Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2026

Tiếp kiến Chung, 29.04.2026

Tiếp kiến Chung, 29.04.2026

Tiếp kiến Chung, 29.04.2026

*******

Buổi Tiếp kiến chung sáng nay đã diễn ra lúc 10 giờ tại Quảng trường Thánh Phêrô, nơi Đức Thánh Cha Lêô XIV gặp gỡ các nhóm hành hương và tín hữu đến từ nước Ý và khắp nơi trên thế giới.

Trong bài huấn từ bằng tiếng Ý, Đức Thánh cha tập trung vào chủ đề: “Chuyến Tông du đến Algeria, Cameroon, Angola và Guinea Xích Đạo (Bài đọc: Mt 28:16-20).

Sau phần tóm lược bài giáo lý bằng một số ngôn ngữ khác nhau, Đức Thánh cha gửi lời chào đặc biệt đến các tín hữu hiện diện.

Buổi Tiếp kiến chung kết thúc với kinh Lạy Cha và Phép lành Tòa thánh.


Chuyến Tông du đến Algeria, Cameroon, Angola và Guinea Xích Đạw


Anh chị em thân mến, chào anh chị em và chào mừng!

Hôm nay, tôi muốn chia sẻ về Chuyến Tông du mà tôi đã thực hiện từ ngày 13 đến 23 tháng 4, thăm bốn quốc gia châu Phi: Algeria, Cameroon, Angola and Guinea Xích Đạo.

Ngay từ những ngày đầu của triều đại giáo hoàng, tôi đã nghĩ đến một chuyến đi đến châu Phi. Tôi cảm tạ Chúa vì đã ban cho tôi cơ hội thực hiện chuyến đi ấy, trong tư cách là Mục tử, để gặp gỡ và khích lệ Dân Thiên Chúa; đồng thời cũng để trải nghiệm chuyến đi như một sứ điệp hòa bình trong một giai đoạn lịch sử ghi đậm dấu bởi những cuộc chiến tranh và các vi phạm nghiêm trọng và thường xuyên đối với luật pháp quốc tế. Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến các giám mục và chính quyền dân sự đã đón tiếp tôi, cũng như tất cả những người đã góp phần tổ chức chuyến viếng thăm này.

Sự Quan phòng đã định liệu để chặng dừng chân đầu tiên chính tại quốc gia nơi có các thánh tích của thánh Augustinô, đó là Algeria. Vì thế, một mặt tôi thấy mình được trở lại với cội nguồn căn tính thiêng liêng của mình, mặt khác được băng qua và củng cố những nhịp cầu rất quan trọng đối với thế giới và Giáo hội ngày nay: nhịp cầu nối kết với thời đại phong phú của các Giáo phụ; nhịp cầu với thế giới Hồi giáo; và nhịp cầu với lục địa châu Phi.

Tại Algeria, tôi đã nhận được sự đón tiếp không chỉ đầy sự tôn trọng mà còn nồng hậu, và chúng tôi đã có thể trực tiếp cảm nghiệm cũng như cho thế giới thấy rằng có thể sống với nhau như anh chị em, ngay cả giữa những tôn giáo khác nhau, khi chúng ta nhận ra mình là con cái của cùng một Cha giàu lòng xót thương. Hơn nữa, đây còn là một cơ hội thuận tiện để học hỏi từ gương mẫu của thánh Augustinô: qua kinh nghiệm sống, qua các tác phẩm và linh đạo của ngài, ngài là bậc thầy trong việc tìm kiếm Thiên Chúa và chân lý. Một chứng tá quan trọng hơn bao giờ hết đối với các Kitô hữu và đối với mỗi người trong thời đại hôm nay.

Tại ba quốc gia tiếp theo mà tôi đến thăm, dân số chủ yếu là Kitô hữu, và vì thế tôi được đắm mình trong bầu khí cử hành đức tin và sự đón tiếp nồng hậu, được làm phong phú bởi những nét đặc trưng của người dân châu Phi. Như các vị Tiền nhiệm, tôi cũng đã phần nào trải nghiệm những gì đã xảy ra với Chúa Giêsu giữa đám đông tại Galilê: Người thấy họ đói và khát công lý, và Người đã công bố cho họ rằng: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, phúc thay ai hiền lành, phúc thay ai xây dựng hòa bình”, và khi nhận thấy đức tin của họ, Người nói: “Anh em là muối cho đời và là ánh sáng cho trần gian” (x. Mt 5:1-16).

Chuyến viếng thăm Cameroon cho phép tôi củng cố lời kêu gọi cùng nhau hoạt động vì hòa giải và hòa bình, bởi thật đáng tiếc, quốc gia này cũng bị ghi dấu bởi những căng thẳng và bạo lực. Tôi vui mừng đã đến Bamenda, thuộc vùng nói tiếng Anh, nơi tôi khích lệ mọi người cùng cộng tác với nhau vì hòa bình. Cameroon được biết đến như “châu Phi thu nhỏ”, ám chỉ sự đa dạng và phong phú của môi trường tự nhiên, các nguồn tài nguyên; nhưng chúng ta cũng có thể hiểu cách diễn đạt này theo nghĩa rằng những nhu cầu lớn của toàn thể lục địa đều được tìm thấy ở Cameroon: nhu cầu về sự phân chia của cải công bằng; nhu cầu tạo không gian cho giới trẻ, vượt qua nạn tham nhũng, thúc đẩy sự phát triển toàn diện và bền vững, chống lại các hình thức tân thực dân bằng sự hợp tác quốc tế có tầm nhìn xa. Tôi cảm ơn Giáo hội tại Cameroon và toàn thể người dân Cameroon đã đón tiếp tôi với tình yêu thương nồng hậu, và tôi cầu nguyện để tinh thần hiệp nhất đã được thể hiện rõ trong chuyến viếng thăm của tôi luôn được giữ vững và hướng dẫn cho các lựa chọn và hành động trong tương lai.

Giai đoạn thứ ba của chuyến đi là tại Angola, một quốc gia rộng lớn ở phía nam xích đạo, với truyền thống Kitô giáo nhiều thế kỷ gắn liền với thời kỳ thuộc địa của Bồ Đào Nha. Giống như nhiều quốc gia Phi châu khác, sau khi giành được độc lập, Angola đã trải qua một giai đoạn đầy biến động, trường hợp của họ được đánh dấu bằng một cuộc nội chiến dài và đẫm máu. Trong lò luyện của lịch sử này, Thiên Chúa đã dẫn dắt và thanh luyện Giáo hội, ngày càng biến đổi Giáo hội để phục vụ Tin mừng, thăng tiến con người, hòa giải và hòa bình. Một Giáo hội tự do cho một dân tộc tự do! Tại Thánh địa Đức Mẹ Mamã Muxima – có nghĩa là “Mẹ của trái tim” – tôi đã cảm nhận được nhịp đập của trái tim dân tộc Angola. Và trong các cuộc gặp gỡ khác, tôi vui mừng khi nhìn thấy rất nhiều tu sĩ nam nữ thuộc mọi lứa tuổi, như một lời ngôn sứ về Nước Trời giữa lòng dân tộc mình; tôi nhìn thấy các giáo lý viên cống hiến trọn vẹn cho lợi ích của cộng đoàn; tôi đã thấy nhiều người cao tuổi hằn lên những dấu vết của gian lao và đau khổ nhưng vẫn rạng rỡ niềm vui Tin mừng; tôi đã thấy những phụ nữ và nam giới nhảy múa theo nhịp điệu của những bài ca ngợi khen Chúa Phục sinh, nền tảng của một niềm hy vọng vững vàng trước những thất vọng do các hệ tư tưởng và những lời hứa trống rỗng của những kẻ quyền thế gây ra.

Niềm hy vọng này đòi hỏi một sự dấn thân cụ thể, và Giáo hội có trách nhiệm, bằng chứng tá và việc loan báo Lời Chúa cách can đảm, để công nhận quyền của mọi người và cổ võ việc tôn trọng thực sự đối với những quyền ấy. Với chính quyền dân sự Angola, cũng như tại các quốc gia khác, tôi đã bảo đảm với họ về sự sẵn sàng của Giáo hội Công giáo trong việc tiếp tục những đóng góp, đặc biệt trong các lĩnh vực y tế và giáo dục.

Quốc gia cuối cùng tôi đến thăm là Guinea Xích Đạo, 170 năm sau công cuộc truyền giáo đầu tiên. Với sự khôn ngoan của truyền thống và ánh sáng của Đức Kitô, người dân Guinea đã vượt qua những thăng trầm của lịch sử và trong những ngày vừa qua, trước sự hiện diện của Đức Giáo hoàng, với nhiệt huyết lớn lao, họ đã làm mới lòng quyết tâm cùng nhau hướng tới một tương lai hy vọng.

Tôi không thể quên những gì đã xảy ra trong nhà tù ở Bata, Guinea Xích Đạo: các tù nhân đã cất cao tiếng hát một bài ca tạ ơn Thiên Chúa và cảm ơn Đức Giáo hoàng, xin ngài cầu nguyện “cho tội lỗi và sự tự do của họ”. Tôi chưa từng thấy điều gì như thế. Và sau đó, họ đã cùng tôi đọc kinh “Lạy Cha” dưới cơn mưa xối xả. Một dấu chỉ đích thực của Nước Thiên Chúa! Và cũng dưới cơn mưa, cuộc gặp gỡ đông đảo giới trẻ đã bắt đầu tại sân vận động ở Bata. Một cuộc cử hành niềm vui Kitô giáo, với những chứng từ cảm động của các bạn trẻ đã tìm thấy nơi Tin Mừng con đường để trưởng thành trong tự do và trách nhiệm. Cuộc cử hành này đạt tới đỉnh điểm trong cử hành Thánh thể vào ngày hôm sau, một sự kết thúc xứng đáng cho chuyến viếng thăm Guinea Xích Đạo, cũng như cho toàn bộ Chuyến Tông du.

Anh chị em thân mến, chuyến viếng thăm của Đức Giáo hoàng, đối với các dân tộc Phi châu, là một cơ hội để tiếng nói của họ được lắng nghe, để bày tỏ niềm vui được làm dân Thiên Chúa và niềm hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn, với phẩm giá cho mỗi người. Tôi vui mừng vì đã mang lại cho họ cơ hội này, đồng thời tôi tạ ơn Chúa vì những gì họ đã trao tặng cho tôi, một kho báu vô giá đối với trái tim và sứ vụ của tôi.

_____________________________


Lời chào bằng tiếng Anh

Tôi chào tất cả anh chị em hành hương và du khách nói tiếng Anh đang tham dự buổi Tiếp kiến hôm nay, đặc biệt là các nhóm đến từ Ireland, Malta, Na Uy, Nigeria, Ấn Độ, Philippines, Trinidad và Tobago, và Hoa Kỳ. Tôi khẩn cầu niềm vui và bình an của Chúa Giêsu Phục sinh đổ xuống trên tất cả anh chị em và gia đình! Xin Chúa chúc lành cho anh chị em!


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 29/4/2026]


Diễn văn của Đức Thánh cha Lêô XIV nhân dịp làm phép viên đá đầu tiên của “Centro Cuore – Papa Francesco” thuộc Bệnh viện “A. Gemelli” tại Rôma, 27.04.2026

Diễn văn của Đức Thánh cha Lêô XIV nhân dịp làm phép viên đá đầu tiên của “Centro Cuore – Papa Francesco” thuộc Bệnh viện “A. Gemelli” tại Rôma, 27.04.2026

Diễn văn của Đức Thánh cha Lêô XIV nhân dịp làm phép viên đá đầu tiên của “Centro Cuore – Papa Francesco” thuộc Bệnh viện “A. Gemelli” tại Rôma, 27.04.2026

*******

Sáng nay, tại Điện Tông Tòa Vatican, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã làm phép viên đá đầu tiên của “Centro Cuore – Papa Francesco” thuộc Bệnh viện “A. Gemelli” tại Rôma.

Sau đây là diễn văn Đức Thánh cha gửi đến những người hiện diện trong nghi thức làm phép:


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Các bạn thân mến, chào các bạn và xin chào mừng!

Tôi vui mừng đón nhận mong ước của các bạn muốn Đức Giáo hoàng làm phép viên đá đầu tiên cho “Centro Cuore”, công trình mới và lớn của Bệnh viện Gemelli, được dâng kính cho Đức Thánh cha Phanxicô. Tên gọi Cuore (Trái tim), được đặt cho cơ sở mới này, gợi cho tôi điểm khởi đầu cho suy tư ngắn mà tôi muốn chia sẻ với các bạn.

Theo nghĩa căn bản, có thể nói là theo chức năng, từ này là chữ viết tắt của Cardiovascular Unique Offer ReEngineered. Nói cách khác, thông qua một chữ viết tắt mang hiệu quả trực tiếp, nó chỉ rõ phân khu trong khu phức hợp rộng lớn mang tên “Gemelli”, nơi việc điều trị các bệnh lý tim mạch sẽ được tập trung chuyên sâu. Các bạn mô tả đây như một mô hình tổ chức mới đặt con người làm trung tâm. Đó là một thách đố đòi hỏi cao, mà tôi hy vọng các bạn sẽ đảm nhận với sự nhiệt huyết, tinh thần cộng tác, và cả lời cầu nguyện.

Tuy nhiên, đối với bệnh viện của các bạn, từ cuore, trái tim, còn mang ý nghĩa sâu sắc hơn nhiều, bởi lẽ nó là một phần trong chính tên gọi của đại học mà bệnh viện trực thuộc: Đại học Công giáo Thánh Tâm.

Về điểm này, tôi muốn nhắc lại một chi tiết lịch sử quan trọng. Khi thời điểm được mong đợi từ lâu đến, là xin sự công nhận của Nhà nước cho trường đại học mới, nhiều người đã khuyên Linh mục Gemelli không đặt tên trường là Thánh Tâm, vì tên gọi đó mang tính quá sùng kính. Và vị sáng lập đã chân thành cân nhắc vấn đề. Tuy nhiên, Chân phước Armida Barelli không chút do dự: Đại học phải là “Thánh Tâm”, bởi chính nhờ Trái tim của Đức Kitô mà chuỗi những “phép lạ” giúp công trình này khả thi đã xảy ra. Cha Gemelli lắng nghe người cộng sự thân tín của mình, và cái tên đó cũng đã được chính quyền chấp thuận.

Ngày nay, chúng ta có thể nói rằng lựa chọn mang tính ngôn sứ tại thời điểm đó vẫn tiếp tục mang tính ngôn sứ cho tới hôm nay, đặc biệt khi Đức Thánh cha Phanxicô đã dành Thông điệp cuối cùng của ngài, Dilexit nos – gần như là một di chúc – để nói về “tình yêu nhân tính và thần tính nơi Trái Tim Chúa Giêsu Kitô”.

Trong phần thứ nhất, Thông điệp nhắc lại nền nhân học Kitô giáo, vốn hiểu trái tim là trung tâm và sự tổng hợp của con người. Tôi xin trích dẫn một đoạn: “Cốt lõi sâu thẳm này, hiện diện trong mỗi người nam và nữ, không chỉ thuộc về linh hồn, nhưng là toàn bộ con người trong căn tính tâm–thể (psychosomatic) duy nhất của mình. Mọi sự tìm thấy tính hiệp nhất trong trái tim, nơi có thể trở thành nơi cư ngụ của tình yêu trong mọi chiều kích tinh thần, tâm trí và cả thể lý. Nói tóm lại, nếu tình yêu ngự trị trong trái tim chúng ta, chúng ta sẽ trở nên con người mà chúng ta được mời gọi trở thành một cách trọn vẹn và rạng ngời, vì mỗi con người được tạo dựng trên hết vì tình yêu. Trong tận cùng hữu thể mình, chúng ta được tạo dựng để yêu và được yêu” (số 21). Trong phần này của Thông điệp, anh chị em có thể tìm thấy nền tảng của các nguyên tắc và giá trị làm cơ sở cho công tác đào tạo tại bệnh viện của anh chị em, một sự đào tạo mà nhân dịp này, tôi mong muốn khích lệ: “Gemelli” càng phát triển, thì càng phải chú trọng nhiều hơn nữa đến việc đào tạo nhân bản và Kitô giáo cho những người làm việc tại đó.

Tuy nhiên, thông điệp trung tâm của Dilexit nos mang chiều kích thần học và thiêng liêng, tập trung vào mầu nhiệm tình yêu nơi Trái Tim Đức Kitô, nguồn mạch đầu tiên của sự linh hứng và nâng đỡ cho đời sống và công việc của chúng ta. Như một ngọn lửa không bao giờ tắt, tình yêu này đã linh hứng cho không biết bao nhiêu chứng nhân của đức ái trong Giáo hội, kể cả trong các lĩnh vực giáo dục và xã hội. Trong số đó, chúng ta có thể kể đến Cha Gemelli, Chân phước Armida Barelli và các vị sáng lập khác của Đại học Công giáo Thánh Tâm.

Chúng ta biết Linh mục Gemelli đã vô cùng khao khát có được Khoa Y, và chúng ta vững tin rằng từ trời cao, ngài vẫn tiếp tục đồng hành với những bước phát triển của khoa, đặc biệt là sáng kiến trung tâm Centro Cuore này. Với những tâm tình đó, tôi ban phép lành cho tất cả anh chị em và viên đá đầu tiên của tòa nhà mới, nhờ sự chuyển cầu của Đức Maria Rất Thánh, Tòa Đấng Khôn Ngoan và là Sức khỏe của các bệnh nhân. Cảm ơn anh chị em!


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 29/4/2026]


Diễn văn của Đức Thánh Cha Lêô XIV gửi Cộng đoàn Học viện Ngoại giao Tòa thánh nhân kỷ niệm 325 năm thành lập, 27.04.2026

Diễn văn của Đức Thánh Cha Lêô XIV gửi Cộng đoàn Học viện Ngoại giao Tòa thánh nhân kỷ niệm 325 năm thành lập, 27.04.2026

Diễn văn của Đức Thánh Cha Lêô XIV gửi Cộng đoàn Học viện Ngoại giao Tòa thánh nhân kỷ niệm 325 năm thành lập, 27.04.2026

*******

Chiều nay, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã đến thăm Học viện Ngoại giao Tòa thánh (Pontifical Ecclesiastical Academy), tại Quảng trường Piazza della Minerva, 74, Rôma, nhân dịp kỷ niệm 325 năm ngày thành lập Học viện.

Sau đây là diễn văn của Đức Thánh cha gửi đến Cộng đoàn Học viện Ngoại giao Tòa thánh:

Diễn văn của Đức Thánh Cha


Kính thưa Đức Hồng y,
Thưa quý Đức Tổng Giám mục và quý Đức cha,
Thưa quý Bề trên và anh em học viên của Học viện Ngoại giao Tòa Thánh,

Tôi rất vui mừng được thực hiện chuyến viếng thăm đầu tiên trên cương vị Giáo hoàng Rôma tới Học viện cổ kính và cao quý này, nhân dịp Năm thánh kỷ niệm 325 năm ngày thành lập. Thậm chí vài năm trước, khi đến đây để chia sẻ chứng ngôn với tư cách là Tổng trưởng Bộ Giám mục trong những cuộc gặp gỡ dành cho học viên, tôi đã có dịp suy tư về sứ mạng trọng yếu mà "Alma Mater" của các nhà ngoại giao Tòa thánh đang thực thi. Hôm nay, gần một năm sau khi bắt đầu Thừa tác vụ Phêrô, với sự đồng hành và dấn thân tận tụy của Phủ Quốc vụ khanh cùng các Phái bộ Tòa thánh, những tâm tình ấy càng được củng cố. Vì thế, tôi nhìn lại lịch sử dấn thân và phục vụ mà dịp kỷ niệm đầy niềm vui này cử hành với lòng biết ơn sâu sắc.

Lịch sử ấy – bắt nguồn trong tính Công giáo của Giáo hội – qua bao thế kỷ đã chứng kiến một chuỗi liên tục các linh mục, đến từ khắp nơi trên thế giới, đã đóng góp bằng nỗ lực khiêm nhường của mình vào việc xây dựng sự hiệp nhất trong Đức Kitô; sự hiệp nhất này, giữa tính đa dạng về nguồn gốc, làm cho sự hiệp thông trở thành một đặc tính căn bản của ngành ngoại giao Tòa Thánh. Những cuộc cải tổ – mà gần đây nhất được thực hiện theo ý nguyện của vị Tiền nhiệm trực tiếp của tôi, với ký ức đáng kính – luôn nhằm mục đích gìn giữ nét đặc thù và cấu thành này trong hoạt động ngoại giao của chúng ta, vốn được mời gọi cầu nguyện và làm việc mỗi ngày để “ut unum sint” (Ga 17:21).

Cụ thể, những thay đổi gần đây liên quan đến nhiều khía cạnh khác nhau của việc đào tạo học thuật và trí thức đã đem lại cho Học viện sự độc lập cần thiết để điều chỉnh chương trình nghiên cứu về luật pháp, lịch sử, khoa học chính trị, kinh tế, cũng như các ngôn ngữ sử dụng trong quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh rằng cuộc cải tổ quan trọng nhất đòi hỏi nơi những người bước qua ngưỡng cửa của Cộng đoàn này chính là việc thực hành sự hoán cải không ngừng, nhằm vun trồng “sự gần gũi, chú tâm lắng nghe, làm chứng, cách tiếp cận huynh đệ và đối thoại [...] kết hợp với sự khiêm nhường và lòng hiền hòa” (PHANXICÔ, Tự sắc về Thừa tác vụ Phêrô, 25 tháng 3 năm 2025): những nhân đức phải thấm đẫm trong toàn bộ đời sống thừa tác vụ linh mục của anh em.

Cuộc gặp gỡ hôm nay, tại Ngôi nhà đã góp phần vào sự trưởng thành về trí tuệ, nhân bản và thiêng liêng của nhiều vị Thánh và Chân phước – trong đó có một số vị Tiền nhiệm lừng danh của tôi – là cơ hội để tôi cùng anh em phác họa một số nét đặc trưng của Linh mục Ngoại giao Tòa thánh. Khi tham dự vào thừa tác vụ của Đấng kế vị Thánh Phêrô, người linh mục ấy đón nhận và vun trồng một ơn gọi đặc biệt để phục vụ hòa bình, sự thật và công lý.

Trước hết, người ấy phải là một sứ giả của lời loan báo Vượt qua: “Bình an cho anh em!” (Ga 20:19). Ngay cả khi niềm hy vọng về đối thoại và hòa giải dường như tan biến, và hòa bình “theo kiểu thế gian ban tặng” bị chà đạp và thử thách, anh em vẫn được mời gọi tiếp tục mang lời của Đức Kitô Phục sinh đến cho mọi người. “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy” (Ga 14:27). Và ngay cả trước khi cố gắng xây dựng hòa bình bằng sức lực nhỏ bé của chúng ta, giữa những người không tìm kiếm hòa bình như một ân ban từ Thiên Chúa, sứ mạng của anh em kêu gọi anh em trở thành những “nhịp cầu” và “kênh dẫn” cho hòa bình, để ân sủng từ trời cao có thể tìm thấy lối đi qua những thăng trầm của lịch sử.

Hơn nữa, Nhà Ngoại giao của Giáo hoàng — hoạt động trong các bối cảnh văn hóa đa dạng nhất và trong các tổ chức quốc tế — được trao phó cách đặc biệt việc làm chứng cho Sự thật là chính Đức Kitô, mang sứ điệp của Người đến diễn đàn các quốc gia, và trở thành dấu chỉ tình yêu của Người đối với phần nhân loại được trao phó cho sứ vụ mục tử của mình, thậm chí cả trước khi là một nhà ngoại giao. Như tôi đã có dịp nhấn mạnh vào đầu năm nay trước Ngoại giao đoàn cạnh Tòa thánh, ngày nay điều cấp thiết là “ngôn từ một lần nữa phải... diễn tả các thực tại riêng biệt và rõ ràng một cách dứt khoát”, vì “chỉ có như vậy, cuộc đối thoại đích thực mới có thể tiếp tục mà không có những hiểu lầm” (Diễn văn trước các Thành viên Ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh, ngày 9 tháng 1 năm 2026). Chính vì thế, điều quan trọng là anh em phải mang đến cho thế giới Lời Hằng Sống, Đấng đã mạc khải chính mình không phải bằng cách khẳng định những nguyên tắc và ý tưởng trừu tượng, nhưng bằng cách trở thành người phàm.

Sau cùng, anh em đang chuẩn bị đảm nhận một thừa tác vụ riêng biệt, không chỉ giới hạn trong việc bảo vệ lợi ích của cộng đồng Công giáo, nhưng còn mở rộng ra toàn thể gia đình nhân loại đang sống tại một quốc gia cụ thể hoặc tham gia vào hoạt động của các tổ chức quốc tế khác nhau. Điều này đòi hỏi anh em phải trở thành những người cổ võ cho mọi hình thức công lý giúp nhận ra, tái xây dựng và bảo vệ hình ảnh Thiên Chúa được in dấu nơi mỗi con người. Trong việc bảo vệ nhân quyền — trong đó nổi bật lên là quyền tự do tôn giáo và quyền được sống — tôi thúc giục anh em tiếp tục chỉ ra con đường, không phải hướng tới sự đối đầu và đòi hỏi, nhưng là hướng tới việc bảo vệ phẩm giá con người, sự phát triển của các dân tộc và cộng đồng, và thúc đẩy hợp tác quốc tế. Đây là những phương tiện duy nhất cho phép chúng ta dấn bước trên những con đường hòa bình đích thực.

Quý Bề trên và các học viên thân mến, trong một thế giới bị đánh dấu bởi những căng thẳng, dường như coi xung đột là con đường duy nhất để giải quyết các nhu cầu và đòi hỏi, khả năng dấn thân của chúng ta cho việc đối thoại, lắng nghe và hòa giải dường như là không đủ, đôi khi thậm chí là vô ích. Điều này không được phép làm chúng ta nản lòng! Chúng ta hãy tiếp tục tin tưởng khẩn cầu ơn bình an của Đức Kitô, không sợ hãi. Và vững tin rằng thừa tác vụ quảng đại của anh em, ở bất cứ thời điểm nào và bất cứ nơi đâu, sẽ luôn là khí cụ để cổ võ và bảo vệ phẩm giá của mỗi người nam và nữ, được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, cũng như để thăng tiến công ích.

Với những tâm tình đó và với tình phụ tử, nhờ lời chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria và Thánh Antôn Viện phụ, Bổn mạng của anh em, tôi khẩn cầu cho mỗi người trong anh em và cho hành trình tương lai của Học viện Ngoại giao Tòa thánh được hưởng Phép lành Tòa thánh.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 28/4/2026]