Thứ Bảy, 6 tháng 5, 2023

TÔNG DU CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ ĐẾN HUNGARY: HỌP BÁO TRÊN CHUYẾN BAY BUDAPEST-ROME

TÔNG DU CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ ĐẾN HUNGARY: HỌP BÁO TRÊN CHUYẾN BAY BUDAPEST-ROME

TÔNG DU CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ ĐẾN HUNGARY

(28 - 30 THÁNG TƯ 2023)

HỌP BÁO TRÊN CHUYẾN BAY BUDAPEST-ROME

Chuyên cơ giáo hoàng
Chúa nhật, 30 tháng Tư, 2023

________________________________________


Ông Matteo Bruni:

Xin chào (buổi tối) Đức Thánh Cha. Cảm ơn Đức Thánh Cha vì những gì người nói trong những ngày này trong nhiều cuộc gặp gỡ với các thành phần khác nhau của xã hội Hungary, ở một mức độ nào đó là sự tiếp nối các cuộc gặp gỡ mà người đã thực hiện vào tháng Chín năm 2021. Cũng xin cảm ơn Đức Thánh Cha vì cơ hội lúc này được tiếp tục chuyện trò với người về cuộc Hành trình. Cảm ơn Cha rất nhiều.

ĐTC Phanxicô:

Chào anh chị em. Cảm ơn anh chị em vì công việc và sự hiện diện của anh chị em. Ba ngày qua là thật bận rộn nhưng tốt đẹp. Bây giờ đến phần của anh chị em.

Ông Matteo Bruni:

Câu hỏi đầu tiên đến từ một nhà báo người Hungary, anh Antal Hubai, từ đài truyền hình Hungary:

Antal Hubai - RTL KLUB:

Xin chào Đức Thánh Cha. Thưa Đức Thánh Cha, chúng con biết rằng người đã có nhiều kinh nghiệm cá nhân với người Hungary trong suốt cuộc đời. Ấn tượng của người về họ có thay đổi không, và nếu có thì sau những cuộc gặp gỡ hiện tại ở Hungary như thế nào?

ĐTC Phanxicô:

Vâng, tôi đã có một số kinh nghiệm vào thập niên 1960 khi tôi đang học ở Chile. Có nhiều tu sĩ Dòng Tên Hungary phải đến đó vì họ bị đuổi khỏi Hungary. Sau đó, tôi cũng rất thân quen với các nữ tu Dòng Mary Ward đến từ Hungary điều hành một trường học cách thủ đô Buenos Aires 20 km. Tôi thường đến thăm họ hai lần một tháng và phục vụ trong vai trò là tuyên úy dự bị. Về sau, cũng có một hiệp hội giáo dân Hungary từ Buenos Aires làm việc trong nhà thờ của người Hungary, những người mà tôi biết khá rõ. Tôi không hiểu thành ngữ của họ, nhưng tôi bắt được hai từ: gulasch và tokaj! Đó là một trải nghiệm tốt và tôi rất xúc động trước nỗi khổ của những người tị nạn khi không thể về nhà. Các Nữ tu Mary Ward còn ở lại [ở Hungary] ẩn mình trong các căn hộ để không bị chế độ bắt đi. Sau đó, tôi biết thêm về tất cả vấn đề thuyết phục Hồng y Mindszenty tốt lành đến Rôma. Tôi cũng biết về sự hăng hái của năm 1956 và tiếp theo là nỗi thất vọng. Đó là ít nhiều một chút tổng hợp.

Ông Matteo Bruni:

... và ý kiến ​​của Đức Thánh Cha về người Hungary có thay đổi gì không sau hai chuyến thăm ngắn này?

ĐTC Phanxicô:

Không, nó không thay đổi. Có lẽ nó được làm phong phú; phong phú theo ý nghĩa là những người Hungary mà tôi gặp có một văn hóa tuyệt vời và phong phú. Ngay cả những người không thuộc tầng lớp cao của xã hội, thậm chí là những người bình thường, đều có một văn hóa căn bản rất cao. Họ thường nói tiếng Đức hoặc tiếng Anh vì tiếng Hungary không được nói bên ngoài Hungary... Nó chỉ được nói trên thiên đàng, vì họ nói rằng phải mất rất cả đời để học tiếng Hungary! Ý kiến ​​của tôi không thay đổi, chẳng có gì thay đổi: Tôi nhìn thấy “phong cách” mà tôi đã biết.

Ông Matteo Bruni:

Câu hỏi thứ hai là của chị Eliana Ruggiero thuộc cơ quan Agi.

Eliana Ruggiero - AGI

Thưa Đức Thánh Cha, người kêu gọi rộng mở – mở rộng lại – những cánh cửa ích kỷ cho người nghèo, cho người di cư, cho những người “bất thường”. Trong cuộc hội đàm với Thủ tướng Hungary Orbán, người có yêu cầu ông ấy mở lại biên giới của tuyến đường Balkan mà ông ấy đã đóng không? Sau đó, trong những ngày gần đây, người cũng có gặp Đức Tổng Giám mục giáo đô Hilarion: có thể nào Đức Hilarion và ông Orbán trở thành kênh mở cho Moscow để thúc đẩy tiến trình hòa bình ở Ukraine, hoặc để tạo khả năng cho một cuộc gặp gỡ giữa Đức Thánh Cha và Tổng thống Putin không? Xin cảm ơn người.

ĐTC Phanxicô:

Tôi tin rằng hòa bình luôn được tạo ra bằng cách mở các kênh chứ không bao giờ bằng cách đóng lại. Tôi khuyến khích mọi người mở rộng các mối quan hệ, các kênh của tình bằng hữu. Điều này không dễ dàng. Nói chung tôi đưa ra lời kêu gọi tương tự, tôi đã gửi đến ông Orbán và tôi đã gửi nó phần nào đó khắp mọi nơi.

Về vấn đề di cư: Tôi nghĩ đây là vấn đề mà Châu Âu phải chung tay vì có 5 quốc gia gánh chịu nhiều nhất: Síp, Hy Lạp, Malta, Ý và Tây Ban Nha, vì họ là các quốc gia Địa Trung Hải và phần lớn người di cư đến đó. Nếu Châu Âu không đảm nhận trách nhiệm phân bố người di cư cách công bằng, vấn đề sẽ chỉ rơi vào các quốc gia đó. Tôi nghĩ Châu Âu phải giúp mọi người nhận ra rằng đó là một “Liên minh Châu Âu”, cũng như khi đối mặt với thách đố này.

Có một vấn đề khác, liên quan đến di cư, đó là tỷ lệ sinh. Có những quốc gia như Ý và Tây Ban Nha là những nơi có rất ít trẻ em được sinh ra. Năm ngoái tôi đã nói về vấn đề này tại một đại hội các gia đình và gần đây tôi thấy chính phủ [Ý] và các chính phủ khác cũng đang nói về điều này. Độ tuổi trung bình ở Ý là 46, ở Tây Ban Nha thậm chí còn cao hơn, và có những ngôi làng nhỏ bị bỏ hoang. Một chương trình di cư, được thực hiện tốt theo mô hình mà một số quốc gia đã làm theo đối với việc di cư – chẳng hạn tôi nghĩ đến Thụy Điển vào thời các chế độ độc tài ở Mỹ Latinh – cũng có thể giúp ích cho những quốc gia có tỷ lệ sinh thấp này.

Cuối cùng là với Đức Hilarion. Ngài Hilarion là người mà tôi rất kính trọng và chúng tôi luôn có mối quan hệ tốt đẹp. Ngài thật tốt lành đến gặp tôi, tham dự Thánh lễ, và tôi cũng đã gặp ngài ở đây tại sân bay. Ngài Hilarion là một người thông minh mà người ta có thể chuyện trò, và những mối quan hệ như vậy phải được duy trì, bởi vì nếu chúng ta nói về chủ nghĩa đại kết, thì chúng ta có thể nói “Tôi thích điều này, nhưng tôi không thích điều kia”... Chúng ta phải đưa tay ra với mọi người, và cũng chấp nhận bàn tay rộng mở của người khác. Kể từ khi chiến tranh bắt đầu, tôi chỉ nói chuyện có một lần với Đức Thượng phụ Kirill, trong 40 phút qua một cuộc gọi Zoom, và sau đó thông qua ngài Anthony, người hiện đã thay chỗ của Đức Hilarion, và là người đến gặp tôi. Ngài là một giám mục và từng là mục tử ở Rôma và nắm rất rõ tình hình, và thông qua ngài mà tôi liên lạc được với Đức Kirill. Cuộc gặp gỡ mà chúng tôi dự định tổ chức ở Giêrusalem vào tháng Sáu hoặc tháng Bảy năm ngoái đã bị hủy bỏ vì chiến tranh, nhưng nó sẽ phải diễn ra. Còn đối với người Nga, tôi có mối quan hệ tốt với ông Đại sứ, người hiện đang rời đi sau bảy năm ở Vatican; ông là một người giỏi, một người lịch thiệp. Một người nghiêm túc, có văn hóa, rất công bằng. Mối quan hệ với người Nga chủ yếu là với ông Đại sứ này. Tôi không biết tôi đã nói lên tất cả mọi điều ...

Chị Eliana Ruggiero:

Liệu ngài Hilarion và ông Orbán có thể bằng cách nào đó đẩy nhanh tiến trình hòa bình ở Ukraine và cũng có thể tạo ra một cuộc gặp gỡ giữa Đức Thánh Cha và ông Putin không? Họ có thể hành động, theo một cách nói gọi là “người trung gian” không?

ĐTC Phanxicô:

Như chị có thể hình dung, trong cuộc họp của chúng tôi, chúng tôi không đơn thuần nói về chuyện “Cô bé quàng khăn đỏ”. Chúng tôi đã thảo luận về tất cả những vấn đề này. Mọi người đều hỏi về điều này bởi vì họ đều quan tâm đến con đường dẫn đến hòa bình. Tôi sẵn sàng, tôi sẵn sàng làm bất cứ điều gì cần phải làm. Ngay cả lúc này, đang có một sứ mệnh diễn ra, nhưng nó vẫn chưa được công khai, chúng ta sẽ xem... Một khi nó được công khai, tôi sẽ nói về nó.

Ông Matteo Bruni:

Câu hỏi thứ ba là của chị Aura Maria Vistas Miguel, người ở ngay đây bên trái Đức Thánh Cha.

Aura Maria Vistas Miguel - Rádio Renascença - Bồ Đào Nha:

Thưa Đức Thánh Cha, chuyến thăm tiếp theo là tới Lisbon, vì vậy có hai điều. Sức khỏe của người như thế nào? Bởi vì chúng con đã rất bất ngờ khi người phải vào bệnh viện; người ta nói rằng người đã bất tỉnh, như vậy người có đủ sức để gặp gỡ hàng ngàn bạn trẻ ở Lisbon trong những ngày tới của tháng Tám không? Ngoài ra, Đức Thánh Cha có muốn mời một bạn trẻ Ukraine và một bạn trẻ Nga đến tham dự Đại hội Giới trẻ Thế giới như một dấu hiệu hòa bình không, cũng là cho các thế hệ tương lai?

ĐTC Phanxicô:

Trước hết là sức khỏe của tôi. Những gì tôi bị là một cơn bệnh đột ngột vào cuối Buổi Tiếp kiến chung Thứ Tư. Tôi không thấy muốn ăn trưa nên tôi nằm xuống một chút. Tôi không bất tỉnh nhưng sốt cao, và lúc ba giờ chiều bác sĩ liền đưa tôi vào bệnh viện: Tôi bị viêm phổi cấp và nặng. Tôi có thể nói với chị điều này là tạ ơn Chúa vì cơ thể tôi phản ứng tốt với việc trị liệu. Tạ ơn Chúa. Đó là những gì tôi đã trải qua.

Tiếp đến là Lisbon. Một ngày trước khi tôi đi, tôi đã nói chuyện với Đức Cha Américo [Américo Aguiar, Giám mục phụ tá của Lisbon và là Chủ tịch của Tổ chức WYD 2023], người đã đến để xem tình hình hiện tại như thế nào... Vâng, tôi sẽ đi và tôi hy vọng sẽ xoay sở được. Chị thấy đấy, nó không giống như hai năm trước, nhưng với cây gậy chống... mọi thứ đã tốt hơn nên tạm thời chuyến đi của tôi không bị hủy. Sau đó là chuyến thăm Marseilles, rồi đến Mông Cổ, rồi còn một chuyến nữa, tôi không nhớ là ở đâu... Vì vậy, chương trình vẫn khiến tôi tiếp tục di chuyển, chúng ta cứ đợi xem!

Chị Aura Maria Vistas Miguel:

Còn khả năng gặp gỡ với hai bạn trẻ đến từ Nga và Ukraine thì sao?

ĐTC Phanxicô:

Đức Cha Américo có ý định gì đó, ngài nói với tôi rằng ngài đang chuẩn bị một điều gì đó... Ngài đang chuẩn bị rất kỹ lưỡng.

Ông Matteo Bruni:

Câu hỏi thứ tư đến từ chị Nicole Winfield, thưa Đức Thánh Cha; và rồi để xem còn có thời gian để…

Nicole Winfield:

Thưa Đức Thánh Cha, con muốn hỏi người một điều hơi khác một chút. Gần đây người đã thực hiện một hành động đại kết rất mạnh mẽ: người đã trao tặng Hy Lạp ba mảnh của các tượng điêu khắc của đền Parthenon từ viện Bảo tàng Vatican. Hành động này cũng gây tiếng vang bên ngoài thế giới Chính thống giáo, vì nhiều bảo tàng phương Tây đang thảo luận về việc hoàn trả các đồ vật lấy trong thời kỳ thuộc địa, như một hành động công bằng đối với những người đó. Con muốn hỏi rằng không biết người có sẵn sàng cho những hành động hoàn lại khác không. Chẳng hạn con nghĩ đến các dân tộc và nhóm bản địa ở Canada, họ yêu cầu hoàn trả lại các đồ vật từ các bộ sưu tập của Vatican như một phần của tiến trình đền bù cho những thiệt hại đã gây ra trong thời kỳ thuộc địa.

ĐTC Phanxicô:

Trước hết, đây là điều răn thứ bảy: nếu bạn đã lấy của người, bạn phải bồi thường! Nhưng có cả một lịch sử. Đôi khi các cuộc chiến tranh và thuộc địa dẫn đến những quyết định lấy đi các thứ tốt đẹp của người khác. Đây là một hành động chính đáng phải được thực hiện: đền Parthenon, trao lại thứ gì đó. Và nếu ngày mai người Ai Cập đến đòi cột kỷ niệm hình tháp (obelisk), chúng ta sẽ làm gì? Khi đó phải có sự phân định, trong mọi trường hợp. Và rồi việc hoàn trả những thứ của người bản địa: điều này đang diễn ra, với Canada, ít nhất chúng tôi đã đồng ý làm như vậy. Bây giờ tôi sẽ hỏi là việc đang diễn ra như thế nào. Kinh nghiệm có được với các dân tộc bản địa Canada rất hiệu quả. Cũng tại Hoa Kỳ, các tu sĩ Dòng Tên đang làm việc với nhóm các dân tộc bản xứ ở Hoa Kỳ: Cha Bề Trên Tổng Quyền đã nói với tôi hôm trước. Nhưng chúng ta hãy quay lại với việc hoàn trả. Trong phạm vi mà một người có thể hoàn trả, khi nó là một hành động cần thiết, thì tốt hơn là cần phải làm việc đó. Có những lúc người ta không thể, không có khả năng chính trị hay khả năng thực tế, cụ thể… Nhưng trong phạm vi người ta có thể hoàn trả, hãy để nó được thực hiện, điều này tốt cho tất cả. Để không quen đút tay vào túi người khác!

Ông Matteo Bruni:

Và chúng ta vẫn còn một câu hỏi cuối cùng, chị Eva Fernandez của Đài Cope đang ở đây…

Eva Fernandez of Cope:

Thủ tướng Ukraine yêu cầu sự giúp đỡ của Đức Thánh Cha để đưa những trẻ em bị ép buộc đến Nga; người có nghĩ rằng người có thể giúp ông ấy? Xin cảm ơn Đức thánh Cha.

ĐTC Phanxicô:

Tôi nghĩ là có, bởi vì Tòa thánh đã đóng vai trò trung gian trong một số cuộc trao đổi tù nhân, và thông qua Đại sứ quán, việc này đã diễn ra tốt. Tôi nghĩ điều này cũng có thể diễn ra tốt đẹp. Điều quan trọng là, ít nhất Tòa thánh sẵn sàng làm điều đó bởi vì nó là công bằng, nó là một việc công bằng, và chúng ta cần phải giúp, giúp đỡ để đây không phải là một casus belli (kích động chiến tranh), mà là một vấn đề thuộc về con người. Đó là vấn đề nhân đạo, đứng trước vấn đề chiến lợi phẩm hay “tái xây dựng” thời chiến. Mọi hành động nhân đạo đều hữu ích, trong khi những hành động độc ác không giúp được gì. Chúng ta phải làm mọi việc con người có thể.

Tôi cũng nghĩ, và tôi muốn nói điều này, về những người phụ nữ đến các quốc gia của chúng ta: Ý, Tây Ban Nha, Ba Lan, Hungary, tất cả những phụ nữ đến với con cái, và chồng của họ đã chết hoặc đang tham chiến. Đúng vậy, có sự nhiệt tình và trong lúc này, họ đang nhận được sự giúp đỡ; nhưng chúng ta không được đánh mất nhiệt tình làm việc này, bởi vì khi sự nhiệt tình không còn, những người phụ nữ này sẽ không được bảo vệ, có nguy cơ rơi vào tay những con kền kền luôn lượn lờ quanh tìm kiếm… Chúng ta phải cẩn thận để không giảm bớt mối quan tâm đối với việc giúp đỡ những người tị nạn. Và đây là điều mà ai cũng có thể làm được. Cảm ơn chị.

Xin cảm ơn và chúc anh chị em bữa ăn tối ngon miệng! Nhưng tôi không biết đó là bữa tối hay chỉ là một bữa ăn nhẹ. Cảm ơn anh chị em rất nhiều vì công việc của anh chị em.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 4/5/2023]


Thứ Năm, 4 tháng 5, 2023

Tiếp kiến chung ngày 3 tháng 5, 2023: Đức Thánh Cha tập trung suy niệm về chuyến tông du gần đây của ngài

“Ở Hungary, cha đã tìm thấy một dân tộc có cội nguồn Kitô giáo sâu xa”

Đức Thánh Cha tập trung suy niệm về chuyến tông du gần đây của ngài

Tiếp kiến chung ngày 3 tháng 5, 2023: Đức Thánh Cha tập trung suy niệm về chuyến tông du gần đây của ngài

Vatican Media


*******

Buổi Tiếp kiến sáng nay được tổ chức lúc 9:00 sáng tại Quảng trường Thánh Phêrô, nơi Đức Thánh Cha Phanxicô gặp gỡ các nhóm khách hành hương và tín hữu đến từ nước Ý và khắp nơi trên thế giới.

Trong huấn từ bằng tiếng Ý, Đức Thánh Cha tập trung suy niệm về Chuyến tông du gần đây của ngài đến Hungary.

Sau phần tóm lược bài giáo lý của ngài bằng một số ngôn ngữ khác nhau, Đức Thánh Cha đã ngỏ lời chào đặc biệt đến các tín hữu hiện diện.

Buổi Tiếp kiến kết thúc với Kinh Lạy Cha và Phép Lành Tòa Thánh.

_________________________________________



Anh chị em thân mến, buongiorno!

Ba ngày trước, cha trở về sau chuyến đi đến Hungary. Tôi xin cảm ơn tất cả những người đã chuẩn bị và đồng hành với chuyến viếng thăm này bằng lời cầu nguyện, và xin lặp lại lòng biết ơn của tôi đối với các Nhà chức trách, Giáo hội địa phương và người dân Hungary, một dân tộc can đảm, giàu ký ức. Trong thời gian ở Budapest, cha có thể cảm nhận được tình cảm của tất cả người dân Hungary. Hôm nay cha xin kể về cuộc viếng thăm này qua hai hình ảnh: cội nguồn và những cây cầu.

Cội nguồn. Cha đã đến như một người hành hương với một dân tộc mà lịch sử của họ — như Thánh Gioan Phaolô II nói — đã được ghi dấu bởi “nhiều vị thánh và anh hùng, bao quanh là những con người khiêm tốn và cần cù” (Diễn từ tại buổi lễ đón tiếp, Budapest, ngày 6 tháng Chín, 1996). Đó là sự thật: Tôi đã nhìn thấy rất nhiều con người khiêm tốn và cần cù trân trọng mối ràng buộc với cội nguồn của họ một cách đầy tự hào. Và trong số những cội nguồn này, như những chứng ngôn trong các cuộc gặp gỡ với Giáo hội địa phương và với giới trẻ đã cho thấy rõ, trước hết và trên hết là các vị thánh: những vị thánh đã hiến mạng sống mình cho con người, những vị thánh làm chứng cho Tin Mừng của tình yêu và là ánh sáng trong những thời kỳ tăm tối; quá nhiều vị thánh trong quá khứ, những người động viên chúng ta hôm nay hãy chiến thắng nguy cơ của chủ nghĩa thất bại và nỗi sợ hãi về ngày mai, nhớ rằng Chúa Kitô là tương lai của chúng ta. Các vị thánh nhắc nhở chúng ta điều này: Chúa Kitô là tương lai của chúng ta.

Tuy nhiên, cội nguồn Kitô giáo vững chắc của người dân Hungary đã chịu thử thách. Đức tin của họ đã được thử thách bằng lửa. Thật vậy, trong cuộc đàn áp của vô thần trong thế kỷ 20, các Kitô hữu đã bị tấn công dữ dội, với các giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân bị giết hoặc bị tước quyền tự do. Và trong khi người ta cố gắng đốn hạ cây đức tin, thì gốc rễ vẫn còn nguyên vẹn không hề hấn: vẫn còn một Giáo hội âm thầm, nhưng sống động, mạnh mẽ, với sức mạnh của Tin Mừng. Và ở Hungary, cuộc đàn áp cuối cùng này, sự áp bức của cộng sản này đã đến ngay sau cuộc đàn áp của Đức quốc xã, với sự trục xuất bi thảm một lượng lớn người Do Thái. Nhưng trong cuộc diệt chủng tàn khốc đó, nhiều người nổi bật lên vì sự kháng cự và khả năng bảo vệ các nạn nhân; và điều này là khả thi vì gốc rễ của việc chung sống đã vững chắc. Ở Rôma chúng ta có một nhà thơ vĩ đại người Hungary, người đã trải qua tất cả những thử thách này và nói với những lớp người trẻ tuổi về sự cần thiết phải đấu tranh cho một lý tưởng, không để bị khuất phục bởi sự ngược đãi, bởi sự thoái chí. Hôm nay nhà thơ này đã 92 tuổi: Chúc mừng sinh nhật ông Edith Bruck!

Nhưng ngay cả ngày nay, trong các cuộc gặp gỡ với giới trẻ và thế giới văn hóa đã dấy lên vấn đề về tự do đang bị đe dọa. Theo cách nào? Trên hết là bằng sự vuốt ve mơn trớn, với chủ nghĩa tiêu dùng gây đê mê, nơi người ta hài lòng với một chút sung túc vật chất và quên đi quá khứ, người ta “bồng bềnh” trong hiện tại nuông chiều theo từng cá nhân. Đây là cuộc đàn áp nguy hiểm của tính thế tục, do chủ nghĩa tiêu thụ mang đến. Một khi điều quan trọng duy nhất chỉ là nghĩ về bản thân và làm những gì mình thích, thì cội rễ sẽ bị chết ngạt. Đây là vấn đề trên khắp Châu Âu, nơi mà sự cống hiến bản thân cho người khác, cảm nhận được ý thức cộng đồng, cảm nhận vẻ đẹp của việc cùng nhau ước mơ và xây dựng những gia đình đông con đang trong cơn khủng hoảng. Cả Châu Âu đang trong cuộc khủng hoảng. Vì vậy, chúng ta hãy suy nghĩ về tầm quan trọng của việc bảo tồn cội rễ, bởi vì chỉ bằng cách đâm sâu xuống, thì cành cây mới có thể vươn cao và đơm hoa kết trái. Mỗi người chúng ta hãy tự hỏi mình, thậm chí với tư cách là một dân tộc, mỗi người chúng ta: đâu là cội rễ quan trọng nhất trong cuộc đời tôi? Tôi bắt nguồn từ đâu? Tôi có ghi nhớ những cội rễ không, tôi có quan tâm đến những cội nguồn đó không?

Sau cội nguồn là hình ảnh thứ hai: những cây cầu. Budapest, ra đời cách đây 150 năm từ sự kết hợp của ba thành phố, nổi tiếng với những cây cầu bắc qua và hợp nhất các phần của thành phố. Điều này nhắc lại tầm quan trọng, nhất là trong những cuộc gặp gỡ với các nhà chức trách, của việc xây dựng những cây cầu hòa bình giữa các dân tộc khác nhau. Đặc biệt, đây là ơn gọi của Châu Âu, được mệnh danh là “cây cầu hòa bình”, bao gồm những khác biệt và chào đón những ai đến gõ cửa. Theo ý nghĩa này, cây cầu nhân đạo đã được tạo ra cho rất nhiều người tị nạn từ đất nước láng giềng Ukraine, những người mà cha đã có dịp gặp gỡ đồng thời thán phục mạng lưới bác ái vĩ đại của Giáo hội Hungary, thật đẹp.

Đất nước này cũng rất kiên trì trong việc xây dựng “những cây cầu cho ngày mai”: có sự quan tâm rất lớn đối với việc chăm sóc hệ sinh thái — và đây là một điều rất, rất đẹp về Hungary — chăm sóc hệ sinh thái và một tương lai bền vững, và công việc đang được thực hiện để xây dựng những cầu nối giữa các thế hệ, giữa người già và người trẻ, một thách thức mà ngày nay không ai có thể chối bỏ. Cũng có những nhịp cầu mà Giáo hội được mời gọi vươn tới con người hôm nay, như được nêu ra tại buổi gặp gỡ các giám mục, linh mục, tu sĩ, chủng sinh và những người thánh hiến, bởi vì việc loan báo Chúa Kitô không thể chỉ gồm trong việc lập lại quá khứ, nhưng luôn cần được cập nhật, để giúp con người của thời đại chúng ta tái khám phá Chúa Giêsu. Và cuối cùng, khi nhớ lại với lòng tri ân những thời khắc phụng vụ rất đẹp, buổi cầu nguyện với cộng đoàn Công giáo Hy Lạpcử hành Thánh Lễ trọng thể có đông đảo người tham dự, cha nghĩ đến vẻ đẹp của việc xây những nhịp cầu nối giữa các tín hữu: trong Thánh lễ Chúa nhật có các Kitô hữu thuộc nhiều nghi lễ và quốc gia khác nhau, và thuộc các tông phái khác nhau, những người làm việc ăn ý với nhau ở Hungary. Xây dựng những nhịp cầu, những nhịp cầu hòa hợp, những nhịp cầu hiệp nhất.

Trong chuyến thăm này, cha vô cùng ấn tượng bởi tầm quan trọng của âm nhạc, một nét đặc trưng của văn hóa Hungary.

Cuối cùng, cha muốn nhắc lại, vào đầu tháng Năm, việc người Hungary vô cùng sùng kính Mẹ Thiên Chúa. Được vị vua đầu tiên, là Thánh Stephen, thánh hiến cho Mẹ, họ thường xưng tụng Mẹ mà không phát âm danh Mẹ, vì sự tôn trọng, chỉ gọi Mẹ bằng những tước hiệu Nữ vương. Vì vậy, chúng ta hãy phó thác đất nước thân yêu đó cho Nữ vương Hungary; chúng ta hãy phó thác việc xây dựng những nhịp cầu trên thế giới cho Nữ vương Hòa bình; chúng ta phó dâng tâm hồn mình để chúng bén rễ trong tình yêu của Thiên Chúa cho Nữ Vương Thiên Đàng, Đấng mà chúng ta tung hô trong mùa Phục Sinh này.

____________________________________


Lời chào đặc biệt

Cha xin gửi lời chào thân ái đến những anh chị em hành hương và du khách nói tiếng Anh tham dự buổi tiếp kiến hôm nay, đặc biệt là các nhóm đến từ Chad, Nigeria, Uganda, New Zealand, Ấn Độ, Indonesia, Philippines, Canada và Hoa Kỳ. Trong niềm vui của Chúa Kitô Phục Sinh, cha khẩn xin lòng thương xót của Thiên Chúa là Cha chúng ta đổ xuống trên anh chị em và gia đình. Xin Chúa chúc lành cho tất cả anh chị em!



[Nguồn: exaudi]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 4/5/2023]