chúng ta hãy gọi điện cho họ, hãy đến thăm họ. Chúng ta cũng hãy cố gắng giúp đỡ những người đang đau khổ ấy. Về mặt cơ cấu, trong quá khứ, điều này phổ biến đối với linh mục ở giáo xứ – tôi không rõ, ví dụ mỗi thứ Năm hàng tuần – mang Mình Thánh Chúa và Dầu (Bệnh nhân) đến thăm tất cả những người đau bệnh trong giáo xứ.

Ngày nay, với ít linh mục hơn và nhiều người già hơn, vấn đề trở thành: “Ồ thôi, cứ gửi giáo dân đi, họ sẽ làm việc đó”. Đó là một sự phục vụ đẹp mà giáo dân thực hiện, chẳng hạn như mang Mình Thánh Chúa đến tận nhà người bệnh. Nhưng điều này không có nghĩa là linh mục có thể ở nhà lướt Internet trong khi những người khác đang đi thăm viếng. Nghĩa là, đối với chúng ta, đó cũng là một sự phục vụ, một sứ vụ tông đồ, một hình thức mục vụ rất quan trọng để sống sự gần gũi với những người đau khổ.

Các linh mục cao niên cũng có một sự phục vụ phải thực hiện. Ngay cả khi các ngài đang nằm trên giường bệnh, nếu các ngài đã sống một đời phục vụ và hy sinh đích thực, các ngài biết rất rõ rằng lời cầu nguyện của mình cũng có thể là một sự phục vụ lớn lao, một món quà lớn lao. Cuộc đời các ngài vẫn có ý nghĩa lớn. Và các ngài vẫn có thể nhớ đến và đồng hành với nhiều người, nhiều hoàn cảnh và cộng đoàn đang cần lời cầu nguyện của mình. Để sống được tinh thần đó – dĩ nhiên, nếu ai đó đã không cầu nguyện trong bốn mươi năm thì nói: “Tôi đang nằm ở giường bệnh đây, tôi không biết phải làm gì”, thật là khó – ngay cả ở đó, chúng ta cần sống một sự đào luyện liên tục cho đời sống thiêng liêng của mình. Nó bắt đầu bằng sự chuẩn bị, trước khi chúng ta trở nên già yếu và bệnh tật.

Và ở đây tôi có thể thêm một điều nữa, cho tất cả mọi người, có thể mang nhiều hình thức khác nhau: chúng ta đừng ngại tiếp tục cách thực hành tốt đẹp của việc đồng hành thiêng liêng, có một ai đó trong đời hiểu rõ anh em. Một người bạn, cũng tốt. Nhưng thường là một cha giải tội tốt, có thể là một linh mục, một người có sự khôn ngoan thiêng liêng lớn lao, có thể đồng hành với anh em và giúp anh em trong những lúc gặp khó khăn lớn.

Tất cả chúng ta đều là con người, tất cả chúng ta đều trải qua những lúc khó khăn, đau đớn đủ loại, nhưng có một người chúng ta tin cậy, người có thể thực sự đồng hành với chúng ta rất gần gũi, trong trái tim, trong tinh thần, cũng là một món quà lớn mà chúng ta có thể nhận ra như một sự trợ giúp trong đời mình. Và một số Cha, tôi hy vọng rằng nhiều người trong anh em có được ơn này – không phải ai cũng có – rằng anh em cũng có ơn biết cách đồng hành với người khác khi họ đang trải qua khó khăn như thế.

Vì thế, không chỉ là một giai đoạn tuổi già, đó là cả một đời người mà chúng ta phải sống trong hành trình cùng nhau này, bước đi với Chúa Giêsu và lớn lên trong tinh thần đức tin, đức cậy và đức mến đích thực.

Đó là câu hỏi sau cùng. Nếu anh em hỏi thêm bất cứ điều gì nữa, tôi có thể không còn câu trả lời nào cho hôm nay! Nhưng tôi muốn nói lại một lần nữa, rất chân thành, rằng tôi rất vui mừng về cuộc gặp gỡ này với anh em. Thật đáng tiếc là nó không thể diễn ra thường xuyên hơn... Khi còn là giám mục giáo phận, tôi có cuộc gặp gỡ với các linh mục hàng tháng, và tôi nói điều này với các giám mục. Tôi nghe nói về một giáo phận nơi có vị giám mục đến trong mười phút đầu của buổi họp với hàng giáo sĩ, rồi rời đi... Tôi hy vọng đó không phải là anh em... nhưng đó là ở một quốc gia khác!

Chúng ta cần biết cách sống và đồng hành và cùng nhau bước đi, các hồng y, tổng giám mục, giám mục, linh mục đại diện, linh mục chánh xứ với các cha phó, sống tinh thần này. Không chỉ là những gì được viết trong một chương trình, mà là một tinh thần huynh đệ đích thực theo nghĩa này, và một sự dấn thân cùng nhau thực hiện sứ vụ của chúng ta trong việc phục vụ Giáo hội. Vì vậy, tôi chân thành chúc anh em có một hành trình Mùa Chay tốt đẹp, là thời gian hoán cải và niềm vui cho tất cả mọi người. Và ước mong chúng ta cũng có những cơ hội trong tương lai để sống tinh thần này. Chúng ta kết thúc bằng phép lành."


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 21/2/2026]


Thứ Bảy, 21 tháng 2, 2026

Tiếp kiến chung ngày 18.02.2026: Đức Thánh Cha Lêô XIV: “Giáo hội, dấu chỉ hữu hiệu của hiệp nhất và hòa giải trong một thế giới bị phân mảnh”

Đức Thánh Cha Lêô XIV: “Giáo hội, dấu chỉ hữu hiệu của sự hiệp nhất và hòa giải trong một thế giới bị phân mảnh”

Trong buổi Tiếp kiến chung Thứ Tư Lễ Tro, Đức Thánh Cha đã mở đầu phân tích Hiến chế “Lumen Gentium” của Công đồng Vatican II, trình bày Giáo hội như là “mầu nhiệm được làm cho hữu hình” và là bí tích cứu độ cho toàn thể nhân loại.

Tiếp kiến chung ngày 18.02.2026: Đức Thánh Cha Lêô XIV: “Giáo hội, dấu chỉ hữu hiệu của hiệp nhất và hòa giải trong một thế giới bị phân mảnh”

*******

Trong Quảng trường Thánh Phêrô đầy nắng, trùng với Thứ Tư Lễ Tro, đánh dấu bắt đầu Mùa Chay, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã chủ sự buổi tiếp kiến chung hàng tuần, tiếp tục loạt bài giáo lý về các văn kiện của Công đồng Vatican II. Sau năm bài suy niệm về Hiến chế Tín lý Dei Verbum (về Mặc khải Thiên Chúa), Đức Thánh Cha đã dành buổi hôm nay cho bài giáo lý đầu tiên về Hiến chế Lumen Gentium, Hiến chế Tín lý về Giáo hội, được phê chuẩn ngày 21 tháng 11 năm 1964.

Với tựa đề “Mầu nhiệm Giáo hội, bí tích kết hiệp với Thiên Chúa và hiệp nhất toàn thể nhân loại,” Đức Thánh Cha đã tái diễn giải thông điệp trung tâm của văn kiện Công đồng, nhấn mạnh rằng Giáo hội không phải là một thực tại tối tăm hay khó hiểu, nhưng là sự biểu lộ hữu hình cho chương trình của Thiên Chúa dành cho nhân loại.

Đức Lêô XIV giải thích rằng Công đồng đã tiếp nhận thuật ngữ “mầu nhiệm” từ các Thư của Thánh Phaolô, đặc biệt là Thư gửi tín hữu Êphêsô, để mô tả nguồn gốc của Giáo hội. Ngài khẳng định: “Thuật ngữ này không có nghĩa là điều gì đó bị che giấu hay huyền bí, mà là một thực tại trước đây ẩn kín nhưng nay đã được mặc khải.” Mầu nhiệm này chính là ý định của Thiên Chúa nhằm “quy tụ mọi loài thụ tạo nhờ hành động hòa giải của Đức Giêsu Kitô, được hoàn tất qua cái chết của Người trên thập giá.”

Tiếp kiến chung ngày 18.02.2026: Đức Thánh Cha Lêô XIV: “Giáo hội, dấu chỉ hữu hiệu của hiệp nhất và hòa giải trong một thế giới bị phân mảnh”

Trong một thế giới bị ghi dấu bởi sự phân mảnh và chia rẽ – nơi “tình trạng của nhân loại là một sự rạn nứt mà con người không thể tự mình hàn gắn” – Giáo hội xuất hiện như sự diễn đạt cụ thể của chương trình ấy: Giáo hội liên kết con người với Thiên Chúa và với nhau nhờ hành động của Đức Kitô. “Giáo hội là mầu nhiệm được làm cho hữu hình,” Đức Giáo hoàng nhấn mạnh, đồng thời lưu ý rằng điều này được cảm nghiệm cách đặc biệt trong cộng đoàn phụng vụ, nơi “những khác biệt được tương đối hóa” và điều cốt yếu là “cùng nhau quy tụ vì chúng ta được lôi cuốn bởi tình yêu của Đức Kitô, Đấng đã phá đổ bức tường ngăn cách giữa con người và các nhóm xã hội” (x. Êp 2:14).

Đức Thánh Cha nhắc lại những từ khóa của Hiến chế Lumen Gentium: “Giáo hội ở trong Đức Kitô như một bí tích, nghĩa là dấu chỉ và công cụ của sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại.” Giáo hội không chỉ là một dấu chỉ làm cho kế hoạch Thiên Chúa trở nên hữu hình trong lịch sử, nhưng còn là một công cụ qua đó Thiên Chúa lôi cuốn con người tham dự vào công trình cứu độ của Người.

Trích dẫn số 48 của văn kiện Công đồng, ngài nhấn mạnh rằng Đức Kitô Phục sinh, khi sai Chúa Thánh Thần đến, đã thiết lập Giáo hội như “bí tích cứu độ phổ quát,” luôn hoạt động để dẫn đưa con người đến với Giáo hội, kết hợp họ mật thiết hơn với Người, và cho họ được thông phần vào sự sống vinh hiển của Người bằng cách “nuôi dưỡng họ bằng Mình và Máu Người.”

Trong bối cảnh nhân loại đang bị chia rẽ, Giáo hội – như là thân thể của Đức Kitô Phục sinh và là Dân duy nhất của Thiên Chúa đang lữ hành trong lịch sử – hiện diện như một “sự hiện diện thánh hóa” và là “dấu chỉ hữu hiệu của sự hiệp nhất và hòa giải giữa các dân tộc.” Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu tạ ơn vì được thuộc về cộng đoàn Hội Thánh và sống tư cách đó như một lời đáp trả tình yêu hòa giải của Đức Kitô.

Buổi Tiếp kiến, quy tụ hàng ngàn tín hữu hành hương dù đã bước vào Mùa Chay, kết thúc với phép lành Tông Tòa truyền thống và lời chào bằng nhiều ngôn ngữ. Bài giáo lý này đánh dấu sự khởi đầu cho việc tìm hiểu sâu về Hiến chế Lumen Gentium, hứa hẹn làm sáng tỏ vai trò của Giáo hội trong thế giới đương đại như một ngọn hải đăng của hy vọng và hiệp nhất giữa những chia rẽ của con người.

Toàn văn bài giáo lý:

ĐỨC LÊÔ XIV
TIẾP KIẾN CHUNG

Quảng trường Thánh Phêrô
Thứ Tư, ngày 18 tháng 2 năm 2026

___________________________________


Giáo lý: Các Văn kiện của Công đồng Vatican II. II. Hiến chế Tín lý Lumen Gentium. 1. Mầu nhiệm Giáo hội, bí tích kết hiệp với Thiên Chúa và hiệp nhất toàn thể nhân loại.


Anh chị em thân mến, chào mừng anh chị em!

Khi Công đồng Vatican II, mà chúng ta đang dành những bài giáo lý này để tìm hiểu về các văn kiện của Công đồng, muốn mô tả về Giáo hội, trước hết Công đồng quan tâm đến việc giải thích nguồn gốc của Giáo hội nằm ở đâu. Để thực hiện điều ấy, trong Hiến chế Tín lý Lumen gentium, được phê chuẩn ngày 21 tháng 11 năm 1964, Công đồng đã rút ra thuật ngữ “mầu nhiệm” từ các Thư của Thánh Phaolô. Khi chọn từ này, Công đồng không có ý nói rằng Giáo hội là một điều gì đó mơ hồ hay khó hiểu, như người ta thường nghĩ khi nghe từ “mầu nhiệm”. Hoàn toàn ngược lại, khi Thánh Phaolô sử dụng từ này, nhất là trong Thư gửi tín hữu Êphêsô, ngài muốn chỉ ra một thực tại trước đây ẩn kín và nay đã được mạc khải.

Đó là kế hoạch của Thiên Chúa, kế hoạch đó có một mục đích: quy tụ muôn loài thụ tạo nhờ hành động hòa giải của Đức Giêsu Kitô, một hành động được hoàn tất trong cái chết của Người trên thập giá. Điều này trước hết được cảm nghiệm trong cộng đoàn quy tụ để cử hành phụng vụ: ở đó, những khác biệt trở nên tương đối, và điều quan trọng là cùng nhau hiện diện vì chúng ta được lôi cuốn bởi Tình yêu của Đức Kitô, Đấng đã phá đổ bức tường ngăn cách giữa con người và các nhóm xã hội (x. Êp 2:14). Đối với Thánh Phaolô, mầu nhiệm là sự biểu lộ những gì Thiên Chúa muốn thực hiện cho toàn thể nhân loại, và được nhận biết qua những kinh nghiệm tại địa phương, rồi dần dần mở rộng để bao gồm mọi con người và thậm chí là toàn thể vũ trụ.

Tình trạng của nhân loại là sự phân mảnh mà con người không thể tự mình hàn gắn, mặc dù xu hướng hướng tới hiệp nhất luôn cư ngụ trong tâm hồn họ. Hành động của Chúa Giêsu Kitô đi vào tình trạng này thông qua quyền năng của Chúa Thánh Thần, và chiến thắng các thế lực chia rẽ cũng như chính Kẻ Chia rẽ. Việc quy tụ lại để cử hành, sau khi đã tin vào lời loan báo Tin Mừng, được cảm nghiệm như một sức hút phát xuất từ thập giá Đức Kitô, là biểu hiện tối thượng của tình yêu Thiên Chúa. Đó là cảm nhận được Thiên Chúa kêu gọi quy tụ lại với nhau: đây là lý do tại sao thuật ngữ ekklesía được sử dụng, nghĩa là một cộng đoàn những người nhận biết rằng họ được hiệu triệu quy tụ cùng nhau. Vì vậy, có một sự trùng hợp chắc chắn giữa mầu nhiệm này và Giáo hội: Giáo hội chính là mầu nhiệm được làm cho hữu hình.

Việc triệu tập này, chính vì do Thiên Chúa thực hiện, nên không thể bị giới hạn trong một nhóm người, mà đúng hơn là nhằm mục đích để trở thành kinh nghiệm của toàn thể nhân loại. Vì thế, Công đồng Vatican II, ngay từ đầu Hiến chế Lumen gentium, đã tuyên bố rằng: “Trong Đức Kitô, Giáo Hội như là bí tích, nghĩa là dấu chỉ và phương tiện hiệp thông mật thiết với Thiên Chúa và hợp nhất mọi người” (số 1). Qua việc sử dụng thuật ngữ “bí tích” cùng với lời giải thích đi kèm, Công đồng có ý chỉ ra rằng Giáo hội là sự diễn đạt những gì Thiên Chúa muốn thực hiện trong lịch sử nhân loại; do đó, khi nhìn vào Giáo hội, chúng ta có thể phần nào nắm bắt được chương trình của Thiên Chúa, tức là mầu nhiệm. Theo nghĩa này, Giáo hội là một dấu chỉ. Ngoài ra, thuật ngữ “phương tiện” được thêm vào sau thuật ngữ “bí tích”, chính là để cho thấy Giáo hội là một dấu chỉ năng động. Thật vậy, khi Thiên Chúa hành động trong lịch sử, Người lôi cuốn vào hoạt động của Người chính những con người vốn là đối tượng của hành động ấy. Chính thông qua Giáo hội mà Thiên Chúa đạt được mục tiêu dẫn đưa con người đến với Người và hiệp nhất họ với nhau.

Sự kết hiệp với Thiên Chúa được phản chiếu trong sự hiệp nhất giữa con người với nhau. Đó là kinh nghiệm của ơn cứu độ. Không phải ngẫu nhiên mà trong Hiến chế Lumen gentium, tại Chương 7 nói về bản tính cánh chung của Giáo hội lữ hành, lại một lần nữa sử dụng cách mô tả Giáo hội như một bí tích, với sự xác định cụ thể là “của ơn cứu độ”: “Khi được giương lên cao khỏi đất, Đức Kitô đã kéo mọi người lên với Người (x. Ga 12:32); khi từ cõi chết sống lại (x. Rm 6:9), Người đã sai Thánh Thần ban sự sống đến với các môn đệ, và nhờ Chúa Thánh Thần, Người thiết lập Thân Mình Người là Giáo Hội như bí tích phổ quát của ơn cứu độ; nay ngự bên hữu Chúa Cha, Người không ngừng tác động trong thế giới để dẫn đưa mọi người đến với Giáo Hội, và qua Giáo Hội, kết hợp họ mật thiết hơn với Người, và khi nuôi dưỡng họ bằng chính Mình Máu của Người”.

Văn bản này giúp chúng ta hiểu được mối tương quan giữa hành động hiệp nhất của mầu nhiệm Vượt qua của Chúa Giêsu, tức là mầu nhiệm khổ nạn, cái chết và phục sinh, với căn tính của Giáo hội. Đồng thời, đoạn văn làm cho chúng ta biết ơn vì được thuộc về Giáo hội, thân thể của Đức Kitô Phục sinh và là Dân duy nhất của Thiên Chúa đang lữ hành trong lịch sử, đang sống như một sự hiện diện thánh hóa giữa một nhân loại còn bị phân mảnh, như một dấu chỉ hữu hiệu của sự hiệp nhất và hòa giải giữa các dân tộc.

____________________________________________________


Lời chào đặc biệt

Tôi thân ái chào mừng tất cả các tín hữu hành hương và du khách nói tiếng Anh tham dự buổi Tiếp kiến hôm nay, đặc biệt là những anh chị em đến từ Anh, Scotland, Ireland, Phần Lan, Hà Lan, Philippines và Hoa Kỳ. Cha đặc biệt chào các sinh viên của Trung tâm Rome thuộc Đại học Loyola Chicago. Khi chúng ta bắt đầu hành trình Mùa Chay hôm nay, chúng ta hãy xin Chúa ban cho chúng ta ơn hoán cải tâm hồn thực sự để chúng ta có thể đáp lại tình yêu của Người dành cho chúng ta một cách tốt đẹp hơn và sẻ chia tình yêu đó với những người xung quanh.

Tôi khẩn xin niềm vui và sự bình an của Chúa Giêsu Kitô đổ xuống trên anh chị em và gia đình. Xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả anh chị em!


[Nguồn: exaudi]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 20/2/2026]


Tiếp kiến các tham dự viên Đại hội Toàn thể của Hàn lâm viện Tòa Thánh về Sự sống, 16.02.2026

Tiếp kiến các tham dự viên Đại hội Toàn thể của Hàn lâm viện Tòa Thánh về Sự sống, 16.02.2026

Tiếp kiến các tham dự viên Đại hội Toàn thể của Hàn lâm viện Tòa Thánh về Sự sống, 16.02.2026

Sáng nay, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã tiếp kiến các tham dự viên Đại hội Toàn thể của Hàn lâm viện Tòa Thánh về Sự sống tại Điện Tông tòa Vatican.

Sau đây là diễn văn của Đức Thánh Cha gửi tới những người hiện diện tại cuộc gặp gỡ:


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.
Bình an ở cùng anh chị em.

Chào mừng tất cả anh chị em!

Kính thưa các Đức Hồng y,
Kính thưa các Đức Giám mục,
Thưa các thành viên của Hàn lâm viện,
Anh chị em thân mến,

Tôi rất vui mừng được gặp gỡ anh chị em lần đầu tiên, cùng với vị Chủ tịch mới của anh chị em là Đức ông Renzo Pegoraro. Tôi cảm ơn anh chị em vì công trình nghiên cứu khoa học phục vụ sự sống con người, cũng như về công việc mà Hàn lâm viện Tòa Thánh đã thực hiện.

Tôi đánh giá cao chủ đề mà anh chị em đã chọn cho cuộc họp năm nay: Chăm sóc sức khỏe cho tất cả mọi người. Tính Bền vững và Công bằng. Chủ đề này hết sức quan trọng, cả về tính thời sự lẫn ý nghĩa biểu tượng của nó. Thật vậy, trong một thế giới đầy những vết sẹo do các cuộc xung đột, tiêu tốn những nguồn lực kinh tế, công nghệ và tổ chức khổng lồ cho việc sản xuất vũ khí và các loại thiết bị quân sự khác, thì việc dành thời gian, nhân lực và chuyên môn để bảo vệ sự sống và sức khỏe chưa bao giờ quan trọng hơn thế. Về điểm này, Đức Thánh Cha Phanxicô đã khẳng định rằng sức khỏe “không phải là một món hàng tiêu dùng, mà là một quyền phổ quát, nghĩa là việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe không thể là một đặc quyền” (Diễn văn gửi Tổ chức "Doctors with Africa – CUAMM”, ngày 7 tháng 5 năm 2016). Vì thế, tôi cảm ơn anh chị em đã chọn chủ đề này.

Khía cạnh đầu tiên mà tôi muốn nhấn mạnh là mối liên hệ giữa sức khỏe của cộng đồng và sức khỏe của từng cá nhân. Đại dịch Covid-19 đã chứng minh điều này, đôi khi theo một cách nghiệt ngã. Thật vậy, tính tương hỗ và sự phụ thuộc lẫn nhau là cơ sở cho sức khỏe và chính sự sống của chúng ta đã trở nên rõ ràng. Việc nghiên cứu sự phụ thuộc lẫn nhau này đòi hỏi đối thoại giữa các lãnh vực tri thức khác nhau: y khoa, chính trị, luân lý, quản trị và các ngành khác. Nó giống như một bức tranh khảm, mà sự thành công phụ thuộc vào cả việc lựa chọn các mảnh ghép lẫn cách kết hợp chúng với nhau.

Thật vậy, trong các vấn đề liên quan đến hệ thống chăm sóc sức khỏe và sức khỏe cộng đồng, một mặt cần phải hiểu rõ các hiện tượng, và mặt khác là xác định những hành động chính trị, xã hội và công nghệ cụ thể có tác động đến gia đình, việc làm, môi trường và toàn thể xã hội. Do đó, trách nhiệm của chúng ta không chỉ dừng lại ở việc thực hiện các biện pháp điều trị bệnh và bảo đảm quyền tiếp cận công bằng với dịch vụ y tế, mà còn phải nhận thức rằng sức khỏe bị ảnh hưởng và được thăng tiến bởi sự kết hợp của một tổ hợp các yếu tố, cần được xem xét và đối diện trong tính phức tạp của chúng.

Về vấn đề này, tôi muốn nhắc lại rằng sự tập trung của chúng ta không phải “vào lợi nhuận tức thời, nhưng vào những gì tốt đẹp nhất cho mọi người, biết kiên nhẫn, quảng đại và hỗ trợ, tạo ra các mối dây liên kết và xây dựng những nhịp cầu, làm việc theo mạng lưới, tối ưu hóa các nguồn lực, để mọi người đều có thể cảm thấy mình là chủ thể và là người thụ hưởng của công việc chung” (Diễn văn gửi các tham dự viên Hội thảo “Về Đạo đức và Quản trị Kinh doanh trong Lĩnh vực Y tế”, ngày 17 tháng 11 năm 2025).

Từ đây, chúng ta đi đến chủ đề phòng ngừa, một chủ đề cũng đòi hỏi tầm nhìn rộng lớn, bởi vì những hoàn cảnh mà các cộng đồng đang sống là kết quả của các chính sách xã hội và môi trường, và chúng có tác động đến sức khỏe cũng như sự sống của con người. Khi nhìn vào tuổi thọ và chất lượng sức khỏe ở các quốc gia và các nhóm xã hội khác nhau, chúng ta phát hiện ra những bất bình đẳng rất lớn. Những điều này phụ thuộc vào các biến số như mức thu nhập, trình độ học vấn đạt được và khu vực sinh sống. Thật đáng buồn, ngày nay chúng ta cũng phải đối mặt với những cuộc chiến tranh tác động đến các cấu trúc dân sự, kể cả bệnh viện, là những cuộc tấn công nghiêm trọng nhất mà bàn tay con người có thể gây ra chống lại sự sống và sức khỏe cộng đồng. Người ta thường nói rằng sự sống và sức khỏe là những giá trị nền tảng bình đẳng cho tất cả mọi người, nhưng tuyên bố này trở thành đạo đức giả nếu, đồng thời, chúng ta phớt lờ các nguyên nhân thuộc về cơ cấu và các chính sách tạo nên sự bất bình đẳng. Trong thực tế, bất chấp những tuyên ngôn và phát biểu ngược lại, không phải mọi sự sống đều được tôn trọng như nhau, và sức khỏe cũng không được bảo vệ hay thăng tiến theo cùng một cách thức cho tất cả mọi người.

Khái niệm One Health (Một Sức khỏe) có thể giúp chúng ta làm nền tảng cho cách tiếp cận toàn cầu, đa ngành và tích hợp đối với các vấn đề sức khỏe. Nó nhấn mạnh đến chiều kích môi trường và sự phụ thuộc lẫn nhau của các hình thức sự sống khác nhau cũng như những yếu tố sinh thái cho phép chúng phát triển cân bằng. Do đó, điều quan trọng là phải gia tăng nhận thức rằng sự sống con người là không thể hiểu thấu và không thể bền vững nếu thiếu các thụ tạo khác. Thật vậy, trích dẫn lời Thông điệp Laudato Si’, “tất cả chúng ta đều được liên kết với nhau bằng những mối dây ràng buộc vô hình và cùng nhau tạo nên một gia đình hoàn vũ, một sự hiệp thông cao cả đổ đầy trong chúng ta lòng tôn trọng thánh thiêng, trìu mến và khiêm nhường” (số 89). Cách tiếp cận này rất phù hợp với đạo đức sinh học toàn cầu mà Hàn lâm viện của anh chị em đã nhiều lần chú trọng và anh chị em cần tiếp tục vun trồng.

Được hiểu theo nghĩa hành động công, One Health đòi hỏi phải tổng hợp thành hệ thống những cân nhắc liên quan đến sức khỏe vào tất cả các chính sách (giao thông, nhà ở, nông nghiệp, việc làm, giáo dục, v.v.), vì các vấn đề sức khỏe chạm đến mọi khía cạnh của đời sống. Vì vậy, chúng ta cần củng cố sự hiểu biết và thúc đẩy ích chung, để ích chung không bị vi phạm dưới áp lực của những lợi ích cá nhân hoặc quốc gia riêng biệt.

Ích chung — một trong những nguyên tắc nền tảng của học thuyết xã hội của Giáo hội — có nguy cơ chỉ còn là một khái niệm trừu tượng và thiếu thực tế nếu chúng ta không nhìn nhận rằng nó bén rễ trong việc nuôi dưỡng những mối tương quan gần gũi giữa người với người và các mối gắn kết giữa các thành viên trong xã hội. Đây là mảnh đất để một nền văn hóa dân chủ có thể lớn lên, một nền văn hóa khuyến khích sự tham gia và có khả năng kết hợp tính hiệu quả, tình liên đới và công lý. Chúng ta cần tái khám phá thái độ căn bản của việc chăm sóc như một sự nâng đỡ và gần gũi với người khác, không chỉ vì ai đó đang túng thiếu hoặc đau ốm, nhưng bởi vì họ đang trải qua tình trạng dễ bị tổn thương, tình trạng dễ bị tổn thương vốn là đặc tính chung của tất cả mọi người. Chỉ bằng cách này, chúng ta mới có thể phát triển các hệ thống chăm sóc sức khỏe hiệu quả và bền vững hơn, có khả năng đáp ứng mọi nhu cầu về sức khỏe trong một thế giới có nguồn lực giới hạn, cũng như khôi phục niềm tin vào y khoa và các chuyên gia y tế, bất kể những thông tin sai lệch hoặc sự hoài nghi đối với khoa học.

Xét đến tầm quan trọng toàn cầu của vấn đề này, tôi nhắc lại sự cần thiết phải tìm ra các phương thế hiệu quả để củng cố những mối quan hệ quốc tế và đa phương, để chúng “có thể lấy lại sức mạnh cần thiết để thực hiện vai trò gặp gỡ và hòa giải. Điều này thực sự cần thiết trong việc ngăn ngừa những xung đột và bảo đảm rằng không ai bị cám dỗ áp đặt lên người khác bằng tư duy của sức mạnh, dù là lời nói, thể lý hay quân sự” (Diễn văn trước các Thành viên Ngoại giao đoàn, ngày 9 tháng 1 năm 2026). Tầm nhìn này cũng áp dụng cho sự hợp tác và điều phối được thực hiện bởi các tổ chức siêu quốc gia tham gia vào việc bảo vệ và thăng tiến sức khỏe.

Và vì thế, thưa các bạn, tôi kết thúc bằng việc bày tỏ hy vọng rằng cam kết của các bạn sẽ trở thành chứng tá hữu hiệu cho việc chăm sóc lẫn nhau, là điều diễn tả cách Thiên Chúa đối xử với chúng ta, vì Người chăm sóc tất cả mọi người con của mình. Tôi ban phép lành cho từng người trong anh chị em, cho những người thân yêu của anh chị em và công việc anh chị em đang thực hiện. Cảm ơn anh chị em.

Chúng ta cùng cầu nguyện

Lạy Cha chúng con…

Chúa ở cùng anh chị em…


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 19/2/2026]


Tiếp kiến các Tỉnh trưởng của Ý, 16.02.2026

Tiếp kiến các Tỉnh trưởng của Ý, 16.02.2026

Tiếp kiến các Tỉnh trưởng của Ý, 16.02.2026

Sáng nay, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã tiếp kiến các Tỉnh trưởng của Ý tại Điện Tông tòa Vatican, và ngài có diễn văn sau đây gửi tới họ:

Diễn văn của Đức Thánh Cha

Thưa Ngài Bộ trưởng,
Thưa quý Tỉnh trưởng,

Tôi xin gửi lời chào thân ái đến từng người trong quý vị, và tôi cảm ơn quý vị về chuyến viếng thăm này, khẳng định cho cam kết cùng nhau làm việc vì thiện ích của xã hội Ý, tùy theo vai trò của mỗi người. Thánh bổn mạng của quý vị, Thánh Ambrôsiô thành Milan, là hiện thân của một mẫu gương sáng ngời về sự hội tụ giữa Nhà nước và Giáo hội: với vai trò là tỉnh trưởng của thành phố lớn khi đó, từng là thủ đô của đế quốc, ngài đã trở thành giám mục của nơi ấy với sự tung hô của dân chúng, như người ta vẫn kể. Sau sự chuyển đổi nhanh chóng đó, Thánh Ambrôsiô đã thực thi các chức vụ công của mình theo một cách thức mới, đặt quyền bính thiêng liêng mà ngài được trao phó để phục vụ dân chúng.

Vào thời hậu cổ đại, một sự tương đồng nhất định giữa vai trò của tỉnh trưởng và thừa tác vụ giám mục cũng được thể hiện qua các danh xưng và tước hiệu được sử dụng để chỉ về việc quản trị công lẫn việc điều hành cộng đoàn Kitô hữu. Cả những công dân La Mã và các môn đệ của Chúa Giêsu đều được tổ chức thành những giáo phận, hay các địa hạt được đứng đầu bởi các tổng trấn pháp quan hoặc bởi những episkopoi, tức là các giám mục, những vị coi sóc dân chúng như những mục tử nhân lành.

Mối liên hệ lịch sử này vẫn soi sáng sứ mệnh của quý vị hôm nay, đó là phục vụ Nhà nước bằng cách bảo đảm trật tự công cộng và sự an toàn cho mọi công dân. Đặc biệt trong thời đại của chúng ta, bị đánh dấu bởi những xung đột và căng thẳng quốc tế, càng làm nổi bật tầm quan trọng của việc bảo vệ ích chung, một giá trị không thể giản lược vào các khía cạnh vật chất, vì trước hết nó gắn liền với di sản đạo đức và tinh thần của nước Cộng hòa Ý. Chính trong sự chung sống dân sự mà những giá trị này tìm thấy các điều kiện tốt nhất để lan tỏa và tiến bộ.

Bằng cách giám sát sự hòa hợp xã hội, vị Tỉnh trưởng góp phần bảo vệ điều kiện tiên quyết không thể thiếu đối với tự do và các quyền của công dân. Toàn thể dân chúng được hưởng lợi từ sự phục vụ này, đặc biệt là các nhóm dễ bị tổn thương nhất. Thật vậy, khi không gian dân sự không có sự bất ổn, người nghèo sẽ dễ dàng được đón nhận hơn, người già cảm thấy an tâm hơn, và các dịch vụ dành cho gia đình, bệnh nhân và giới trẻ được cải thiện, thúc đẩy một cái nhìn tin tưởng hơn vào tương lai.

Vì thế, trật tự công cộng không chỉ liên quan đến cuộc đấu tranh cần thiết chống tội phạm hay việc ngăn ngừa các cuộc bạo loạn gây hại; nó còn đòi hỏi một cam kết kiên trì chống lại những hình thức bạo lực, sự dối trá và thô tục làm tổn thương thân thể xã hội. Ở khía cạnh tích cực, nhiệm vụ giám sát của quý vị nhằm mục đích nuôi dưỡng những mối quan hệ xã hội và xây dựng những thỏa thuận ngày càng hiệu quả giữa các cơ quan trung ương của nhà nước, chính quyền địa phương và công dân.

Về vấn đề này, thật đáng để nhắc lại giáo huấn của Thánh Augustinô, người đã được Thánh Ambrôsiô rửa tội. Vị Giám mục thành Hippo viết: “Những người cai quản phục vụ những người mà họ dường như ra lệnh; vì họ cai quản không vì lòng ham muốn quyền lực, mà từ ý thức về bổn phận mà họ mắc nợ đối với người khác” (De civitate Dei, XIX, 14). Nguyên tắc cơ bản này phù hợp với các quy định của Hiến pháp Ý, được tuyên bố tại Điều 98: “Công chức chỉ phục vụ duy nhất Quốc gia”. Khi thiết lập tính chuyên biệt này, Hiến pháp chứng thực ý nghĩa nền tảng cho sự phục vụ cao quý của quý vị, sự phục vụ chắc chắn tuân thủ các luật của Nhà nước, nhưng thậm chí còn hơn thế nữa đối với lương tâm, để nhận biết, hiểu thấu và áp dụng chúng với sự kiên định và công bằng. Thật vậy, một mặt luật pháp là sự thể hiện ý chí của nhân dân; mặt khác, lương tâm diễn giải nhân tính cá nhân của quý vị: cả hai phải được giữ tránh bị áp lực, thực thi đồng thời sự nghiêm minh và lòng khoan dung như những đức tính được điều hòa tốt nơi những con người chính trực.

Quý vị ý thức rõ về kỷ luật nội tâm cần thiết để quản trị và thúc đẩy trật tự trong chính tư tưởng của mình, trước khi thực hiện cho nước Cộng hòa; chính vì thế, phục vụ Quốc gia có nghĩa là dấn thân với tâm trí sáng suốt và lương tâm liêm chính cho cộng đồng, cụ thể là cho ích chung của dân tộc Ý. Về phương diện này, chức vụ cao trọng mà quý vị nắm giữ đòi hỏi một chứng tá hai chiều. Chứng tá thứ nhất đạt được thông qua sự hợp tác giữa các cơ quan hành chính và các cấp bậc khác nhau của Nhà nước; chứng tá thứ hai đạt được bằng cách kết nối trách nhiệm nghề nghiệp và đạo đức trong cuộc sống, như một tấm gương về sự dấn thân cho đồng bào, đặc biệt là các thế hệ trẻ. Về mặt này, tôi hy vọng quyền hạn của quý vị sẽ góp phần cải thiện hình ảnh của bộ máy hành chính, hợp tác để làm cho việc chăm sóc xã hội ngày càng trở nên nhân đức hơn.

Đặc biệt trong những tình huống khẩn cấp, đối mặt với thiên tai và hiểm nguy, vai trò của quý vị cho phép quý vị thể hiện trọn vẹn các giá trị của sự đoàn kết, lòng can đảm và công lý làm rạng danh nước Cộng hòa Ý. Chiều sâu đạo đức của sự phục vụ của quý vị cũng được thể hiện trong những thách đố do các công nghệ mới đặt ra, chẳng hạn như trí tuệ nhân tạo, hiện đang được áp dụng trong quản lý hành chính công. Những công cụ này phải được quản trị cách thận trọng, không chỉ để bảo vệ dữ liệu cá nhân, mà còn vì lợi ích của tất cả mọi người, không đặt ra những điều kiện ưu tiên thuộc nhóm tinh hoa.

Khi vun trồng phong cách công dân có ý thức, trung thực và tích cực, xin quý vị biết rằng quý vị luôn có thể tin tưởng vào sự cộng tác và tôn trọng của Giáo hội. Những mối tương quan mang tính xây dựng mà quý vị duy trì với các Giám mục giáo phận đặc biệt thuận lợi cho việc tiếp nhận người di cư và nhiều hình thức hỗ trợ cho những người túng thiếu, cho phép chúng ta có thể cùng nhau hoạt động ở tuyến đầu, cũng như trong việc quản lý các vấn đề thực tế khác, chẳng hạn như các hội đồng giáo xứ. Do đó, đức tin của cộng đoàn Kitô hữu và các giá trị tôn giáo mà cộng đoàn đó thể hiện góp phần vào sự phát triển văn hóa và xã hội của nước Ý.

Thưa quý bà và quý ông, xin cầu chúc những thành công tốt đẹp nhất cho từng người trong quý vị, tôi ban phép lành cho quý vị, cho sự phục vụ và gia đình của quý vị.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 20/2/2016]


Thứ Hai, 16 tháng 2, 2026

Kinh Truyền Tin của Đức Thánh Cha ngày 15.02.2026: “Chúa Giêsu dạy chúng ta rằng công lý đích thực là yêu thương”

“Chúa Giêsu dạy chúng ta rằng công lý đích thực là yêu thương”

Huấn từ Kinh Truyền Tin của Đức Thánh Cha

Kinh Truyền Tin của Đức Thánh Cha ngày 15.02.2026: “Chúa Giêsu dạy chúng ta rằng công lý đích thực là yêu thương”


Trưa hôm nay, Đức Thánh Cha Lêô XIV xuất hiện tại cửa sổ phòng làm việc của ngài trong Điện Tông Tòa Vatican để cùng đọc kinh Truyền tin với các tín hữu và khách hành hương quy tụ tại Quảng trường Thánh Phêrô.

Đức Thánh Cha suy niệm về một phần của Bài giảng trên Núi mặc khải ý nghĩa các giới răn trong Luật Môsê và chỉ ra rằng trong mỗi giới răn, chúng ta phải nhận ra một “đòi hỏi của tình yêu.” “Điều cần thiết không phải là một thứ công lý tối thiểu, mà là một tình yêu lớn lao, điều chỉ có thể thực hiện nhờ quyền năng của Thiên Chúa.”

Dưới đây là nội dung huấn từ của Đức Thánh Cha trước khi đọc kinh kính Đức Mẹ:

*******

ĐỨC GIÁO HOÀNG LÊÔ XIV
KINH TRUYỀN TIN

Quảng trường Thánh Phêrô
Chúa nhật, ngày 15 tháng 02 năm 2026

___________________________________


Anh chị em thân mến, chúc anh chị em Chúa nhật hạnh phúc!

Hôm nay chúng ta lắng nghe một phần trong đoạn Tin Mừng về “Bài giảng trên Núi” (x. Mt 5:17-37). Sau khi công bố các Mối Phúc, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta bước vào sự mới mẻ của Nước Thiên Chúa. Để hướng dẫn chúng ta trên hành trình này, Ngài mặc khải ý nghĩa đích thực của các giới răn trong Luật Môsê. Những giới răn ấy không nhằm thỏa mãn nhu cầu của tôn giáo bề ngoài là cảm thấy mình “công chính” trước mặt Thiên Chúa, nhưng là để đưa chúng ta vào một mối tương quan yêu thương với Thiên Chúa và với anh chị em mình. Chính vì thế, Chúa Giêsu nói rằng Ngài đến không phải để bãi bỏ Lề Luật, nhưng là để kiện toàn Lề Luật (x. c. 17).

Lề Luật được kiện toàn chính nhờ tình yêu, điều mang lại ý nghĩa sâu sắc và mục đích tối hậu của Lề luật được hoàn tất. Chúng ta được mời gọi để đạt tới sự công chính “vượt quá” (x. c. 20) sự công chính của các kinh sư và người Pharisêu, một sự công chính không dừng lại ở việc tuân giữ các giới răn, nhưng mở lòng chúng ta ra với tình yêu và thúc bách chúng ta yêu thương. Chúa Giêsu xem xét một số giới răn của Lề Luật liên quan đến các trường hợp cụ thể, và sử dụng các công thức ngôn ngữ được gọi là “phản đề” (antinomy) để cho thấy sự khác biệt giữa sự công chính của tôn giáo hình thức và sự công chính của Nước Thiên Chúa: một đàng là, “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng,” và mặt khác, Chúa Giêsu khẳng định: “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết” (x. cc. 33,34).

Cách tiếp cận này rất quan trọng, vì nó cho thấy Lề Luật được ban cho ông Môsê và các ngôn sứ như một phương cách để nhận biết Thiên Chúa cùng kế hoạch của Người dành cho chúng ta và cho lịch sử, hoặc nói theo cách diễn đạt của Thánh Phaolô, như một “người quản giáo” dẫn chúng ta đến với Ngài (x. Gl 3:23-25). Nhưng giờ đây, chính Thiên Chúa, nơi con người của Chúa Giêsu, đã đến giữa chúng ta, kiện toàn Lề Luật, làm cho chúng ta trở nên con cái của Chúa Cha và ban ân sủng để chúng ta bước vào mối tương quan với Ngài như những người con, và với nhau như anh chị em.

Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu dạy chúng ta rằng sự công chính đích thực hệ tại ở tình yêu, và trong mỗi giới răn của Lề Luật, chúng ta phải học cách nhận ra tiếng gọi yêu thương. Thật vậy, sẽ không đủ nếu chỉ kiềm chế việc giết người về mặt thân xác, nhưng rồi sau đó lại giết chết họ bằng lời nói và làm tổn hại đến phẩm giá của người khác (x. Mt 5:21-22). Tương tự như vậy, sẽ không đủ nếu chỉ trung thành với vợ hoặc chồng về mặt luật định và không phạm tội ngoại tình nếu mối quan hệ ấy thiếu vắng sự dịu dàng, sự lắng nghe, tôn trọng, quan tâm đến nhau và những mục tiêu chung (x. cc. 27-28, 31-32). Chúng ta có thể thêm các ví dụ khác vào những ví dụ mà chính Chúa Giêsu đã đưa ra cho chúng ta. Tin Mừng đem đến cho chúng ta giáo huấn quý giá này: sự công chính tối thiểu là không đủ; cần phải có một tình yêu lớn lao.

Chúng ta cùng khẩn cầu Đức Trinh nữ Maria, Đấng đã trao tặng Chúa Kitô cho thế gian, Đấng kiện toàn Lề Luật và kế hoạch cứu độ. Xin Mẹ chuyển cầu cho chúng ta, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về Nước Thiên Chúa và sống theo tiếng gọi của sự công chính ấy.

________________


Sau kinh Truyền Tin:


Anh chị em thân mến,

Tôi bày tỏ sự gần gũi với người dân Madagascar vừa phải chịu ảnh hưởng của hai cơn lốc xoáy, lũ lụt và lở đất trong một thời gian ngắn. Tôi cầu nguyện cho các nạn nhân, gia đình của họ và cho tất cả những người đã phải chịu những thiệt hại nặng nề.

Trong những ngày tới, hàng triệu người ở Đông Á và các khu vực khác trên thế giới sẽ đón mừng Tết Nguyên Đán. Ước mong lễ hội đầy niềm vui này củng cố các mối dây gắn kết gia đình và bạn hữu, mang lại bình an cho các gia đình và xã hội, đồng thời là cơ hội để cùng nhau hướng về tương lai và xây dựng hòa bình, thịnh vượng cho tất cả mọi người. Tôi xin bày tỏ tình cảm của tôi với tất cả mọi người bằng những lời chúc tốt đẹp nhất cho năm mới, và khẩn cầu phúc lành của Chúa tuôn đổ trên mỗi anh chị em.

Tôi vui mừng gửi lời chào tất cả anh chị em, người dân Roma và anh chị em hành hương, đặc biệt là các tín hữu đến từ giáo xứ San Lorenzo ở Cadiz, Tây Ban Nha, và từ vùng Marche.

Cha cũng chào đón các học sinh và thầy cô giáo đến từ Trường Công giáo All Saints ở Sheffield và Trường Đại học Salesian Thornleigh ở Bolton, Anh; Trường Vila Pouca de Aguiar ở Bồ Đào Nha; Trường Colegio Altasierra ở Seville và Trường “Edith Stein” ở Schillingfürst, Đức.

Tôi chào các tham dự viên hội nghị quốc gia của Phong trào Sinh viên Công giáo (FIDAE); các em lớp Thêm sức đến từ Almenno San Salvatore và các thanh thiếu niên đến từ Lugo, Rosaro, Stallavena và Alcenago; các thiếu nhi đến từ Trường “San Giuseppe” ở Bassano del Grappa và Học viện Salesian “Sant’Ambrogio” ở Milan; và các bạn trẻ đến từ Petosino, Solbiate và Cagno.

Tôi chúc tất cả anh chị em một Chúa nhật hạnh phúc.


[Nguồn: exaudi]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 16/2/2026]