Thứ Hai, 31 tháng 8, 2026

Phóng viên trải qua một đêm bên trong ngôi thánh đường linh thiêng nhất của Giêrusalem cùng với các giáo sĩ và khách hành hương

Phóng viên trải qua một đêm bên trong ngôi thánh đường linh thiêng nhất của Giêrusalem cùng với các giáo sĩ và khách hành hương

Giovanna Dell'Orto

26 tháng 8, 2026 | Associated Press

Phóng viên trải qua một đêm bên trong ngôi thánh đường linh thiêng nhất của Giêrusalem cùng với các giáo sĩ và khách hành hương

Các tín hữu Chính Thống giáo cầm nến trong nghi thức Lửa Thánh tại Nhà thờ Mộ Thánh ở Thành Cổ Giêrusalem, thứ Bảy, ngày 11 tháng 4, 2026. (Ảnh: Mahmoud Illean/AP.)

GIÊRUSALEM — Những cánh cửa khổng lồ được đóng lại, các chốt cửa kêu lách cách được cài từ bên ngoài, và một số giáo sĩ, khách hành hương cùng một phóng viên — là tôi — bị khóa qua đêm bên trong một trong những thánh địa linh thiêng nhất của Kitô giáo tại Giêrusalem.

Nhà thờ Mộ Thánh được xây dựng trên những địa điểm mà các Kitô hữu tin rằng Chúa Giêsu đã chịu đóng đinh, được mai táng và sống lại từ cõi chết.

Qua nhiều thế kỷ, khi các nhà cầm quyền Hồi giáo cai quản vùng đất này và những biến động chính trị làm thay đổi sự ảnh hưởng của các quyền lực tôn giáo, một thỏa thuận đã hình thành, rất đặc thù cũng như kiến trúc hòa trộn của chính ngôi thánh đường. Ngày nay, Giáo hội Tông truyền Armenia, Giáo hội Công giáo và Giáo hội Chính Thống Hy Lạp cùng chia sẻ quyền sở hữu không gian thờ tự này.

Tôi nhìn qua một khe cửa nhỏ khi đại diện của một gia đình Hồi giáo — họ được ủy thác giữ chìa khóa của vương cung thánh đường từ thế kỷ 13 — trèo lên chiếc thang gỗ nhỏ để với tới then chốt cửa phía trên. Sau đó, ông đưa chiếc thang trở lại qua chính khe cửa đó, và một linh mục Chính Thống Hy Lạp cũng khóa cửa lại. Một người khác chúc chúng tôi bằng tiếng Anh: “Chúc ngủ ngon!” trước khi nhanh chóng rời đi.

Hầu như mỗi đêm, từ 9 giờ tối đến lúc rạng sáng, khi cửa được mở lại với nghi thức tương tự, khoảng một chục linh mục, một số ít khách hành hương đã đăng ký và vài con mèo cùng chia sẻ không gian rộng lớn, âm u của vương cung thánh đường.

Trong khi các linh mục và một vài nữ tu nhanh chóng nghỉ ngơi hoặc thực hiện các công việc bổn phận, những người khách chúng tôi phải mất một vài phút thinh lặng, suy niệm mới quyết định được sẽ bắt đầu rảo bước từ đâu trong không gian quanh co như mê cung được tôn kính này.

Một trải nghiệm cầu nguyện độc đáo tại ngôi thánh đường linh thiêng nhất của Giêrusalem

Peter Stängle, một khách hành hương đến từ Brazil, liên tục quỳ gối cầu nguyện. Hai bắp tay đầy hình xăm và trán ông áp trên Phiến đá xức dầu (Stone of the Unction), nơi được tin rằng xác của Chúa Giêsu được chuẩn bị trước khi mai táng.

Ông nói, “Có rất nhiều điều đang diễn ra trong tâm trí tôi — những điều tôi đã sai phạm trong đời, liệu có ơn cứu độ cho tất cả mọi người không, có thể cho cả tôi nữa?”

Ban ngày, ông bị xao nhãng bởi dòng người đến viếng — dù số lượng đã giảm đi rất nhiều so với trước đại dịch COVID-19, cuộc chiến Israel-Hamas và cuộc chiến Iran làm suy yếu trầm trọng ngành du lịch — đến mức ông từng tính đến việc ẩn mình vào một trong rất nhiều các nhà nguyện phụ khi đến giờ đóng cửa. Sau đó, ông phát hiện ra mình chỉ cần đăng ký để được ở lại cầu nguyện suốt đêm trong nhà thờ.

Khu phức hợp này phần lớn được xây dựng vào thời Trung cổ trên những địa điểm đã được tôn kính từ thế kỷ IV. Với các công trình trùng tu và bổ sung vẫn đang được tiến hành, những bước chân của chúng tôi vang vọng trên những phiến đá có tuổi đời hàng thiên niên kỷ, trong khi những bức tranh khảm trên tường của thế kỷ XX sáng lấp lánh.

Đây là một công trình nhiều tầng, quanh co, được trang trí theo những phong cách khác nhau của các hệ phái sử dụng chung nơi này. Ngoài những bàn thờ riêng, tất cả các khách hành hương đều thường viếng ba địa điểm — Đá xức dầu, nhà nguyện xây dựng trên phần mộ của Chúa Giêsu, và nhà nguyện trên đồi Canvê, nơi theo truyền thống, một phiến đá đánh dấu vị trí dựng thập giá của Chúa Giêsu.

Phóng viên trải qua một đêm bên trong ngôi thánh đường linh thiêng nhất của Giêrusalem cùng với các giáo sĩ và khách hành hương

Một Kitô hữu hôn Đá xức dầu, phiến đá theo truyền thống được cho là nơi xác Chúa Giêsu được chuẩn bị để mai táng, tại Nhà thờ Mộ Thánh, nơi nhiều Kitô hữu tin rằng Chúa Giêsu đã chịu đóng đinh, được mai táng và sống lại từ cõi chết, tại Thành cổ Giêrusalem, vào Thứ Sáu Tuần Thánh, ngày 29 tháng 3, 2024. (Ảnh: Leo Correa/AP.)

Stängle và tôi ngồi đối diện với nơi ấy trong một thời gian dài. Chỉ có một số ít đèn dầu chập chờn trong bóng tối của những không gian thờ phượng của Công giáo và Chính Thống giáo Hy Lạp nằm cạnh nhau, với những vách ngăn bằng kính phân chia phiến đá dành cho việc thờ phượng của các tín đồ mỗi bên.

Chúng tôi cũng chạm mặt nhau trước Nhà nguyện Mộ Thánh (Holy Edicule), ngôi nhà nguyện bằng đá cẩm thạch được dựng trên ngôi mồ của Chúa Giêsu. Ba khách hành hương Armenia ngồi trang nghiêm phía trước cho đến khi một con mèo thong thả bước tới và cuộn tròn dưới chân họ, gần như chạm vào các hạt của chuỗi Mân côi mà một phụ nữ trùm khăn trắng đang cầm trên tay.

Các truyền thống Kitô giáo khác nhau cùng chia sẻ những không gian thờ phượng linh thiêng

Chính tại Nhà nguyện Mộ Thánh này, mỗi đêm vào khoảng nửa đêm, sau tiếng chuông ngân, các giờ kinh phụng vụ đầu tiên bắt đầu được cử hành khi các giáo sĩ của đền thánh bắt đầu cầu nguyện và kết thúc vào khoảng 6 giờ sáng. Đó cũng thường là lúc những người ở lại qua đêm như chúng tôi được ra ngoài, và các tín hữu đến cầu nguyện ban ngày có thể bước vào.

Cha Giuseppe Gaffurini nói rằng lòng tôn kính ấy “làm phong phú cho vương cung thánh đường”.

“Anh vẫn có thể hít thở bầu khí hiện diện của Đấng đã chịu đóng đinh và sống lại từ cõi chết,” cha Gaffurini nói, ngài đứng đầu cộng đoàn đan tu gồm 10 tu sĩ Phanxicô sống trong những căn phòng phía trên khu vực thuộc Công giáo của nhà thờ.

Vị linh mục người Ý than phiền vì các cuộc xung đột đang diễn ra đã ngăn cản hàng trăm ngàn khách hành hương không thể tham dự các nghi thức tại vương cung thánh đường. Cha thường ngưỡng mộ lòng đạo đức của họ — những người chạm vào hoặc hôn những phiến đá lịch sử lạnh giá, và những người ôm lấy nhau trong nước mắt.

Cha nhớ lần đầu tiên đến đây để hát trong một số nghi thức phụng vụ ban đêm, cách đây 15 năm. Cha đã khấn dòng ba thập niên trước đó, nên ngài không mong chuyến đi sẽ trở thành một trải nghiệm làm thay đổi cuộc đời — nhưng trải nghiệm ấy quá mãnh liệt đến mức Cha đã không rời khỏi nơi đây.

“Niềm vui của cuộc gặp gỡ tại mộ của Đấng Phục sinh xóa tan cả một đời mệt mỏi và lại đưa anh tiến bước,” cha Gaffurini nói.

Sau đó, Cha trở về phòng để ngủ vài giờ trước khi các nghi thức ban mai của các tu sĩ Phanxicô bắt đầu, chiếc áo dòng màu nâu của ngài khuất dần vào không gian chỉ được soi sáng bằng ánh nến.

Phóng viên trải qua một đêm bên trong ngôi thánh đường linh thiêng nhất của Giêrusalem cùng với các giáo sĩ và khách hành hương

Một linh mục đóng cửa Nhà thờ Mộ Thánh vào ban đêm tại Giê usalem, thứ Năm, ngày 17 tháng 5, 2012. (Ảnh: Dusan Vranic/AP.)

Một tu sĩ cùng dòng đến từ Guinea-Bissau là người thức dậy đầu tiên trong dòng Công giáo. Thầy rung chuông và mở cửa nhà nguyện Mình Thánh Chúa (Blessed Sacrament) của Công giáo — nơi các tu sĩ Phanxicô đã thờ phượng suốt 700 năm qua — để các linh mục thuộc nghi lễ Chính Thống Hy Lạp, Armenia và Coptic có thể xông hương tại đó trong chuyến đi quanh những điểm thánh thiêng bên trong nhà thờ vào khoảng nửa đêm. Các giáo sĩ Chính Thống giáo Ethiopia và Syria cũng có quyền ra vào nhà thờ được quy định rõ ràng trong một thỏa thuận từ thế kỷ XIX vốn thường gây tranh cãi.

Vị tu sĩ Dòng Phanxicô, một linh mục Chính Thống Hy Lạp và một linh mục Armenia mặc lễ phục đỏ tươi gật đầu chào nhau khi làn khói hương trầm tỏa bay gần Nhà nguyện Mộ Thánh. Sau đó, mỗi người bắt đầu các nghi thức riêng theo thứ tự luân phiên — một sự chung sống hòa hợp, là sự thay đổi đáng hoan nghênh so với những thế kỷ đôi khi xảy ra các cuộc tranh chấp bạo lực về quyền phụng tự tại đây.

“Chúng tôi đang sống trong một giai đoạn đặc biệt tích cực về mối quan hệ với các Giáo hội khác,” Cha Francesco Ielpo nói, ngài là linh mục Dòng Phanxicô trong vai trò Người Canh giữ Đất Thánh (Custos of the Holy Land), quản lý hơn 300 tu sĩ trong khu vực phục vụ tại vương cung thánh đường và nhiều thánh địa khác.

Sự tích cực và hợp tác đó, Cha nói, “tôi tin rằng, là dấu chỉ đầu tiên và quan trọng nhất để thực sự trở thành những ngôn sứ của hòa bình.”

Ban đêm, các giáo sĩ và khách hành hương ở một mình với những suy tư — và đức tin

Trước những cuộc chiến tranh gần đây, mê cung những con hẻm chật hẹp đầy cửa hàng bao quanh nhà thờ bên trong Thành Cổ Giêrusalem thường chật kín những đoàn khách hành hương chen chúc nhau. Trong một chuyến đi đến đây năm 2016, đám đông quá dày đặc đến mức tôi thậm chí không thể bước vào sân lát đá của vương cung thánh đường.

Một nhóm các nhà khảo cổ và một vài nhóm du khách vẫn đến đây hằng ngày, băng qua những lối đi cùng với người Do Thái và Hồi giáo đến cầu nguyện tại các thánh địa chính của họ, cách đó vài trăm mét. Đối với các linh mục, tu sĩ nam nữ Kitô giáo, những người có thể dễ dàng nhận ra qua những bộ tu phục dài, những cuộc chạm trán đó ngày càng trở nên căng thẳng.

Nhưng bên trong nhà thờ, đặc biệt trong sự tĩnh lặng của màn đêm, bạn ở một mình với những suy tư của mình — và đối với các Kitô hữu, với một biểu tượng gần như hữu hình của giáo lý trung tâm của đức tin.

Bạn bị khóa bên trong một không gian mát lạnh, tối tăm, ngay tại nơi Chúa Giêsu đã phải chịu một hình thức hành hình tàn bạo bị đóng đinh trên thập giá. Thế nhưng, đối với các tín hữu, đây cũng chính là nơi trang sử đó được lật sang trang mới — nơi Người chiến thắng sự chết, để lại lời hứa về sự sống đời đời cho những ai tin.

Khi chúng tôi ngồi trên băng ghế bên dưới Nhà nguyện Canvê — đối diện với một linh mục trẻ 17 tuổi người Armenia đang trải qua một trong những đêm đầu tiên ở đây — tôi hỏi Cha Gaffurini liệu mầu nhiệm này còn tác động đến cha sau 15 năm hay không.

“Mười lăm năm?” cha đáp lại ngay. “Mầu nhiệm ấy vẫn sẽ tiếp tục tác động dù có sau 50 năm đi nữa.”


[Nguồn: cruxnow]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 27/08/2026]


Người Philippines là cộng đồng Công giáo chiếm đa số khác thường tại Châu Á

Người Philippines là cộng đồng Công giáo chiếm đa số khác thường tại Châu Á

Trong khi gần như mọi người Philippines đều là người Công giáo được rửa tội, thì chỉ có ba trong số 100 người Châu Á đã được rửa tội. Điều này có ý nghĩa gì?

26/08/2026

Simone Lorenzo-Peckson

Người Philippines là cộng đồng Công giáo chiếm đa số khác thường tại Châu Á

Là người Philippines thường rất dễ bỏ qua một thực tế rằng Công giáo chỉ là một thiểu số rất nhỏ tại Châu Á.

Trong khi người Công giáo chiếm khoảng 80% dân số Philippines, họ chỉ chiếm 3% dân số Châu Á. Nói cách khác, trong khi gần như mọi người Philippines đều là người Công giáo được rửa tội, thì chỉ có ba trong số 100 người Châu Á được rửa tội.

Để so sánh, Châu Mỹ có khoảng 60 người Công giáo trong số 100 người; Châu Âu có khoảng 35 người, Châu Đại Dương khoảng 25, trong khi Châu Phi có khoảng 18. Do đó, Châu Á là khu vực có tỷ lệ Công giáo thấp nhất trên thế giới. Khoảng cách này cho chúng ta thấy còn rất nhiều điều phải làm để rút ngắn lại khoảng cách giữa người Công giáo và người không Công giáo tại Châu Á, như đã được nhấn mạnh tại Đại hội Toàn thể của Liên hội Hội đồng Giám mục Châu Á (FABC) được tổ chức vào tháng 7 vừa qua:

“Như chúng tôi đã cùng nhau phân định, một sự đồng thuận chung nổi bật lên rằng, hơn bao giờ hết, Giáo hội tại Châu Á được kêu gọi trở thành một cầu nối và là người xây dựng cầu cầu thông qua việc không ngừng hoán cải theo tinh thần hiệp hành, đón nhận sự đa dạng phong phú của các nền văn hóa và các dân tộc chúng ta.”


Đôi nét lịch sử

Tầm nhìn này không phải là mới; nó đã xuất hiện ngay từ những ngày đầu của FABC. Khi các Giám mục Châu Á nhóm họp để thành lập liên hội trong chuyến viếng thăm lịch sử của Đức Giáo hoàng Phaolô VI đến Manila năm 1970, các ngài đã ý thức rõ về thách đố mục vụ trước mắt, với tư cách là những mục tử trên một lục địa mà phần lớn là người không theo Kitô giáo. Thay vì theo đuổi một chương trình cải đạo mang tính quyết liệt, các ngài đã chọn con đường mục vụ lấy đối thoại và tình liên đới làm trung tâm – một cách tiếp cận được diễn tả cách hoàn hảo qua hình ảnh xây dựng cầu nối.

Đến năm 1972, FABC chính thức định hình phương thức tiếp cận mang tính tương quan này trong quy chế của mình qua điều được gọi là “Ba cuộc đối thoại”: đối thoại với (1) các nền văn hóa Châu Á, (2) các tôn giáo Châu Á, và (3) người nghèo.

Ngay từ nền tảng thành lập, FABC đã kêu gọi các tín hữu Công giáo Châu Á nhìn nhận những người hàng xóm ngoài Công giáo là anh chị em và là những người bạn lữ khách đồng hành. Niềm tin tưởng cốt lõi này vẫn luôn được duy trì – đã âm vang trong những văn kiện đầu tiên và được tái khẳng định trong đại hội gần đây nhất của các ngài.


“Pakikipagkapwa”: vì sao đối thoại lại cộng hưởng với giá trị sâu sắc này của người Philippines

Niềm vững tin rằng xây dựng sự cộng tác mang lại hiệu quả cao hơn việc nhắm đến mục tiêu cải đạo không chỉ riêng cho người Châu Á. Chẳng hạn, Đức Giáo hoàng Lêô được biết đến là một người cổ vũ mạnh mẽ cho quan điểm này, cũng như các vị tiền nhiệm gần đây của ngài, đặc biệt là Đức Bênêđictô XVI.

Cách tiếp cận này cộng hưởng với bản năng của người Châu Á trong việc xây dựng những mối tương quan hòa hợp. Đối với người Philippines, khuynh hướng này được thể hiện qua giá trị pakikipagkapwa. Xuất phát từ gốc kapwa, có nghĩa là nhìn nhận người khác như một con người có cùng phẩm giá và nhân tính như chính mình, pakikipagkapwa chính là hình thức xây dựng cầu nối theo hình thức trực quan nhất. Khi chúng ta đến với những người hàng xóm ngoài Công giáo bằng sự tôn trọng và tình liên đới, chúng ta mở ra những con đường cho sự hợp tác và tình bằng hữu sâu sắc hơn.

Tuyên bố bế mạc của FABC khẳng định với các tín hữu Công giáo Châu Á rằng việc đến với những người thuộc các tôn giáo khác bằng sự tôn trọng và tình liên đới không làm tổn hại đến căn tính Công giáo, nhưng đúng hơn là hướng trở lại cốt lõi căn tính của chúng ta với tư cách là những môn đệ của Đức Giêsu. Là những môn đệ của Đức Kitô, chúng ta được mời gọi nhận ra hình ảnh của Ngài nơi mỗi con người, bất kể tín ngưỡng hay văn hóa, và trở nên hiện thân của chính cây cầu mà Ngài là:

"Chúng tôi rời Đại hội này với một niềm tin tưởng được đổi mới rằng chính Đức Kitô là Cầu nối sống động giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa và nhân loại, giữa các dân tộc, và giữa nhân loại với ngôi nhà chung của chúng ta. Đối với chúng ta, bước theo Ngài là trở thành những nhịp cầu và những người xây dựng cầu nhân danh Ngài, trong chính thời đại và môi trường sống của chúng ta."


Đường hầm nối liền nhà thờ chánh tòa và đền thờ Hồi giáo

Trong thời gian ở Jakarta, các tham dự viên Đại hội toàn thể FABC đã đi bộ qua Đường hầm Hữu nghị (Tunnel of Friendship), nối Nhà thờ Chánh tòa Jakarta với Đền thờ Hồi giáo Istiqlal – một biểu tượng vật chất nổi bật về ơn gọi của người Công giáo là xây dựng những nhịp cầu nối với các dân tộc thuộc các niềm tin khác nhau.

Sứ mạng xây dựng cầu nối ấy đang được thể hiện cụ thể mỗi ngày trong đời sống của các lao động Philippines tại hải ngoại (OFW), 70% trong số họ đang làm việc tại các xã hội không theo Kitô giáo trên khắp Châu Á và Trung Đông. Họ là những người chăm sóc và bảo mẫu làm việc tại những nơi như Hồng Kông, Singapore và Đài Bắc; là những kỹ sư, y tá và nhân viên phục vụ làm việc tại Dubai và Riyadh.

Thay vì rao giảng trên tòa giảng, họ xây dựng những cây cầu sống động bằng sự hy sinh và lòng trắc ẩn mỗi ngày: kiên nhẫn chăm sóc những người chủ lao động cao tuổi, hy sinh sự thoải mái cá nhân để hỗ trợ gia đình ở quê nhà, phục vụ những người di cư đồng hương và mở rộng lòng hiếu khách chân thành đến tất cả những người họ gặp gỡ.

Chính chứng tá âm thầm này, được nhân lên hàng triệu lần đã tỏ lộ Đức Giêsu mà không cần một bài giảng hay một cuộc tranh luận. Qua lòng nhân hậu bền bỉ và tình liên đới ấm áp, những người Philippines di cư biến nơi làm việc xa lạ thành những không gian gặp gỡ thiêng liêng. Qua họ, Đường hầm Hữu nghị tại Jakarta trở thành một cầu nối hằng ngày được xây dựng bằng chính đời sống con người thể hiện điều các giám mục Châu Á đã hình dung:

“Tại Châu Á, một lục địa được chúc phúc với những nền văn minh cổ xưa, các tôn giáo lớn đầy sức sống và những dân tộc trẻ trung, chúng ta được kêu gọi trở thành những cầu nối và những người xây dựng cầu: những cây cầu của lòng tin và đối thoại nơi người khác dựng lên những bức tường nghi kỵ; những cây cầu hòa bình nơi bạo lực và xung đột chia rẽ các cộng đồng; những cây cầu của lòng trắc ẩn nơi người nghèo, những người dễ bị tổn thương và những người bị loại trừ khao khát phẩm giá; và những cây cầu hy vọng cho những người trẻ đang tìm kiếm ý nghĩa giữa những biến đổi của xã hội và công nghệ diễn ra nhanh chóng, sự phân mảnh toàn cầu và cuộc khủng hoảng sinh thái đang đe dọa ngôi nhà chung của chúng ta.”


Sâu sắc hơn và rộng lớn hơn những gì chúng ta thường nghĩ

Lời kêu gọi xây dựng những nhịp cầu của các giám mục mời gọi chúng ta đi vào cách hiểu về sứ mạng sâu sắc hơn và rộng lớn hơn.

Sâu sắc hơn, bởi vì điều đó đặt sứ mạng Kitô giáo trên nền tảng của tập quán lắng nghe chăm chú: lắng nghe Thiên Chúa trong cầu nguyện và phân định Thánh Thần khi Người nói qua những người khác.

Rộng lớn hơn, bởi vì nó mở rộng tầm nhìn của chúng ta để ôm trọn lấy tình liên đới, tình bằng hữu và sự hợp tác. Qua đại hội, các giám mục nhắc nhở toàn thể tín hữu Công giáo rằng mục đích của một tâm hồn truyền giáo không chỉ là mời gọi những người chưa tin đón nhận Bí tích Rửa tội; mà còn là đồng hành và phục vụ họ.

Đây là lý do tại sao tính hiệp hành lại vô cùng quan trọng đối với công cuộc của Giáo hội tại Châu Á. Tính hiệp hành cung cấp một khuôn khổ mục vụ để tương quan với những người anh chị em ngoài Kitô giáo theo cách tôn trọng các giá trị văn hóa về sự kính trọng và hòa hợp. Tuy nhiên, trước khi có thể cùng lữ hành bên cạnh họ, các giám mục cũng nhắc nhở chúng ta rằng trước hết, chúng ta phải để Chúa Thánh Thần hoán cải tâm hồn của chính chúng ta. Các ngài nhắc chúng ta rằng để công cuộc loan báo Tin Mừng sinh nhiều hoa trái tại Châu Á cũng như ở bất cứ nơi nào khác, chúng ta phải bắt đầu sự biến đổi này từ chính bản thân và từ những mối tương quan hiện tại của mình:

“Trong suốt những ngày cầu nguyện, lắng nghe, thinh lặng và đàm đạo trong Thánh Thần, chúng tôi một lần nữa cảm nghiệm rằng tính hiệp hành không đơn thuần là một phương pháp làm việc cùng nhau; trên hết, đó là một con đường hoán cải hướng đến sứ mạng. Trước khi biến đổi các cơ cấu của chúng ta, tính hiệp hành biến đổi tâm hồn chúng ta. Trước khi đổi mới các thể chế của chúng ta, nó đổi mới các mối tương quan của chúng ta.”

Sự thật này sẽ vang vọng vượt ra ngoài phạm vi Công giáo. Mahatma Gandhi đã trực cảm thấy điều tương tự khi ông viết:

“Chúng ta chỉ là tấm gương phản chiếu thế giới. Mọi khuynh hướng hiện diện trong thế giới bên ngoài đều được tìm thấy trong thế giới nơi thể xác của chúng ta. Nếu chúng ta có thể thay đổi chính mình, những khuynh hướng trong thế giới cũng sẽ thay đổi... Chúng ta không cần phải chờ xem người khác làm gì.”

Tính hiệp hành làm nổi bật những hiệu quả cộng đồng của nhận thức này: sự đổi mới mà mỗi người cảm nghiệm nơi chính bản thân phải lan tỏa ra bên ngoài vào đời sống của những người chung quanh. Hoán cải không nhằm để chúng ta trở nên những con người đơn độc. Hoán cải mời gọi mỗi người Kitô hữu vượt qua các rào cản, cùng bước đi bên nhau và khích lệ mọi người chúng ta gặp gỡ tiến đến gần hơn với Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng nên tất cả chúng ta.

Sau cùng, cuộc lữ hành chung này chính là cây cầu sống động mà Châu Á đang cần nhất.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 27/08/2026]


Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2026

Khu vườn thời trung cổ của Vatican hoàn toàn canh tác theo phương pháp hữu cơ

Khu vườn thời trung cổ của Vatican hoàn toàn canh tác theo phương pháp hữu cơ


24/08/2026

D. R. Esparza

Khu vườn thời trung cổ của Vatican hoàn toàn canh tác theo phương pháp hữu cơ


Khu đất bên cạnh đan viện Mater Ecclesiae hiện tuân theo những nguyên tắc chăm sóc thụ tạo được đề ra trong thông điệp Laudato Si’.

Bên trong khu vườn Vatican, cạnh đan viện Mater Ecclesiae, nơi Đức Bênêđictô XVI đã sống những năm cuối đời, có một vườn rau rộng khoảng 400 mét vuông (0,1 mẫu Anh) được chia thành bốn khu vực canh tác. Khu vườn này đã cung cấp thực phẩm cho bàn ăn của các vị giáo hoàng từ thế kỷ XIII. Như Vatican News đưa tin, hiện nay khu vườn đã hoàn toàn trở thành vườn hữu cơ.

Khu vườn có nguồn gốc từ thời Đức Giáo hoàng Nicôla III Orsini, người đã chuyển nơi cư trú của giáo hoàng từ Lateran về Vatican trong khoảng thời gian từ năm 1277 đến 1280, và ngay lập tức cho xây dựng một vườn cây ăn trái cùng một viridarium (khu vườn cảnh) bên trong những tường thành mới. Tám thế kỷ sau, chính thửa đất đó vẫn tiếp tục sản xuất thực phẩm.

Việc chuyển sang phương thức quản lý hoàn toàn hữu cơ có nghĩa là hoạt động canh tác tuân theo nhịp điệu tự nhiên của đất đai và mùa màng. Phân bón dạng viên nén có chứng nhận, được lựa chọn tùy theo mùa và nhu cầu của từng loại cây, đã thay thế nguồn phân chuồng trước đây được chuyển tới từ các biệt thự giáo hoàng tại Castel Gandolfo. Phương pháp luân canh cây trồng giúp duy trì độ phì nhiêu của đất. Các biện pháp canh tác nông học giúp kiểm soát sâu bệnh dưới ngưỡng gây hại. Mọi can thiệp đòi hỏi được phép đều được ghi chép trong sổ nhật ký đồng ruộng. Việc tưới tiêu vẫn hoàn toàn được thực hiện thủ công.

Việc chăm sóc hằng ngày do ông Gilberto Bianchi đảm trách, một người làm vườn đã làm tại vườn Vatican hơn hai thập niên, với sự hỗ trợ của những cộng sự trẻ, những người đang được ông từng bước truyền lại những kiến thức đã tích lũy, những thao tác nhỏ bé hằng ngày được gìn giữ theo cách tương tự như tri thức được lưu truyền từ đan viện này sang đan viện khác trong những thế kỷ trước.

Các nữ đan sĩ chiêm niệm thuộc cộng đoàn Mater Ecclesiae cho biết những loại cây trồng nào cần thiết, dựa trên mùa vụ và những gì đất đai có thể cung cấp vào từng thời điểm.

Lịch canh tác được theo sát các mùa trong năm. Những loại cây trồng hiện tại gồm tỏi tươi, húng tây, ớt — trong đó có một giống ớt Peru có vị cay nồng đặc biệt — cà chua, cà tím, bí ngòi, các cây thuộc họ cam chanh, và bí ngô. Năm nay, các nữ đan sĩ đề nghị trồng những cây kiwi đầu tiên. Một phần sản lượng thu hoạch từ lâu nay được trao tặng cho các tổ chức từ thiện, trong đó có cơ sở Casa Dono di Maria.

Sự thay đổi này rõ ràng phù hợp với thông điệp Laudato Si’ và với quan điểm của Đức Lêô XIV đã trình bày vào tháng 11 năm ngoái khi ngỏ lời với các nhà nông học và các chuyên gia lâm nghiệp Ý. Đức Giáo hoàng nói: “Trái đất không phải là một sự chiếm hữu, nhưng là một món quà. Những ai canh tác đất đai với lòng tôn trọng và sự khôn ngoan là tham gia vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa.”

Đan viện nằm cạnh khu vườn cũng có một lịch sử đa tầng. Được xây dựng từ năm 1992 đến 1994 theo sáng kiến của Đức Gioan Phaolô II, để làm nơi cư ngụ luân phiên cho một cộng đoàn chiêm niệm chuyên chăm cầu nguyện cho Đức Giáo hoàng, đan viện trở thành tư dinh của Đức Bênêđictô XVI sau khi ngài từ nhiệm năm 2013, cho đến khi qua đời năm 2022. Đức Bênêđictô được biết thường xuyên đi dạo trong khu vườn trong những lúc cầu nguyện và nghiên cứu. Vào năm 2023, nơi này đã trở lại với chức năng ban đầu là đan viện dành cho các nữ đan sĩ chiêm niệm.

Khu vườn hữu cơ này là một khu nhỏ bé — rộng 400 mét vuông, được một người làm vườn giàu kinh nghiệm cùng một số ít cộng sự chăm sóc, cung cấp các loại rau củ theo mùa cho một đan viện và bàn ăn của Đức Giáo hoàng.

Tuy nhiên, đó cũng là một biểu hiện cụ thể của việc quản lý mà truyền thống Công giáo hiểu là một phần trong ơn gọi của con người: canh tác trái đất với sự quan tâm chăm sóc, và hoàn trả lại những gì đã lấy đi.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 26/08/2026]


Tiếp kiến phái đoàn Giáo phận Quân đội Bồ Đào Nha, 24.08.2026

Tiếp kiến phái đoàn Giáo phận Quân đội Bồ Đào Nha, 24.08.2026

Tiếp kiến phái đoàn Giáo phận Quân đội Bồ Đào Nha, 24.08.2026

*******

Sáng nay, tại Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã tiếp kiến phái đoàn thuộc Giáo phận Quân đội Bồ Đào Nha.

Dưới đây là diễn văn của Đức Thánh Cha gửi tới những người hiện diện trong buổi gặp gỡ:


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen!
Bình an ở cùng anh chị em!

Kính thưa Đức Tổng Giám mục,
Thưa quý vị giới chức,
Thưa quý cha tuyên úy,
Anh chị em thân mến!

Anh chị em đã đến Rôma, và theo một nghĩa nào đó, những thành viên khác trong các đơn vị của anh chị em cũng đang hiệp thông với anh chị em. Khi chào đón anh chị em, tôi cũng xin gửi lời chào đến tất cả các thành viên – dù là Kitô hữu hay không phải là Kitô hữu – thuộc Lục quân, Không quân, Hải quân, Vệ binh Cộng hòa Quốc gia và Cảnh sát An ninh Công cộng Bồ Đào Nha. Cách riêng, dưới ánh sáng của Đức Kitô Phục Sinh, tôi tưởng nhớ hai người lính trẻ thuộc Lục quân đã hy sinh hôm thứ Sáu vừa qua, khi các anh, như người Samari nhân hậu, đã quảng đại dừng lại trên đường để trợ giúp người khác: tôi phó dâng họ cho Chúa, cùng với gia đình của họ.

Chính vì sự an lạc của toàn thể lực lượng quân đội và lực lượng an ninh, cũng như các thành viên và gia đình của họ, mà Hạt đại diện (Vicariate) đã được thành lập cách đây sáu mươi năm; đến năm 1981, cơ cấu này trở thành Giáo phận Quân đội (Military Ordinariate) và cách đây hai mươi lăm năm đã đón nhận vị giám mục đầu tiên. Vì thế, anh chị em đã chọn đến Rôma cách riêng là để mừng các dịp kỷ niệm này. Ước mong Giáo phận Quân đội, qua việc đóng góp vô cùng quý giá vào đời sống thiêng liêng và việc hiểu biết các giá trị Kitô giáo, sẽ tiếp tục là diễn đàn hợp tác mang tính xây dựng với các giới chức nhà nước, chính phủ và quân đội.

Với những ai tin vào Đức Kitô, cuộc hành hương đến thành phố này đại diện cho một cơ hội đặc biệt để canh tân bản thân, nhận ra vị trí trung tâm của Thiên Chúa trong cuộc đời mỗi người, và củng cố đức tin qua việc cầu nguyện bên mộ Thánh Phêrô Tông đồ. Mỗi ngày, từng người trong anh chị em đều mang một sứ mạng cao cả là bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc và nền pháp quyền, bảo đảm an ninh cho đồng bào mình và bảo vệ họ khỏi sự bất công. Vì thế, tôi muốn nhắc lại với anh chị em lời khuyên nhủ này của Thánh Phaolô: “Anh em hãy tìm sức mạnh trong Chúa. […] Vậy hãy đứng vững: lưng thắt đai là chân lý, mình mặc áo giáp là sự công chính, chân đi giày là lòng hăng say loan báo tin mừng bình an” (Ep 6:10,14-15).

Hãy tìm sức mạnh trong Chúa, như viên đại đội trưởng đã đến gặp Chúa Giêsu tại Caphácnaum. Ông ý thức rõ những giá trị mà anh chị em đang lấy làm nguyên tắc hướng dẫn đời mình: vâng phục, kỷ luật, từ bỏ chính mình, trung thành, tình đồng đội, tận tụy, trách nhiệm và dũng cảm. Đồng thời, người lính ấy cũng cảm thấy mình cần đến Thiên Chúa; ông biết rằng con người không thể tự mình là đủ, nhưng luôn khao khát một điều gì đó lớn lao hơn, một điều vượt trên bản thân. Vì có một người đầy tớ đang đau nặng, ông đã đến gặp Chúa Giêsu, và Người bảo đảm với ông rằng Người sẽ đến chữa lành cho người đầy tớ. Thế nhưng, ông đáp: “Thưa Ngài, tôi chẳng đáng Ngài vào nhà tôi, nhưng xin Ngài chỉ nói một lời là đầy tớ tôi được khỏi bệnh. Vì tôi đây, tuy dưới quyền kẻ khác, tôi cũng có lính tráng dưới quyền tôi. Tôi bảo người này: 'Đi!', là nó đi, bảo người kia: 'Đến!', là nó đến, và bảo người nô lệ của tôi: 'Làm cái này!', là nó làm." (Mt 8:8–9). Qua thái độ này, chúng ta có thể thấy viên đại đội trưởng coi trọng cơ cấu thứ bậc như thế nào, và khía cạnh đó trong đời sống hằng ngày của ông đã định hình cách ông hiểu mối tương quan của mình với Đức Giêsu thành Nadarét, Đấng mà ông tuyên xưng là Chúa và là Thiên Chúa của ông. Kinh ngạc trước những lời ấy, Đức Giêsu nói: “Tôi không thấy một người Israel nào có lòng tin như thế” (c. 10). Một mặt, người quân nhân này ý thức về quyền hành của ông ta; mặt khác, trước mặt Con Thiên Chúa, ông đã thể hiện sức mạnh của đức tin và lòng can đảm của sự khiêm nhường. Thật vậy, con người dù mang bao nhiêu trách nhiệm, nắm giữ bao nhiêu quyền lực, dù ngay chính đến đâu, thì vẫn luôn đói khát sự vô hạn và khát khao sự vĩnh cửu. Giờ đây, sự vô hạn và vĩnh cửu ấy đã ở trong tầm tay chúng ta nơi Đức Giêsu Kitô: đó là món quà từ Thiên Chúa.

Kính thưa Đức Tổng Giám mục, quý cha tuyên úy thân mến, Giáo hội trao phó cho các anh em sự trưởng thành thiêng liêng của các quân nhân và sĩ quan cảnh sát trong quốc gia của anh em. Hãy đón tiếp tất cả họ, lắng nghe họ, soi sáng họ bằng sự khôn ngoan của Lời Chúa, hiện diện bên cạnh họ và hành động nhân danh Đức Kitô qua việc cử hành các Bí tích, và đồng hành với từng người mà không quên gia đình của họ. Từ sứ vụ đặc biệt này của anh em sẽ trổ sinh những hoa trái của sự trưởng thành cá nhân trong cách thực hành đời sống Kitô hữu và khơi dậy tinh thần đồng đội của các Lực lượng Quân đội và An ninh mà anh em phục vụ. Xin cảm ơn anh em vì sự gần gũi mà anh em, như những mục tử tốt lành, dành cho tất cả những người đang thực hiện một nhiệm vụ quan trọng, đặc biệt và khắt khe như thế, vì lợi ích của Bồ Đào Nha và xa hơn nữa. Chứng tá tình yêu của anh em dành cho Giáo hội và đất nước là dầu thơm mang đến sự an ủi và niềm hy vọng.

Sau cùng, tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn với tất cả anh chị em đã đến đây vì lòng kính phục, quý trọng và ghi nhận mà anh chị em dành cho công việc được thực hiện tại Giáo phận Quân đội. Xin Đức Mẹ Fátima đồng hành với anh chị em trong những sứ mạng khác nhau, tại Bồ Đào Nha cũng như ở nước ngoài. Ước mong niềm vui của Chúa là sức mạnh của anh chị em. Xin Chúa chúc lành cho anh chị em! Cảm ơn anh chị em.

[Phép lành]


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 26/08/2026]


Thứ Năm, 27 tháng 8, 2026

Một ngày tại Bưu điện Vatican: cổng kết nối ra thế giới

Một ngày tại Bưu điện Vatican: cổng kết nối ra thế giới

Ngày 20 tháng 8 năm 2026

Một ngày tại Bưu điện Vatican: cổng kết nối ra thế giới
Phỏng vấn ông Stefano Rossi và Ermanno Croci, các nhân viên Phòng Thư đi của Sở Bưu chính và Tem thư thuộc Phủ Thống đốc Thành quốc Vatican

Cách hàng cột Bernini tại Quảng trường Thánh Phêrô chỉ vài bước chân là một nơi mà mỗi ngày, hàng ngàn mảnh ghép của cuộc sống con người — bưu thiếp, thư từ, bưu kiện và thư bảo đảm — bắt đầu hành trình đến mọi miền trên thế giới. Đây không phải là một bưu điện bình thường: đây là Bưu điện của quốc gia nhỏ nhất thế giới.

Ông Stefano Rossi và Ermanno Croci làm việc tại đây, chịu trách nhiệm xử lý thư từ tại Phòng Thư đi. Trong cuộc phỏng vấn với trang web của Thành quốc Vatican, họ chia sẻ kinh nghiệm của mình. Họ được giao một nhiệm vụ rất đặc biệt: tự tay xử lý các thông điệp của những người hành hương từ khắp nơi trên thế giới, thư từ chính thức của Tòa Thánh, và các tài liệu liên quan đến những sự kiện lịch sử như Năm Thánh hoặc việc bầu chọn tân giáo hoàng. Làm việc tại đây có nghĩa là mỗi ngày trở thành một mắt xích trong chuỗi liên kết Vatican với toàn thế giới.

Xin các ông chia sẻ về quá trình công tác và cơ duyên nào đưa các ông đến với vị trí hiện tại?

Ông Stefano giải thích, “Hành trình nghề nghiệp của chúng tôi tại Bưu điện Vatican đã bắt đầu từ nhiều năm trước. Tôi khởi đầu sự nghiệp với vai trò là nhân viên vận hành hệ thống thư tín bằng ống khí nén và nhân viên tổng đài điện thoại — một chi tiết tự nó đã nói lên rất nhiều điều về cách nơi đây gìn giữ những công nghệ và truyền thống mà ở nhiều nơi khác đã biến mất từ lâu.” Ông Ermanno nói thêm rằng ông bắt đầu làm việc tại bộ phận thu gom thư, qua đó tích lũy được nhiều kinh nghiệm thực tế. “Đó là một hành trình không ngừng phát triển về chuyên môn, giúp chúng tôi có được sự hiểu biết sâu xa về cơ cấu tổ chức và cách thức vận hành của một định chế không giống bất kỳ nơi nào khác trên thế giới.”

Theo các ông, những kỹ năng nào là cần thiết đối với một nhân viên xử lý thư từ hiện nay?

“Hơn bao giờ hết, ngày nay chúng tôi tin rằng việc đào tạo chuyên môn vững vàng và am hiểu tường tận về các quy trình nội bộ là điều cốt yếu để thực hiện công việc này một cách hiệu quả. Công việc của chúng tôi đòi hỏi sự chính xác, độ tin cậy và sự chú ý cao độ đến từng chi tiết, vì mỗi công đoạn đều ảnh hưởng đến sự vận hành thông suốt của toàn bộ quy trình bưu chính.

“Bên cạnh những kỹ năng chuyên môn này, tính chính xác, tinh thần trách nhiệm và năng lực tổ chức là những phẩm chất nền tảng để bảo đảm một dịch vụ hiệu quả. Khả năng ứng phó nhanh với những tình huống ngoài dự kiến cũng rất quan trọng. Chỉ với tinh thần hợp tác chặt chẽ, chúng tôi mới có thể cung cấp một dịch vụ đáp ứng các tiêu chuẩn đề ra.”

Một ngày làm việc điển hình của các ông diễn ra như thế nào?

“Ngày làm việc của chúng tôi bắt đầu lúc 7 giờ 30 sáng với việc tổ chức các chuyến gửi đi và chuẩn bị những lô thư từ gửi đến các quốc gia trên khắp thế giới. Trong quy trình đầu ngày này, các hoạt động trong ngày được lập kế hoạch, và nhân viên được phân công vào các dịch vụ khác nhau, nhằm bảo đảm phân bổ khối lượng công việc cân đối và mọi hoạt động được tiến hành thông suốt. Sự phối hợp là một khía cạnh căn bản trong công việc của chúng tôi: mỗi dịch vụ đều liên kết chặt chẽ với các dịch vụ khác và đòi hỏi sự hoạch định cẩn thận để tránh bị chậm trễ hoặc ứ đọng. Mục tiêu là bảo đảm mọi bưu phẩm đều được xử lý nhanh chóng và chính xác.

“Trong suốt ngày làm việc, chúng tôi thu gom và phân loại hàng ngàn bưu thiếp mà những người hành hương và du khách gửi qua Bưu điện Vatican mỗi ngày, rồi chuyển chúng đến những điểm đến theo địa chỉ. Đồng thời, chúng tôi xử lý các chuyển phát thư nhanh, giám sát việc xử lý và gửi đi, cũng như thư bảo đảm, được ghi nhận, kiểm tra và chuyển tiếp với sự cẩn trọng cao nhất.

“Một phần quan trọng khác trong công việc của chúng tôi là cung cấp dịch vụ bưu chính cho thư từ do các cơ quan khác nhau của Tòa Thánh gửi đến Bưu điện Tòa Thánh. Chúng tôi cũng chuẩn bị các chứng từ hải quan cho những bưu phẩm chứa sách hoặc hàng hóa được gửi đến các quốc gia Châu Âu cũng như ngoài Châu Âu; đây là một bước quan trọng nhằm bảo đảm các bưu phẩm được lưu chuyển thông suốt và tuân thủ các quy định quốc tế.

“Nhìn chung, những hoạt động này khiến ngày làm việc của chúng tôi vừa bận rộn vừa đa dạng: từng thành viên trong đội ngũ nhân viên đều góp phần qua công việc của mình để bảo đảm một dịch vụ hiệu quả và đáng tin cậy.”

Những trách nhiệm chính trong công việc của các ông là gì?

“Trách nhiệm chính của chúng tôi bao gồm điều phối các hoạt động của phòng và giám sát toàn bộ quy trình thu gom và xử lý thư từ. Mỗi ngày đòi hỏi phải hoạch định nguồn lực một cách cẩn thận để mọi hoạt động có thể được thực hiện cách chính xác và trong những khung thời gian quy định.

“Chúng tôi bảo đảm mọi hoạt động đều được tiến hành theo các quy trình đã thiết lập, đồng thời can thiệp kịp thời bất cứ khi nào phát sinh khó khăn hoặc những tình huống bất ngờ. Nhiệm vụ của chúng tôi là bảo đảm mọi bưu phẩm — từ một tấm bưu thiếp đơn thuần cho đến những lô hàng phức tạp nhất — đều được xử lý với sự cẩn trọng và chuẩn xác tối đa về thời gian.”

Các ông thường xuyên sử dụng những công cụ hoặc công nghệ nào nhiều nhất?

“Trong số những công cụ chúng tôi sử dụng hằng ngày, chủ yếu là máy vi tính và máy đóng dấu bưu chính; cả hai đều không thể thiếu trong việc quản lý các hoạt động hành chính. Hệ thống công nghệ thông tin cho phép chúng tôi quản lý các công đoạn khác nhau của quá trình xử lý thư từ, từ việc đăng ký bưu phẩm đến việc theo dõi các hành trình chuyển phát, đồng thời hỗ trợ toàn bộ các hoạt động tổ chức của phòng.

“Máy quét (scanner) cũng đóng một vai trò quan trọng, được sử dụng để kiểm tra và xác minh thư đến và thư đi, qua đó cho phép quản lý các bưu phẩm một cách chính xác và an toàn hơn. Trong khi đó, máy đóng cước bưu chính rất cần thiết để áp dụng đúng các mức cước, đặc biệt đối với thư từ do các cơ quan khác nhau ủy thác cho chúng tôi.

“Đây chắc chắn là những công cụ hiện đại, nhưng tại đây, chúng cùng tồn tại với những phương thức và kinh nghiệm chuyên môn được truyền lại qua thời gian. Thiết bị này cung cấp sự hỗ trợ không thể thiếu, nhưng luôn cần đến kinh nghiệm và sự chú tâm của đội ngũ nhân viên chúng tôi. Đó chính là bản chất của một bưu điện không giống bất kỳ nơi nào khác: công nghệ phục vụ con người, chứ không phải ngược lại.”

Các ông làm thế nào để bảo đảm tính hiệu quả và đúng giờ trong việc thu gom và phân loại thư từ?

“Tất cả phụ thuộc vào việc đồng bộ hóa thời điểm thư từ đến phòng của chúng tôi với các công đoạn xử lý tiếp theo. Mỗi bước được tổ chức theo trình tự và phối hợp với nhau nhằm giảm thiểu thời gian chờ đợi và bảo đảm thư từ được tiếp nhận và phân loại mà không bị chậm trễ.

“Việc hoạch định nội bộ cho phép phân bổ khối lượng công việc đồng đều giữa các nhân viên, đồng thời giúp chúng tôi nhanh chóng điều chỉnh cách thức tổ chức của phòng theo những yêu cầu của từng ngày. Sự cộng tác giữa các bộ phận khác nhau và việc liên lạc liên tục cũng cho phép chúng tôi ứng phó kịp thời với những thời điểm cao điểm của công việc hoặc những tình huống bất ngờ.”

Công việc của các ông đóng góp như thế nào vào hoạt động chung của hoạt động bưu chính?

“Đóng góp của chúng tôi vào hoạt động của toàn bộ chuỗi bưu chính là bảo đảm thư từ được chuyển đến các địa chỉ khác nhau một cách nhanh chóng, chính xác và có hệ thống. Mỗi công đoạn — từ thu gom, phân loại đến chuẩn bị các bưu phẩm — đều nhằm rút ngắn thời gian xử lý và bảo đảm các bưu phẩm được chuyển đúng tuyến.

“Theo nghĩa đó, chúng tôi có thể tự hào nói rằng vai trò của chúng tôi là một mắt xích then chốt trong chuỗi hậu cần (logistics), vì công việc này cho phép chúng tôi tổ chức và tối ưu hóa dòng luân chuyển thư từ trước khi chúng được chuyển sang các dịch vụ tiếp theo. Sự chú trọng đến tính chính xác và việc tuân thủ các quy trình bảo đảm mỗi bưu phẩm đến đích trong thời gian ngắn nhất có thể và trong tình trạng nguyên vẹn.”

Sự chuyển đổi số đã làm thay đổi công việc của các ông như thế nào trong những năm gần đây?

“Sự chuyển đổi số đã mang lại những thay đổi đáng kể, làm cho nhiều quy trình trở nên thuận tiện và nhanh chóng hơn so với trước đây. Việc đưa vào vận hành các hệ thống công nghệ thông tin ngày càng tiên tiến đã đơn giản hóa nhiều công đoạn vận hành, rút ngắn thời gian xử lý và cải thiện khả năng truy xuất hành trình của thư từ trong suốt quá trình vận chuyển.

“Đặc biệt, khả năng số hóa một số quy trình đã giúp thực hiện các công việc hằng ngày nhanh chóng hơn và góp phần giảm thiểu biên độ sai sót, qua đó nâng cao độ chính xác trong việc kiểm tra và lưu trữ hồ sơ. Việc liên lạc nội bộ giữa các phòng khác nhau cũng trở nên thông suốt và tức thời hơn.

“Tuy nhiên, có một khía cạnh mà chúng tôi cho rằng không thay đổi: vai trò của người vận hành. Kinh nghiệm và khả năng xử lý những tình huống khác nhau vẫn là yếu tố cốt lõi để bảo đảm chất lượng dịch vụ. Tóm lại, cuộc cách mạng kỹ thuật số không thay thế lao động của con người; nó làm cho công việc ấy hiệu quả hơn mà không làm giảm giá trị của chính nó.”

Những cải tiến nào đã nâng cao chất lượng dịch vụ nhiều nhất?

“Việc cơ giới hóa từng bước các hoạt động vận hành là thay đổi đáng kể nhất. Máy móc và các hệ thống tự động đã tối ưu hóa việc phân loại, dán cước và đăng ký bưu phẩm, rút ngắn thời gian xử lý và nâng cao độ chính xác. Kết quả là toàn bộ quy trình bưu chính trở nên thông suốt hơn, có khả năng bảo đảm tính đúng giờ ngay cả trong những giai đoạn đỉnh điểm.”

Các ông có nghĩ rằng vai trò của nhân viên xử lý thư từ sẽ tiếp tục thay đổi trong những năm tới không?

“Công nghệ chắc chắn sẽ tiếp tục phát triển, nhưng chừng nào còn nhu cầu gửi và nhận thư từ vật lý — và đối với một nơi như Vatican, một điểm đến hành hương của hàng triệu người, nhu cầu đó dường như không có dấu hiệu sẽ biến mất — thì chức năng căn bản trong vai trò của chúng tôi về bản chất vẫn sẽ giữ nguyên.

“Việc quản lý thư từ vẫn đòi hỏi kỹ năng tổ chức, sự chú ý đến từng chi tiết và khả năng giám sát, những điều khó có thể được tự động hóa hoàn toàn. Ngay cả trong bối cảnh đổi mới công nghệ ngày càng mạnh mẽ, sự đóng góp của con người vẫn là thiết yếu để bảo đảm tính chính xác, độ tin cậy và chất lượng dịch vụ. Do đó, thực tế hơn là hình dung về một sự tiến hóa của vai trò này thay vì một sự biến đổi hoàn toàn, với các công cụ ngày càng tiên tiến hỗ trợ các hoạt động hằng ngày trong khi vai trò trung tâm của người vận hành vẫn là không thể thiếu.”

Những khía cạnh nào là nhạy cảm nhất xét về phương diện an ninh?

“An ninh là một khía cạnh nền tảng trong công việc của chúng tôi. Việc đào tạo nhân viên chuyên nghiệp là nền tảng cốt lõi để bảo đảm mọi thao tác được thực hiện cách chuẩn xác. Việc huấn luyện tốt sẽ giúp giảm biên độ sai sót và cho phép nhân viên xử lý cách thành thục các tình huống khác nhau có thể phát sinh trong ngày làm việc.

“Một yếu tố nền tảng khác là tính thận trọng trong việc xử lý thư từ. Làm việc với tính cẩn mật, chuyên nghiệp và tinh thần trách nhiệm là điều cốt yếu để bảo vệ người sử dụng và bảo đảm sự vận hành đúng cách của dịch vụ.”

Các ông có nhận thấy hoạt động gia tăng đáng kể sau Năm Thánh 2025 và cuộc bầu chọn tân giáo hoàng không?

“Là Bưu điện Vatican, chúng tôi đã chứng kiến sự gia tăng đáng kể các hoạt động cả trong thời gian Năm Thánh lẫn dịp bầu chọn giáo hoàng mới. Đây là những thời điểm có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống của Tòa Thánh và dẫn đến sự gia tăng lớn về khối lượng thư từ.

“Đó là những thời điểm chúng tôi thực sự cảm nhận được đặc ân — đồng thời là trách nhiệm — được làm việc tại một nơi, theo đúng nghĩa đen, là trung tâm của thế giới đối với hàng trăm triệu tín hữu. Dòng người hành hương và du khách từ khắp các châu lục đổ về làm tăng đáng kể khối lượng bưu thiếp, thư từ và bưu phẩm. Dù khối lượng công việc tăng lên nhiều, kinh nghiệm của đội ngũ nhân viên và cơ cấu tổ chức của chúng tôi cho phép chúng tôi quản lý những thời điểm đặc biệt này, đồng thời tiếp tục bảo đảm mọi hoạt động được thực hiện đúng cách, với sự an tâm âm thầm khi biết rằng mỗi ngày, chúng tôi đang lặng lẽ đóng góp vào một phần nhỏ của lịch sử theo cách của riêng mình.”


[Nguồn: vaticanstate.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 24/08/2026]


Các Hồng y Philippines lên tiếng về vụ nổ súng gây chết người tại trường trung học Dòng Tên

Các Hồng y Philippines lên tiếng về vụ nổ súng gây chết người tại trường trung học Dòng Tên

Paterno R. Esmaquel II
Ngày 20 tháng 8 năm 2026 | Phóng viên khu vực Đông Nam Á

Các Hồng y Philippines lên tiếng về vụ nổ súng gây chết người tại trường trung học Dòng Tên


MANILA, Philippines – Các Hồng y Philippines bày tỏ quan ngại về vụ nổ súng xảy ra tại một trường đại học Dòng Tên ở miền nam Philippines, một hành vi bạo lực học đường hiếm thấy tại quốc gia có đa số dân theo Công giáo lớn nhất Châu Á.

Nghi phạm nổ súng, một học sinh Trường Trung học Ateneo de Zamboanga, đã bắn một giáo viên và một học sinh khác trước khi quay súng tự bắn mình. Người giáo viên sống sót, nhưng hai học sinh trung học phổ thông, trong đó có hung thủ, đã thiệt mạng hôm thứ Ba.

Bên ngoài trường Ateneo de Zamboanga, công chúng đã chứng kiến vụ tấn công qua một đoạn video do hung thủ phát trực tiếp trên mạng xã hội.

Vụ việc tại trường Ateneo de Zamboanga là vụ nổ súng học đường thứ hai trong nước trong năm nay, sau vụ tấn công ngày 22 tháng 6 tại một trường trung học phổ thông công lập ở thành phố Tacloban, miền trung Philippines. Thảm kịch tại Tacloban khiến ba trẻ vị thành niên thiệt mạng và 20 người khác bị thương.

Đức Hồng y Luis Antonio Tagle, quyền Tổng trưởng Bộ Loan báo Tin Mừng, đã đề cập đến vụ nổ súng trong Thánh lễ hôm thứ Tư tại giáo xứ của trường đại học công lập hàng đầu Philippines ở Manila. Đức Hồng y Tagle đang thăm quê nhà sau chuyến viếng thăm mục vụ tại New Guinea.

Đức Hồng y Tagle, 69 tuổi, cho biết ngài tự hỏi “điều gì có thể đang diễn ra trong tâm trí và trái tim của một đứa trẻ” khi lên kế hoạch cho một vụ nổ súng như vậy.

Ngài đặt câu hỏi, “Một trái tim như thế đang khao khát điều gì?”

Trước thảm kịch như vậy, Đức Hồng y kêu gọi các bậc cha mẹ và ông bà hãy “cho người trẻ thấy một trái tim của con người”.

“Nhưng nếu tại bàn ăn của gia đình, mọi người — chồng, vợ và con cái — đều nhìn vào điện thoại di động thay vì nhìn nhau, thì tất cả đều là vô ích,” Đức Hồng y Tagle nói, ngài là cựu học sinh của trường Ateneo de Manila, một trường cùng hệ thống với Ateneo de Zamboanga.

Đức Hồng y Tagle nói, “Trái tim của người trẻ hiện đang được dẫn dắt bởi các trò chơi điện tử và trí tuệ nhân tạo; chúng dạy các em cách đưa ra quyết định và hành động, nhưng trí tuệ nhân tạo không có trái tim. Trò chơi không có trái tim.”

“Chỉ con người mới có trái tim,” Đức Hồng y Tagle nói, “vậy tại sao chúng ta lại bán trái tim mình cho những cỗ máy vô hồn?”


‘Liệu pháp quốc gia’

Đức Hồng y Pablo Virgilio David, 67 tuổi, nói rằng Philippines cần một “liệu pháp quốc gia” sau khi chứng kiến hai vụ nổ súng học đường trong năm nay.

Trong một bài đăng trên Facebook hôm thứ Tư, ngài chỉ ra rằng thanh thiếu niên Philippines ngày nay “đã trải qua một phần tuổi thơ của họ trong những năm diễn ra cuộc chiến chống ma túy đầy bạo lực” dưới thời cựu Tổng thống Rodrigo Duterte.

Theo các nhóm nhân quyền, cuộc chiến chống ma túy — vấn đề mà ông Duterte hiện đang bị giam giữ tại Tòa án Hình sự Quốc tế — đã giết chết khoảng 30.000 nghi phạm ma túy.

Đức Hồng y David cho biết ngài “không có ý cho rằng cuộc chiến chống ma túy đã ‘gây ra’ những vụ nổ súng học đường này,” nhưng nói rằng không thể loại trừ “nền văn hóa lớn hơn” như một yếu tố có thể góp phần.

“Chúng ta cần học lại rằng một con người không mất đi phẩm giá của họ vì bị cáo buộc phạm tội. Chúng ta cần ngừng cười cợt khi các nhà lãnh đạo đe dọa giết người,” Đức Hồng y David nói. Ngài cũng là cựu học sinh của Ateneo de Manila.

Đức Hồng y David nói, “Chúng ta cần những người trưởng thành ngừng dạy bảo trẻ em — mà đôi khi không nhận ra — rằng sự tàn nhẫn là sức mạnh, rằng sự sỉ nhục là khả năng lãnh đạo, sự trả thù là công lý, hoặc rằng có những mạng sống có thể bị vứt bỏ”.

Cha Ernald Andal, Dòng Tên, Hiệu trưởng trường Ateneo de Zamboanga, cho biết trong một thông tin cập nhật hôm thứ Năm rằng nhóm chuyên gia tâm lý của trường đã hỗ trợ hơn 200 thành viên trong cộng đồng nhà trường, đồng thời nhà trường sẵn sàng hỗ trợ những người khác tìm kiếm sự giúp đỡ.

Cha Andal, 50 tuổi, cho biết các lớp học dành cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở sẽ tiếp tục tạm dừng trong hai tuần tới; nhà trường sẽ tổ chức cho các em những “hoạt động phi học thuật”, tập trung vào “sức khỏe cảm xúc, tái kết nối và sự sẵn sàng trở lại”.

Cha Andal nói, “Chúng tôi một lần nữa kêu gọi mọi người bảo vệ sự riêng tư và phẩm giá của các gia đình. Họ đang gánh chịu một sự mất mát mà không lời tuyên bố nào có thể diễn tả đầy đủ. Mỗi bức ảnh, bài đăng hoặc câu chuyện chưa được kiểm chứng đều có thể làm tăng thêm nỗi đau của họ”.

Cha nói, “Chúng tôi sẽ không thúc ép bất kỳ ai phải nhanh chóng vượt qua nỗi đau buồn. Chúng tôi sẽ gặp gỡ các học sinh, các gia đình và nhân viên của chúng tôi tại chính nơi họ đang hiện diện.”

Được thành lập năm 1912, Ateneo de Zamboanga là một trong 11 trường của Dòng Tên tại Philippines, quốc gia có 86 triệu người Công giáo. Ngôi trường tọa lạc tại thành phố cảng Zamboanga thuộc vùng Mindanao, miền nam Philippines, nơi sinh sống của phần lớn trong số bảy triệu người Hồi giáo của cả nước.

Ateneo de Zamboanga được biết đến với văn hóa đa dạng, vì đây là một trong số ít trường Công giáo tại Philippines có số học sinh Hồi giáo chiếm từ 25 đến 30 phần trăm. Là nơi đặt Trung tâm Hòa bình Ateneo, trường cũng thường được biết đến với sự chú trọng vào hòa bình.


‘Chủ nghĩa cực đoan bạo lực hư vô’

Trong một tuyên bố, Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. gửi lời chia buồn tới trường Ateneo de Zamboanga và gia đình các nạn nhân “trước một thảm kịch lẽ ra không bao giờ được xảy ra”. Ông cũng chỉ thị cho các cơ quan thực thi pháp luật tiến hành điều tra toàn diện vụ việc và bảo đảm sự việc không tái diễn.

Thượng nghị sĩ Risa Hontiveros lên án vụ nổ súng, đồng thời nhắc lại cuộc điều tra của bà về một thảm kịch tương tự tại thành phố Tacloban.

Bà Hontiveros từng liên hệ vụ nổ súng tại Tacloban với chủ nghĩa cực đoan bạo lực hư vô (NVE), được cho là có thể thao túng tâm lý trẻ em và khuyến khích bạo lực thông qua các trò chơi trực tuyến.

Trong khi cho rằng hiện chưa thể liên kết vụ nổ súng tại Zamboanga với NVE, bà nói rằng những vấn đề của xã hội trở nên “lớn hơn và sâu sắc hơn nhiều” khi “bạo lực không chỉ được thực hiện mà còn được phô bày, bắt chước, và thậm chí phát trực tiếp”.

Bà Hontiveros cam kết sẽ “tiếp tục công việc của chúng ta chống lại NVE” và những mối đe dọa khác đối với sự an toàn của trẻ em.

Trong một phiên điều trần trước đó tại Thượng viện về vụ nổ súng tại Tacloban, giáo sư tâm lý học Liane Alampay chỉ ra rằng các trò chơi trực tuyến “chỉ là một trong những nguyên nhân” khiến người trẻ hướng đến bạo lực. Bà chỉ ra những nguyên nhân mang tính “hệ thống”, trong đó tiểu sử bị bắt nạt và những trải nghiệm cá nhân với “các mô hình bạo lực”.

Trong khi các nguyên nhân và động cơ của thảm kịch gần đây vẫn chưa được làm rõ, Hiệp hội Giáo dục Công giáo Philippines (CEAP) kêu gọi công chúng “tránh suy đoán, thông tin chưa được kiểm chứng, các bình luận giật gân và việc chia sẻ không cần thiết các hình ảnh hoặc chi tiết có thể làm tổn thương thêm những người bị ảnh hưởng.”

CEAP nói: “Mong rằng thảm kịch này đánh thức trong tất cả chúng ta một cam kết sâu sắc hơn để biến mỗi trường học thành một nơi an toàn, quan tâm, thức tỉnh và hòa bình, nơi việc bảo vệ từng trẻ em và từng thành viên của cộng đồng nhà trường luôn là trách nhiệm luân lý chung.”


Tình liên đới giữa các trường Dòng Tên

Các trường Dòng Tên khác đã bày tỏ tình liên đới với trường Ateneo de Zamboanga.

“Trong những thời khắc bi kịch, khoảng cách giữa các cộng đồng Ateneo của chúng ta biến mất. Hôm nay, chúng tôi hướng tâm tư đến cộng đồng Đại học Ateneo de Zamboanga, cùng với gia đình và những người thân yêu của những người đã thiệt mạng,” Đại học Ateneo de Manila, trường nổi bật nhất trong số các trường Dòng Tên tại Philippines, cho biết trong một tuyên bố hôm thứ Ba.

Ateneo de Manila cho biết họ “bối rối và lo ngại” trước việc “những người trẻ có thể tiếp cận các loại vũ khí nguy hiểm và mang chúng vào những cơ sở chỉ dành cho việc học tập và phát triển”. Trường cũng kêu gọi các nhà chức trách “nhanh chóng điều tra vụ việc để làm sáng tỏ cho những người đã trở thành nạn nhân của bạo lực vũ trang”.

Đại học Ateneo de Naga cho biết: “Là một đại học Dòng Tên anh em, chúng tôi cùng chung lời kêu gọi biến các trường học của chúng ta thành những cộng đồng nơi mỗi người được đối xử với phẩm giá, và nơi sự an toàn, lòng trắc ẩn, đối thoại và sự quan tâm lẫn nhau trở thành những thực tại sống động.”

Trường Ateneo de Naga nói: “Những thời khắc như thế này cũng kêu gọi chúng ta suy tư sâu xa hơn về các hoàn cảnh làm nảy sinh bạo lực, cũng như về trách nhiệm chung của chúng ta trong việc xây dựng những cộng đồng đặt nền tảng trên sự tôn trọng, thấu hiểu, hòa giải và hòa bình.”


[Nguồn: cruxnow]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 22/08/2026]


Thứ Tư, 26 tháng 8, 2026

Đức Giám mục Nam Phi nói rằng vụ sập mỏ chết người phơi bày những tội lỗi kinh tế sâu xa

Đức Giám mục Nam Phi nói rằng vụ sập mỏ chết người phơi bày những tội lỗi kinh tế sâu xa

Ngala Killian Chimtom
23 tháng 8, 2026

Đức Giám mục Nam Phi nói rằng vụ sập mỏ chết người phơi bày những tội lỗi kinh tế sâu xa

Đức cha Thulani Victor Mbuyisa CMM, Giáo phận Kokstad


Sau tai nạn chết người xảy ra tại một khu mỏ bị cấm hoạt động ở Nam Phi hồi đầu tháng này, một vị giám mục Công giáo hàng đầu đang kêu gọi trách nhiệm giải trình.

Hàng chục ngàn người được gọi là những thợ mỏ “thủ công” đang làm việc bất hợp pháp tại các mỏ vàng và bạch kim đã ngừng hoạt động trước đây do các công ty khai thác mỏ vận hành, hoặc tự đào mỏ để tìm quặng, thường làm việc mà không có trang thiết bị bảo hộ thích hợp.

Nhiều thợ mỏ làm việc tại những địa điểm nguy hiểm này là người nhập cư không có giấy tờ.

Đôi khi, các thợ mỏ phải ở dưới lòng đất nhiều tuần lễ.

Mười bốn người trong số những công nhân này đã thiệt mạng ngày 10 tháng 8, sau khi một mỏ đã ngừng hoạt động bị sập tại khu định cư tự phát Nkaneng, gần Rustenburg và Marikana, Nam Phi.

Đức cha Thulani V. Mbuyisa, Giám mục phụ trách liên lạc với Ủy ban Công lý và Hòa bình của Hội đồng Giám mục Công giáo Nam Phi (SACBC), cho rằng việc quy gán cho các nạn nhân là “thợ mỏ bất hợp pháp” là một thất bại về mặt đạo đức, bởi điều đó cho phép những thủ phạm thực sự thoát khỏi sự phán xét.

Đức cha Mbuyisa nói với Crux Now, “Bất kể quốc tịch, tình trạng nhập cư hay việc họ có tham gia khai thác mỏ bất hợp pháp hay không, họ đều là những con người với sự sống có giá trị.”

Ngài nói, “Chúng ta nhất định phải thực thi pháp luật, nhưng một xã hội không thể đơn thuần bằng lòng với việc dán nhãn cho người đã chết là ‘thợ mỏ bất hợp pháp’ rồi tiếp tục như thế”.

"Chúng ta phải đặt câu hỏi xem những hoàn cảnh nào đã liên tục đẩy những con người tuyệt vọng vào các nơi mà cái chết là điều hoàn toàn có thể dự báo trước," vị Giám mục nhấn mạnh.

Với giá trị ước tính từ 2,5 ngàn tỷ đến 3,5 ngàn tỷ USD, nguồn tài nguyên khoáng sản đặc biệt dồi dào của Nam Phi từ lâu đã là xương sống của nền kinh tế nước này; tuy nhiên, những cộng đồng đang sinh sống trên các mỏ khoáng sản ấy vẫn mắc kẹt trong tình trạng nghèo đói cùng cực và thất nghiệp trầm trọng.

Đức Giám mục Mbuyisa tin rằng vụ sập mỏ tại Nkaneng là triệu chứng của một khế ước xã hội đã rạn nứt sâu sắc.

Sau đây là những trích đoạn cuộc trao đổi của Crux Now với Đức cha Thulani V. Mbuyisa thuộc Giáo phận Kokstad, Nam Phi, Giám mục phụ trách liên lạc với Ủy ban Công lý và Hòa bình của SACBC, được biên tập về độ dài và tính rõ ràng…

Crux Now: Thưa Đức Cha, 14 người đã thiệt mạng gần đây tại một khu mỏ đã ngừng hoạt động ở Nkaneng, Rustenburg. Khi vừa nghe tin về vụ sập mỏ này, điều gì hiện lên trong tâm trí Đức Cha?

Đức cha Thulani V. Mbuyisa: Điều đầu tiên tôi nghĩ đến là những con người đã thiệt mạng và những gia đình sẽ phải nhận tin khủng khiếp rằng người thân yêu của họ sẽ không bao giờ về nhà nữa.

Mười bốn người đã thiệt mạng và tám người sống sót sau thảm kịch này. Sự sống con người là thánh thiêng. Một người chết vì khai thác mỏ bất hợp pháp cũng đã là quá nhiều. Bất kể quốc tịch, tình trạng nhập cư hay việc họ có tham gia khai thác mỏ bất hợp pháp hay không, họ đều là những con người với sự sống có giá trị.

Tôi cũng tự hỏi: còn bao nhiêu người nữa phải chết tại những khu vực khai thác mỏ bị bỏ hoang hoặc không còn hoạt động trước khi chúng ta nhận ra rằng có điều sai lầm nào đó sâu xa hơn đang tồn tại?

Chắc chắn, chúng ta phải thực thi pháp luật, nhưng một xã hội không thể đơn thuần bằng lòng với việc dán nhãn cho người đã chết là “thợ mỏ bất hợp pháp” rồi tiếp tục như thế. Chúng ta phải đặt câu hỏi xem những hoàn cảnh nào đã liên tục đẩy những con người tuyệt vọng vào các nơi mà cái chết hoàn toàn có thể được dự liệu trước.

Đức Cha kêu gọi Nam Phi phải đối mặt với “những câu hỏi sâu xa hơn về nền kinh tế khai thác mỏ của đất nước”. Những câu hỏi sâu xa hơn đó là gì?

Câu hỏi sâu xa hơn là thế này: Ai là người cuối cùng được hưởng lợi từ nguồn tài nguyên khoáng sản đặc biệt dồi dào của Nam Phi, và ai phải gánh chịu những tổn thất về con người và môi trường?

Trong hơn một thế kỷ, ngành khai khoáng đã tạo ra nguồn tài sản khổng lồ, nhưng nhiều cộng đồng khai khoáng vẫn phải sống trong tình trạng thất nghiệp, nghèo đói, môi trường bị hủy hoại và cơ sở hạ tầng khai thác mỏ bị bỏ hoang đầy nguy hiểm.

Vì thế, Nkaneng buộc chúng ta phải nhìn xa hơn câu hỏi trước mắt về việc khai thác mỏ bất hợp pháp. Chúng ta phải hỏi tại sao những khu mỏ đã ngừng hoạt động vẫn còn có thể tiếp cận.

Ai chịu trách nhiệm khôi phục môi trường và bảo đảm an ninh?

Tại sao những người sống bên cạnh nguồn tài nguyên khoáng sản khổng lồ vẫn phải sống trong cảnh nghèo đói cùng cực?

Ai tài trợ và thu lợi từ việc khai thác khoáng sản bất hợp pháp, và liệu nền kinh tế khai khoáng của chúng ta thực sự phục vụ ích chung, hay chỉ phục vụ lợi ích của các cổ đông và các mạng lưới tội phạm quốc tế?

Chính Bộ Tài nguyên Khoáng sản và Dầu mỏ (DMPR) cũng đã cho biết thảm kịch này xảy ra trong phạm vi của một khu vực có giấy phép khai thác mỏ còn hiệu lực, mặc dù giấy phép đó liên quan đến hoạt động khai thác lộ thiên trên bề mặt và không bao gồm một hầm mỏ dưới lòng đất.

Điều đó khiến việc điều tra toàn diện về trách nhiệm, việc tuân thủ quy định, an ninh và công tác khôi phục môi trường trở nên đặc biệt cấp thiết.

Tại sao những người dễ bị tổn thương vẫn bị đẩy vào những không gian nguy hiểm, bị bỏ hoang?

Chúng ta phải bắt đầu từ tình trạng thất nghiệp cao trong cả nước, điều mà tự nó tạo ra một tâm lý tuyệt vọng sâu sắc.

Đừng ai lãng mạn hóa việc khai thác mỏ bất hợp pháp. Đây là hoạt động nguy hiểm, trái pháp luật, và ở nhiều nơi có liên hệ với các mạng lưới tội phạm có tổ chức. Nhưng chúng ta cũng phải hỏi tại sao một người lại sẵn sàng đi vào hầm mỏ không an toàn, hoặc đào xuyên qua những công trình mỏ nguy hiểm, dù biết rằng mình có thể không trở về.

Đối với một số người, quyết định có tham gia khai thác mỏ bất hợp pháp hay không được đưa ra trong những hoàn cảnh kiệt quệ về kinh tế.

Khi những cơ hội kinh tế hợp pháp biến mất, những người tuyệt vọng trở thành mục tiêu dễ dàng cho các tổ chức tội phạm tuyển dụng lao động, trong khi những người ở vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị mới thực sự là những người thu lợi.

Đó là lý do tại sao việc bắt giữ những người làm việc dưới lòng đất, trong khi không đụng đến những người tài trợ, tổ chức, chế biến, vận chuyển và mua bán các khoáng sản được khai thác bất hợp pháp, sẽ không bao giờ giải quyết được vấn đề.

Tài sản của Nam Phi được xây dựng trên lưng các thợ mỏ, nhưng trong lịch sử, ngành khai khoáng đã coi công nhân da đen như những người có thể bị loại bỏ. Đã có gì thay đổi hay chưa?

Ngành công nghiệp khai thác mỏ thời kỳ apartheid đã xây dựng một hệ thống lao động di cư, trong đó những người thợ mỏ da đen phải chịu một gánh nặng rất lớn.

Hệ thống lao động di cư về bản chất là một hệ thống sử dụng lao động có thể loại bỏ.

Nhiều thế hệ đàn ông bị chia cắt khỏi gia đình do chính sách lao động di cư, bị dồn vào trong các khu nhà tập thể, phải phơi mình trước những điều kiện làm việc nguy hiểm và bệnh tật, đồng thời nhận mức đền bù không tương xứng với cái giá tổn thất về con người để tạo ra nguồn của cải khoáng sản cho đất nước.

Đúng là về mặt pháp lý, nhiều điều đã thay đổi kể từ thời apartheid.

Người lao động ngày nay có các quyền thuộc hiến định và quyền lao động mà các thế hệ trước họ bị khước từ. Tuy nhiên, câu hỏi sâu xa hơn là liệu quan niệm cũ về lao động có thể loại bỏ đã hoàn toàn biến mất hay chưa.

Khi những công nhân mỏ trước đây phải đấu tranh đòi bồi thường vì các bệnh nghề nghiệp, khi các cộng đồng khai thác mỏ vẫn nghèo đói sau nhiều thập niên khai thác, hoặc khi những người thất nghiệp tuyệt vọng trở thành lực lượng lao động có thể bị loại bỏ nằm ở tầng đáy của các mạng lưới khai thác mỏ bất hợp pháp, chúng ta cần thận trọng trước khi tuyên bố rằng não trạng căn bản ấy đã biến mất.

Các hình thức có thể đã thay đổi.

Nhưng câu hỏi về việc sự sống của người nào thực sự có giá trị trong nền kinh tế khai khoáng vẫn còn đó.

Tại sao những cộng đồng như Nkaneng vẫn nghèo đói dù nằm ngay bên cạnh nguồn tài nguyên bạch kim khổng lồ? Có phải khế ước xã hội đã bị phá vỡ?

Tại mọi thị trấn mỏ ở Nam Phi, người ta đều bắt gặp một nghịch lý về luân lý: sự tồn tại của những tài sản kếch xù ngay giữa lòng sự nghèo đói tột cùng.

Nghịch lý này phải khiến lương tâm chúng ta day dứt. Bạn có thể đứng trong một cộng đồng được bao bọc bởi những trữ lượng khoáng sản dồi dào nhất trên trái đất, nhưng vẫn chứng kiến những gia đình không có việc làm xứng đáng, những người trẻ không có triển vọng và những cộng đồng phải vật lộn để có được các dịch vụ cơ bản.

Có điều gì đó không ổn về mặt luân lý khi nguồn tài sản khổng lồ có thể được khai thác từ lòng đất ngay bên dưới một cộng đồng, trong khi nghèo đói vẫn bám rễ trên mặt đất.

Nếu các cộng đồng chỉ có kinh nghiệm khai thác mỏ qua những trận nổ phá đá, ô nhiễm, thất nghiệp và hạ tầng bị bỏ hoang, trong khi các lợi ích kinh tế dường như lại chảy đi nơi khác, thì rõ ràng đã có sự gãy đổ trong khế ước xã hội giữa những người ở nơi trực tiếp khai thác khoáng sản và những người ở nơi tích lũy của cải.

Nói chung, trong ngành khai khoáng ở Châu Phi, dường như chúng ta đang có một khế ước xã hội bị chi phối bởi lòng tham: lòng tham của các tập đoàn, lòng tham của các tổ chức tội phạm và lòng tham của giới tinh hoa chính trị tha hóa.

Thực tế tình trạng của những khu mỏ bị bỏ hoang đối với các cộng đồng xung quanh như thế nào?

Một khu mỏ bỏ hoang không tự nhiên biến mất khi hoạt động khai thác thương mại kết thúc. Nó vẫn tồn tại hiện hữu về mặt vật chất.

Có thể vẫn còn các hầm mỏ, các đường hầm không an toàn, nguồn nước bị ô nhiễm, các bãi thải mỏ, đất bị ô nhiễm và những mối nguy hiểm khác đối với môi trường và an toàn. Khi công tác khôi phục môi trường và an ninh không được bảo đảm, những địa điểm này có thể trở thành nơi thu hút hoạt động khai khoáng phi chính thức và bất hợp pháp.

Do đó, chúng có thể trở thành những không gian nguy hiểm nằm ngay bên cạnh các cộng đồng mà ở đó người dân đã phải vật lộn với nạn thất nghiệp.

Đó là lý do tại sao việc đóng cửa mỏ không thể đơn thuần là lấy đi những khoáng sản có giá trị kinh tế rồi bỏ đi. Đóng cửa và phục hồi môi trường là một phần trong trách nhiệm luân lý và pháp lý gắn liền với hoạt động khai thác mỏ.

Sinh thái học toàn diện và thảm kịch tại Nkaneng liên hệ với nhau như thế nào?

Sinh thái học toàn diện dạy chúng ta rằng tiếng kêu của trái đất và tiếng kêu của người nghèo không thể tách rời nhau. Khi hoạt động khai thác mỏ tàn phá đất đai, làm ô nhiễm nguồn nước hoặc để lại những cơ sở hạ tầng nguy hiểm, hậu quả không chỉ đơn thuần là vấn đề môi trường.

Con người sống trong chính môi trường ấy.

Người nghèo thường là những người ít có khả năng nhất để thoát khỏi những hậu quả đó.

Nkaneng minh họa mối liên hệ này cách hết sức đau đớn.

Một bên là những không gian khai khoáng đã bị hủy hoại hoặc không còn hoạt động; bên kia là những con người dễ bị tổn thương đang bước vào các không gian ấy để tìm kiếm một thứ gì đó có thể giúp họ sinh tồn.

Sự bỏ mặc môi trường và sự bỏ mặc con người bắt đầu phản chiếu lẫn nhau.

Chúng ta không được quên rằng một nền kinh tế khai khoáng coi đất đai là thứ có thể vứt bỏ thì cuối cùng cũng sẽ dễ dàng coi con người như những thứ có thể dễ dàng loại bỏ.

Ai phải chịu trách nhiệm về mặt luân lý và pháp lý đối với thảm kịch Nkaneng?

Chúng ta nên thận trọng không đưa ra kết luận về trách nhiệm pháp lý trước khi quá trình điều tra hoàn tất.

Bộ Tài nguyên Khoáng sản và Dầu mỏ (DMPR) đã xác nhận sự việc xảy ra trong phạm vi khu vực có giấy phép khai thác còn hiệu lực, đồng thời làm rõ rằng giấy phép này áp dụng cho hoạt động khai thác lộ thiên trên bề mặt chứ không bao gồm hầm mỏ dưới lòng đất.

Bộ đang rà soát việc tuân thủ các quy định pháp luật và giấy phép liên quan, trong khi các cuộc điều tra của cảnh sát vẫn đang được tiến hành. Do đó, trách nhiệm pháp lý phải được xác định dựa trên chứng cứ.

Tuy nhiên, chúng ta không ngại đưa ra nhận định về trách nhiệm luân lý.

Có nhiều tầng trách nhiệm luân lý khác nhau.

Chúng ta phải xem xét trách nhiệm luân lý của những người đã sở hữu, vận hành, đóng cửa mỏ hoặc có nghĩa vụ khôi phục môi trường và bảo đảm an ninh cho khu vực này; trách nhiệm của các cơ quan quản lý; cũng như các mạng lưới tội phạm tổ chức và trục lợi từ hoạt động khai thác bất hợp pháp.

Chúng ta cũng phải tự vấn chính mình với tư cách là một xã hội, khi tình trạng thất nghiệp và bất bình đẳng trở nên nghiêm trọng đến mức việc bước vào một khu mỏ có thể gây chết người lại trở thành sinh kế của một ai đó.

Khai thác mỏ bất hợp pháp có phải chủ yếu là vấn đề thực thi pháp luật hay không?

Thực thi pháp luật là điều cần thiết.

Không thể đơn thuần dung dưỡng cho việc khai thác mỏ bất hợp pháp. Các băng nhóm tội phạm phải bị điều tra, và hoạt động buôn bán khoáng sản khai thác trái phép phải bị ngăn chặn.

Nhưng nếu toàn bộ phản ứng chính sách của chúng ta chỉ bao gồm các chiến dịch của cảnh sát và việc phong tỏa các cửa mỏ, chúng ta chỉ là giải quyết các triệu chứng trong khi cho phép những điều kiện tạo ra chúng tiếp tục tồn tại.

Nam Phi cần một phản ứng rộng lớn hơn nhiều: kiểm toán và khôi phục môi trường đúng quy chuẩn các mỏ bị bỏ hoang; quy trách nhiệm đối với các nghĩa vụ liên quan đến việc đóng cửa mỏ; tăng cường quản lý toàn bộ chuỗi giá trị của hoạt động khai thác mỏ bất hợp pháp; tạo ra các cơ hội kinh tế trong các cộng đồng khai khoáng; và nghiêm túc xem xét việc quản lý thích đáng đối với hoạt động khai thác mỏ thủ công và quy mô nhỏ.

Chúng ta không chỉ đặt câu hỏi: “Làm thế nào để ngăn người dân đi xuống lòng đất?” Chúng ta còn phải hỏi: “Tại sao ngay từ đầu họ lại phải đi xuống lòng đất, và ai đang kiếm tiền từ việc đưa họ xuống đó?”

Ủy ban Công lý và Hòa bình đóng vai trò gì trong cuộc tranh luận về ngành khai thác mỏ? Phải chăng Ủy ban chỉ đơn thuần đưa ra những tuyên bố?

Với tư cách là Ủy ban Công lý và Hòa bình, trong nhiều thập niên qua, chúng tôi đã đưa ra các tuyên bố về những bất công trong ngành khai thác mỏ. Nhưng các tuyên bố chỉ là một phần trong công việc của chúng tôi.

Ủy ban Công lý và Hòa bình làm việc trực tiếp với các cộng đồng bị ảnh hưởng bởi hoạt động khai thác mỏ và với những công nhân từng là thợ mỏ đang tìm kiếm công lý. Chúng tôi thực hiện điều mà chúng tôi gọi là “đồng hành mục vụ”.

Đặc biệt, chúng tôi đã đồng hành với các thợ mỏ bị bệnh trong cuộc đấu tranh đòi bồi thường và khắc phục hậu quả, hỗ trợ tổ chức cộng đồng và vận động, đồng thời làm việc với các cộng đồng bị ảnh hưởng để chất vấn những cơ cấu rộng lớn hơn cho phép của cải từ khai khoáng tồn tại song song với nghèo đói, bệnh tật nghề nghiệp và sự tàn phá môi trường.

Cách tiếp cận của chúng tôi mang bản chất mục vụ, nghĩa là cùng bước đi với các cộng đồng bị ảnh hưởng, thay vì chỉ nói về họ.

Theo một cách nào đó, những gì chúng tôi đang thực hiện chính là tính hiệp hành trong hành động: lắng nghe và đồng hành cùng các cộng đồng đang phải chịu những tổn hại về nhân quyền do hậu quả của hoạt động khai thác mỏ.

Điều này có nghĩa là lắng nghe những người từng là thợ mỏ và gia đình họ, hỗ trợ những nỗ lực tiếp cận công lý của họ, đối thoại với các công ty khai thác mỏ và chính quyền, sử dụng các biện pháp pháp lý và vận động khi cần thiết, đồng thời giúp các cộng đồng tổ chức để bảo vệ các quyền của mình.

Đối với chúng tôi, đây là một phần căn bản trong sứ mạng của Giáo hội. Đây là một phần không thể tách rời của việc loan báo Tin Mừng.

Công lý và Hòa bình không thể từ xa đứng nhìn những con người đang đau khổ rồi chỉ đưa ra những nhận định về đạo đức.

Giáo hội phải hiện diện tại nơi con người đang mang trên mình những vết thương do nền kinh tế khai thác mỏ gây ra.

Do đó, sự quan tâm của chúng tôi tại Nkaneng thuộc về một cam kết rộng lớn hơn nhiều: một nền kinh tế khoáng sản mà trong đó người lao động và các cộng đồng được đối xử như những con người có phẩm giá, chứ không đơn thuần là những công cụ để khai thác.


[Nguồn: cruxnow]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 24/08/2026]