Thứ Tư, 13 tháng 5, 2026

Phỏng vấn Chủ tịch Hội đồng Giám mục Cameroon

Phỏng vấn Chủ tịch Hội đồng Giám mục Cameroon

Biến hòa bình thành hiện thực

Phỏng vấn Chủ tịch Hội đồng Giám mục Cameroon

07 tháng 05 năm 2026

Tại Cameroon, chặng thứ hai trong chuyến Tông du châu Phi, Đức Thánh cha Lêô đã đưa ra nhiều lời kêu gọi mạnh mẽ: kêu gọi hòa bình cho các vùng nói tiếng Anh của đất nước đang gặp bất ổn, kêu gọi đổi mới cam kết nhằm đẩy lùi nạn tham nhũng, và kêu gọi kiến tạo một tương lai cho giới trẻ của quốc gia này. Những lời ấy sẽ tạo nên ảnh hưởng như thế nào? Vatican News đã đặt câu hỏi này với Đức cha Andrew Nkea Fuanya, Tổng Giám mục Bamenda, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Cameroon, người đã mô tả chuyến viếng thăm này là “một phúc ân lớn lao”.

Dưới đây là bản ghi cuộc phỏng vấn đã được biên tập một chút.

Chuyến viếng thăm của Đức Thánh cha đã diễn ra như thế nào?

Đó là một cơ hội tuyệt vời đối với chúng tôi, và người dân Cameroon vô cùng hạnh phúc khi được đón tiếp Đức Thánh cha. Ngài đến đây với một thông điệp rất mạnh mẽ cho Cameroon và cho người dân Cameroon; anh có thể thấy qua các bài diễn văn của ngài rằng ngài đến đây với quyết tâm trao cho chúng tôi một phần của học thuyết xã hội của Giáo hội. Chúng tôi đã lắng nghe. Chúng tôi vô cùng hạnh phúc vì chuyến viếng thăm đã diễn ra tốt đẹp như vậy, và ở khắp mọi nơi, dân chúng đã đổ ra rất đông, nhưng không ghi nhận bất kỳ sự cố nào. Trên hết, chúng tôi nhận thấy rằng ở cả ba địa điểm đều không có mưa. Thời tiết thật đẹp, vì vậy đối với chúng tôi, đó là dấu chỉ cho thấy chính Thiên Chúa đã chúc lành cho chuyến viếng thăm với sự thành công mà chúng tôi đang cảm nhận lúc này.

Một trong những nơi Đức Giáo hoàng tới thăm là Bamenda, nơi Đức cha đang là Tổng Giám mục. Đức cha có thể chia sẻ đôi chút về tầm quan trọng của chuyến thăm đó từ Đức Giáo hoàng, và thông điệp mà ngài để lại?

Đó là một thông điệp rất quan trọng đối với chúng tôi, bởi không ai có thể thấu hiểu đầy đủ những gì chúng tôi đã trải qua ở Bamenda ngoại trừ những người sống tại đó. Mọi người đọc tin tức trên mạng xã hội, mọi người nghe các câu chuyện, nhưng những người chúng tôi đang sống tại đó thì sống trong tình trạng sang chấn tâm lý.

Trong khoảng tám năm, Bamenda gần như bị bỏ quên. Sân bay của chúng tôi không hoạt động, đường sá hư hỏng, hệ thống nước không chảy. Vì vậy, việc Đức Giáo hoàng đến, và tất cả những điều này bắt đầu vận hành trở lại, là một điều vô cùng lớn lao đối với chúng tôi. Chính anh cũng có thể chứng kiến người dân vui mừng như thế nào. Đã lâu lắm rồi chúng tôi không nhìn thấy cảnh tượng đó. Một phần quan trọng khác trong thông điệp của Đức Thánh cha liên quan đến giới trẻ — ngài khuyến khích họ không từ bỏ đất nước, hãy có niềm hy vọng vào tương lai. Một trong những vấn đề lớn nhất mà giới trẻ chúng tôi đang đối mặt là nạn thất nghiệp. Nhiều thanh niên tốt nghiệp với những bằng cấp rất tốt, nhưng lại không có việc làm. Và thứ đến là vấn đề di cư. Vì không có việc làm, họ chỉ nghĩ đến chuyện ra nước ngoài bằng đủ mọi cách, cố gắng băng qua sa mạc Sahara, hoặc tìm cách ẩn mình trong khoang bánh xe của máy bay. Thông điệp của Đức Thánh cha đến rất đúng lúc, đối với cả giới trẻ lẫn các nhà chức trách của chính quyền: hãy đầu tư vào người trẻ như là niềm hy vọng cho tương lai của mỗi quốc gia.

Đức Thánh cha cũng kêu gọi những người nắm giữ quyền lực, kêu gọi họ không quên trách nhiệm đối với những người kém may mắn hơn. Anh thấy đấy, một trong những vấn đề lớn mà nhiều quốc gia đang phát triển gặp phải là cách phân chia “chiếc bánh quốc gia”. Công ích là điều có tầm quan trọng sống còn đối với mọi quốc gia đang phát triển. Nếu một nhóm nhỏ bắt đầu hưởng thụ “chiếc bánh quốc gia” một mình, thì họ đang ủ mầm bất ổn cho cả đất nước. Do đó, các công tác xã hội mà Giáo hội đang thực hiện, cũng như việc tạo công ăn việc làm cho người trẻ của chúng tôi, là điều vô cùng quan trọng. Trên hết, chúng tôi phải lấy công ích làm định hướng nền tảng cho mọi hành động. Chúng tôi phải đặt câu hỏi điều gì là tốt cho toàn thể người dân Cameroon — chứ không phải điều gì tốt cho bộ tộc của tôi hay bạn bè của tôi.

Tất cả chúng ta đều đã nghe những lời rất mạnh mẽ của Đức Thánh cha. Theo Đức cha, cần phải làm gì để những lời ấy sinh hoa trái, để thông điệp ấy được đưa vào hành động?

Khi Đức Thánh cha đến một nơi nào đó, đó là một biến cố. Nhưng quả thật, biến cố đó không quan trọng bằng những gì diễn ra sau đó. Đức Thánh cha đã có những bài diễn văn và sứ điệp. Tất cả chúng tôi đều đã vỗ tay. Tất cả chúng tôi đều hạnh phúc. Nhưng rồi tiếp theo là gì? Câu hỏi đó rất quan trọng đối với tất cả chúng tôi. Tôi nghĩ rằng trên toàn đất nước, chúng tôi phải ngồi lại để suy ngẫm tất cả những sứ điệp đó. Và thứ đến, chúng tôi phải xem những gì là cần để có thể triển khai chúng. Tôi xin nêu một ví dụ. Tại Bamenda, ngài nói rằng thời điểm cho hòa bình là ngay bây giờ, không phải là ngày mai. Và anh thấy rằng người dân Bamenda chúng tôi phải bắt đầu suy tư một cách cụ thể về sứ điệp ấy. Nếu thời điểm của hòa bình là ngay bây giờ, thì làm thế nào để biến cái “ngay bây giờ” thành hiện thực?

Chúng tôi thực sự phải thành lập các ủy ban để nghiên cứu cách thức thực thi những lời của Đức Giáo hoàng và xem làm thế nào chúng tôi có thể biến nền hòa bình đó thành hiện thực. Làm thế nào để chúng tôi đối thoại với những người ly khai đang ở trong rừng, và làm thế nào để những người ly khai đó có thể đối thoại với chính phủ? Vì vậy, đây là những việc mà chúng tôi, các thành viên của xã hội dân sự và Giáo hội, phải thực hiện để bảo đảm rằng những lời của Đức Giáo hoàng không bị lãng phí. Hôm nọ tôi có nói chuyện với một linh mục ở Bamenda, tôi nói rằng chúng tôi phải soạn thảo một sách “giáo lý hòa bình” của Đức Thánh cha Lêô cho người dân tại đó. Chúng tôi phải để Văn phòng Giáo lý ngồi lại và nghiên cứu thông điệp này của Đức Thánh cha, chuyển nó thành một bản giáo lý, để mọi người có thể thấy Đức Giáo hoàng đã nói gì với chúng tôi, và chúng tôi có thể lựa chọn đường hướng hành động nào.

Đức cha có hy vọng rằng chuyến thăm này có thể mang lại hoa trái không?

Đó không chỉ là niềm hy vọng mà tôi có. Đó là niềm tin rằng chuyến viếng thăm đã bắt đầu sinh hoa trái, và hoa trái đó sẽ tiếp tục. Trong suốt tám năm qua, sân bay Bamenda bị đóng cửa. Tôi đã đáp máy bay của Đức Giáo hoàng tới Bamenda, đây là lần đầu tiên tôi tới đó bằng phi cơ. Đột nhiên sân bay được mở cửa. Các trang thiết bị hiện đại hoạt động trở lại. Đó là một phép lạ! Nếu Đức Giáo hoàng không đến, tôi có thể cam đoan với anh điều đó sẽ không bao giờ xảy ra.

Chúng tôi đã phải đối mặt với những con đường rất xấu và hư hỏng, vậy mà đột nhiên các con đường ở Bamenda bắt đầu được trải nhựa. Người ta đang sửa sang đường sá, lắp đặt đèn đường. Đây là một phép lạ! Chúng tôi đã không thấy điều này trong suốt mười năm qua. Vì vậy, chúng tôi không còn đợi chuyến viếng thăm này sinh hoa trái nữa. Chuyến viếng thăm đã bắt đầu sinh hoa trái trước cả khi Đức Giáo hoàng đến.

Đây là lần đầu tiên trong mười năm qua chính phủ và các nhóm ly khai nói cùng một ngôn ngữ. Trước đây, nếu chính phủ nói “có”, phe ly khai nói “không”, và nếu chính phủ nói “mọi người hãy ra đường”, thì phe ly khai sẽ nói không ai được ra ngoài. Nó như một trò chơi vậy. Nhưng với sự hiện diện của Đức Giáo hoàng, cả chính phủ và phe ly khai đều nói: “Mọi người hãy ra ngoài. Mọi người hãy chào đón Đức Giáo hoàng”. Đây là một phép lạ lớn lao khác. Chúng tôi chưa từng thấy điều này trong mười năm qua.

Con người của Đức Giáo hoàng đã trở thành yếu tố hiệp nhất mạnh mẽ nhất đối với những bên đang xung đột, bởi vì cả hai phía đều kính trọng ngài. Cả hai phía đều bước ra để đón tiếp ngài, và cả hai phía đều sẵn sàng lắng nghe thông điệp của ngài. Đây là một phép lạ. Và mặc dù anh không thể nhận diện được họ, nhưng đám đông ở Bamenda quá lớn đến mức chắc chắn có những người ly khai trong đó — điều này có nghĩa là họ cũng đã ở trên đường để reo mừng khi Đức Giáo hoàng đi qua. Vì vậy, trong khi chúng tôi đang hy vọng có được một nền hòa bình bền vững và dài lâu, tôi nghĩ rằng việc Đức Giáo hoàng đến đã mang lại cho chúng tôi một phúc lành lớn lao, và chúng tôi đã bắt đầu nhìn thấy những dấu chỉ của hòa bình.

(Joseph Tulloch thực hiện — Yaoundé)



[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 12/05/2026]


Phỏng vấn Chủ tịch Hội đồng Giám mục Angola và São Tomé

Phỏng vấn Chủ tịch Hội đồng Giám mục Angola và São Tomé

Lời mời gọi Dấn thân cho Công lý

Phỏng vấn Chủ tịch Hội đồng Giám mục Angola và São Tomé


07 tháng 05, 2026


Đức Tổng Giám mục José Manuel Imbamba, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Angola và São Tomé, đồng thời là Tổng Giám mục Giáo phận Saurimo, đã chia sẻ suy tư về chuyến viếng thăm Angola của Đức Thánh cha Lêô XIV trong cuộc phỏng vấn với truyền thông Vatican.


Chuyến viếng thăm Angola của Đức Thánh cha Lêô XIV mang ý nghĩa gì đối với Angola?

Đó là một cơ hội tuyệt vời, bởi vì Đức Thánh cha đã có thể trải nghiệm phần nào vẻ đẹp của đức tin, của nền văn hóa và của đời sống xã hội chúng tôi. Đó là một thời khắc tràn ngập niềm vui, của sự đón tiếp và của tinh thần chia sẻ tất cả những gì Tin Mừng mang đến cho chúng ta. Ngài đã dẫn dắt chúng tôi suy tư về căn tính của chúng tôi trong tư cách là Kitô hữu và là công dân, và thông điệp của ngài dành cho chúng tôi vô cùng mạnh mẽ: đừng né tránh điều chúng ta được mời gọi thực hiện với tư cách là những môn đệ của Đức Kitô. Sứ điệp của ngài gửi đến thế giới — về hòa bình, công lý và tình liên đới — cũng rất mạnh mẽ. Cá nhân tôi thấy hết sức mãn nguyện với tất cả những hoa trái mà chúng tôi đã đón nhận từ chuyến viếng thăm của Đức Thánh cha.


Giáo hội Angola sẽ tiến bước như thế nào từ nay về sau?

Giáo hội sẽ tiến bước trong niềm vui và hy vọng, như Đức Thánh cha đã mời gọi chúng tôi, không trốn tránh trước vô vàn thách đố. Chúng tôi phải tiếp tục gieo rắc Tin Mừng của công lý, tình yêu, hòa bình và hòa giải. Tin Mừng ấy phải trở thành cơ hội cho sự hoán cải đích thực, tránh xa tính hời hợt và mê tín. Để sự hoán cải của chúng ta trở nên chân thực, chúng ta phải hết lòng theo bước Chúa Giêsu Kitô trong hành động của mình, luôn hướng nhìn về Thiên Chúa, Đấng là Tình yêu.


Sứ điệp nào của Đức Thánh cha Lêô đặc biệt quan trọng cần được đón nhận và thực hành?

Đó là sứ điệp không để người khác phải sống trong cảnh nghèo đói. Chúng ta phải biết chia sẻ với tha nhân tất cả những gì Thiên Chúa đã ban cho mình. Nói "không" với bóc lột, không ích kỷ, không chủ nghĩa cá nhân. Chúng ta phải tôn trọng phẩm giá và sự phát triển toàn diện của mỗi con người. Lời kêu gọi của ngài cũng hướng đến các nhà lãnh đạo: hãy dấn thân cho công lý, biết trân trọng người khác, biết gặp gỡ và đối thoại — tất cả những gì góp phần xây dựng tình huynh đệ giữa chúng ta.


Giáo hội tại Angola hôm nay cần trở nên mạnh mẽ hơn trong những lãnh vực nào?

Giáo hội phải củng cố chính mình, như Đức Thánh cha cũng đã yêu cầu khi ngài gặp gỡ chúng tôi — các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ và các nhân viên mục vụ — tại giáo xứ Đức Mẹ Fatima ở Luanda. Chúng tôi phải trở thành những chứng nhân — những chứng nhân của niềm vui và của tình yêu Thiên Chúa. Chúng tôi phải trưởng thành trong sứ mạng, trong việc lắng nghe người nghèo và tất cả những ai đang bị gạt ra bên lề. Trên hết, chúng tôi phải củng cố việc đào tạo các linh mục và tu sĩ. Chúng tôi phải sống cách nhất quán và nỗ lực trở thành dấu chỉ ơn cứu độ giữa anh chị em mình.


Angola và Giáo hội tại đây đang cần điều gì nhất?

Angola cần hòa bình xã hội — một nền hòa bình bảo đảm cho mỗi gia đình có đủ những gì cần thiết để sống và phát triển. Hiện vẫn còn những xung đột ngăn cản chúng tôi chia sẻ các ân ban, những tài nguyên và sự phong phú văn hóa mà đất nước đang sở hữu. Chúng tôi phải hợp nhất trí tuệ, ý chí, sức mạnh và những nguồn năng lượng tích cực để đưa Angola thoát khỏi tình trạng nghèo nàn về nhân học, xã hội, văn hóa và kinh tế — một sự nghèo nàn trong não trạng. Angola có mọi điều kiện cần thiết để được hạnh phúc, để phát triển, và để chia sẻ những gì Thiên Chúa đã ban cho những người con của đất nước. Đây là một nỗ lực mà tất cả chúng tôi phải cùng nhau thực hiện, để Giáo hội có thể trở thành tiếng nói giáo dục lương tâm — một tiếng nói khơi dậy những suy nghĩ tốt đẹp hơn và xây dựng những nhịp cầu, để mọi người có thể đến với nhau cùng chung một lý tưởng, cùng bước đi trên một con đường, hướng tới sự khôn ngoan xã hội mà tất cả chúng ta đều phải tìm kiếm.


Những lời nào của Đức Thánh cha Lêô cần được ghi nhớ cách đặc biệt?

Trên hết là niềm hy vọng. Là thái độ tích cực, lòng hiếu khách, sự kính trọng người già, và sống đức tin mà không có mê tín. Xây dựng hòa bình trên nền tảng của Tin Mừng và nuôi dưỡng tình bằng hữu mà tất cả chúng ta được mời gọi sống trong Đức Giêsu Kitô. Những lời của ngài về niềm hy vọng là những lời khích lệ dành cho tất cả mọi người — đặc biệt là những người trẻ, họ không được sợ hãi khi tìm kiếm Đức Kitô, đón nhận Người vào cuộc đời của họ, và vượt qua những khó khăn mà họ gặp phải trên hành trình cuộc sống.

(Tiziana Campisi thực hiện — Luanda)



[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 11/05/2026]


Tiếp kiến các tham dự viên Hội nghị chuyên đề do Bộ Đối thoại Liên tôn và Viện Hoàng gia Nghiên cứu Liên tôn tổ chức, 11.05.2026

Tiếp kiến các tham dự viên Hội nghị chuyên đề do Bộ Đối thoại Liên tôn và Viện Hoàng gia Nghiên cứu Liên tôn tổ chức, 11.05.2026

Tiếp kiến các tham dự viên Hội nghị chuyên đề do Bộ Đối thoại Liên tôn và Viện Hoàng gia Nghiên cứu Liên tôn tổ chức, 11.05.2026

*******

Sáng nay, tại Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh cha Lêô XIV đã tiếp kiến các tham dự viên Hội nghị chuyên đề do Bộ Đối thoại Liên tôn và Viện Hoàng gia Nghiên cứu Liên tôn tổ chức.

Sau đây là diễn văn của Đức Thánh cha gửi tới những người hiện diện trong buổi gặp gỡ:


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Bình an cho anh chị em.
Chào mừng anh chị em.

Thưa Hoàng tử Hasan bin Talal,
Anh chị em thân mến,

Tôi rất vui mừng được chào đón tất cả anh chị em và bày tỏ lòng cảm kích về sự hiện diện của anh chị em tại đây nhân dịp hội nghị chuyên đề lần thứ tám này, do Bộ Đối thoại Liên tôn và Viện Hoàng gia Nghiên cứu Liên tôn đồng tổ chức.

Chủ đề mà anh chị em đã chọn cho năm nay, “Lòng trắc ẩn và sự đồng cảm của con người trong thời đại hiện nay”, đặc biệt mang tính thời sự cho thế giới chúng ta hôm nay. Quả thật, đây không phải là những tình cảm thứ yếu, mà là những thái độ cốt lõi của cả hai truyền thống tôn giáo chúng ta, đồng thời là những yếu tố quan trọng định nghĩa một đời sống con người đích thực. Truyền thống Hồi giáo liên kết lòng trắc ẩn, ra’fa, với lòng thương xót như một ân ban Thiên Chúa đặt vào tâm hồn các tín hữu; và một trong những tên gọi thần linh là al-Ra’uf nhắc nhở chúng ta rằng lòng trắc ẩn luôn bắt nguồn từ chính Thiên Chúa.

Tương tự như vậy, trong truyền thống Kitô giáo, Thánh Kinh mặc khải một Thiên Chúa không thờ ơ trước nỗi đau khổ, nhưng phán với ông Môsê rằng: “Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta... Ta đã nghe tiếng chúng kêu than” (Xh 3:7). Nơi Chúa Giêsu Kitô, lòng trắc ẩn thần linh này trở nên hữu hình và cụ thể. Thiên Chúa không dừng lại ở việc nhìn thấy và nghe thấy, nhưng Người đã mặc lấy bản tính nhân loại của chúng ta để trở thành hiện thân sống động của lòng trắc ẩn. Noi gương Chúa Giêsu, lòng trắc ẩn của người Kitô hữu trở thành sự chia sẻ hay “cùng đau khổ” với tha nhân, đặc biệt là với những người chịu nhiều thiệt thòi nhất. Chính vì thế, “lòng yêu thương dành cho người nghèo – dưới bất kỳ hình thức nghèo khổ nào – là dấu ấn Tin Mừng của một Giáo hội trung thành với trái tim của Thiên Chúa” (Dilexi Te, 103).

Đối với các truyền thống của chúng ta, lòng trắc ẩn và sự đồng cảm của con người không phải là điều phụ thêm hay tùy chọn, nhưng là tiếng gọi từ Thiên Chúa để phản chiếu sự thiện hảo của Người trong đời sống thường ngày của chúng ta.

Do đó, niềm tin này mang những hệ quả xã hội. Đức Giáo hoàng Lêô XIII dạy rằng người nghèo và người bị gạt ra bên lề xứng đáng nhận được sự quan tâm và giúp đỡ đặc biệt từ xã hội và nhà nước (x. Rerum Novarum, 37). Về điểm này, tôi xin bày tỏ sự trân trọng đối với những nỗ lực quảng đại của Vương quốc Hashemite Jordan trong việc đón nhận người tị nạn và hỗ trợ những người thiếu thốn trong các hoàn cảnh khó khăn.

Các bạn thân mến, thật đáng buồn, lòng trắc ẩn và sự đồng cảm ngày nay đang đứng trước nguy cơ biến mất. Những tiến bộ công nghệ giúp chúng ta được kết nối hơn bao giờ hết, nhưng chúng cũng có thể dẫn đến sự thờ ơ. Dòng chảy liên tục của những hình ảnh và video về nỗi khốn khó của người khác có thể làm chai cứng trái tim chúng ta thay vì làm chúng lay động. Đức Giáo hoàng Phanxicô cảnh báo rằng “chúng ta đã trở nên quen với nỗi đau của người khác [và nghĩ rằng]: điều đó không liên quan đến tôi, tôi không quan tâm, đó không phải việc của tôi” (Bài giảng, Lampedusa, ngày 8 tháng 7 năm 2013). Thái độ vô cảm này đang trở thành một trong những thách đố tinh thần nghiêm trọng nhất của thời đại chúng ta.

Trong bối cảnh đó, người Kitô hữu và người Hồi giáo, kín múc từ sự phong phú của các truyền thống của mình, được mời gọi thực hiện một sứ mạng chung: làm hồi sinh nhân tính ở những nơi nó đã trở nên nguội lạnh, lên tiếng cho những ai đang đau khổ và biến sự thờ ơ thành tình liên đới. Lòng trắc ẩn và sự đồng cảm có thể trở thành khí cụ của chúng ta, vì chúng có sức mạnh khôi phục phẩm giá của tha nhân.

Tôi hy vọng rằng Jordan sẽ tiếp tục là chứng nhân sống động cho lòng trắc ẩn này, cũng như là dấu chỉ của đối thoại, liên đới và hy vọng trong một khu vực đang chịu nhiều thử thách.

Ước mong sự cộng tác của chúng ta sinh hoa kết trái qua những cử chỉ cụ thể của hòa bình, sự đồng cảm và tình huynh đệ.

Cảm ơn anh chị em!

Và, cũng như trong các truyền thống của chúng ta, chúng ta tìm kiếm hòa bình như một trong những phúc lành quan trọng nhất của Thiên Chúa, tôi khẩn xin phúc lành của Thiên Chúa đổ xuống trên tất cả anh chị em.

Chúa ở cùng anh chị em. Xin phúc lành của Thiên Chúa Toàn Năng là Cha, và Con, và Thánh Thần ngự xuống trên anh chị em và ở lại cùng anh chị em luôn mãi. Amen.

Cảm ơn anh chị em rất nhiều.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 12/05/2026]


Tiếp kiến các thành viên Hội đồng Quản trị của Quỹ Đài Thiên văn Vatican, 11.05.2026

Tiếp kiến các thành viên Hội đồng Quản trị của Quỹ Đài Thiên văn Vatican, 11.05.2026

Tiếp kiến các thành viên Hội đồng Quản trị của Quỹ Đài Thiên văn Vatican, 11.05.2026

*******

Sáng nay, tại Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh cha Lêô XIV đã tiếp kiến các thành viên Hội đồng Quản trị Quỹ Đài Thiên văn Vatican và gửi đến họ diễn văn sau đây:

Diễn văn của Đức Thánh Cha


Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.
Bình an cho anh chị em.

Kính thưa Đức Hồng y,
Thưa Chủ tịch Chính quyền Thành quốc Vatican,
Các bạn thân mến,
Anh chị em thân mến,

Tôi vô cùng cảm kích khi được gặp gỡ anh chị em, các thành viên của Quỹ Đài Thiên văn Vatican, và tôi cảm ơn sự hỗ trợ trung thành và quảng đại của anh chị em đối với công việc của Đài Thiên văn Vatican – một định chế quý giá của Thành quốc Vatican trong việc phục vụ Tòa thánh và Giáo hội Hoàn vũ. Một trăm ba mươi lăm năm trước, vị tiền nhiệm của tôi là Đức Thánh cha Lêô XIII đã tái thiết lập Đài Thiên văn Vatican để “mọi người có thể thấy rõ rằng Giáo hội và các Mục tử của Giáo hội không chống lại khoa học chân chính và vững chắc, dù là thuộc về con người hay thần linh, nhưng trái lại các ngài đón nhận, khuyến khích và thúc đẩy khoa học với sự tận tâm cao nhất có thể” (Ut Mysticam, 14 tháng 3 năm 1891).

Trong kỷ nguyên đó, khoa học càng lúc càng được trình bày như một nguồn chân lý đối nghịch với tôn giáo, vì thế Giáo hội cảm thấy nhu cầu cấp thiết phải phản bác quan niệm ngày càng lan rộng rằng đức tin và khoa học là hai thù địch.

Nhưng ngày nay, cả khoa học và tôn giáo đều đang đối mặt với một mối đe dọa khác và có lẽ còn nguy hiểm hơn: đó là những người phủ nhận chính sự hiện hữu của chân lý khách quan. Quá nhiều người trong thế giới của chúng ta từ chối nhìn nhận điều mà cả khoa học và Giáo hội đều giảng dạy cách rõ ràng – rằng chúng ta mang trọng trách trong việc quản trị hành tinh này, và chăm lo cho hạnh phúc của những người cư ngụ trên đó, đặc biệt là những người dễ bị tổn thương nhất với cuộc sống đang bị đe dọa bởi sự khai thác vô trách nhiệm đối với cả con người và thế giới tự nhiên. Đây chính là lý do tại sao việc Giáo hội đón nhận khoa học nghiêm túc và trung thực không đơn thuần là điều đáng quý, mà còn là điều trọng yếu.

Thiên văn học giữ một vị trí đặc biệt trong sứ mạng này. Khả năng chiêm ngưỡng mặt trời, mặt trăng và các vì tinh tú với lòng kinh ngạc là một món quà được ban cho mỗi con người, bất kể địa vị hay hoàn cảnh. Nó đánh thức trong chúng ta sự khâm phục và cảm thức đúng đắn về mọi mối tương quan. Việc chiêm ngưỡng bầu trời mời gọi chúng ta nhìn vào những những nỗi sợ hãi và những thất bại của mình dưới ánh sáng vô biên của Thiên Chúa. Bầu trời đêm là một kho tàng vẻ đẹp mở ra cho tất cả mọi người – người giàu cũng như người nghèo – và trong một thế giới đang đau đớn vì chia rẽ, nó vẫn là một trong những nguồn vui thực sự mang tính phổ quát cuối cùng.

Thật đáng buồn, ngay cả món quà này hiện cũng đang bị đe dọa. Theo cách nói của Đức Thánh cha Bênêđictô, chúng ta đã lấp đầy bầu trời bằng ánh sáng do con người tạo ra làm chúng ta mù lòa trước những ánh sáng mà Thiên Chúa đã đặt để ở đó – và ngài gợi ý rằng đó là một hình ảnh tương thích với chính tội lỗi (x. Bài giảng, 07 tháng 4 năm 2012).

Chính trong bối cảnh này, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với công việc của Quỹ. Cam kết của anh chị em cho phép các nhà khoa học của Vatican tham gia cách có ý nghĩa với công chúng rộng lớn hơn và với cộng đồng khoa học toàn cầu. Sự quảng đại của anh chị em giúp Đài Thiên văn Vatican có thể chia sẻ sự kỳ diệu của thiên văn học với sinh viên từ khắp nơi trên thế giới, đồng thời tổ chức các cuộc hội thảo và các khóa học mùa hè cho những người đang phục vụ tại các trường học Công giáo và các giáo xứ. Sau cùng, chính lòng tận tâm của anh chị em đã giúp những kính thiên văn và phòng thí nghiệm của Đài Thiên văn luôn đúng với ý nghĩa vốn có: những nơi mà vinh quang của công trình sáng tạo của Thiên Chúa được gặp gỡ với lòng tôn kính, với sự sâu sắc và với niềm vui.

Chúng ta không bao giờ được đánh mất nhãn quan thần học vốn là động lực thúc đẩy tất cả những điều này. Tôn giáo của chúng ta là một tôn giáo của Mầu nhiệm Nhập Thể. Thánh Kinh dạy chúng ta rằng ngay từ thuở ban đầu, Thiên Chúa đã tỏ mình ra qua chính những gì Người đã tạo dựng (x. Rm 1:20), và rằng Thiên Chúa yêu thương công trình sáng tạo này đến nỗi Người đã sai chính Con của Người đi vào trong đó để cứu chuộc nó (x. Ga 3:16). Do đó, không có gì ngạc nhiên khi những người có đức tin sâu sắc cảm thấy bị cuốn hút bởi việc khám phá nguồn gốc và sự vận hành của vũ trụ. Khát khao muốn hiểu biết công trình sáng tạo một cách trọn vẹn hơn không gì khác hơn là sự phản chiếu của nỗi khắc khoải hướng về Thiên Chúa vốn nằm sâu trong trái tim của mọi linh hồn.

Một lần nữa, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với sự hỗ trợ của anh chị em, và khẩn xin muôn phúc lành của Thiên Chúa Toàn Năng đổ xuống trên anh chị em và gia đình. Cảm ơn anh chị em!


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 12/05/2026]