Thứ Hai, 11 tháng 5, 2026

Chuyến viếng thăm Pompeii nhân dịp kỷ niệm một năm ngày được bầu chọn

Chuyến viếng thăm Pompeii nhân dịp kỷ niệm một năm ngày được bầu chọn

Đức Lêô XIV trước Đức Mẹ Mân Côi

Chuyến viếng thăm Pompeii nhân dịp kỷ niệm một năm ngày được bầu chọn


08 tháng Năm, 2026 

Wlodzimierz Redzioch 


Ông Wlodzimierz Redzioch phỏng vấn Đức ông Caputo

Ngày 8 tháng 5 là một ngày có ý nghĩa đặc biệt đối với Đức Giáo hoàng Lêô XIV: ngày ngài được bầu chọn lên Ngai tòa Phêrô. Đức Thánh cha đã chọn dịp kỷ niệm quan trọng này để viếng Đền thờ Đức Trinh nữ Rất thánh Mân côi tại Pompeii. Tôi đã trao đổi về chuyến viếng thăm mang tính lịch sử này với Đức ông Tommaso Caputo, Tổng Giám mục Giám quản Pompeii và là Đặc sứ Tòa Thánh tại Đền thánh.


Vì sao Đức Lêô XIV muốn kỷ niệm ngày được tuyển chọn của ngài cách đặc biệt tại Đền thánh Đức Mẹ Mân Côi?

Đức Giáo hoàng Lêô XIV, một vị giáo hoàng có tâm hồn đặc biệt gắn bó với Đức Maria, cho thấy sự gắn kết của ngài với Đền thánh Pompeii ngay từ ngày 8 tháng 5 năm 2025, khi các Hồng y, quy tụ trong Mật nghị Hồng y, đã trao cho Giáo hội hoàn vũ một vị mục tử mới.

Chính Đức Thánh cha đã nhắc lại ý nghĩa của ngày ấy trong sứ điệp đầu tiên được ngài công bố từ Ban công Phép lành của Đền thờ Thánh Phêrô. Mối dây liên kết ấy càng được củng cố khi ngài chọn tước hiệu giáo hoàng, ý nghĩ chúng ta liền hướng về Đức Lêô XIII, vị “Giáo hoàng của Kinh Mân côi”, người đã dẫn dắt Giáo hội từ năm 1878 đến 1903 và đã dõi theo những bước đầu tiên của công trình Pompeii đang hình thành như một người cha đầy ân cần.

Thật vậy, Đức Giáo hoàng Pecci đã tiếp đón Chân phước Bartolo Longo và phu nhân Marianna de Fusco mười hai lần; chính hai vị đã dâng hiến đền thánh cho ngài vào năm 1894. Biến cố này được ghi lại trong một bức bích họa. Năm 1901, Đức Lêô XIII đã nâng Đền thánh Pompeii lên hàng Vương cung Thánh đường Giáo hoàng, gọi nơi đây là “giáo xứ của thế giới” vì dòng người hành hương đông đảo đổ về không ngừng. Giờ đây, tới “giáo xứ” hằng năm tiếp đón hàng triệu tín hữu từ khắp các châu lục, Đức Lêô XIV sẽ đến — một vị Giáo hoàng đã ghi danh vào lịch sử Thành phố Đức Mẹ bằng việc tuyên phong thánh cho ngài Bartolo Longo vào ngày 19 tháng 10 năm 2025.


Con muốn biết, trước khi được bầu chọn làm Giáo hoàng, Cha Prevost đã từng đến viếng Đền thánh Pompeii chưa?

Tôi không có thông tin về điều đó. Chắc chắn ngài đã biết rõ về Đền thờ cũng như Thành phố Đức Mẹ của chúng tôi. Đức Giáo hoàng Prevost đến từ Chicago, nơi có một đền thờ cung hiến cho Đức Mẹ Pompeii, giáo xứ mang tính biểu tượng lâu đời nhất dành cho cộng đồng người Mỹ gốc Ý. Giáo xứ đó được thành lập năm 1911 và được giao cho các cha dòng Scalabrini, trong khi chính ngôi thánh đường được xây dựng vào năm 1923.

Chuyến viếng thăm Pompeii nhân dịp kỷ niệm một năm ngày được bầu chọn

Những điểm chính trong chuyến viếng thăm ngắn của Đức Lêô XIV là gì, và ý nghĩa của chúng ra sao?

Đấng sáng lập của chúng tôi, Thánh Bartolo Longo, trong một số báo năm 1925 của tờ Il Rosario e la Nuova Pompei (tạp chí định kỳ của đền thờ), đã gọi Thung lũng Pompeii — một vùng đất được chúc phúc bởi sự hiện diện của Đức Mẹ — là một “khúc khải hoàn của đức tin và đức ái”. Trong một dịp khác, ngài nói đến một “đền thờ của đức tin” và một “đền thờ của đức ái”. Đây là lý do tại sao, ngay khi đến Pompeii bằng trực thăng, Đức Thánh cha sẽ gặp gỡ những người đang được chăm sóc bởi các công cuộc bác ái xã hội của Đền thờ trong một hội trường lớn, cùng với các tu sĩ và các nhà giáo đang chăm sóc họ.

Đó sẽ là một khoảnh khắc thân tình, mang bầu khí gia đình, trong đó Đức Lêô XIV sẽ lắng nghe các lời chứng và ngỏ lời với những người hiện diện bằng một bài huấn từ ngắn. Những nhân vật chính trong cuộc gặp gỡ với Đức Giáo hoàng sẽ là thiếu nhi, thanh thiếu niên, các bà mẹ đơn thân, phụ nữ và trẻ vị thành niên gặp hoàn cảnh khó khăn, người khuyết tật, người nghèo và người di cư. Đó chính là những “người bé mọn” của Tin Mừng, những người được Chúa Giêsu yêu thương.

Nửa giờ sau, Đức Thánh cha sẽ rời Hội trường Trapani trên xe mui trần, đi qua các con phố lân cận và Quảng trường Bartolo Longo để tiến đến Vương cung Thánh đường. Tại đó, ngài sẽ được chào đón bởi những bệnh nhân, giới cao niên và người khuyết tật, những người sẽ được Đức Giáo hoàng chúc lành và chào thăm. Tôi muốn nói rằng sự mỏng giòn, yếu đuối là chủ đề trung tâm trong chuyến viếng thăm của Đức Thánh cha Lêô. Phần đầu của chuyến thăm này liên quan đến “đền thờ của đức ái”.

Sau đó, vào lúc 10 giờ 30 sáng, ngài sẽ cử hành Thánh lễ tại quảng trường phía trước đền thờ. Khi nghi thức phụng vụ kết thúc, ngài sẽ chủ sự giờ đọc Kinh cầu (Supplica), được Thánh Bartolo soạn vào năm 1883. Chúng ta có thể nói rằng đó sẽ là thời khắc Đức Thánh cha viếng “đền thờ của đức tin”.


Tháp chuông của Đền thờ được dâng kính cho Thánh Tâm Chúa Giêsu và là biểu tượng của hòa bình. Để đúc tám quả chuông cho tháp, 100 tạ đồng lấy từ các khẩu đại bác thời chiến tranh đã được sử dụng, để âm thanh của chúng không ngừng nhắc nhở chúng ta về cam kết của Pompeii đối với hòa bình. Tại đền thờ, mọi người cầu nguyện cho hòa bình thế giới. Liệu chuyến viếng thăm của Đức Giáo hoàng, trong thời điểm thế giới bị xâu xé bởi chiến tranh, cũng sẽ là một lời cầu khẩn cho hòa bình?

Vâng, chắc chắn là như vậy! Và lời cầu nguyện ấy sẽ được dâng lên Thiên đàng ngay trước tiền diện của đền thờ, được khánh thành ngày 5 tháng 5 năm 1901, nơi Thánh Bartolo đã hiến dâng cho hòa bình toàn cầu. Trên đỉnh mặt tiền ấy là tượng Đức Mẹ Mân Côi, dưới chân tượng có khắc nổi bật chữ “PAX” (Hòa bình) thật lớn.

Khi chúng ta nghe những tin tức bi thảm từ hàng chục bối cảnh khác nhau trên thế giới mỗi ngày, nơi các cuộc giao tranh vẫn đang diễn ra, cảm xúc đầu tiên rất con người chính là sự cam chịu. Tuy nhiên, chúng ta là những người tín hữu, được mời gọi luôn giữ cho ánh sáng hy vọng bừng sáng. Chúng ta phải cầu nguyện; chúng ta cần phải cầu nguyện. Ngay cả với Thánh Bartolo, khi đến Pompeii vào năm 1872, hẳn ngài cũng thấy là không thể biến một vùng đất hoang vu, chỉ có vài người nông dân sinh sống, bị quấy nhiễu bởi các băng cướp và bệnh sốt rét, lại có thể trở thành một trung tâm linh đạo Đức Maria mang tầm vóc toàn cầu và là biểu tượng của hòa bình và tình huynh đệ. Điều đó dường như là không thể, nhưng nhờ ơn Thiên Chúa, mảnh đất ấy đã được biến đổi và cứu chuộc.

Hòa bình, điều được thể hiện trong từng lời của Tin Mừng, cũng là điều Đức Giáo hoàng Lêô không ngừng khẩn cầu. Vào ngày 8 tháng 5, dưới sự hướng dẫn của Đức Thánh cha, chúng ta sẽ cùng đọc những lời này: “Trái tim từ mẫu của Mẹ sẽ không để chúng con, là con cái của Mẹ, phải hư mất. Hài Nhi mà chúng con chiêm ngắm trên gối Mẹ, và Triều thiên nhiệm mầu mà chúng con thấy trong tay Mẹ, khơi dậy nơi chúng con niềm tin tưởng rằng chúng con sẽ được nhậm lời.”


(Cuộc phỏng vấn này được đăng trên tuần san “Niedziela” bằng tiếng Ba Lan.)


[Nguồn: exaudi]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 10/05/2026]


Phỏng vấn Cha Richard D’Souza, Giám đốc Đài Thiên văn Vatican

Phỏng vấn Cha Richard D’Souza, Giám đốc Đài Thiên văn Vatican

Ngày 6 tháng 5 năm 2026

Phỏng vấn Cha Richard D’Souza, Giám đốc Đài Thiên văn Vatican


Một tiểu hành tinh mới được đặt theo tước hiệu Đức Lêô XIII

*******

Việc đặt tên cho một tiểu hành tinh mới theo tước hiệu Đức Giáo hoàng Lêô XIII nhằm thu hút sự chú ý của công chúng đối với vai trò của ngài trong việc tái thiết lập Đài Thiên văn Vatican, cũng như mối quan tâm rộng lớn hơn của ngài đối với các ngành khoa học.

Sự kiện này cũng là cơ hội để khám phá lại tiến trình đặt tên cho thiên thể mới được phát hiện. Cha Richard D’Souza, Giám đốc Đài Thiên văn Vatican, trao đổi về vấn đề này trong cuộc phỏng vấn với trang tin www.vaticanstate.va.


Tiến trình từ khi phát hiện một tiểu hành tinh cho đến khi chính thức đặt tên cho nó diễn ra như thế nào?

Việc gán một tên gọi cụ thể cho một tiểu hành tinh là kết quả của một tiến trình kéo dài, có thể mất nhiều thập niên. Tiến trình này bắt đầu từ việc phát hiện một Tiểu hành tinh hoặc asteroid không trùng khớp với bất kỳ thiên thể nào đã được biết đến trước đó. Những tiểu hành tinh này được gán cho một định danh tạm thời. Các định danh tạm thời dựa trên ngày phát hiện và được Trung tâm Tiểu hành tinh (Minor Planet Center - MPC) ấn định theo một công thức được xác định bao gồm năm phát hiện, hai chữ cái, và nếu cần, thêm các con số bổ sung (ví dụ: 1989 AC hoặc 2002 LM60).

Khi quỹ đạo của một tiểu hành tinh đã được xác định với độ chính xác đủ để vị trí của nó có thể được dự đoán cách đáng tin cậy trong tương lai xa (việc này thường xảy ra sau khi tiểu hành tinh đã được quan sát qua bốn hoặc nhiều kỳ xung đối (opposition), tiểu hành tinh ấy sẽ được cấp một định danh vĩnh viễn — một con số thứ tự được Trung tâm Tiểu hành tinh gán theo trình tự, chẳng hạn như (433), (4179), hoặc (50000).

Sau khi tiểu hành tinh nhận được số hiệu vĩnh viễn, người phát hiện nó được mời đề xuất một tên gọi. Người phát hiện giữ đặc quyền này trong thời hạn mười năm kể từ khi thiên thể được đánh số. Người phát hiện sẽ soạn một bản thuyết minh ngắn giải thích lý do của tên gọi được đề xuất, theo các hướng dẫn của Hiệp hội Thiên văn Quốc tế (International Astronomical Union - IAU).

Tất cả các tên được đề xuất đều được thẩm định bởi Nhóm Công tác về Danh pháp các Thiên thể Nhỏ (Working Group for Small Body Nomenclature - WGSBN) của IAU, bao gồm mười lăm nhà thiên văn học chuyên nghiệp đến từ khắp nơi trên thế giới, những người thuộc các lĩnh vực nghiên cứu liên quan đến các Tiểu hành tinh và/hoặc sao chổi.


Hiệp hội Thiên văn Quốc tế đóng vai trò gì trong quy trình đặt tên này?

Nhóm Công tác của IAU có trách nhiệm xem xét tên gọi do người phát hiện đề xuất và xác minh xem tên gọi đó có phù hợp với các quy chuẩn đã được thiết lập hay không.


Thông thường phải mất bao lâu thời gian từ khi phát hiện đến khi có thể đề xuất một tên gọi?

Trung bình, có thể mất khoảng mười năm từ khi một tiểu hành tinh được phát hiện cho đến khi nó được gán một tên gọi chính thức. Tuy nhiên, đôi khi quá trình này có thể kéo dài hơn nhiều.


Có những hướng dẫn cụ thể nào trong việc chọn tên cho các tiểu hành tinh không?

Tên gọi không được vượt quá mười sáu ký tự và thông thường được viết dưới dạng một từ duy nhất. Tên của tiểu hành tinh phải có thể phát âm được trong ít nhất một ngôn ngữ chính thức và không được mang tính xúc phạm.Tên đề xuất không được quá giống với tên của một Tiểu hành tinh hiện có hoặc của một vệ tinh tự nhiên khác của hành tinh. Tên của các loài thú cưng và các sản phẩm thương mại không được phép sử dụng. Tên của những nhân vật hoặc sự kiện được biết đến chủ yếu qua các hoạt động chính trị hoặc quân sự sẽ không đủ điều kiện xét duyệt cho đến ít nhất 100 năm sau khi người đó qua đời hoặc sau khi sự kiện ấy xảy ra.


Có phải những người phát hiện luôn có quyền đề xuất tên gọi không?

Vâng, trong hầu hết các trường hợp là như vậy. Tuy nhiên, có những hướng dẫn chi tiết hơn đối với một số tiểu hành tinh nhỏ thuộc các nhóm động lực học nhất định. Một số lớp hoặc họ tiểu hành tinh tuân theo các truyền thống đặt tên: chẳng hạn, các tiểu hành tinh Trojan của sao Mộc được đặt theo tên những nhân vật liên quan đến cuộc Chiến tranh thành Troy, trong khi họ Centaur được đặt theo tên các nhân vật nhân mã trong thần thoại. Nhóm Công tác nhận thấy cần giới hạn số lượng tiểu hành tinh được đặt tên, do đó yêu cầu các cá nhân và nhóm phát hiện không đề xuất quá hai tên trong chu kỳ hai tháng.


Cha có thể chia sẻ một ví dụ thú vị hoặc ý nghĩa liên quan đến việc đặt tên tiểu hành tinh không?

Một trong những trường hợp thú vị nhất là một tiểu hành tinh được đặt theo tên con mèo của nhà khám phá James B. Gibson. Theo một thông cáo được Trung tâm Tiểu hành tinh công bố vào tháng 9 năm 1985, chú mèo này, cũng như thiên thể mang tên nó, được mô tả là “điềm tĩnh, logic, thông minh, và có đôi tai nhọn”, (Ngày nay, việc dùng tên thú cưng làm nguồn cảm hứng cho tên gọi chính thức không được khuyến khích, nhưng trường hợp này đã được thông qua).


Khía cạnh văn hóa quan trọng như thế nào trong việc lựa chọn tên gọi?

Văn hóa đóng một vai trò nền tảng và ngày càng quan trọng trong việc đặt tên các tiểu hành tinh. Những tiểu hành tinh đầu tiên được đặt tên theo thần thoại Hy Lạp và La Mã (Ceres, Pallas, Juno, Vesta). Theo thời gian, các thực hành đặt tên đã được mở rộng sang thần thoại Bắc Âu, Ai Cập, Trung Hoa, Maya, Ấn Độ giáo và châu Phi, biến hệ mặt trời thành một bản đồ văn hóa đích thực. Các nhà khoa học, nhà soạn nhạc, văn sĩ và triết gia thuộc mọi nền văn minh đều được tôn vinh: có một tiểu hành tinh mang tên Beethoven, một mang tên Shakespeare, một mang tên Khổng Tử, và một tiểu hành tinh mang tên Ibn Battuta.

Trong những thập niên gần đây, đã có một xu hướng rõ rệt nhằm đưa vào tên gọi từ các nền văn hóa vốn ít được đại diện trong lịch sử: các ngôn ngữ bản địa Bắc Mỹ, các truyền thống châu Phi và các văn hóa Đại Dương. Nhiều tiểu hành tinh mang tên các thành phố, vùng miền hoặc các dân tộc, thường liên quan đến nguồn gốc của người khám phá, qua đó phản ánh bản sắc văn hóa của họ.


Việc đặt tên cho một tiểu hành tinh có thể góp phần vào công tác truyền thông khoa học không?

Niềm say mê của công chúng đối với các thiên thể là rất lớn. Việc đặt tên một tiểu hành tinh theo tên một cá nhân giúp thu hút sự chú ý của công chúng đến những đóng góp của người ấy cho khoa học hoặc cho xã hội nói chung. Trong những trường hợp cụ thể, điều này còn giúp làm nổi bật một số định luật khoa học do người ấy khám phá, chẳng hạn như các định luật hấp dẫn của Einstein hoặc các lý thuyết của Cha Georges Lemaître, người được xem là cha đẻ của thuyết Big Bang.


Có những sáng kiến nào nhằm thu hút công chúng hoặc các trường học tham gia vào tiến trình này không?

Thực tế, trách nhiệm đặt tên một tiểu hành tinh thuộc về người khám phá. Tôi chưa nhận thấy những sáng kiến nào có sự tham gia của công chúng hoặc các trường học trong tiến trình này.


Cha cho rằng tên của tiểu hành tinh nào là thú vị hoặc có ý nghĩa nhất, và tại sao?

Tôi rất vui mừng về tiểu hành tinh mới vừa được đặt theo tước hiệu Đức Giáo hoàng Lêô XIII. Việc đặt tên tiểu hành tinh này giúp công chúng chú ý đến vai trò của Đức Lêô XIII trong việc tái thiết lập Đài Thiên văn Vatican sau thời kỳ thống nhất nước Ý, và tôi rất hài lòng vì cuối cùng ngài cũng được tôn vinh bằng danh hiệu này. Vì ngài là nguyên thủ quốc gia Vatican, nên chúng ta đã phải chờ đợi một thời gian rất dài.


[Nguồn: vaticanstate.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 10/05/2026]


Phỏng vấn: Đặc phái viên Israel nói rằng sự hiện diện của Kitô giáo tại Trung Đông phải được bảo tồn


Phỏng vấn: Đặc phái viên Israel nói rằng sự hiện diện của Kitô giáo tại Trung Đông phải được bảo tồn

Elise Ann Allen - Phóng viên cao cấp
5 tháng Năm, 2026

Phỏng vấn: Đặc phái viên Israel nói rằng sự hiện diện của Kitô giáo tại Trung Đông phải được bảo tồn

Ông George Deek, Đặc phái viên của Israel phụ trách quan hệ với thế giới Kitô giáo. (Hình ảnh từ tài khoản X cá nhân của ông Deek)


Tân Đặc phái viên của Israel phụ trách cộng đồng Kitô giáo cho biết ông hình dung về một tương lai trong đó mọi tôn giáo cùng chung sống và phát triển hài hòa tại Trung Đông, dù thừa nhận rằng vẫn còn những trở ngại trên con đường này.

Trao đổi với Crux Now, ông George Deek, Đặc phái viên Israel phụ trách quan hệ với thế giới Kitô giáo, bày tỏ tiếc nuối trước thực trạng Kitô giáo đang thu hẹp dần trên toàn khu vực Trung Đông, nhưng đồng thời ca ngợi sự phát triển của cộng đồng Kitô hữu tại Israel, khẳng định rằng: “Israel đang kể một câu chuyện khác.”

Ông nói, “Việc bảo tồn sự hiện diện của Kitô giáo không chỉ là vấn đề riêng của người Kitô hữu. Đó là phép thử đối với tương lai đạo đức của Trung Đông. Liệu khu vực này sẽ bảo vệ sự khác biệt, hay sẽ tiếp tục đào thải nó?”

Ông Deek, một Kitô hữu gốc Ả Rập vừa được bổ nhiệm vào cương vị mới này vào tháng trước, cho biết câu trả lời của ông đối với câu hỏi mà ông nêu ra là: “Người Kitô hữu thuộc về nơi này. Người Do Thái thuộc về nơi này. Người Hồi giáo thuộc về nơi này.”

“Thánh Địa không thể trở thành nơi mà các cộng đồng cổ kính chỉ còn tồn tại trong ký ức. Đó phải là nơi họ được sống, phục vụ, cầu nguyện và cùng nhau xây dựng tương lai,” ông nói, đồng thời cho rằng người Kitô hữu “không chỉ là một phần của lịch sử Thánh Địa, mà là những cộng đồng sống động.”

Ông cũng đề cập đến những căng thẳng sau vụ việc lực lượng an ninh Israel từ chối cho phép Đức Hồng y Pierbattista Pizzaballa, Thượng phụ Latinh Giêrusalem, vào Vương cung thánh đường Mộ Thánh trong Chúa Nhật Lễ Lá, cho rằng cần phải có sự cân bằng giữa các quy trình an ninh, và bảo đảm quyền tự do thờ phượng.

Ông Deek than phiền về một vụ việc gần đây khi một binh sĩ Israel bị chụp ảnh đang phá hủy một Thánh giá, gọi đây là một hành động “đau lòng, không thể chấp nhận được, và sai trái”, đồng thời khẳng định rằng “chúng ta không cho phép một sự cố không thể chấp nhận định hình toàn bộ thực tại.”

Ông Deek cho biết những ưu tiên hàng đầu trong vai trò mới của ông là thúc đẩy lòng tin và sự hợp tác, bảo đảm quyền tự do phụng thờ cũng như sự an toàn của các Kitô hữu, đồng thời truyền tải thông điệp rằng vận mệnh của các Kitô hữu gắn liền với khả năng rộng lớn hơn của Trung Đông trong việc bảo vệ sự khác biệt.

“Việc bảo vệ các Kitô hữu và bảo vệ Israel, quê hương của dân tộc Do Thái, không phải là hai mục tiêu đối nghịch. Chúng được liên kết bởi cùng một nguyên tắc đạo đức. Một Trung Đông nếu không có chỗ cho nhà nước Do Thái cũng sẽ không có chỗ cho các Kitô hữu,” ông Deek nói.

Xin mời đọc dưới đây cuộc phỏng vấn của Crux Now với ông George Deek, Đặc phái viên Israel phụ trách quan hệ với thế giới Kitô giáo.


*******


Crux Now: Vì sao việc có một đặc phái viên chuyên trách các vấn đề Kitô giáo lại quan trọng?

George Deek: Điều đó quan trọng bởi vì mối quan hệ giữa Israel và thế giới Kitô giáo mang tính trọng tâm. Kitô giáo được khai sinh trên mảnh đất này. Những thánh địa thiêng liêng nhất của Kitô giáo đều ở đây. Và các cộng đồng Kitô hữu không chỉ là một phần của lịch sử Thánh Địa, họ là những cộng đồng sống động với các trường học, nhà thờ, bệnh viện, các tổ chức bác ái, gia đình và những cội rễ sâu xa.

Vai trò Đặc phái viên của tôi là củng cố mối quan hệ giữa Israel với các Giáo hội Kitô giáo, các nhà lãnh đạo và các cộng đồng Kitô giáo trên toàn thế giới thông qua đối thoại, xây dựng lòng tin và hợp tác thực tiễn. Đây là vai trò của sự lắng nghe, nhưng cũng là hành động.

Cũng có một thực tế khu vực mà chúng ta không thể làm ngơ. Trên phần lớn Trung Đông, các cộng đồng Kitô giáo đang thu hẹp dần. Những cộng đồng cổ xưa đã tồn tại hàng thế kỷ, thậm chí hàng thiên niên kỷ, đang suy yếu hoặc bị xóa sổ. Tại Israel, bức tranh lại khác. Dân số Kitô hữu đã gia tăng đáng kể kể từ khi quốc gia được thành lập, và các công dân Kitô giáo đang hoạt động tích cực trong những lĩnh vực y tế, giáo dục, luật pháp, học thuật, kinh doanh, dịch vụ công và ngoại giao.

Đối với tôi, vai trò này cũng mang tính cá nhân sâu sắc. Tôi là một Kitô hữu Ả Rập, gia đình tôi đã sống trên mảnh đất này suốt nhiều thế kỷ. Tôi hiểu ý nghĩa của việc trân quý đức tin, truyền thống và bản sắc, đồng thời vẫn tin tưởng vào một tương lai chung. Tôi hiểu ý nghĩa của việc tự hào là người Kitô hữu, tự hào là người Ả Rập, và tự hào là người Israel.

Đó là lý do tại sao vai trò này quan trọng. Đó là việc bảo vệ các thánh địa, củng cố lòng tin, bảo vệ tự do tôn giáo, và bảo đảm rằng các Kitô hữu tại Thánh Địa được nhìn nhận không phải như những hiện vật trong bảo tàng của quá khứ, mà như những đối tác sống động của tương lai.


Những ưu tiên chính của ông trong vai trò này là gì?

Ưu tiên thứ nhất của tôi là xây dựng lòng tin và củng cố sự hợp tác thực tiễn. Điều đó có nghĩa là đào sâu cuộc đối thoại của Israel với các nhà lãnh đạo Giáo hội tại Thánh Địa, với Tòa Thánh, với các cộng đồng Kitô giáo trên toàn thế giới, và với các Kitô hữu đang sống tại đây, từ Jaffa đến Nazareth. Cuộc đối thoại này cần mang tính thực tế, với mục tiêu bảo đảm rằng các cộng đồng Kitô hữu tiếp tục cảm thấy an toàn, được tôn trọng và bén rễ vững chắc.

Ưu tiên thứ hai của tôi là góp phần bảo đảm tự do và an toàn cho các Kitô hữu trên toàn khu vực. Trên phần lớn Trung Đông, các cộng đồng Kitô giáo đang thu hẹp dưới áp lực của chiến tranh, chủ nghĩa cực đoan, sự bất ổn và bách hại. Tại Lebanon, Syria và Iraq, các cộng đồng Kitô giáo cổ xưa đã chứng kiến sự suy giảm nghiêm trọng. Dân số Kitô hữu của Iraq, từng vượt hơn một triệu rưỡi người, hiện được ước tính chỉ còn một phần nhỏ của con số đó. Chỉ riêng tại Aleppo, cộng đồng Kitô giáo của Syria đã giảm từ khoảng 250.000 người xuống còn xấp xỉ 50.000 người.

Israel kể một câu chuyện khác. Đây là quốc gia duy nhất trong khu vực với dân số Kitô hữu gia tăng đáng kể, bởi vì người Kitô hữu được tự do, được bảo vệ và có thể tham gia trọn vẹn vào đời sống xã hội. Tôi tin rằng Israel có thể làm việc với các đối tác Kitô giáo để giúp các Kitô hữu, cũng như những nhóm thiểu số bị bách hại khác, đạt được sự tự do, phẩm giá và an ninh mà họ xứng đáng có được.

Ưu tiên thứ ba của tôi là kể một câu chuyện đầy đủ hơn về lý do tại sao tương lai của các Kitô hữu trong khu vực này gắn liền với một câu hỏi lớn hơn: liệu Trung Đông có thể học cách bảo vệ sự khác biệt? Việc bảo vệ các Kitô hữu và bảo vệ Israel, quê hương của dân tộc Do Thái, không phải là hai mục tiêu đối nghịch. Chúng được liên kết bởi cùng một nguyên tắc đạo đức.

Một Trung Đông không có chỗ cho nhà nước Do Thái cũng sẽ không có chỗ cho người Kitô hữu, người Druze, người Yazidi hay bất kỳ người nào khác biệt. Vận mệnh của chúng tôi gắn liền với nhau, bởi vì các cộng đồng thiểu số xứng đáng được hưởng phẩm giá, an ninh và một tương lai.


Hiện đang có một số căng thẳng sau vụ việc Đức Hồng y Pierbattista Pizzaballa bị ngăn cản vào Đền thờ Mộ Thánh trong Chúa Nhật Lễ Lá. Làm thế nào để tránh những sự cố như vậy trong tương lai?

Trước hết, tôi hiểu nỗi đau và sự thất vọng mà điều này đã gây ra. Chúa Nhật Lễ Lá là một trong những thời khắc quan trọng nhất của năm phụng vụ của Kitô giáo. Đồng thời, cũng cần hiểu bối cảnh an ninh. Sự việc xảy ra trong giai đoạn Israel đang đối mặt với các mối đe dọa nghiêm trọng và các đợt tấn công bằng hỏa tiễn bắn vào Israel. Ngay trước Lễ Phục sinh, các mảnh vỡ từ một tên lửa bị đánh chặn đã rơi gần khu Thành Cổ, bao gồm cả khu vực gần các thánh địa Kitô giáo. Trong tình huống đó, các biện pháp hạn chế tạm thời đã được áp dụng tại những khu vực nhạy cảm để kiểm soát đám đông và giảm thiểu rủi ro. Những biện pháp này không nhằm chống lại các Kitô hữu. Những hạn chế tương tự cũng ảnh hưởng đến việc đi lại quanh các địa điểm của những tôn giáo khác, bao gồm cả các địa điểm của người Do Thái như Bức tường Than khóc.

Tuy nhiên, ngay cả khi các mối quan ngại về an ninh là có thật, bài học rút ra vẫn rất rõ ràng: sự phối hợp cần phải tốt hơn. Những thời khắc tôn giáo nhạy cảm đòi hỏi sự trao đổi sớm, các kênh trao đổi rõ ràng và sự thấu hiểu lẫn nhau giữa chính quyền và lãnh đạo Giáo hội.

Vì thế, đúng vậy, những sự cố như thế có thể tránh và cần phải được tránh trong tương lai thông qua sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa các giới chức chính quyền và giới chức tôn giáo. Việc bảo vệ con người về mặt thể lý và việc tôn trọng đức tin của họ không nên bị xem là những nhiệm vụ xung đột nhau.


Một bức ảnh cũng được lan truyền trong những ngày gần đây về một binh sĩ Israel đang phá hủy một cây thánh giá. Ông có phản hồi gì về sự việc này? Làm thế nào để ngăn chặn sự phân biệt đối xử đối với Kitô giáo và tất cả các tôn giáo thiểu số tại Israel?

Việc phá hủy cây thánh giá là điều đau lòng, không thể chấp nhận và sai trái. Sự thiếu tôn trọng đối với thập tự không chỉ là một sự xúc phạm đối với người Kitô hữu. Đó là sự xúc phạm đối với các giá trị về phẩm giá, đức tin và sự tôn trọng lẫn nhau mà Israel nỗ lực gìn giữ. Điều đó cũng gây tổn thương cho rất nhiều công dân Kitô giáo đang phục vụ đất nước này, củng cố đất nước này và là một phần trong đời sống của đất nước này.

Điều quan trọng trong những thời điểm như vậy là cách thức nhà nước phản ứng. Giới lãnh đạo Israel đã lên án hành động đó một cách rõ ràng. Binh sĩ đó đã bị kỷ luật. Thiệt hại đã được khắc phục. Điều đó rất quan trọng. Không xã hội nào bị phán xét dựa trên việc những sự cố xấu xí có xảy ra hay không. Xã hội nào cũng có những phần tử cực đoan, những kẻ nông nổi và những người hành xử đáng xấu hổ. Phép thử thực sự là liệu xã hội đó dung túng những người đó hay đối mặt với họ.

Đồng thời, chúng ta không thể cho phép một sự cố không thể chấp nhận định nghĩa toàn bộ thực tại. Các Kitô hữu tại Israel được tự do thờ phượng, điều hành các cơ sở của họ và tham gia vào đời sống công cộng. Dân số Kitô hữu đã tăng trưởng đáng kể từ năm 1948, trong khi tại phần lớn Trung Đông, các cộng đồng Kitô giáo đã sụt giảm nghiêm trọng.

Vì thế, câu trả lời có hai khía cạnh: những hành vi sai trái phải được đối mặt cách trung thực, và thực tại rộng lớn hơn cũng cần được thuật lại cách chân thực. Israel không hoàn hảo. Không quốc gia nào là hoàn hảo. Nhưng đây là một quốc gia nơi người Kitô hữu không biến mất. Họ hiện diện, năng động, đóng góp và được pháp luật bảo vệ. Trách nhiệm của chúng tôi là tiếp tục củng cố sự bảo vệ đó mỗi ngày.


Nhiều Kitô hữu đang rời bỏ Thánh Địa, một phần do những phàn nàn về sự phân biệt đối xử, nhưng cũng vì chiến tranh liên miên. Làm thế nào để chủ động duy trì sự hiện diện của Kitô giáo tại Israel và trên toàn Thánh Địa?

Sự hiện diện của Kitô giáo tại Thánh Địa không thể được bảo tồn chỉ bằng sự hoài cổ. Nó phải được bảo tồn bằng cách bảo đảm rằng người Kitô hữu thực sự có thể xây dựng một tương lai tại đây.

Điều đó có nghĩa là an ninh, tự do thờ phượng, cơ hội kinh tế, nền giáo dục tốt, nhà ở, việc làm, và khả năng để các gia đình trẻ có thể hình dung tương lai của họ trên mảnh đất của tổ tiên. Một cộng đồng không thể tồn tại chỉ vì có những nhà thờ đẹp. Cộng đồng ấy tồn tại vì con cái của họ tin rằng họ có thể ở lại.

Chúng ta cũng phải trung thực về sự khác biệt giữa các khu vực. Tại Israel, dân số Kitô hữu đã tăng từ khoảng 34.000 người vào năm 1950 lên khoảng 188.000 người hiện nay. Các công dân Kitô giáo thuộc nhóm cộng đồng có trình độ học vấn cao nhất trong cả nước và hiện diện mạnh mẽ trong các lĩnh vực y khoa, luật pháp, học thuật, kinh doanh và dịch vụ công. Đó là một câu chuyện về sự kiên cường.

Nhưng tại Gaza và một số vùng thuộc Giuđêa và Samaria, tình hình mong manh hơn rất nhiều. Các Kitô hữu phải đối diện với áp lực từ xung đột, bất ổn, khó khăn kinh tế, và thường là từ chính môi trường địa phương của họ.

Việc chủ động duy trì sự hiện diện đó đòi hỏi sự hợp tác: giữa các chính phủ, các Giáo hội, các cộng đồng địa phương, xã hội dân sự và các tác nhân quốc tế.

Nhưng còn một điểm sâu xa hơn. Tương lai của các Kitô hữu tại Thánh Địa tùy thuộc vào việc liệu khu vực này có thể chấp nhận sự khác biệt hay không. Nếu Trung Đông không thể chấp nhận nhà nước Do Thái, thì cũng sẽ không thực sự chấp nhận người Kitô hữu. Hận thù không bao giờ dừng lại ở một mục tiêu duy nhất. Một khu vực không có chỗ cho người Do Thái cuối cùng cũng sẽ không có chỗ cho người Kitô hữu, người Druze, người Yazidi, hay bất kỳ ai không phù hợp với số đông.

Vì vậy, việc bảo tồn sự hiện diện của Kitô giáo không chỉ là một vấn đề của riêng Kitô giáo. Đó là phép thử đối với tương lai đạo đức của Trung Đông. Liệu khu vực này sẽ bảo vệ sự khác biệt, hay sẽ tiếp tục đào thải nó? Câu trả lời của tôi rất rõ ràng: Người Kitô hữu thuộc về nơi này. Người Do Thái thuộc về nơi này. Người Hồi giáo thuộc về nơi này. Thánh Địa không được phép trở thành nơi mà các cộng đồng cổ kính chỉ còn tồn tại trong ký ức. Đó phải là nơi họ được sống, phục vụ, cầu nguyện và cùng nhau xây dựng tương lai.


[Nguồn: cruxnow]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 10/05/2026]