Thứ Tư, 29 tháng 4, 2026

Ơn gọi đang gia tăng tại Châu Phi và Châu Á, được nuôi dưỡng bởi đức tin của Dân Chúa

Ơn gọi đang gia tăng tại Châu Phi và Châu Á, được nuôi dưỡng bởi đức tin của Dân Chúa

Thứ Bảy, 25 tháng 04, 2026

Ơn gọi đang gia tăng tại Châu Phi và Châu Á, được nuôi dưỡng bởi đức tin của Dân Chúa


Lm. Guy Bognon*

Chúng tôi đăng tải bài viết của Linh mục Guy Bognon, Tổng Thư ký Hội Giáo hoàng Truyền giáo Thánh Phêrô Tông đồ (POSPA), nhân Ngày Thế giới Cầu nguyện cho Ơn gọi lần thứ 63 (Chúa nhật, ngày 26 tháng 4 năm 2026).

******

Rome (Hãng Thông tấn Fides) – Ngày Thế giới Cầu nguyện cho ơn gọi, do Đức Thánh Cha Phaolô VI thiết lập và được cử hành chính thức lần đầu tiên vào Chúa Nhật, ngày 12 tháng 4 năm 1964, năm nay được cử hành vào ngày 26 tháng 4, Chúa Nhật thứ IV Phục Sinh, còn được gọi là “Chúa Nhật Chúa Chiên Lành”.

Ngày cầu nguyện đặc biệt cho ơn gọi này liên kết mật thiết với Hội Giáo hoàng Thánh Phêrô Tông đồ, tổ chức chuyên chăm lo cho ơn gọi linh mục và đời sống tu trì tại các vùng lãnh thổ thuộc thẩm quyền của Bộ Loan báo Tin Mừng, Phân bộ Loan báo Tin Mừng tiên khởi và các Giáo hội Địa phương mới.


1. Ngày Thế giới Cầu nguyện cho ơn gọi: Ý nghĩa là gì?

Cũng như nhiều từ ngữ bị cắt bỏ ý nghĩa nguyên thủy để xoa dịu lương tâm, thuật ngữ "ơn gọi" (vocation) ngày càng được hiểu theo nghĩa chung như một khuynh hướng hoặc một sự thôi thúc đặc biệt mà một người cảm nhận đối với một nghề nghiệp, một hoạt động hoặc một lối sống.

Hệ quả là, ngày càng có xu hướng biến ngày này thành Ngày Cầu nguyện cho mọi giai đoạn của đời sống, cho mọi loại ơn gọi.

Tuy nhiên, nếu chúng ta trở lại với bối cảnh của sáng kiến do Đức Thánh Cha Phaolô VI khởi xướng, rõ ràng mục đích không phải là cầu nguyện cho những người cảm nhận hoặc chấp nhận ơn gọi để trở thành sử gia, nhà văn, doanh nhân hay họa sĩ, hoặc cho nhiều người trẻ chọn đời sống hôn nhân để trở thành vợ chồng, cha mẹ trong xã hội, bởi lẽ ơn gọi trong các lĩnh vực này thì không thiếu.

Mặc dù thuật ngữ “ơn gọi” cũng có thể mang ý nghĩa đó, nhưng Giáo hội, trong bối cảnh của Ngày Cầu nguyện cho Ơn gọi, hiểu thuật ngữ này theo nghĩa hẹp hơn, như một sự chuyển động nội tâm mà qua đó con người cảm nhận được Thiên Chúa mời gọi đi vào đời sống thánh hiến, linh mục và tu trì. Vì thế, mục đích chính của Ngày này là cầu nguyện để có nhiều người, đặc biệt là người trẻ, chọn trở thành linh mục, nam nữ tu sĩ, và qua đó loan báo Đức Kitô cho thế giới bằng chính cuộc đời mình.

Thật vậy, sứ điệp đầu tiên của Đức Thánh Cha vào Thứ Bảy, ngày 11 tháng 4 năm 1964, nhân dịp Ngày Thế giới Cầu nguyện cho Ơn gọi lần thứ nhất, đã mở đầu bằng những lời: “Vậy các con hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về cho Giáo hội của Người” (x. Mt 9:38). Lý do của lời kêu gọi này rất rõ ràng: “Khi đưa ánh nhìn đầy lo lắng trên những cánh đồng xanh bát ngát đang chờ đợi bàn tay linh mục trên khắp thế giới, thì một lời khẩn cầu tha thiết dâng lên Chúa của các tâm hồn sẽ trổi lên, theo đúng lời khuyên dạy của Đức Kitô.”

Lời kêu gọi này của Đức Thánh Cha, vang vọng lại chính lời của Đức Kitô, xuất phát từ một nhận định đáng quan tâm: sự thiếu hụt những mục tử và những người dấn thân trọn vẹn và hết sức mình cho biết bao nhu cầu mục vụ của công cuộc loan báo Tin Mừng. Chính vì lý do đó mà ngày này đã được công bố là “Ngày Thế giới Cầu nguyện cho Ơn gọi Linh mục và Tu sĩ trong sứ điệp đầu tiên ấy.”

(…)

Lời mời gọi cầu nguyện này được gửi đến mọi thành phần Dân Chúa, và lời cầu nguyện ấy cũng dành cho mọi thành phần Dân Chúa, để mỗi người, tùy theo khả năng và vai trò của mình, có thể góp phần vào việc làm nảy sinh và phát triển các ơn gọi linh mục và tu trì. (...)

Lời cầu nguyện mà mọi thành phần Dân Thiên Chúa được mời gọi cách đặc biệt trong Chúa Nhật Chúa Chiên Lành cần được đưa vào các thực hành đạo đức hằng ngày, bởi nhu cầu về các mục tử luôn có ở mọi nơi và mọi lúc theo những cách thức luôn đổi mới. Những lời cầu nguyện và các việc đạo đức này luôn sinh hoa kết trái.

Nhờ việc đào tạo hàng giáo sĩ địa phương qua cách hỗ trợ các chủng viện giáo phận, liên giáo phận và các trung tâm đào tạo tu sĩ tại những vùng truyền giáo, Hội Giáo hoàng Thánh Phêrô Tông đồ ghi nhận sự gia tăng hằng năm về số lượng chủng sinh và tập sinh chọn con đường tiến tới chức linh mục hoặc đời sống tu trì.

Chẳng hạn, nếu chúng ta xem xét dữ liệu cho niên khóa 2023/24 (778 chủng viện với 82.859 chủng sinh) và niên khóa 2024/25 (801 chủng viện với 88.156 chủng sinh), có sự khác biệt tích cực là tăng 23 chủng viện và 5.297 chủng sinh.

Có nhiều cách lý giải cho sự gia tăng hằng năm về số lượng chủng viện và chủng sinh này.


2. Một số lý do rõ ràng của sự gia tăng ơn gọi linh mục

Nói chung, và từ góc độ đức tin, sự gia tăng ơn gọi linh mục và tu trì là một dấu chỉ hữu hình cho thấy Chúa lắng nghe lời cầu nguyện của dân Người khi họ chạy đến với Người trong cơn thiếu thốn, đồng thời, Người cũng đảm nhận phần trách nhiệm của Người. Như Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã khẳng định trong Tông huấn Pastores dabo vobis: “Ân sủng của Thiên Chúa không hủy bỏ tự do của con người, nhưng trái lại, đánh thức nó, làm cho nó sinh hoa kết trái và nâng cao nó. Vì thế, niềm tin tưởng tuyệt đối của Giáo hội vào sự trung tín vô điều kiện của Thiên Chúa đối với lời hứa của Người luôn đi đôi với trách nhiệm lớn lao là cộng tác vào công trình của Thiên Chúa, Đấng kêu gọi chúng ta góp phần tạo ra và duy trì các điều kiện để hạt giống do Thiên Chúa gieo rắc có thể bén rễ và sinh nhiều hoa trái.” Những điều kiện này, ở một mức độ nào đó, tạo nên mảnh đất màu mỡ nuôi dưỡng các ơn gọi linh mục và tu trì tại những quốc gia mà luận lý thuần túy của con người ít mong đợi nhất.

Theo báo cáo của các nhà đào tạo chủng viện, những người trẻ gia nhập chủng viện thường xuất thân từ những hoàn cảnh khiêm tốn và sống trong điều kiện kinh tế giản dị. Một số người trong đó đã trải qua cảnh nghèo túng, và nhờ đó phát triển được sự nhạy cảm trước nỗi khổ của những người túng thiếu, người bệnh, người không có tiếng nói, người bị bỏ rơi và bị nhục mạ. Họ cảm thấy một tiếng gọi nội tâm sâu xa muốn hiến dâng đời mình để phục vụ những người mà không ai có thời gian dành cho họ. Nhờ kinh nghiệm những hoàn cảnh khó khăn, họ đã đạt được khả năng thinh lặng, suy tư, phát triển bản thân, đời sống thiêng liêng và cầu nguyện. Họ cởi mở hơn trước tiếng gọi âm thầm và dịu dàng của Thiên Chúa, mời gọi họ phục vụ tha nhân.

Những nơi có nhiều ơn gọi là những nơi đức tin được sống cách nhiệt thành. Linh mục và tu sĩ trước hết cần các Kitô hữu. Những ơn gọi dồi dào này là hoa trái của một đức tin sống động, được sống trong niềm vui, không mặc cảm hay xấu hổ giả tạo, qua việc cử hành thường xuyên các bí tích Rửa tội, Thánh Thể, Thêm sức, Hòa giải và Hôn phối theo đúng nguyên tắc của Giáo hội.

Ơn gọi nảy sinh trong những môi trường nơi các giáo huấn của Giáo hội Công giáo được tuân giữ mà không có sự chọn lọc chỉ giữ lại những gì dễ chịu, êm ái, và sẵn sàng loại bỏ những gì bị xem là khó khăn, khắt khe hay lỗi thời.

Đó là những nơi mà các nhân viên mục vụ, linh mục, nam nữ tu sĩ dễ dàng tiếp xúc với người trẻ thông qua các dự án mục vụ đa dạng và việc giảng dạy giáo lý nghiêm túc; những nơi mà giới trẻ được bảo đảm rằng những trải nghiệm của họ trong Giáo hội sẽ không hạn chế tự do của họ, nhưng trái lại làm phong phú và góp phần vào sự phát triển trọn vẹn tự do đó.

Đó là các giáo xứ hoặc giáo phận nơi mục vụ ơn gọi được cấu trúc và tổ chức trong sự đơn sơ theo các thực tại địa phương, mà không đi vào tính phức tạp trừu tượng và trí thức thái quá, nhằm đồng hành với người trẻ bằng sự tận tụy và tình yêu trong việc tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa cho cuộc đời họ. Điều này cho thấy rằng ngay cả tại các quốc gia truyền giáo này, nơi các ơn gọi nói chung là dồi dào, vẫn có thể nhận thấy sự suy giảm hoặc vắng bóng ơn gọi tại những giáo xứ nơi các linh mục ít quan tâm đến người trẻ và gặp khó khăn trong việc thực hiện mục vụ ơn gọi cách hiệu quả.

Tóm lại, cần lưu ý rằng các khu vực và giáo phận nơi còn duy trì tiểu chủng viện đang chứng kiến sự gia tăng đáng kể các ơn gọi linh mục và tu trì khác. Mục tiêu của tiểu chủng viện là “giúp sự phát triển nhân bản và Kitô giáo của các thiếu niên biểu lộ những hạt giống ơn gọi linh mục thừa tác. Theo cách thức phù hợp với lứa tuổi, nó phát triển sự tự do nội tâm nhờ đó có thể đáp lại kế hoạch của Thiên Chúa cho đời mình” (Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis 2016, số 18).

Theo các Cha Giám đốc, những Tiểu chủng viện này là nguồn cung cấp quan trọng nhất các ứng sinh bước vào Chủng viện Dự bị, Đại chủng viện, Tập viện và các cơ sở đào tạo khác của các dòng tu.

Trước sự gia tăng các ơn gọi, đòi hỏi phải thiết lập thêm các chủng viện mới, các Hội Giáo hoàng Truyền giáo Thánh Phêrô Tông đồ ý thức sâu xa hơn vai trò của mình và không ngừng tìm kiếm những cách thức và phương tiện để góp phần vào việc đào tạo những người trẻ cảm nhận được ơn gọi đặc biệt này đối với đời sống thánh hiến.


3. Vai trò hiện nay của Hội Giáo hoàng Truyền giáo Thánh Phêrô Tông đồ (POSPA) trong lãnh vực đào tạo ơn gọi

Việc đào tạo một người trẻ cảm nhận ơn gọi từ Thiên Chúa không chỉ là trách nhiệm của riêng gia đình họ, càng không phải của riêng giáo xứ nhà, mà là của toàn thể Giáo hội hoàn vũ. Vì thế, các chủng viện và trung tâm đào tạo tu sĩ cần sự hỗ trợ quảng đại của tất cả các tín hữu, để giúp những ứng sinh có thể nhận được sự đào tạo thích hợp và cần thiết, giúp họ trở thành những mục tử và nhà truyền giáo của Giáo hội. (…)

Nếu không có sự hỗ trợ của Hội Giáo hoàng Truyền giáo Thánh Phêrô Tông đồ, vốn dựa vào nguồn lực của các Ban Chỉ đạo Quốc gia thuộc Các Hội Giáo hoàng Truyền giáo, nhiều chủng viện ngày nay sẽ buộc phải đóng cửa, và việc thành lập các chủng viện mới là nhu cầu cấp bách. Việc thành lập các chủng viện mới cần thiết sẽ rất khó khăn, nếu không muốn nói là không thể, và nhiều thanh niên có tiềm năng cho ơn gọi linh mục sẽ phải theo đuổi một con đường sống khác. Trong Tông thư kỷ niệm 100 năm thành lập Hội Giáo hoàng Truyền giáo Thánh Phêrô Tông đồ năm 1989, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã viết: “Sự phát triển của hàng giáo sĩ địa phương có thể bị cản trở bởi nguồn lực thiếu thốn. Nhiều Giám mục từ các vùng truyền giáo làm chứng rằng ngay cả ngày nay, nhiều giáo phận sẽ thấy mất hy vọng có hàng giáo sĩ địa phương nếu không có sự trợ giúp của Hội Giáo hoàng Thánh Phêrô Tông đồ.” Nhiều thập kỷ sau, những lời này của Đức Thánh Cha vẫn mang tính thời sự hơn bao giờ hết.

Dựa trên dữ liệu hiện tại, Hội Giáo hoàng Truyền giáo Thánh Phêrô Tông đồ đã cấp các khoản trợ cấp thường kỳ cho niên khóa 2024/25 cho các cơ sở sau:

  • 449 Tiểu chủng viện với tổng số 53.405 chủng sinh, trong đó 84% ở Châu Phi và 16% ở Châu Á.
  • 141 Chủng viện Dự bị với tổng số 6.575 chủng sinh, trong đó 77% ở Châu Phi, 17% ở Châu Á, 2% ở Châu Mỹ và 1% ở Châu Đại dương.
  • 211 Đại chủng viện với tổng số 23.312 chủng sinh, trong đó 68% ở Châu Phi, 21% ở Châu Á, 1% ở Châu Mỹ và 1% ở Châu Đại dương.
Bên cạnh các khoản trợ cấp thông thường cho hoạt động hằng ngày của các chủng viện, những khoản được gọi là trợ cấp đặc biệt cũng được dành cho các dự án xây dựng hoặc cải thiện vật chất quan trọng cần thiết cho đời sống chủng viện. Hơn nữa, để bảo đảm chất lượng đào tạo các ứng sinh, những khóa đào tạo dành cho các nhà đào tạo chủng viện cũng được tổ chức và hỗ trợ tại nhiều quốc gia. Cùng với mục tiêu này, các học bổng cũng được cấp tại các đại học Công giáo để đào tạo những linh mục được các Hội đồng Giám mục phân công giảng dạy và đào tạo tại các chủng viện. Những học bổng này cũng được mở rộng cho các nam nữ tu sĩ thuộc những dòng tu địa phương thuộc quyền giáo phận, để đào tạo các nhà đào tạo trong những tập viện của họ.

Ngoài các chủng viện nơi đào tạo linh mục triều, Hội Thánh Phêrô Tông đồ cũng chăm lo cho các tập sinh của các dòng tu đang hiện diện tại những vùng truyền giáo bằng cách gửi một khoản đóng góp khiêm tốn hằng năm như một trợ cấp thông thường cho các nhà tập thuộc các hội dòng, thuộc quyền giáo phận cũng như thuộc quyền giáo hoàng. Theo dữ liệu gần đây nhất, Hội giám sát 1.200 tập viện với tổng số 7.845 tập sinh, trong đó có 2.801 nam và 5.044 nữ. Các ơn gọi tu trì cũng rất dồi dào và đang nhân rộng, đặc biệt là ở Châu Phi và Châu Á.

Điều quan trọng cần lưu ý là mặc dù ơn gọi tại các vùng truyền giáo đang gia tăng, nhưng mùa gặt vẫn tiếp tục mở rộng, và nhu cầu về những cộng sự viên đang ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết, đặc biệt là ở những Giáo hội đang cần được trợ giúp nhất trong thời điểm khi sứ vụ được đòi hỏi ở khắp mọi nơi.

Mỗi Giáo hội địa phương, theo ơn gọi của mình, được mời gọi quan tâm và tham gia vào các nhu cầu của Giáo hội hoàn vũ, và vì thế là của tất cả các giáo hội khác, qua lời cầu nguyện và đối thoại. Dù nhu cầu hay tính cấp bách của sứ vụ tại chính lãnh thổ mình như thế nào, mỗi Giáo hội vẫn phải có khả năng quan tâm đến đời sống của các Giáo hội khác và chia sẻ những nguồn lực của mình với họ, để Thân Thể Đức Kitô được mở rộng đến tận cùng trái đất và cho đến tận cùng thời gian.

(Hãng tin Fides, 25/4/2026)

*Hội Linh mục Xuân Bích

Tổng Thư ký Hội Giáo hoàng Thánh Phêrô Tông đồ


[Nguồn: fides.org]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 27/4/2026]


5 chủ đề của Ngày Giới trẻ Thế giới Seoul 2027: cuộc quy tụ toàn cầu trọng đại của giới trẻ Công giáo

5 chủ đề của Ngày Giới trẻ Thế giới Seoul 2027: cuộc quy tụ toàn cầu trọng đại của giới trẻ Công giáo
Năm vị Thánh Bổn mạng của Ngày Giới trẻ Thế giới Seoul 2027

5 chủ đề của Ngày Giới trẻ Thế giới Seoul 2027: cuộc quy tụ toàn cầu trọng đại của giới trẻ Công giáo


Tiến trình chọn đã bắt đầu từ cuối năm 2024 và bao gồm một cuộc khảo sát trên toàn quốc dành cho người trẻ, các thừa tác viên giới trẻ và nhân viên mục vụ, tiếp theo là việc rà soát các ứng viên và cân nhắc của Ủy ban Tổ chức Địa phương (LOC)


26 Tháng Tư, 2026 21:38

ZENIT STAFF


(ZENIT News / Seoul, 26.04.2026). – Ủy ban Tổ chức Địa phương (LOC) của Ngày Giới trẻ Thế giới Seoul 2027 công bố năm vị Thánh Bổn mạng của Ngày Giới trẻ Thế giới năm 2027 tại Seoul.

Tại mỗi kỳ Đại hội Giới trẻ Thế giới, các thánh bổn mạng được chọn là những mẫu gương đức tin cho người trẻ, mang đến sự hướng dẫn qua chứng tá đời sống và linh đạo của các ngài. Đối với Ngày Giới trẻ Thế giới Seoul 2027, các vị thánh đã được chọn theo các chủ đề thiêng liêng của sự kiện là sự thật, tình yêu và hòa bình.

Năm vị Thánh Bổn mạng của Ngày Giới trẻ Thế giới Seoul 2027 là:

  • Thánh Gioan Phaolô II (1920–2005) — vị sáng lập Ngày Giới trẻ Thế giới, luôn được nhớ đến qua cách nhấn mạnh đặc biệt của ngài đến giới trẻ, gia đình và phẩm giá sự sống con người.
  • Thánh Anrê Kim Taegon (1821–1846) và các bạn tử đạo — linh mục Công giáo Hàn Quốc đầu tiên, biểu tượng của đức tin và lòng can trường, đã chịu tử đạo khi còn rất trẻ.
  • Thánh Frances Xavier Cabrini (1850–1917) — một nhà truyền giáo nổi tiếng với việc chăm sóc người di cư và người nghèo
  • Thánh Josephine Bakhita (1869–1947) — một người từng là nô lệ, sau trở thành nữ tu, chứng nhân của niềm hy vọng, tự do và đức tin được biến đổi qua đau khổ
  • Thánh Carlo Acutis (1991–2006) — một vị thánh trẻ của thời đại kỹ thuật số, đời sống của ngài vẫn là một mẫu gương cho việc loan báo Tin Mừng trên môi trường internet
Tiến trình chọn đã bắt đầu từ cuối năm 2024 và bao gồm một cuộc khảo sát trên toàn quốc dành cho người trẻ, các thừa tác viên giới trẻ và nhân viên mục vụ, tiếp theo là việc rà soát các ứng viên và cân nhắc của Ủy ban Tổ chức Địa phương (LOC).

5 chủ đề của Ngày Giới trẻ Thế giới Seoul 2027: cuộc quy tụ toàn cầu trọng đại của giới trẻ Công giáo

Sau bước chọn, một nhóm các tình nguyện viên trẻ dành ra hai tháng để nghiên cứu về cuộc đời và linh đạo của năm Thánh Bổn mạng. Qua cầu nguyện, thảo luận và suy tư chung, họ đã chuẩn bị lời nguyện riêng, và một biểu tượng đại diện cho mỗi vị thánh, nhằm diễn tả chứng tá đặc trưng mà mỗi vị mang đến cho người trẻ hôm nay.

Đức Hồng y Kevin Farrell, Tổng trưởng Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống, phát biểu: “Các Thánh Bổn mạng giữ vai trò nền tảng trong tiến trình chuẩn bị cho mỗi kỳ Đại hội Giới trẻ Thế giới. Các ngài mời gọi người trẻ, các nhà đào tạo và các mục tử suy tư về món quà ơn gọi đến từ Thiên Chúa, về các ơn gọi rửa tội, linh mục, tu sĩ và hôn nhân, khích lệ chúng ta đáp lại tiếng gọi đó với lòng quảng đại và can đảm bước theo Đức Kitô, Đấng đã chiến thắng thế gian, như chủ đề của Ngày Giới trẻ Thế giới sắp tới nhắc nhở chúng ta.”

Đức Hồng y Farrell kết luận, “Ước gì chứng tá của các Thánh Bổn mạng này truyền cảm hứng cho người trẻ trên khắp thế giới, đặc biệt trong những bối cảnh đầy khó khăn và bách hại, để nhận ra rằng nên thánh không phải là một lý tưởng xa vời, để biết hướng nhìn lên Đức Kitô và quảng đại đáp lại tiếng gọi của Người.”

Đức Tổng Giám mục Phêrô Soon-taick Chung của Seoul, Chủ tịch Ủy ban Tổ chức Địa phương Ngày Giới Trẻ Thế Giới Seoul 2027, nói: “Các Thánh Bổn mạng này trải dài qua các châu lục và thế hệ, và mỗi vị đều đưa ra một con đường sống đức tin cụ thể giữa những thực tại mà người trẻ đang đối diện hôm nay. Tôi hy vọng rằng người trẻ sẽ khám phá ra nơi các vị thánh này những mẫu gương cho chính đời sống của họ, và qua hành trình chuẩn bị cho Ngày Giới trẻ Thế giới, sẽ hình thành một mối tương quan thiêng liêng sâu sắc với các ngài.”

Ban Tổ Chức Địa Phương (LOC) sẽ tiếp tục giới thiệu cuộc đời và linh đạo của các Thánh Bổn mạng qua trang web chính thức của Ngày Giới trẻ Thế giới Seoul 2027 và các kênh truyền thông xã hội, đồng thời phát triển thêm các nội dung và chương trình bổ trợ để giúp người trẻ gắn kết gần gũi hơn với chứng tá của các ngài.

Cùng với thông báo này, Ban Tổ Chức Địa Phương cũng giới thiệu một tính năng tương tác mang tên "Gặp gỡ Thánh Bổn mạng của bạn!". Được trình bày theo phong cách trắc nghiệm tính cách và các câu đố tương tác rất phổ biến trong giới trẻ hiện nay, tính năng này mời gọi người dùng trả lời một loạt câu hỏi trắc nghiệm để khám phá xem ai trong số năm vị Thánh Bổn mạng phù hợp nhất với mình.

Sáng kiến này mời gọi người trẻ tiếp cận với các Thánh Bổn mạng không chỉ đơn thuần như những nhân vật lịch sử, mà còn là những người bạn đồng hành, mà cuộc đời của các ngài vẫn có thể trả lời cho những câu hỏi và niềm hy vọng của ngày nay.


[Nguồn: zenit]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 27/4/2026]


Thứ Ba, 28 tháng 4, 2026

Suy niệm của Đức Thánh Cha về bài Tin Mừng Chúa Nhật Chúa Chiên Lành hôm nay

Suy niệm của Đức Thánh Cha về bài Tin Mừng Chúa Nhật Chúa Chiên Lành hôm nay

Suy niệm của Đức Thánh Cha về bài Tin Mừng Chúa Nhật Chúa Chiên Lành hôm nay

Zwiebackesser | Shutterstock

Kathleen N. Hattrup

26/04/26


Chúng ta phải tự hỏi mình: Chúng ta muốn ai dẫn dắt cuộc đời mình? Những “kẻ trộm” nào đã tìm cách đột nhập vào đoàn chiên của chúng ta? Chúng đã thành công, hay chúng ta đã có thể ngăn chặn chúng?

Như thường lệ vào mỗi Chúa Nhật, Đức Thánh Cha Lêô suy niệm về bài Tin Mừng của Chúa Nhật này trước khi chủ sự buổi đọc kinh Nữ Vương Thiên Đàng giữa trưa cùng với các tín hữu quy tụ tại Quảng trường Thánh Phêrô.

Chúa Nhật này là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, vì thế Đức Thánh Cha đã suy tư về mối tương quan này với Chúa chúng ta.

Dưới đây là nội dung bài suy niệm của ngài:

_____________________________


Anh chị em thân mến, chào anh chị em và chúc anh chị em Chúa Nhật an lành!

Khi chúng ta tiếp tục hành trình trong mùa Phục Sinh, bài Tin Mừng hôm nay trình bày cho chúng ta việc Chúa Giêsu tự ví Người với một người mục tử và cũng là cửa chuồng chiên (x. Ga 10:1–10).

Chúa Giêsu đặt ra sự tương phản giữa người chăn chiên và kẻ trộm. Thật vậy, Người nói rằng “ai không đi qua cửa mà vào đàn chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộm và kẻ cướp” (c. 1). Rồi Người tiếp tục làm rõ điều này hơn nữa: “Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá hủy. Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (c. 10). Sự khác biệt đã rõ: người mục tử có một mối dây liên kết đặc biệt với đàn chiên của mình và vì thế có thể đi qua cửa ràn chiên mà vào. Ngược lại, nếu ai đó phải trèo qua hàng rào để vào, thì kẻ đó chắc chắn là kẻ trộm muốn đánh cắp đàn chiên.

Chúa Giêsu đang nói với chúng ta rằng Người gắn bó với chúng ta bằng một mối tương quan tình bạn, vì Người biết rõ chúng ta, gọi tên từng người chúng ta, dẫn dắt chúng ta, và — giống như người chăn chiên đối với đàn chiên của mình — tìm kiếm chúng ta khi chúng ta lạc mất và băng bó vết thương khi chúng ta đau yếu (x. Êd 34:16). Chúa Giêsu không đến như một kẻ trộm để lấy đi sự sống và tự do của chúng ta, nhưng để dẫn dắt chúng ta trên những nẻo đường công chính. Người không đến để giăng bẫy hay lừa dối lương tâm chúng ta, nhưng để soi sáng nó bằng ánh sáng khôn ngoan của Người. Người không đến để làm hoen ố những niềm vui trần thế của chúng ta, nhưng để mở ra cho chúng ta một niềm hạnh phúc viên mãn và bền vững hơn. Những ai ký thác cuộc đời cho Người thì không có gì phải sợ hãi, vì Người không tước đoạt sự sống của chúng ta, nhưng đến để ban cho chúng ta sự sống dồi dào (x. c. 10).

Thưa anh chị em, chúng ta được mời gọi suy tư, và đặc biệt là tỉnh thức canh giữ cửa ngõ tâm hồn và đời sống của mình, bởi vì bất cứ ai bước vào cũng có thể làm tăng thêm niềm vui cho chúng ta, hoặc đánh cắp niềm vui ấy như một kẻ trộm. Những “kẻ trộm” có thể mang nhiều hình thức khác nhau. Đó có thể là: những người, bất kể diện mạo bên ngoài ra sao, lại kìm hãm tự do của chúng ta hoặc không tôn trọng phẩm giá của chúng ta; những niềm tin và định kiến ngăn cản chúng ta nhìn tha nhân và cuộc sống với sự bình an; các ý tưởng sai lầm có thể dẫn chúng ta đến những lựa chọn tiêu cực; hoặc những lối sống hời hợt và tiêu thụ khiến lòng chúng ta trống rỗng và đẩy chúng ta vào lối sống vượt ra ngoài chính mình.

Và chúng ta đừng quên những “kẻ trộm” đang cướp bóc tài nguyên của trái đất, gây ra những cuộc chiến tranh khát máu, hoặc nuôi dưỡng cái ác dưới mọi hình thức, không làm gì khác ngoài việc cướp đi nơi mỗi người chúng ta khả năng có một tương lai được ghi dấu bởi hòa bình và an lạc.

Chúng ta phải tự hỏi mình: Chúng ta muốn ai dẫn dắt cuộc đời mình? Những “kẻ trộm” nào đã tìm cách đột nhập vào đoàn chiên của chúng ta? Chúng đã thành công, hay chúng ta đã có thể ngăn chặn chúng?

Hôm nay, Tin Mừng mời gọi chúng ta tín thác nơi Chúa. Người không đến để lấy đi bất cứ điều gì của chúng ta. Ngược lại, Người là Vị Mục Tử Nhân Lành, Đấng làm gia tăng sự sống và ban tặng sự sống ấy cho chúng ta một cách dồi dào. Nguyện xin Đức Trinh Nữ Maria luôn đồng hành với chúng ta trên hành trình và chuyển cầu cho chúng ta cũng như cho toàn thế giới.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 27/4/2026]


Đức Thánh Cha nói với các tân linh mục: “Hãy để mọi người vào, và sẵn sàng bước ra”

 

Đức Thánh Cha nói với các tân linh mục: “Hãy để mọi người vào, và sẵn sàng bước ra”

Đức Thánh Cha nói với các tân linh mục: “Hãy để mọi người vào, và sẵn sàng bước ra”

ANDREAS SOLARO | ANDREAS SOLARO


Kathleen N. Hattrup

26/04/26


Hôm nay tại Roma, Đức Thánh Cha Lêô đã truyền chức linh mục cho 10 tiến chức. Dưới đây là toàn văn bài giảng của ngài: Anh em được mời gọi tiến đến một cách thức yêu thương cụ thể, tinh tế và khó khăn, và hơn thế nữa, là cho phép chính anh em được yêu thương trong tự do.

Vào Chúa Nhật Chúa Chiên Lành hôm nay, cũng là Ngày Thế giới Cầu nguyện cho Ơn gọi, Đức Thánh Cha Lêô đã cử hành Thánh lễ tại Roma và truyền chức cho 10 tân linh mục.

Các linh mục này thuộc Giáo phận Roma, phần lớn là người Ý, ngoài ra còn có một vị đến từ Cameroon và một vị từ Colombia.

Dưới đây là toàn văn bài giảng của Ngài.

________________________________


Anh chị em thân mến,

Tôi gửi lời chào đặc biệt đến những anh em vừa được giới thiệu để lãnh nhận thiên chức linh mục, đến gia đình của anh em, đến các linh mục của Roma, mà nhiều anh em trong đó cũng đã được truyền chức vào chính Chúa Nhật IV Phục Sinh này, và đến tất cả anh chị em đang hiện diện.

Chúa Nhật này tràn đầy sức sống! Dù cái chết đang bao quanh chúng ta, nhưng lời hứa của Chúa Giêsu đã trở thành hiện thực: “Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10:10). Chúng ta nhìn thấy sự quảng đại và lòng nhiệt thành lớn lao nơi sự sẵn sàng của những người trẻ này, những người mà hôm nay Giáo hội kêu gọi để lãnh nhận chức linh mục. Là một cộng đoàn đông đảo và đa dạng quy tụ quanh một Thầy duy nhất, chúng ta cảm nhận được một sự hiện diện đổi mới chúng ta. Đó chính là Chúa Thánh Thần, Đấng hiệp nhất mọi người và mọi ơn gọi trong tự do, để không còn ai sống cho riêng mình. Mỗi Chúa Nhật đều mời gọi chúng ta bước ra khỏi “nấm mồ” của sự cô lập và khép kín, để chúng ta có thể gặp gỡ nhau trong khu vườn của sự hiệp thông, nơi Đấng Phục Sinh là Đấng canh giữ chúng ta.

Ơn gọi của những anh em này mời gọi chúng ta suy tư về sự phục vụ của người linh mục, vốn là thừa tác vụ hiệp thông. Thật vậy, “sự sống dồi dào” đến với chúng ta qua cuộc gặp gỡ mang tính cá nhân sâu sắc với Chúa Con, nhưng ngay lập tức mở mắt chúng ta hướng về anh chị em mình, những người đã đang trải nghiệm, hoặc còn đang kiếm tìm “quyền trở nên con Thiên Chúa” (Ga 1:12). Đây chính là một bí quyết cho đời sống linh mục. Các tiến chức thân mến, mối tương quan của anh em với Đức Kitô càng sâu sắc bao nhiêu, thì sự thuộc về toàn thể nhân loại của anh em càng triệt để bấy nhiêu. Không có sự đối nghịch hay cạnh tranh giữa trời và đất; trong Chúa Giêsu, cả hai được hiệp nhất mãi mãi. Mầu nhiệm sống động và năng động này liên kết con tim vào một tình yêu bất khả phân ly: nó ràng buộc và làm tràn đầy con tim. Chắc chắn, giống như tình yêu của các đôi vợ chồng là tình yêu truyền cảm hứng cho đời sống độc thân, vì Nước Trời cũng phải được gìn giữ và canh tân không ngừng, bởi mọi tình cảm chân thành đều trưởng thành và sinh hoa kết trái theo thời gian. Anh em được mời gọi tiến đến một cách thức yêu thương cụ thể, tinh tế và khó khăn, và hơn thế nữa, là cho phép chính anh em được yêu thương trong tự do. Điều này sẽ làm cho anh em không chỉ trở thành những linh mục tốt, mà còn là những công dân ngay thẳng, sẵn sàng giúp đỡ, là những người xây dựng hòa bình và tình bằng hữu xã hội.

Về điểm này, thật đáng chú ý trong bài Tin Mừng vừa được công bố (Ga 10:1–10), khi Chúa Giêsu đề cập đến những nhân vật và hành động hung hãn: những kẻ lạ mặt, những kẻ trộm và kẻ cướp, những kẻ bất chấp ranh giới và chen vào giữa Chúa và những kẻ được Người yêu thương. Chúa Giêsu nói, họ đến “chỉ để ăn trộm, giết hại và phá hủy” (c. 10). Tiếng của họ khác với tiếng của Người, và không thể nhận biết được (x. c. 5). Những lời của Chúa đầy tính hiện thực. Người thấu hiểu sự độc ác của thế gian, nơi Người đang bước đi cùng chúng ta. Qua những lời ấy, Người không chỉ gợi lên những hình thức xâm hại về thể lý, mà trên hết là sự xâm hại về tinh thần. Tuy nhiên, điều đó không làm Người từ bỏ việc hiến mạng sống mình. Sự tố cáo không trở thành sự từ bỏ; hiểm nguy không dẫn đến việc chạy trốn. Đây là một bí quyết khác cho đời sống linh mục: chúng ta không để thực tại làm chúng ta khiếp sợ. Chính Chúa của sự sống là Đấng kêu gọi chúng ta. Anh em thân mến, ước gì thừa tác vụ được trao phó cho anh em sẽ chuyển tải sự bình an của những người biết rằng họ được an toàn, ngay cả giữa những hiểm nguy.

Ngày nay, nhu cầu về sự an toàn khiến con người trở nên hung hãn, khiến các cộng đồng trở nên khép kín và dẫn con người đến việc tìm kiếm kẻ thù và những con dê tế thần. Nỗi sợ hãi thường hiện hữu quanh chúng ta và có lẽ ngay trong chính chúng ta. Ước mong sự an toàn của anh em không nằm ở vai trò mà anh em đảm nhận, nhưng ở nơi sự sống, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu, cũng như trong việc tham dự của anh em vào lịch sử cứu độ, cùng với dân của mình. Ơn cứu độ này đã và đang hoạt động trong biết bao việc lành được âm thầm thực hiện bởi những người thiện chí trong các giáo xứ và môi trường nơi anh em sẽ gia nhập với tư cách là những người bạn đồng hành. Những gì anh em loan báo và cử hành sẽ bảo vệ anh em, ngay cả trong những thời điểm khó khăn.

Trong những cộng đoàn nơi anh em được sai đến, Đấng Phục Sinh đã hiện diện rồi, và nhiều người đã bước theo Chúa một cách đáng khen ngợi. Anh em sẽ nhận ra những dấu thương của Người và phân biệt được tiếng của Người. Anh em sẽ gặp những con người hướng dẫn anh em đến với Người. Những cộng đoàn này cũng sẽ giúp anh em nên thánh! Về phần anh em, hãy giúp họ cùng nhau tiến bước, theo chân Chúa Giêsu, Vị Mục Tử Nhân Lành, để họ trở thành những nơi chốn – những khu vườn – của sự sống được tái sinh và được chia sẻ cho người khác. Con người thường thiếu một nơi để họ có thể hiểu ra rằng: đến với nhau thì tốt hơn và đẹp hơn, và rằng hòa hợp với nhau là điều khả thi. Tạo điều kiện cho các cuộc gặp gỡ, giúp quy tụ những người vốn dĩ chẳng bao giờ gặp nhau, và hòa giải sự chia rẽ, đó cũng là một cách giống như cử hành Bí tích Thánh Thể và Bí tích Hòa giải. Đến với nhau luôn có nghĩa là tái xây đắp Giáo hội một cách mới mẻ.

Tại một thời điểm trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu bắt đầu nói về chính Người bằng một hình ảnh quan trọng. Người mô tả mình là “mục tử”, nhưng những người nghe dường như không hiểu. Vì thế, Người thay đổi cách ẩn dụ: “Thật, tôi bảo thật các ông: Tôi là cửa cho chiên ra vào” (Ga 10:7). Tại Giêrusalem, có một cánh cổng được gọi chính xác như vậy, “Cửa chiên”, gần hồ Bethesda. Chiên và cừu được đưa vào đền thờ qua cổng đó, trước hết được dìm trong nước, rồi sau đó được dành cho việc hiến tế. Hình ảnh này ngay lập tức nhắc chúng ta nhớ về Bí tích Rửa tội.

Chúa Giêsu nói: “Tôi là cửa”. Năm Thánh đã cho chúng ta thấy rằng hình ảnh này vẫn tiếp tục nói với trái tim của hàng triệu người. Trong suốt nhiều thế kỷ, những cánh cửa – thường là những cổng lớn thực thụ – đã mời gọi con người bước qua ngưỡng cửa của Giáo hội. Trong một số trường hợp, giếng rửa tội được xây ở bên ngoài, giống như hồ Bethesda cổ xưa, “nhiều người đau ốm, đui mù, què quặt, bất toại nằm la liệt” dưới các hành lang của nó (Ga 5:3). Các tiến chức thân mến, hãy coi mình là một phần của nhân loại đau khổ này, đang mong chờ sự sống dồi dào. Khi dẫn đưa người khác đến với đức tin, anh em sẽ thắp sáng lại chính đức tin của mình. Cùng với các tín hữu đã được rửa tội, anh em sẽ bước qua ngưỡng cửa của mầu nhiệm mỗi ngày – ngưỡng cửa mang dung mạo và danh của Chúa Giêsu. Đừng bao giờ che giấu cửa thánh này. Đừng ngăn chặn nó; đừng trở thành chướng ngại đối với những ai muốn bước vào. “Các người đã không vào, mà những kẻ muốn vào, các người lại ngăn cản” (Lc 11:52): đây là lời quở trách cay đắng của Chúa Giêsu dành cho những kẻ đã giấu chiếc chìa khóa của một lối đi vốn được dành mở rộng cho tất cả mọi người.

Ngày nay hơn bao giờ hết, đặc biệt là khi những số liệu thống kê dường như cho thấy một sự chia cách giữa con người và Giáo hội, hãy giữ cho cánh cửa luôn rộng mở! Hãy để mọi người bước vào, và hãy sẵn sàng bước ra. Đây là một bí quyết khác cho đời sống của anh em: anh em là một kênh dẫn, không phải là một bộ lọc. Nhiều người tin rằng họ đã biết những gì nằm phía bên kia ngưỡng cửa ấy. Họ mang theo những ký ức, có lẽ từ một quá khứ xa xôi. Thường thì có một điều gì đó trong họ vẫn còn sống động, chưa hề lụi tắt; điều này lôi kéo họ vào. Tuy nhiên, cũng có những lúc, trong họ lại có một điều gì đó vẫn còn rỉ máu và đẩy họ ra xa. Chúa thấu biết, và Người chờ đợi. Hãy là sự phản chiếu cho sự kiên nhẫn và dịu dàng của Người. Anh em thuộc về mọi người và cho mọi người! Đây là mục đích căn bản cho sứ mạng của anh em: giữ cho ngưỡng cửa luôn mở và hướng dẫn người khác đến đó, mà không cần dùng quá nhiều lời.

Mặt khác, Chúa Giêsu khẳng định và làm sáng tỏ: “Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ” (Ga 10:9). Người không bóp nghẹt tự do của chúng ta. Có những cộng đoàn làm người ta ngột ngạt; có những nhóm rất dễ gia nhập nhưng gần như không thể rời bỏ. Đó không phải là trường hợp Hội Thánh của Chúa, cũng không phải của cộng đoàn các môn đệ của Người. Chúa Giêsu nói, ai được cứu thì có thể “ra vào và gặp được đồng cỏ”. Tất cả chúng ta đều tìm kiếm nơi trú ẩn, sự nghỉ ngơi và được chăm sóc. Những cánh cửa của Giáo hội luôn mở, nhưng không phải để tách biệt chúng ta khỏi cuộc sống: sự sống không kết thúc trong một giáo xứ, trong một hội đoàn, trong một phong trào, hay trong một nhóm. Ai được cứu đều có thể “ra đi và gặp được đồng cỏ”.

Anh em thân mến, hãy đi ra và khám phá văn hóa, con người và cuộc sống! Hãy kinh ngạc trước những điều mà Thiên Chúa làm cho lớn lên mà chúng ta không hề gieo trồng. Những người mà anh em sẽ phục vụ với tư cách là linh mục – giáo dân và các gia đình, người trẻ và người già, trẻ em và người bệnh – cư ngụ nơi những đồng cỏ mà anh em phải tìm hiểu. Đôi khi anh em sẽ cảm thấy mình thiếu những bản đồ cần thiết. Nhưng Vị Mục Tử Nhân Lành có chúng; hãy lắng nghe tiếng rất quen thuộc của Người. Biết bao người ngày nay cảm thấy lạc lối! Nhiều người cảm thấy họ không còn tìm được phương hướng. Trong bối cảnh ấy, không có chứng tá nào quý giá hơn điều này: “Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành, và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người" (Tv 23:2–3). Danh Người là Giêsu: “Thiên Chúa cứu độ”! Anh em là những chứng nhân cho điều đó. “Lòng nhân hậu và tình thương Chúa ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời” (Tv 23:6). Anh chị em và các bạn trẻ thân mến: nguyện ước được như vậy!


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 27/4/2026]


Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026

Tiếp kiến các tham dự viên cuộc Họp mặt toàn quốc của các nhà giáo dục môn tôn giáo Công giáo, 25.04.2026

Tiếp kiến các tham dự viên cuộc Họp mặt toàn quốc của các nhà giáo dục môn tôn giáo Công giáo, 25.04.2026

Tiếp kiến các tham dự viên cuộc Họp mặt toàn quốc của các nhà giáo dục môn tôn giáo Công giáo, 25.04.2026

*******

Sáng nay, tại Hội trường Phaolô VI, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã tiếp kiến các tham dự viên cuộc Họp mặt Quốc gia lần thứ ba dành cho Nhà giáo dục môn Tôn giáo Công giáo, với chủ đề: “Con tim nói với con tim” (Cor ad cor loquitur), do Hội đồng Giám mục Ý tổ chức.

Sau đây là diễn văn của Đức Thánh Cha gửi đến những người hiện diện tại cuộc gặp gỡ:


Diễn văn của Đức Thánh Cha:


Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.

Bình an cho anh chị em!

Thưa các anh em Giám mục,

Anh chị em thân mến, chào anh chị em và xin chào mừng!

Tôi thân ái chào anh chị em và cảm ơn anh chị em vì sự hiện diện cũng như sự phục vụ quý giá mà anh chị em đang thực hiện trong các trường học. Công việc của anh chị em đòi hỏi nhiều nỗ lực, thường là âm thầm và ít được chú ý, nhưng lại hết sức quan trọng đối với sự trưởng thành của nhiều trẻ em và thanh thiếu niên. Thật vậy, chiều kích tôn giáo “là một yếu tố cấu thành nên kinh nghiệm nhân sinh và không thể bị gạt ra ngoài lề trong tiến trình giáo dục các thế hệ trẻ” (Hội đồng Giám mục Ý, Thư Mục vụ: Giảng dạy đức tin Công giáo: một xưởng đào luyện văn hóa và đối thoại, ngày 11 tháng 12 năm 2025).

Thánh Augustinô đã viết: “Con người, là một phần của công trình tạo dựng của Người, khao khát được ca tụng Người [Lạy Chúa]. Người thôi thúc chúng con tìm thấy niềm vui khi ca tụng Người; vì Người đã dựng nên chúng con cho Người, và tâm hồn chúng con sẽ mãi khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Người. … Lạy Chúa, xin cho con tìm kiếm Người, khi con kêu cầu Người, và kêu cầu Người khi con tin vào Người” (Tự thuật, 1.1). Ngài đã nói về một cuộc tìm kiếm nội tâm mà ở đó, trong thẳm sâu con người, những câu hỏi lớn của cuộc đời luôn gắn liền: mối tương quan với Thiên Chúa, với thụ tạo và với tha nhân; do đó, cơn khát sự vô hạn, vốn tiềm ẩn trong mỗi người có thể trở thành nguồn năng lượng để thúc đẩy hòa bình, đổi mới xã hội và hàn gắn những mâu thuẫn của xã hội.

Trong bối cảnh này, sự phục vụ của anh chị em, như biểu hiện cho sự quan tâm của Giáo hội đối với các thế hệ mới, tựa như một bàn đạp để từ đó trẻ em và thanh thiếu niên có thể học cách dấn thân vào cuộc phiêu lưu đầy hấp dẫn của cuộc đối thoại nội tâm; nhờ đó, nó cấu thành một yếu tố không thể thiếu của mối quan hệ đối tác giáo dục đang vô cùng cần thiết ngày nay.

Hơn nữa, việc giảng dạy môn tôn giáo Công giáo là một môn học mang ý nghĩa văn hóa to lớn, rất hữu ích cho việc hiểu các động lực lịch sử và xã hội, cũng như các biểu đạt của tư tưởng, tài năng sáng tạo và nghệ thuật đã và đang định hình diện mạo của nước Ý, của Châu Âu và biết bao quốc gia trên thế giới.

Tất cả những điều này đi vào trong các bài giảng của anh chị em, dưới ánh sáng giáo huấn luôn mang tính thời đại của Giáo hội, trong cuộc đối thoại với các lĩnh vực tri thức và nghiên cứu tôn giáo khác, và trên hết là trong việc học hỏi những trang Kinh Thánh phong phú vô tận, từ đó chúng ta nhận biết Đức Kitô, Con Thiên Chúa làm người, là mạc khải dung nhan của Chúa Cha và là khuôn mẫu hoàn hảo của nhân tính. Bằng cách này, anh chị em giúp các thế hệ trẻ, với sự tôn trọng trọn vẹn quyền tự do của mỗi người, tiếp cận được những điều mà nếu không có anh chị em có thể vẫn là điều khó hiểu và mơ hồ, cho thấy rằng một tinh thần thế tục chân chính không loại trừ chiều kích tôn giáo, nhưng biết trân trọng nó như một nguồn lực giáo dục. Hơn nữa, đây là một phần của tư duy rộng mở hơn, là điều thiết yếu cho mọi cuộc đối thoại, cả trong học đường và ngoài xã hội: nhận biết và yêu thương chính bản thân, để chúng ta có thể gặp gỡ tha nhân với sự tôn trọng và cởi mở.

Dưới ánh sáng đó, tôi muốn chia sẻ với anh chị em một vài suy tư rất gần gũi với tâm hồn tôi.

Với chủ đề cho cuộc gặp gỡ quốc gia lần thứ ba này, anh chị em đã chọn cụm từ “Con tim nói với con tim” (Cor ad cor loquitur), lấy cảm hứng từ khẩu hiệu của Thánh John Henry Newman, Tiến sĩ Hội thánh và là vị thánh đồng bảo trợ của thế giới giáo dục. Những lời này đề xuất một hành trình, trong đó sự thật là đích điểm và mối tương quan cá nhân là con đường để đạt tới sự thật. Qua việc giảng dạy, những lời ấy thúc giục anh chị em giúp người trẻ nhận ra một tiếng nói vốn đã vang lên trong chính họ, để không bóp nghẹt nó, cũng không nhầm lẫn nó với những tiếng ồn ào đang bao vây họ. Trong một thời đại khi chúng ta liên tục bị bủa vây bởi các kích thích đủ loại, việc làm câm lặng tiếng nói ấy trở nên quá dễ dàng. Vì vậy, dạy người trẻ lắng nghe hoặc tái khám phá tiếng nói ấy là một trong những món quà lớn nhất mà chúng ta có thể trao tặng cho các thế hệ trẻ. Con người không thể sống thiếu sự thật và ý nghĩa đích thực, và người trẻ, dù đôi khi có vẻ thờ ơ hay vô cảm, nhưng đằng sau vẻ ngoài thờ ơ ấy, họ thường che giấu sự khắc khoải và nỗi đau của những người “cảm nhận quá nhiều” và quá mãnh liệt, mà không thể gọi tên cho những gì họ đang trải qua.

Do đó, việc giảng dạy có nghĩa là đào tạo con người biết lắng nghe trái tim của mình, và nhờ đó đạt tới tự do nội tâm và năng lực tư duy phản biện, theo những động lực trong đó đức tin và lý trí không loại trừ nhau, cũng không đối kháng nhau, nhưng là những người bạn đồng hành trong cuộc tìm kiếm sự thật cách khiêm nhường và chân thành. Vì lý do này, giáo dục đòi hỏi sự kiên nhẫn gieo hạt mà không mong đợi kết quả tức thì, tôn trọng nhịp độ trưởng thành của mỗi người. Và trên hết – như Thánh Newman dạy – nó đòi hỏi sự yêu thương.

Anh chị em thân mến, sự thật được truyền đạt qua con người, và đối với các học sinh, chính anh chị em là những con người đó: được mời gọi trở thành những nhà giáo đáng tin cậy vì anh chị em yêu mến Thiên Chúa và học trò của mình, để truyền thụ các giá trị mà không tự tôn hay giáo điều luân lý, để đưa ra một nhãn quan nâng cao tâm hồn, và để làm chứng cho sự nhất quán khiêm nhường và gần gũi, là điều khiến ngay cả những chủ đề thách đố nhất cũng trở nên hấp dẫn và lôi cuốn. Học trò của anh chị em không cần những câu trả lời soạn sẵn, nhưng cần sự gần gũi và chân thành từ người lớn, những người đứng bên cạnh các em với thẩm quyền và trách nhiệm khi các em phải đối phó với các câu hỏi lớn của cuộc đời. Các em sẽ nhớ ánh mắt và lời nói của những người đã nhận ra nơi các em một món quà độc nhất, của những người đã coi trọng các em, của những người không ngại bước đi một chặng đường cùng các em, đồng thời thể hiện chính họ cũng là những người đang tìm kiếm, suy tư, sống và tin. Tất cả điều này, dĩ nhiên, không làm giảm bớt nhu cầu về năng lực chuyên môn vững vàng, được thúc đẩy bởi sự say mê học hỏi, sự nghiêm túc về văn hóa và sự chuẩn bị về sư phạm, bởi vì việc giảng dạy đức tin Công giáo cũng đòi hỏi sự phát triển chuyên môn liên tục, lập kế hoạch và sử dụng ngôn ngữ phù hợp.

Trường học ngày nay – tại Ý cũng như ở những nơi khác – đang đối mặt với những thách đố khó khăn nhưng cũng rất phấn khởi. Vì thế, Giáo hội đang cùng đồng hành với anh chị em, sai anh chị em đi như “như những người phục vụ thế giới giáo dục, những người biên đạo niềm hy vọng, những người không mệt mỏi tìm kiếm sự khôn ngoan, những người sáng tạo đáng tin cậy của những cách diễn đạt của vẻ đẹp” (Tông thư Vẽ nên những bản đồ hy vọng mới, 11.3).

Tôi cảm ơn anh chị em và khích lệ anh chị em kiên trì trong cam kết này, đồng thời phó thác anh chị em cho sự chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria và các thánh là những nhà giáo dục. Tôi nhớ đến anh chị em trong lời cầu nguyện và thân ái ban Phép lành Tòa Thánh cho anh chị em, cho gia đình, học trò và tất cả những người thân yêu của anh chị em. Cảm ơn anh chị em!


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 26/4/2026]


Tiếp kiến các thành viên của Đảng Nhân dân Châu Âu thuộc Nghị viện Châu Âu, 25.04.2026

Tiếp kiến các thành viên của Đảng Nhân dân Châu Âu thuộc Nghị viện Châu Âu, 25.04.2026

Tiếp kiến các thành viên của Đảng Nhân dân Châu Âu thuộc Nghị viện Châu Âu, 25.04.2026

*******

Sáng nay, tại Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã tiếp kiến các thành viên của Đảng Nhân dân Châu Âu thuộc Nghị viện Châu Âu, và dưới đây là diễn văn của ngài:


Diễn văn của Đức Thánh Cha:


Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần,

Bình an cho anh chị em,

Thưa quý vị Nghị sĩ,
Thưa quý ông và quý bà,

Tôi thân ái chào mừng tất cả quý vị đến với cuộc gặp gỡ này. Cách riêng, tôi xin chào ông Manfred Weber, Chủ tịch, và bà Mairead McGuinness, Đặc phái viên của Liên minh Châu Âu phụ trách thúc đẩy tự do tôn giáo và tín ngưỡng bên ngoài khối Liên minh Châu Âu.

Cuộc gặp gỡ của chúng ta tiếp nối những buổi gặp gỡ đã được thực hiện với những vị tiền nhiệm của tôi là Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô IIĐức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, cũng như Sứ điệp mà Đức Giáo hoàng Phanxicô gửi đến quý vị vào tháng 6 năm 2023, khi ngài không thể đích thân tiếp kiến quý vị do phải nhập viện. Vì vậy, tôi rất vui mừng được tiếp tục cuộc đối thoại này với Đảng Nhân dân Châu Âu, một đảng kín múc nguồn cảm hứng chính trị từ những nhân vật như ông Adenauer, De Gasperi và Schuman, những người được xem là các vị sáng lập nên Châu Âu hiện đại.

Như Đức Bênêđictô XVI đã nói cách đây hai mươi năm, tôi cũng “đánh giá cao việc Nhóm của quý vị nhìn nhận di sản Kitô giáo của Châu Âu.” [1] Dự án Châu Âu trổi lên từ đống tro tàn của Thế chiến Thứ hai, chắc chắn được hình thành từ nhu cầu thực tiễn nhằm ngăn chặn một cuộc xung đột tương tự tái diễn. Tuy nhiên, dự án này cũng thấm đẫm một tầm nhìn lý tưởng, đó là khao khát thúc đẩy sự hợp tác nhằm vượt qua nhiều thế kỷ chia rẽ, và giúp các dân tộc trên lục địa tái khám phá di sản nhân văn, văn hóa và tôn giáo mà họ cùng chia sẻ. Các vị sáng lập đã được truyền cảm hứng bởi đức tin cá nhân của họ, và xem các nguyên tắc Kitô giáo là yếu tố chung và hiệp nhất, có thể giúp chấm dứt tinh thần báo thù và xung đột đã dẫn đến cuộc Thế chiến Thứ hai.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã diễn tả ý tưởng này bằng một cụm từ đơn sơ mà sâu sắc: “hiệp nhất lớn lao hơn xung đột.” [2] Thật vậy, việc tìm kiếm sự hiệp nhất đòi hỏi lòng can đảm để vượt lên trên bề mặt của xung đột và nhìn thấy nơi tha nhân phẩm giá sâu xa nhất của họ. [3] Như thế, con người có thể xây dựng điều mới mẻ và mang tính xây dựng, trong khi xung đột chỉ làm trầm trọng thêm những khác biệt, nuôi dưỡng việc theo đuổi và khẳng định quyền lực, và cuối cùng dẫn đến sự hủy diệt.

Nhiệm vụ hàng đầu của mọi hành động chính trị là đưa ra một tầm nhìn lý tưởng, vì chính trị đòi hỏi một cái nhìn rộng mở về tương lai, không sợ hãi khi phải đưa ra những lựa chọn khó khăn, thậm chí không được ưa thích nhưng lại là cần thiết cho ích chung. Theo nghĩa này, chính trị là “hình thức cao nhất của đức ái” [4] bởi vì nó có thể dấn thân trọn vẹn cho việc xây dựng lợi ích chung.

Tuy nhiên, theo đuổi một lý tưởng không có nghĩa là tôn sùng một hệ tư tưởng. Thật vậy, hệ tư tưởng luôn là kết quả của việc bóp méo thực tại và là một dạng sức mạnh áp đặt lên thực tại ấy. Mọi hệ tư tưởng đều làm méo mó các ý tưởng và áp đặt con người vào chương trình hành động của riêng nó, bóp nghẹt những khát vọng chân chính của họ, khao khát tự do, hạnh phúc cũng như an sinh cá nhân và xã hội. Chính Châu Âu hiện đại đã trỗi dậy từ việc thừa nhận sự thất bại của các dự án thuộc hệ tư tưởng từng tàn phá và chia cắt lục địa này.

Như ông De Gasperi đã nhận định, theo đuổi một lý tưởng có nghĩa là đặt nhân vị ở vị trí trung tâm, “với tinh thần huynh đệ Phúc Âm, với sự tôn trọng luật pháp được kế thừa từ thời xa xưa, với việc cảm thụ cái đẹp được tinh luyện qua nhiều thế kỷ, và sự dấn thân cho sự thật và công lý đã được rèn giũa qua hàng thiên niên kỷ kinh nghiệm.” [5]

Đây chính là khuôn khổ mà chính trị vẫn có thể được thực thi ngày nay, và là nơi hoạt động chính trị phải được dẫn đưa trở lại. Đảng của quý vị được gọi là Đảng Nhân dân Châu Âu. Nhân dân nằm ở trung tâm sự cam kết của quý vị, và quý vị không thể gạt họ sang một bên. Họ không đơn thuần là những người thụ động tiếp nhận các đề xuất và quyết định chính trị; trên hết, họ được mời gọi trở thành những chủ thể tích cực cùng chia sẻ trách nhiệm đối với mọi hành động chính trị. Sự hiện diện giữa nhân dân và lôi cuốn họ vào tiến trình chính trị là phương thuốc giải tốt nhất cho chủ nghĩa dân túy vốn chỉ tìm kiếm sự tán thành dễ dãi, và cho chủ nghĩa tinh hoa có khuynh hướng hành động mà không có sự đồng thuận. Cả hai đều là những khuynh hướng phổ biến trong bối cảnh chính trị ngày nay. Một nền chính trị thực sự mang tính “nhân dân” đòi hỏi thời gian, các dự án chung và tình yêu đối với sự thật.

Một trong những vấn đề chính của chính trị trong những năm gần đây là sự suy giảm không ngừng tính hài hòa, hợp tác và gắn kết tương hỗ giữa nhân dân và các đại diện của họ. Cần phải tái lập một cảm thức đích thực về “nhân dân”, thông qua sự tiếp xúc trực tiếp giữa công dân và những người đại diện của họ, để đáp ứng cách hữu hiệu những vấn đề cụ thể của người dân dưới ánh sáng của một tầm nhìn lý tưởng. Chúng ta có thể nói theo cách ẩn dụ rằng, trong kỷ nguyên của “sự khải hoàn của kỹ thuật số”, hành động chính trị thực sự hướng tới ích chung đòi hỏi việc trở lại với phương thức “tương tác trực tiếp” (analogue).

Có lẽ đây chính là phương thuốc đích thực cho một nền chính trị thường xuyên chỉ lớn tiếng, chỉ dừng lại ở các khẩu hiệu và không có khả năng đáp ứng nhu cầu thực tế của người dân. Hơn nữa, để vượt qua sự bất bình đối với chính trị, cần phải giành lại lòng dân bằng cách tiếp cận trực tiếp với họ, và xây dựng lại mạng lưới các mối tương quan tại chính những nơi họ sống, để mỗi người có thể cảm nhận mình thuộc về một cộng đồng và sẻ chia tương lai của cộng đồng đó.

Điều này có ý nghĩa gì trong thực tế đối với những người đặt nền tảng hành động của họ trên các giá trị Kitô giáo - dân chủ? Trước hết, nó có nghĩa là tái khám phá và đón nhận di sản Kitô giáo mà từ đó quý vị đã khởi đi, đồng thời vẫn duy trì sự phân biệt cần thiết giữa chứng tá tôn giáo mang tính ngôn sứ – dành riêng cho cộng đoàn giáo hội – và chứng tá Kitô giáo được thể hiện qua các lựa chọn chính trị cụ thể. [6] Là một người Kitô hữu trong chính trị không có nghĩa là thể hiện việc lớn tiếng tuyên xưng đức tin; thay vào đó, nó có nghĩa là cho phép Tin Mừng hướng dẫn những quyết định cần được đưa ra, kể cả những quyết định có thể không dễ đạt được sự đồng thuận. Điều đó cũng có nghĩa là nỗ lực bảo tồn mối liên hệ giữa luật tự nhiên và luật thực định (positive law), giữa nguồn cội Kitô giáo và hành động chính trị.

Là một Kitô hữu dấn thân trong chính trị đòi hỏi một cái nhìn thực tế khởi đi từ những mối quan tâm cụ thể của người dân. Tầm nhìn này trước hết phải tìm cách thúc đẩy các điều kiện lao động xứng đáng, khuyến khích sự sáng tạo và tài năng của con người trước một thị trường đang ngày càng trở nên phi nhân và không đưa đến sự viên mãn. Một quan điểm như thế phải giúp con người vượt qua nỗi sợ hãi khi lập gia đình và sinh con, một nỗi sợ dường như đặc biệt phổ biến ở Châu Âu. Nó cũng cần phải giải quyết các nguyên nhân gốc rễ của hiện tượng di cư, chăm sóc những người đang đau khổ, đồng thời lưu tâm đến khả năng thực tế trong việc đón nhận và hội nhập người di cư vào xã hội. Cũng vậy, nó đòi hỏi phải đối diện, mà không đi theo con đường hệ tư tưởng, với những thách đố lớn của thời đại chúng ta, chẳng hạn như việc chăm sóc công trình tạo dựng và trí tuệ nhân tạo. Trí tuệ nhân tạo mang lại những cơ hội lớn, nhưng cũng ẩn chứa rất nhiều hiểm họa.

Là một Kitô hữu dấn thân trong chính trị cũng có nghĩa là đầu tư cho tự do, không phải một thứ tự do bị giản lược thành những sở thích cá nhân đơn thuần, mà là một tự do bén rễ trong sự thật, vốn bảo vệ tự do tôn giáo cũng như tự do tư tưởng và lương tâm ở mọi nơi và trong mọi hoàn cảnh. Đồng thời, phải tránh cổ võ cho một sự “đoản mạch quyền con người” [7], bởi vì điều đó cuối cùng sẽ nhường chỗ cho sức mạnh áp đặt và áp bức.

Tôi để lại cho quý vị những điểm suy tư vắn tắt trên, với hy vọng rằng chúng sẽ trở thành điểm khởi đầu cho những suy tư trong công việc của quý vị. Tôi xin gửi đến quý vị những lời chúc tốt đẹp cho sự phục vụ của quý vị dành cho người dân Châu Âu, và tôi ban Phép lành Tòa Thánh cho quý vị.

Cảm ơn quý vị!"

______________________


[2] FRANCIS, Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium, 228: AAS 105 (2013), 1113.

[3] Cf. ibid.

[4] PIUS XI, Audience with the Leaders of the Catholic University Federation (18 December 1927).

[5] A. DE GASPERI, Europe, Our Homeland. Address to the European Parliamentary Conference, 21 April 1954 in: Alcide De Gasperi e la politica internazionale, Rome 1990, vol. III, 437-440.

[6] Cf. MARIALUISA L. SERGIO in: ALCIDE DE GASPERI, Diario 1930-1943, Bologna 2018, 24.




[Nguồn:vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 26/4/2026]


Thứ Năm, 16 tháng 4, 2026

Sứ điệp của Đức Thánh Cha nhân dịp Phiên họp toàn thể của Hàn lâm viện Giáo hoàng về Khoa học Xã hội, ngày 14.04.2026

Sứ điệp của Đức Thánh Cha nhân dịp Phiên họp toàn thể của Hàn lâm viện Giáo hoàng về Khoa học Xã hội, ngày 14.04.2026

Sứ điệp của Đức Thánh Cha nhân dịp Phiên họp Toàn thể của Hàn lâm viện Giáo hoàng về Khoa học Xã hội, ngày 14.04.2026

*******

Sau đây là Sứ điệp của Đức Thánh Cha Lêô XIV gửi đến các tham dự viên của Phiên họp Toàn thể của Hàn lâm viện Giáo hoàng về Khoa học Xã hội (diễn ra tại Casina Pio IV từ ngày 14 đến 16 tháng 4 năm 2026):

Sứ điệp của Đức Thánh Cha

Tôi vui mừng khi biết Khóa họp Toàn thể của Hàn lâm viện Giáo hoàng về Khoa học Xã hội đang diễn ra từ ngày 14 đến ngày 16 tháng 4 năm 2026, và tôi xin gửi những lời nguyện chúc tốt đẹp đến tất cả anh chị em tham dự. Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn đến Đức Hồng y Peter Turkson vì sự phục vụ tận tụy của ngài trong cương vị Chưởng ấn của Hàn lâm viện. Tôi cũng xin cảm ơn vị Chủ tịch, Chị Helen Alford, vì đã chọn chủ đề: “Sử dụng Quyền lực: tính chính đáng, dân chủ và việc tái định hình lại trật tự quốc tế.” Đây là một chủ đề đặc biệt mang tính thời sự, hướng suy tư của chúng ta vào việc thực thi quyền lực, một yếu tố then chốt để xây dựng hòa bình trong nội bộ các quốc gia và giữa các quốc gia, vào thời điểm có những biến chuyển sâu rộng trên toàn cầu.

Học thuyết Xã hội Công giáo không coi quyền lực là một cứu cánh tự thân, nhưng là một phương tiện được định hướng đến ích chung. Điều này hàm ý rằng tính chính đáng của quyền bính không phụ thuộc vào việc tích lũy sức mạnh kinh tế hay công nghệ, nhưng đặt trên sự khôn ngoan và đức hạnh khi thực thi quyền bính đó (x. Giáo lý Giáo hội Công giáo, số 1903). Bởi lẽ, sự khôn ngoan giúp chúng ta phân định và theo đuổi sự thật cũng như sự thiện, thay vì những lợi ích giả tạo và hư vinh, giữa những hoàn cảnh của đời sống thường nhật. Sự khôn ngoan này không thể tách rời khỏi những nhân đức luân lý, là những nhân đức củng cố trong chúng ta khao khát thúc đẩy ích chung. Cách riêng, chúng ta biết rằng đức công bằng và can đảm là những nhân đức không thể thiếu khi đưa ra các quyết định đúng đắn và thi hành những quyết định đó. Đức tiết độ cũng chứng minh là thiết yếu cho việc sử dụng quyền bính cách chính đáng, bởi vì đức tiết độ đích thực sẽ kìm hãm sự tự tôn thái quá và đóng vai trò như một rào chắn chống lại sự lạm dụng quyền lực.

Cách hiểu này về quyền lực chính đáng có một trong những biểu hiện cao nhất nơi nền dân chủ đích thực. Không chỉ thuần túy là một quy trình, dân chủ nhìn nhận phẩm giá của mỗi con người và mời gọi mỗi công dân tham gia một cách có trách nhiệm vào việc mưu cầu ích chung. Phản ánh niềm tin vững chắc này, Thánh Gioan Phaolô II khẳng định rằng Giáo hội trân trọng nền dân chủ, bởi vì nó bảo đảm sự tham gia vào các lựa chọn chính trị và “khả năng bầu chọn cũng như đòi hỏi trách nhiệm từ những người lãnh đạo họ, và thay thế họ bằng các phương thức hòa bình khi thích hợp” (Centesimus Annus, số 46). Tuy nhiên, nền dân chủ chỉ duy trì được sự lành mạnh khi bén rễ sâu trong luật luân lý và một cái nhìn đúng đắn về con người. Thiếu đi nền tảng này, nó có nguy cơ trở thành một nền chuyên chế của đa số, hoặc một lớp mặt nạ cho sự thống trị của các tầng lớp tinh hoa kinh tế và công nghệ.

Những nguyên tắc hướng dẫn việc thực thi quyền bính trong các quốc gia cũng phải được áp dụng cho trật tự quốc tế — một chân lý đặc biệt quan trọng cần được nhắc lại vào thời điểm khi những cuộc chạy đua chiến lược và những biến động liên minh đang tái định hình các mối quan hệ toàn cầu. Chúng ta phải nhớ rằng một trật tự quốc tế công bằng và ổn định không thể phát sinh đơn thuần từ sự cân bằng quyền lực hay từ logic thuần túy về kỹ trị. Sự tập trung quyền lực công nghệ, kinh tế và quân sự vào tay một số ít đe dọa việc tham gia dân chủ giữa các dân tộc cũng như sự hòa hợp quốc tế.

Về phương diện này, các vị tiền nhiệm của tôi đã nhấn mạnh đến nhu cầu của việc canh tân các định chế và một thẩm quyền phổ quát (x. Gioan Phaolô II, Centesimus Annus, 58; Pacem in Terris, 137), được định hướng bởi nguyên tắc bổ trợ (x. Bênêđictô XVI, Caritas in Veritate, 57). Sự phát triển một cộng đồng huynh đệ toàn cầu như vậy đòi hỏi “một nền chính trị tốt đẹp hơn, thực sự phục vụ cho ích chung” (Phanxicô, Fratelli Tutti, 154). Thật vậy, “hơn bao giờ hết, cần phải can đảm suy tư lại các phương thức hợp tác quốc tế” (Chuyến thăm Trụ sở FAO nhân Ngày Lương thực Thế giới, 16 tháng 10 năm 2025, số 7).

Trong phân tích cuối cùng, khi các quyền lực thế gian đe dọa đến tranquillitas ordinis — định nghĩa cổ điển của Thánh Augustinô về hòa bình — chúng ta phải kín múc niềm hy vọng từ Nước Thiên Chúa, một vương quốc tuy không thuộc về thế gian này nhưng lại soi sáng các sự việc của thế gian và mạc khải ý nghĩa cánh chung của chúng. Trong nhãn quan đức tin đó, chúng ta được nhắc nhớ rằng quyền năng vô biên của Thiên Chúa được biểu lộ rõ nét nhất nơi lòng thương xót và sự tha thứ (x. Tôma Aquinô, Summa Theologiae, I, q. 25, a. 3, ad 3); quyền năng thần linh không thống trị, nhưng chữa lành và phục hồi. Chính luận lý này của đức ái làm sống động lịch sử, vì hoạt động của con người được truyền cảm hứng bởi đức ái sẽ giúp kiến tạo “thành đô trần thế” trong hiệp nhất và hòa bình, làm cho nó trở thành — dù còn bất toàn — hình ảnh báo trước và phác thảo cho “Thành đô Thiên Chúa” (x. Bênêđictô XVI, Caritas in Veritate, 7). Niềm tin ấy củng cố quyết tâm của chúng ta trong việc xây dựng một nền văn hóa hòa giải, có khả năng vượt qua những cạm bẫy của sự thờ ơ và bất lực (x. Diễn văn trước các Nhà lãnh đạo Tôn giáo, 28 tháng 10 năm 2025).

Với những tâm tình đó, tôi tha thiết hy vọng rằng các suy tư của anh chị em trong những ngày này sẽ mang đến những hiểu biết quý giá nhằm làm sáng tỏ việc sử dụng quyền lực cách chính đáng, các tiêu chí cho một nền dân chủ đích thực và một trật tự quốc tế phục vụ ích chung. Theo cách này, công việc của anh chị em sẽ góp phần ý nghĩa cho việc xây dựng nền văn hóa hòa giải và hòa bình toàn cầu — một nền hòa bình không đơn thuần là sự vắng bóng mong manh của xung đột, nhưng là hoa trái của công lý, nảy sinh từ quyền bính được đặt trong sự phục vụ khiêm tốn đối với mỗi con người và toàn thể gia đình nhân loại.

Xin Chúa Thánh Thần, nguồn mạch của mọi đức ái và là mối dây hiệp nhất và hòa bình, soi sáng tâm trí và nâng đỡ những nỗ lực của anh chị em. Tôi khẩn cầu Thiên Chúa tuôn đổ muôn phúc lành của Người trên tất cả anh chị em.

Vatican, ngày 1 tháng 4 năm 2026

LÊÔ PP. XIV


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 15/4/2026]



Thư của Đức Thánh Cha Lêô XIV gửi các Hồng y, 14.04.2026

Thư của Đức Thánh Cha Lêô XIV gửi các Hồng y, 14.04.2026

Thư của Đức Thánh Cha Lêô XIV gửi các Hồng y, 14.04.2026

*******

Sau đây là nội dung bức Thư của Đức Thánh Cha Lêô XIV gửi các Hồng y:


Thư của Đức Thánh Cha


Thưa Đức Hồng y,

Trong mùa Phục Sinh thánh này, tôi muốn gửi đến anh em lời chào thân ái và huynh đệ, với niềm hy vọng rằng bình an của Chúa Phục sinh sẽ nâng đỡ và canh tân thế giới đau khổ của chúng ta.

Tôi cũng xin lặp lại lời cảm ơn đối với sự hiện diện của anh em trong Công nghị Hồng y vào tháng Giêng vừa qua. Tôi trân trọng những công việc đã được thực hiện tại các nhóm, việc này tạo điều kiện cho những trao đổi tự do, cụ thể và phong phú về mặt thiêng liêng, cũng như chất lượng đáng ghi nhận của các bài tham luận trong phiên họp toàn thể. Những đóng góp được tổng hợp lại hợp thành một nguồn tài liệu có giá trị lâu dài, điều mà tôi hy vọng sẽ tiếp tục được suy tư sâu xa hơn và sẽ trưởng thành nhờ sự phân định của Giáo hội.

Trong diễn văn bế mạc hồi tháng Giêng, tôi đã đề cập đến một số yếu tố liên quan đến tính hiệp hành nổi bật lên từ các nhóm. Bây giờ, tôi muốn đặc biệt tập trung vào những gì được nêu lên trong các nhóm liên quan đến Tông huấn Evangelii Gaudium, nhất là về sứ vụ và việc thông truyền đức tin.

Những đóng góp của anh em cho thấy rõ ràng rằng Tông huấn này tiếp tục là một điểm quy chiếu quan trọng. Ngoài việc đưa vào những nội dung mới, văn kiện còn tái quy hướng mọi sự vào kerygma như là trung tâm của căn tính Kitô hữu và Giáo hội của chúng ta. Tông huấn này được nhìn nhận như một “luồng gió mới”, có khả năng khởi đầu các tiến trình hoán cải mục vụ và truyền giáo — thay vì chỉ tạo ra những cuộc cải tổ cơ cấu tức thời — và nhờ đó định hướng sâu xa cho hành trình của Giáo hội.

Thật vậy, anh em đã nhấn mạnh cách thức qua đó nhãn quan này thách đố Giáo hội ở mọi cấp độ. Ở cấp độ cá nhân, nó mời gọi mỗi người đã được rửa tội canh tân cuộc gặp gỡ của mình với Đức Kitô, chuyển từ một đức tin được lãnh nhận sang một đức tin thực sự được sống và được trải nghiệm. Hành trình này tác động đến chính chất lượng của đời sống thiêng liêng, được biểu lộ qua việc ưu tiên cho đời sống cầu nguyện, qua chứng tá đi trước lời nói, và qua sự nhất quán giữa đức tin và đời sống. Ở cấp độ cộng đoàn, nó đòi hỏi một sự chuyển đổi từ cách tiếp cận mục vụ mang tính bảo tồn sang lối tiếp cận mục vụ truyền giáo. Điều này đòi hỏi các cộng đoàn phải là những chủ thể sống động của việc loan báo — những cộng đoàn hiếu khách, sử dụng ngôn ngữ dễ tiếp cận, quan tâm đến chất lượng các mối tương quan, và có khả năng cung cấp những không gian lắng nghe, đồng hành và chữa lành. Ở cấp độ giáo phận, trách nhiệm của các Mục tử trong việc mạnh mẽ hỗ trợ tính táo bạo truyền giáo phải nổi bật lên cách rõ rệt, bảo đảm rằng sự táo bạo đó không bị đè nặng hay bóp nghẹt bởi những sự quá mức về tổ chức, nhưng được hướng dẫn bởi sự phân định giúp chúng ta nhận ra điều gì là thiết yếu.

Từ tất cả những điều này dẫn đến một cách hiểu sâu sắc và thống nhất về sứ vụ, vốn lấy Đức Kitô làm trung tâm và mang tính kerygmatic. Sứ vụ này sinh ra từ một cuộc gặp gỡ với Đức Kitô có khả năng biến đổi đời sống và lan tỏa qua sức cuốn hút hơn là sự chinh phục. Đó là một sứ vụ toàn diện, giữ tính cân bằng giữa việc loan báo rõ ràng, chứng tá, dấn thân và đối thoại, đồng thời không nhượng bộ trước cám dỗ của việc chiêu dụ tín đồ, cũng không đi vào não trạng định chế thuần túy nhằm bảo tồn hay mở rộng. Ngay cả khi Giáo hội thấy mình ở trong tình trạng thiểu số, Giáo hội vẫn được mời gọi sống với lòng can đảm đầy tin tưởng, như một đoàn chiên nhỏ mang lại hy vọng cho tất cả, luôn ý thức rằng mục tiêu của sứ vụ không phải là sự tồn tại của chính mình, nhưng là để thông truyền tình yêu mà Thiên Chúa dành cho thế gian.

Trong số những đề xuất cụ thể được nêu lên, những điểm sau đây đáng được đón nhận và suy tư thêm: sự cần thiết tái khởi động Tông huấn Evangelii Gaudium qua việc đánh giá trung thực về những gì thực sự đã được đón nhận trong những năm qua và những gì, ngược lại, vẫn còn xa lạ hoặc chưa được thực hiện, với sự quan tâm đặc biệt đến những cải tổ cần thiết trong các tiến trình khai tâm Kitô giáo; tầm quan trọng về giá trị của các chuyến thăm mục vụ như là những cơ hội thật sự cho việc loan báo kerygma cũng như cho sự phát triển chất lượng các mối tương quan; và nhu cầu tương tự trong việc tái đánh giá hiệu quả truyền thông của Giáo hội, kể cả ở cấp độ Tòa Thánh, dưới nhãn quan truyền giáo rõ rệt hơn.

Với tâm tình tri ân, tôi xin lặp lại lời cảm ơn về sự phục vụ và đóng góp của anh em cho đời sống của Giáo hội. Liên quan đến Công nghị sắp tới, sẽ diễn ra từ ngày 26 đến ngày 27 tháng Sáu, những thông tin chi tiết hơn sẽ được gửi đi vào thời điểm thích hợp để hỗ trợ cho công tác chuẩn bị cần thiết.

Trong Chúa Kitô Phục sinh, nguồn mạch hy vọng của chúng ta, tôi gửi đến anh em lời chúc Phục sinh nồng ấm nhất.

Với lòng quý trọng huynh đệ trong Đức Kitô,


Vatican, ngày 12 tháng 4 năm 2026

LÊÔ PP. XIV


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 15/4/2026]