Thứ Hai, 29 tháng 6, 2026

Trong một cuộc phỏng vấn, Ủy ban Cứu trợ Công giáo (CRS) chia sẻ về các vấn đề mà lưu vực Hồ Chad tại Châu Phi đang phải đối mặt

Trong một cuộc phỏng vấn, Ủy ban Cứu trợ Công giáo (CRS) chia sẻ về các vấn đề mà lưu vực Hồ Chad tại Châu Phi đang phải đối mặt

Ngala Killian Chimtom
Ngày 25 tháng 6 năm 2026 – Phóng viên thường trú châu Phi

Trong một cuộc phỏng vấn, Ủy ban Cứu trợ Công giáo (CRS) chia sẻ về các vấn đề mà lưu vực Hồ Chad tại Châu Phi đang phải đối mặt
Một trại tị nạn tại Adré, Chad, ngày 3 tháng 10 năm 2024. (Nguồn: Sam Mednick/AP.)

YAOUNDÉ, Cameroon – Khi thế giới nhìn vào lưu vực Hồ Chad, người ta thường chỉ thấy một cuộc khủng hoảng an ninh được định hình bởi chủ nghĩa cực đoan bạo lực và sự di tản. Nhưng thực tế tại thực địa phức tạp hơn rất nhiều. Đó là một mạng lưới chằng chịt giữa áp lực khí hậu, nghèo đói cùng cực, cơ sở hạ tầng đổ vỡ và cuộc cạnh tranh giành giật các nguồn tài nguyên thiên nhiên đang ngày một cạn kiệt.

Kể từ năm 2009, hàng triệu người đã bị buộc phải rời bỏ quê hương, sinh kế bị phá hủy và lòng tin căn bản giữa những người láng giềng bị xói mòn.

Tuy nhiên, giữa nghịch cảnh kéo dài này, một câu chuyện khác về sức kiên cường phi thường của con người đang được viết nên.

Từ năm 2019, Ủy ban Cứu trợ Công giáo (Catholic Relief Services) đã triển khai Dự án Ổn định và Hòa giải tại vùng Hồ Chad (Stabilization and Reconciliation in the Lake Chad Region – STaR). Hiện bước sang giai đoạn thứ ba, STaR đang tiến xa hơn mô hình viện trợ nhân đạo truyền thống mang tính cục bộ.

Thay vào đó, dự án áp dụng một phương pháp tiếp cận kết hợp, bao gồm cơ sở hạ tầng, sinh kế kinh tế và quản trị địa phương nhằm tái thiết điều mà CRS gọi là “chất keo vô hình” của xã hội: sự gắn kết xã hội.

Trong cuộc phỏng vấn sâu rộng với Crux Now, ông Chris Bleers, Trưởng dự án STaR, đã vén bức màn để chia sẻ về cách thức công việc này đang thực sự diễn ra.

Dưới đây là những trích đoạn từ cuộc trò chuyện với ông Bleers…


Crux Now: Ông mô tả như thế nào về những cuộc khủng hoảng đang diễn ra tại lưu vực Hồ Chad, và tác động của chúng đối với các cộng đồng địa phương ra sao?

Chris Bleers: Khủng hoảng lưu vực Hồ Chad thường được mô tả như một cuộc khủng hoảng an ninh, nhưng những gì chúng ta chứng kiến ngày nay là sự tổng hợp phức tạp giữa xung đột, di tản, nghèo đói, áp lực khí hậu, cơ sở hạ tầng bị tàn phá hoặc yếu kém, và những cơ hội kinh tế hạn chế. Những yếu tố này tác động cộng hưởng mạnh lên nhau, từ đó làm trầm trọng và xấu đi tình hình của các cộng đồng theo chu kỳ lặp đi lặp lại.

Kể từ năm 2009, khi xung đột bùng phát, hàng triệu người đã phải di tản, sinh kế bị đứt đoạn nghiêm trọng, và lòng tin giữa các cộng đồng bị suy giảm. Nông dân mất quyền tiếp cận đất canh tác, người chăn nuôi mất các tuyến đường du mục truyền thống, giới trẻ chật vật tìm kiếm việc làm, và chính quyền địa phương có rất ít nguồn lực để ứng phó hiệu quả.

Đồng thời, tôi nghĩ điều quan trọng là phải nhìn nhận sức kiên cường của người dân vùng lưu vực Hồ Chad. Các cộng đồng đã thích ứng theo những cách phi thường. Điều chúng tôi học được qua STaR (Dự án Ổn định và Hòa giải tại vùng Hồ Chad) là khi con người được tiếp cận với cơ sở hạ tầng, các cơ hội kinh tế và những diễn đàn đối thoại, họ có khả năng tái thiết cuộc sống và phục hồi niềm tin xã hội cần có một cách đáng kinh ngạc.

Thách thức ngày nay không chỉ đơn thuần là ứng phó với một cuộc khủng hoảng. Mà đó là giúp các cộng đồng chuyển dịch từ trạng thái sinh tồn sang khả năng thích ứng và phát triển ngay cả trong nghịch cảnh kéo dài, tổn thương tâm lý hoặc những biến động liên tục.


Theo ông, đâu là những động lực chính dẫn đến cuộc khủng hoảng ở lưu vực Hồ Chad?

Không có một câu trả lời duy nhất, mà là sự kết hợp của nhiều yếu tố. Chắc chắn rằng tình trạng mất an ninh và chủ nghĩa cực đoan bạo lực đóng vai trò rất lớn. Nhưng ẩn dưới đó là những thách thức mang tính cấu trúc sâu xa hơn. Nghèo đói mang tính đặc hữu, sự tiếp cận rất hạn chế đối với các dịch vụ cơ bản, tỷ lệ thất nghiệp ở thanh niên cực kỳ cao, suy thoái môi trường, các hiểm họa khí hậu, sự tranh giành nguồn tài nguyên thiên nhiên và những thách đố mà chính phủ phải đối diện, tất cả đều góp phần gây nên bất ổn.

Một trong những bài học chúng tôi rút ra từ dự án STaR là xung đột thường là triệu chứng của những áp lực rộng lớn hơn. Khi sinh kế sụp đổ, khi các cộng đồng tranh giành nguồn tài nguyên khan hiếm, và khi người dân cảm thấy mình bị loại khỏi tiến trình ra quyết định, căng thẳng có thể bùng phát rất nhanh, và niềm tin bị phá vỡ. Sự gắn kết xã hội, chất keo vô hình của xã hội, bắt đầu tan rã.

Đó là lý do vì sao Ủy ban Cứu trợ Công giáo áp dụng một phương thức tiếp cận kết hợp. Chúng tôi không xem cơ sở hạ tầng, sinh kế, sự gắn kết xã hội và quản trị là những khu vực tách biệt. Chúng tôi cố gắng kết nối chúng với nhau. Nếu bạn cải thiện một lĩnh vực mà không giải quyết các lĩnh vực khác, thì những thành quả đạt được thường chỉ mang tính tạm thời và cục bộ. Sự ổn định bền vững đòi hỏi tiến trình phát triển đồng bộ ở tất cả các yếu tố.


Chắc chắn ông đã gặp nhiều người dân đang chịu đau khổ. Có trường hợp đặc biệt nào ông từng chứng kiến khiến ông phải dừng lại và tự nhủ rằng con người không thể tiếp tục chịu đựng như thế này được nữa không?

Đã có rất nhiều khoảnh khắc trong những năm qua vẫn còn đọng lại trong tôi. Một trường hợp nổi bật là một phụ nữ tham gia dự án STaR đã phải di tản rất nhiều lần. Bà mất nhà cửa, mất phương tiện sinh nhai và mất cả những người thân trong gia đình vì xung đột. Tuy nhiên, khi chúng tôi gặp bà, bà không nói về những gì bà đã mất. Sau khi tham gia các hoạt động phát triển sinh kế của STaR, bây giờ bà lại nói về con cái của bà và niềm hy vọng rằng chúng sẽ được đến trường và có một tương lai tốt đẹp hơn.

Điều khiến tôi xúc động không chỉ là những gian khổ mà bà đã phải chịu, mà còn là sức kiên cường mà bà thể hiện.

Anh sẽ bắt gặp những câu chuyện như thế khắp lưu vực Hồ Chad. Các gia đình đã nhiều lần phải di tản. Những người trẻ lớn lên mà hầu như không biết gì hơn ngoài tình trạng bất ổn. Những cộng đồng đang cố gắng tái thiết trong khi vẫn phải đối mặt với sự bấp bênh.

Những trải nghiệm đó càng củng cố lý do tại sao việc đầu tư dài hạn vào các nền tảng tăng cường khả năng chống chịu lại quan trọng đến như vậy. Không thể mong chờ người dân cứ liên tục làm lại cuộc đời từ đống đổ nát mà không có sự hỗ trợ có ý nghĩa. Hỗ trợ nhân đạo vẫn là điều thiết yếu, nhưng chúng ta cũng cần sự phục hồi, những cơ hội kinh tế và các hệ thống quản trị địa phương để các cộng đồng có thể đặt niềm tin vào, từ đó giúp họ vượt qua trình trạng khủng hoảng.


Năm 2019, Ủy ban Cứu trợ Công giáo (CRS) đã khởi động giai đoạn 1 của Dự án Ổn định và Hòa giải tại vùng Hồ Chad (STaR). STaR II được triển khai vào tháng 9 năm 2021 và hiện ông đang bước vào giai đoạn thứ ba. Các dự án STaR I và STaR II đã thành công như thế nào?

Tôi đánh giá giai đoạn một và hai của Dự án Ổn định và Hòa giải tại vùng Hồ Chad, hoặc STaR, là rất thành công, đồng thời cũng nhận thức rõ rằng vẫn còn rất nhiều việc phải làm.

Các đánh giá độc lập từ bên ngoài đối với giai đoạn I và II cho thấy đạt được rất lớn trên cả bốn thành phần của dự án: cơ sở hạ tầng, sinh kế, gắn kết xã hội và quản trị. Các cộng đồng báo cáo cho biết quyền tiếp cận các dịch vụ đã được cải thiện, hoạt động kinh tế địa phương mạnh mẽ hơn, niềm tin giữa các thành viên cộng đồng gia tăng, và sự tham gia nhiều hơn vào tiến trình ra quyết định ở địa phương.

Điều khiến tôi đặc biệt tự hào là thông qua dự án STaR, Ủy ban Cứu trợ Công giáo đã chứng minh rằng sự ổn định vẫn có thể thực hiện được ngay cả trong những môi trường hết sức mong manh. Chúng tôi đã chứng kiến các cộng đồng khôi phục trường học, cơ sở y tế, chợ, hệ thống cấp nước – thường được nâng cấp thành hệ thống sử dụng năng lượng mặt trời – các kho lưu trữ và hệ thống đường đường sá. Chúng tôi cũng chứng kiến những phụ nữ và thanh niên xây dựng được sinh kế thành công thông qua các nhóm tiết kiệm, cho vay, và đào tạo nghề. Chúng tôi chứng kiến những người lãnh đạo địa phương, nông dân, người chăn nuôi du mục, người di tản, và cộng đồng địa phương cùng tham gia đối thoại và giải quyết vấn đề chung.

Có lẽ quan trọng nhất là dự án đã đưa ra minh chứng cho thấy sự gắn kết xã hội và phục hồi kinh tế củng cố lẫn nhau. Khi con người có cơ hội, họ rất sẵn sàng đầu tư vào việc chung sống hòa bình. Khi các cộng đồng tin tưởng lẫn nhau, hoạt động kinh tế sẽ hồi sinh và trở nên thuận lợi hơn.

Bài học đó đã định hình thiết kế cho cả giai đoạn III và suy nghĩ của chúng tôi cho giai đoạn IV dự kiến, sẽ được triển khai từ năm 2027 đến năm 2030.


Ông hy vọng đạt được điều gì với Dự án STaR III?

Giai đoạn III của dự án STaR hướng đến việc đào sâu và củng cố những thành quả đạt được trong hai giai đoạn đầu, đồng thời đưa ra những nỗ lực phối hợp hướng tới sự bình đẳng giới và hòa nhập xã hội ở mức cao hơn.

Chúng tôi muốn tăng cường khả năng chống chịu của phụ nữ, của thanh niên và người khuyết tật tại một số cộng đồng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của xung đột trong lưu vực Hồ Chad. Điều đó đồng nghĩa với việc tiếp tục đầu tư vào cơ sở hạ tầng, sinh kế, gắn kết xã hội và quản trị địa phương, đồng thời đặt trọng tâm lớn hơn vào tính bền vững và sự hòa nhập.

Chúng tôi đặc biệt tập trung vào việc tạo ra những con đường kinh tế vững chắc hơn cho giới trẻ, mở rộng cơ hội cho phụ nữ, cải thiện các hệ thống quản trị địa phương và bảo đảm rằng chính các cộng đồng đóng vai trò chủ đạo trong tiến trình phát triển.

Mục tiêu cuối cùng không chỉ là triển khai các hoạt động. Mà là để lại những cộng đồng mạnh mẽ hơn, có khả năng ứng phó tốt hơn với các cú sốc, giải quyết tranh chấp một cách hòa bình và tự thúc đẩy tiến trình phát triển của mình.


Rất thường khi, các dự án như STaR sẽ dần mất hiệu quả sau khi tổ chức phi chính phủ (NGO) hoặc cơ quan thực hiện rút đi. Kế hoạch bền vững ở đây là gì? Ông đào tạo các cộng đồng làm chủ dự án như thế nào?

Đó là một câu hỏi hay, và là điều chúng tôi đã suy nghĩ ngay từ khi bắt đầu dự án STaR.

Triết lý của chúng tôi là tính bền vững không phải là điều bạn thêm vào cuối dự án. Nó phải được xây dựng ngay từ ngày đầu tiên trong thiết kế của dự án.

Đối với STaR, điều này bắt đầu từ việc lập kế hoạch do cộng đồng làm chủ. Các cộng đồng xác định những ưu tiên, tham gia vào quá trình ra quyết định và lập kế hoạch ngân sách cùng với chính quyền địa phương, đồng thời góp phần vào quá trình thực hiện. Các kế hoạch phát triển kinh tế địa phương, các Ủy ban Phát triển Khu vực, các Ủy ban Đất đai Cơ sở, các Ủy ban Vận hành và Bảo trì Cơ sở Hạ tầng Cộng đồng, các nhóm tiết kiệm và các cơ cấu quản trị địa phương đều đóng vai trò trung tâm.

Để bảo đảm tính bền vững lâu dài của dự án trong cộng đồng, chúng tôi cũng đầu tư mạnh mẽ vào việc nâng cao năng lực. Các thể chế địa phương được đào tạo để quản lý cơ sở hạ tầng, giám sát công tác bảo trì, huy động nguồn lực và giải quyết các tranh chấp. Chúng tôi hợp tác chặt chẽ với chính quyền địa phương để bảo đảm rằng các khoản đầu tư phù hợp với những ưu tiên của địa phương và hệ thống quy hoạch công, thay vì tạo ra những cơ cấu song song.


Một phần của dự án liên quan đến “sự gắn kết xã hội”, một tiêu chí rất khó đo lường. Ông đo lường thành công của tiêu chí đặc thù này như thế nào trong các cộng đồng đã phải chịu đựng nhiều năm xung đột?

Sự gắn kết xã hội có thể khó đo lường, nhưng chắc chắn có thể quan sát được.

Khung 3Bs – gồm Binding, Bonding và Bridging – là một khuôn khổ xem xét các mối quan hệ ở nhiều cấp độ khác nhau. Binding đề cập đến việc củng cố các mối quan hệ trong nội bộ từng nhóm. Bonding tập trung vào các mối quan hệ giữa những nhóm khác nhau trong cùng một cộng đồng. Bridging xem xét các mối quan hệ giữa các cộng đồng và thể chế khác nhau.

Phương pháp tiếp cận 4Ds – Discover (khám phá), Dream (ước mơ), Design (thiết kế) và Deliver (thực hiện) – cung cấp một tiến trình có cấu trúc để các cộng đồng nhận diện các điểm mạnh, hình dung một tương lai chung, cùng xây dựng các giải pháp và triển khai các giải pháp đó.

Điều làm cho các phương pháp này trở nên hiệu quả, chúng đưa con người từ việc thảo luận về các vấn đề sang việc cùng nhau tạo ra các giải pháp chung.

Chẳng hạn, nông dân, người chăn nuôi, các nhà lãnh đạo truyền thống, phụ nữ, thanh niên, người di tản và cộng đồng địa phương có thể cùng xác định một ưu tiên chung cho cộng đồng như chợ, điểm cấp nước hoặc đường giao thông. Cùng nhau làm việc vì một mục tiêu chung sẽ xây dựng niềm tin theo cách rất thực tế.

Theo thời gian, chúng tôi đo lường những thay đổi về mức độ tham gia, niềm tin, nhận thức về sự hòa nhập, sự hợp tác và khả năng giải quyết xung đột. Mặc dù sự gắn kết xã hội có vẻ vô hình, nhưng những kết quả của nó thường được thể hiện rất rõ trong đời sống và các tương tác hằng ngày của người dân.


Làm thế nào để cân bằng giữa nhu cầu về quản trị cấp nhà nước với tầm quan trọng của việc lập kế hoạch có sự tham gia và do cộng đồng làm chủ?

Đối với dự án STaR, đây không phải là việc đề xuất “hoặc cái này, hoặc cái kia”. Sự phát triển bền vững đòi hỏi cả các thể chế hoạt động hiệu quả lẫn những cộng đồng được trao quyền. Các cộng đồng thường là những chủ thể thích hợp nhất để xác định các ưu tiên vì họ phải sống với những thách đố đó mỗi ngày. Đồng thời, chính quyền địa phương có vai trò then chốt trong việc cung cấp dịch vụ, phân bổ nguồn lực và bảo đảm trách nhiệm giải trình.

Vì vậy, cách tiếp cận của Ủy ban Cứu trợ Công giáo là kết nối hai yếu tố này. Những ưu tiên của cộng đồng được ghi nhận thông qua các tiến trình lập kế hoạch có sự tham gia, rồi được liên kết theo chiều dọc với các cơ cấu chính quyền địa phương và những kế hoạch phát triển.

Khi mối tương quan này vận hành tốt, các cộng đồng sẽ có tiếng nói, chính quyền có được tính chính danh, và các khoản đầu tư phát triển trở nên bền vững hơn.

Xét trên nhiều phương diện, vai trò của chúng tôi là trở thành cầu nối giữa công dân và các thể chế, để cả hai đều có thể thực thi các vai trò của mình một cách hiệu quả hơn.


Tôi hiểu rằng Hoa Kỳ từng là một trong những nhà tài trợ lớn của CRS, nhưng gần đây đã có sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, bao gồm việc cắt giảm viện trợ nước ngoài. Điều này đã tác động như thế nào đến các dự án của CRS tại lưu vực Hồ Chad nói chung, và nó có thể làm trầm trọng thêm tình hình an ninh vốn đã bấp bênh như thế nào?

Việc cắt giảm viện trợ nước ngoài của Hoa Kỳ đã buộc nhiều tổ chức nhân đạo, trong đó có Ủy ban Cứu trợ Công giáo, phải đưa ra những quyết định khó khăn về sử dụng nguồn lực của mình như thế nào và ở đâu.

Tại một khu vực vốn đã phải đối mặt với xung đột và di tản, sự hỗ trợ bền bỉ là một phần quan trọng để giúp các cộng đồng đáp ứng những nhu cầu căn bản, đồng thời giúp họ xây dựng sự ổn định lâu dài.

Nhìn về tương lai, các khoản đầu tư liên tục từ các chính phủ, các nhà tài trợ và các đối tác sẽ mang tính quyết định để bảo đảm rằng những cộng đồng trong vùng Hồ Chad có đủ lương thực, được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe và những cơ hội kinh tế để phục hồi. Chúng tôi hoạt động thông qua Giáo hội địa phương và các mạng lưới cộng đồng đã hiện diện từ rất lâu trước khi khủng hoảng xảy ra và vẫn tiếp tục hiện diện rất lâu sau khi các tiêu điểm truyền thông lắng xuống. Cách tiếp cận này là sự đồng hành: gần gũi các cộng đồng, lắng nghe và phản hồi với lòng trắc ẩn cùng sự tôn trọng.

Cam kết của chúng tôi là tiếp tục hiện diện bên cạnh những người đang đau khổ, ngay cả khi nguồn lực trở nên hạn chế hơn. Nhu cầu đang gia tăng, và việc đứng về phía những người dễ bị tổn thương nhất chưa bao giờ quan trọng như lúc này. Thiết kế của dự án STaR phản ánh trọn vẹn cách tiếp cận “toàn thể cộng đồng”, và tri ân nguồn tài trợ ổn định, dài hạn và linh hoạt do Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Liên bang Đức cung cấp thông qua Ngân hàng Phát triển Liên bang Đức (KfW).


Đến khi STaR III kết thúc, thành công sẽ có diện mạo như thế nào?

Thành công của dự án STaR sẽ không đơn thuần được đo lường bằng số trường học được cải tạo, số người được đào tạo, số việc làm được tạo ra, hay số nhóm tiết kiệm và cho vay được thành lập. Thành công có nghĩa là các cộng đồng có khả năng chống chịu cao hơn so với trước đây.

Nó có nghĩa là phụ nữ và giới trẻ tham gia tích cực hơn vào đời sống kinh tế và dân sự. Nó có nghĩa là các thể chế địa phương vững mạnh hơn, có thể đáp ứng các nhu cầu của cộng đồng. Nó có nghĩa là các cộng đồng có khả năng giải quyết các tranh chấp một cách hòa bình và cùng nhau làm việc vượt qua những chia rẽ xã hội.

Và sau cùng, thành công có nghĩa là người dân có niềm tin lớn hơn vào tương lai của họ.

Nếu một người trẻ có thể tìm được công việc có ý nghĩa và xứng với phẩm giá; nếu một người nông dân và một người chăn nuôi du mục có thể giải quyết tranh chấp mà không cần đến bạo lực; nếu một gia đình chịu ảnh hưởng bởi việc di tản có thể gây dựng lại sinh kế; và nếu các cộng đồng có thể tiếp tục tiến bộ mà không cần sự hỗ trợ từ bên ngoài, khi đó chúng tôi biết rằng mình đã đạt được một điều có ý nghĩa to lớn.

Đó là tương lai mà chúng tôi đang hướng đến – không chỉ là phục hồi sau khủng hoảng, mà còn là một nền tảng cho sự ổn định, để người dân có thể thích ứng và phát triển, đồng thời để những nhóm bị gạt ra bên lề – như phụ nữ và người khuyết tật – có thể tham gia tích cực và được hưởng lợi từ sự tăng trưởng kinh tế trên toàn lưu vực Hồ Chad.


[Nguồn: cruxnow]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 26/06/2026]


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét