Thứ Ba, 21 tháng 2, 2023

Huấn từ của Đức Thánh Cha về Mục tử và Giáo hữu: Khám phá những cách thức tham gia

Diễn từ của Đức Thánh Cha về Mục tử và Giáo hữu: Khám phá những cách thức tham gia

Presidents And Leaders Of The Episcopal Commissions For The Laity. Photo Vatican Media

Huấn từ của Đức Thánh Cha về Mục tử và Giáo hữu: Khám phá những cách thức tham gia

Diễn từ của Đức Thánh Cha với những tham dự viên Hội nghị do Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống tổ chức.

18 tháng Hai, 2023 16:18

ZENIT STAFF



Vào sáng thứ Bảy, ngày 18 tháng Hai, Đức Thánh Cha Phanxicô đã gặp gỡ các tham dự viên Hội nghị Quốc tế dành cho Chủ tịch và Người đại diện của các Ủy ban Giám mục về Giáo dân tại Khán phòng Thượng Hội đồng Giám mục trong Thành Vatican. Hội nghị diễn ra từ ngày 16 đến ngày 18 tháng Hai và tập trung vào chủ đề “Các mục tử và giáo hữu được kêu gọi đồng hành với nhau”.

Sau đây là diễn từ của Đức Thánh Cha.

_____________________________________________


Tôi cảm ơn Đức Hồng Y Farrell và tôi xin chào anh chị em là những đại diện các Ủy ban Giám mục về Giáo dân, các nhà lãnh đạo của những Hiệp hội và Phong trào Giáo hội, các vị chức sắc của Bộ và tất cả anh chị em hiện diện.

Anh chị em đến từ nhiều quốc gia khác nhau để suy tư về trách nhiệm chung của các Mục tử và tín hữu giáo dân trong Giáo hội. Tiêu đề Hội nghị của anh chị em nói lên một “lời kêu gọi” để “cùng nhau tiến về phía trước”, do đó đặt chủ đề này trong bối cảnh rộng lớn hơn của sự hiệp hành. Con đường mà Thiên Chúa đang chỉ ra cho Giáo hội chính là con đường của một kinh nghiệm hiệp thông và đồng hành với nhau cách mạnh mẽ và cụ thể hơn. Người yêu cầu Giáo hội bỏ lại phía sau những con đường hành động tách biệt, trên những đường song song không bao giờ gặp nhau. Giáo sĩ tách rời khỏi giáo dân, những người thánh hiến tách rời khỏi giáo sĩ và tín hữu; đức tin trí tuệ của một số giới tinh hoa nào đó tách biệt với đức tin của người dân thường; Giáo triều Rôma tách biệt với các Giáo hội địa phương, các Giám mục tách biệt với các linh mục; người trẻ tách biệt khỏi người già, vợ chồng và gia đình tách thoát ly khỏi đời sống cộng đoàn, các Phong Trào Đặc Sủng tách biệt khỏi giáo xứ, v.v. Đây là sự cám dỗ tồi tệ nhất ở thời điểm hiện tại. Giáo Hội còn một chặng đường dài phía trước để sống như một thân thể, như một dân tộc đích thực được hiệp nhất bởi cùng một niềm tin vào Chúa Kitô Đấng Cứu Thế, được làm sống động bởi cùng một Thần Khí thánh thiện và được hướng đến cùng một sứ vụ loan báo tình yêu thương xót của Thiên Chúa là Cha chúng ta.

Một dân tộc hiệp nhất trong sứ vụ

Khía cạnh cuối cùng này rất quan trọng: một dân tộc hiệp nhất trong sứ vụ. Đây là cái nhìn sâu sắc mà chúng ta phải luôn coi trọng: Giáo hội là Dân thánh trung thành của Thiên Chúa, như Hiến chế Lumen Gentium khẳng định trong các số 8 và 12. Giáo hội không theo chủ nghĩa dân túy cũng không theo chủ nghĩa tinh hoa, mà là Dân thánh trung thành của Thiên Chúa. Chúng ta không thể học điều này theo lý thuyết, nhưng thông qua kinh nghiệm sống. Chỉ khi đó chúng ta mới có thể tìm được cách giải thích tốt nhất có thể; nhưng nếu chúng ta không sống điều đó, chúng ta không thể giải thích nó. Một dân tộc hiệp nhất trong sứ vụ. Hiệp hành có nguồn gốc và mục đích tối hậu của nó trong sứ vụ: nó được sinh ra từ sứ vụ và hướng tới sứ vụ. Chúng ta hãy nghĩ đến những ngày đầu tiên, khi Chúa Giêsu sai các Tông đồ đi và tất cả các ông đều vui mừng trở về, vì ma quỷ “đã chạy trốn khỏi các ông”: chính sứ vụ đã mang lại ý nghĩa đó cho Giáo hội. Chia sẻ sứ vụ đưa các Mục tử và giáo hữu xích lại gần nhau hơn; nó xây dựng một sự hiệp nhất về mục đích, thể hiện sự liên kết giữa các đặc sủng khác nhau và do đó khơi dậy trong mọi người ước muốn cùng nhau tiến bước. Chúng ta thấy điều này được minh họa nơi chính Chúa Giêsu, ngay từ đầu đã tập trung một nhóm các môn đệ vây quanh Người, nam cũng như nữ, và cùng với họ thi hành sứ vụ công khai của Ngài. Không bao giờ một mình. Khi sai Nhóm Mười Hai đi công bố Nước Thiên Chúa, Ngài sai họ đi “từng nhóm hai người”. Chúng ta cũng thấy điều tương tự nơi thánh Phaolô, người luôn loan báo Tin Mừng với những người cộng tác, kể cả giáo dân và các cặp vợ chồng, chứ không bởi mình ngài. Đây là trường hợp xảy ra vào những thời kỳ canh tân và truyền giáo lớn trong lịch sử Giáo hội: các Mục tử và tín hữu cùng nhau. Không phải là những cá nhân biệt lập, mà là một dân tộc rao giảng Tin Mừng, là Dân thánh trung thành của Thiên Chúa!

Trách nhiệm chung trong việc đào tạo giáo dân

Tôi biết rằng anh chị em cũng đã thảo luận về việc đào tạo giáo dân, điều không thể thiếu khi thực hiện trách nhiệm chung. Ở đây cũng vậy, tôi muốn nhấn mạnh rằng việc đào tạo đó phải hướng tới sứ vụ, chứ không chỉ hướng tới những lý thuyết, bằng không chúng sẽ rơi vào hệ tư tưởng. Và đó là một tai họa khủng khiếp: hệ tư tưởng trong Giáo hội giống như bệnh dịch. Để tránh điều này, việc đào tạo phải được định hướng theo sứ vụ, không mang tính học thuật, bị giới hạn trong các ý tưởng mang tính lý thuyết, nhưng phải thực hành. Nó phải phát xuất từ việc nghe Kerygma, được nuôi dưỡng bằng lời Chúa và các Bí tích, giúp mọi người phát triển nhận thức, với tư cách cá nhân và cộng đoàn, và tham gia ngay từ đầu vào hoạt động tông đồ và dưới nhiều hình thức làm chứng tá, dù rất đơn sơ, để có thể dẫn đến sự gần gũi với người khác. Việc tông đồ của giáo dân trước hết là việc làm chứng! Chứng tá của kinh nghiệm và lịch sử của bản thân, chứng tá của lời cầu nguyện, chứng tá của việc phục vụ những người thiếu thốn, chứng tá của sự gần gũi với người nghèo và những người bị lãng quên, và chứng tá của sự chào đón, nhất là về phía các gia đình. Đó là sự đào tạo đúng cách cho sứ vụ: bước ra ngoài đến với người khác, học hỏi “tại chỗ”. Đồng thời, một phương tiện hiệu quả để phát triển thiêng liêng.

Ngay từ đầu, tôi đã nói rằng “tôi mơ ước về một Giáo hội truyền giáo” (x. Tông huấn Evangelii Gaudium, 27; 32). “Tôi mơ ước về một Giáo hội truyền giáo”. Ở đây, một hình ảnh trong Sách Khải Huyền hiện lên trong trí, khi Chúa Giêsu nói: “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai [...] mở cửa, thì Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với người ấy” (Kh 3:20). Bi kịch hôm nay trong Giáo hội là Chúa Giêsu cứ gõ cửa, nhưng từ phía bên trong, để chúng ta cho Ngài ra ngoài! Cuối cùng, chúng ta thường trở thành một Giáo hội “giam mình trong tù”, một Giáo hội không cho Chúa ra ngoài, Giáo hội giữ Ngài như “của riêng mình”, trong khi Chúa đến để thi hành sứ vụ và muốn chúng ta trở thành những nhà thừa sai …

Chính trong viễn cảnh này mà chúng ta có thể tiếp cận cách thích đáng đối với vấn đề trách nhiệm chung đối với giáo dân trong Giáo hội. Nhu cầu nâng cao vai trò của giáo dân không phải dựa trên một điểm mới lạ nào đó về thần học, hoặc do thiếu linh mục, càng không phải là khát khao bù đắp cho sự sao lãng của họ trong quá khứ. Thay vào đó, nó dựa trên tầm nhìn đúng đắn về Giáo hội, là Dân Thiên Chúa, trong đó người giáo dân, cùng với các thừa tác viên chức thánh, hoàn toàn là một thành phần. Do đó, các thừa tác viên chức thánh không phải là ông chủ, họ là những người phục vụ: là những mục tử, không phải là những ông chủ.

Điều này có nghĩa là phải phục hồi một “giáo hội học toàn diện”, giống như giáo hội của các thế kỷ đầu tiên, khi mọi sự được hiệp nhất nhờ tư cách thành viên trong Chúa Kitô và nhờ sự hiệp thông siêu nhiên với Thiên Chúa và với anh chị em của chúng ta. Nó có nghĩa là hãy bỏ lại đằng sau một tầm nhìn xã hội học phân biệt các giai cấp và địa vị xã hội, và cuối cùng dựa trên “quyền lực” được gán cho mỗi nhóm. Cần nhấn mạnh đến sự hiệp nhất chứ không phải sự tách biệt hay phân biệt. Giáo dân không chỉ là một người “không thuộc hàng giáo sĩ” hay “không phải tu sĩ”; người đó phải được coi như một người đã được rửa tội, một thành viên của Dân thánh Chúa, vì đó là Bí tích mở ra mọi cánh cửa. Trong Tân Ước không xuất hiện từ “giáo dân”; chúng ta nghe nói về “người tin”, “môn đệ”, “anh em” và “các thánh”, những thuật ngữ được áp dụng cho tất cả mọi người: tín hữu giáo dân cũng như các thừa tác viên thánh chức, Dân Chúa cùng nhau hành trình.

Trong một Dân tộc của Thiên Chúa duy nhất là Giáo Hội này, yếu tố cơ bản là chúng ta thuộc về Đức Kitô. Trong các trình thuật đầy cảm xúc của Sách Công vụ của các vị tử đạo thời sơ khai, chúng ta thường thấy một lời tuyên xưng đức tin đơn sơ: “Tôi là một người thuộc về Chúa Kitô”, và họ nói, “và do đó tôi không thể hy sinh cho ngẫu tượng”. Chẳng hạn, đây là những lời được nói bởi Đức Cha Polycarp, Giám mục Smyrna, và bởi Justin và những người bạn đồng hành của ngài là những giáo dân. Những vị tử đạo này không nói: “Tôi là Giám mục”, hay “Tôi là giáo dân” — Tôi thuộc Công giáo Tiến hành,” “Tôi thuộc Dòng Đức Mẹ, tôi là thành viên của Phong trào Focolare.” Không, họ chỉ nói đơn giản: “Tôi là một người của Chúa Kitô.” Ngày nay cũng vậy, trong một thế giới ngày càng bị tục hóa, điều thật sự phân biệt chúng ta là Dân Chúa đó là niềm tin của chúng ta vào Chúa Kitô, chứ không phải bậc sống của chúng ta. Chúng ta là những người đã được rửa tội; chúng ta là người Kitô hữu; chúng ta là môn đệ của Chúa Giêsu. Mọi điều khác chỉ là thứ yếu. “Nhưng thưa cha, kể cả một linh mục sao?” — “Đúng, điều đó cũng chỉ là thứ yếu” — “Còn Giám mục thì sao?” — “Đúng, là thứ yếu” — “Ngay cả một Hồng y sao?” — “Cũng chỉ là thứ yếu.”

Việc chúng ta cùng thuộc về Đức Kitô khiến tất cả chúng ta trở thành anh chị em với nhau. Như Công đồng Vatican II tuyên bố, “khi được Thiên Chúa ưu ái ban cho Đức Kitô như một người Anh cả, … giáo dân cũng là anh chị em với những người đã lãnh nhận thừa tác vụ thánh, … để coi sóc gia đình Thiên Chúa qua việc giảng dạy” (Hiến chế Lumen Gentium, 32). Là anh chị em với Đức Kitô, là anh chị em với các linh mục, tình huynh đệ với mọi người.

Một tầm nhìn thống nhất về Giáo hội

Trong tầm nhìn thống nhất này về Giáo hội, nơi chúng ta trước hết và trên hết là những Kitô hữu đã được rửa tội, là giáo dân sống giữa thế giới và đồng thời thuộc về Dân tộc trung thành của Thiên Chúa. Tài liệu Puebla đã diễn tả điều này cách rất đẹp: giáo dân là những người nam nữ “của Giáo hội giữa lòng thế giới,” và những người nam nữ “của thế giới trong lòng Giáo hội”. Thực vậy, người giáo dân được kêu gọi sống sứ vụ của họ chính giữa những thực tại trần thế mà mỗi ngày họ phải hòa mình vào. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là họ không có những khả năng, những đặc sủng và năng lực để đóng góp vào đời sống của Giáo hội: trong việc phục vụ phụng vụ, trong việc dạy giáo lý và giáo dục, trong các cơ cấu quản trị, quản lý tài sản, lập kế hoạch và thực hiện các dự án mục vụ, v.v. Vì lý do này, ngay từ khi còn ở chủng viện, các Mục tử cần được đào tạo để cộng tác làm việc với giáo dân, để sự hiệp thông, như một kinh nghiệm sống động, sẽ được phản ánh trong hoạt động của họ như một điều gì đó rất tự nhiên, không phải là khác thường và không thường xuyên. Một điều tồi tệ nhất mà một người mục tử có thể làm là quên đi dân tộc nơi người mục tử đã xuất thân, thiếu ký ức đó. Chúng ta có thể lặp đi lặp lại với người mục tử đó thật nhiều lần lời trong Kinh thánh: “Hãy nhớ”. “Hãy nhớ anh từ đâu đến, đàn chiên mà anh đã từ đó được đưa ra để trở về phục vụ nó, hãy nhớ đến cội nguồn của mình” (x. 2 Tm, 1).

Chia sẻ trách nhiệm giữa Giáo dân và Mục tử

Kinh nghiệm chia sẻ trách nhiệm này giữa người giáo dân và mục tử sẽ giúp vượt qua sự phân tách, sợ hãi và thiếu tin tưởng lẫn nhau. Bây giờ là lúc để các Mục tử và giáo dân cùng nhau tiến bước, trong mọi lĩnh vực của đời sống Giáo hội và ở mọi nơi trên thế giới! Giáo dân không phải là “khách” trong Giáo hội; đó là nhà của họ và họ cũng được kêu gọi chăm sóc Giáo hội như vậy. Giáo dân, và đặc biệt là phụ nữ, phải được đánh giá cao hơn về các kỹ năng cũng như về các ơn thuộc về con người và thiêng liêng mà họ mang lại cho đời sống của các giáo xứ và giáo phận. Họ có thể hỗ trợ bằng ngôn ngữ “thường nhật” của họ trong việc loan báo Tin Mừng bằng cách tham gia vào các hình thức rao giảng khác nhau. Họ có thể hợp tác với các linh mục trong việc đào tạo thiếu nhi và thanh thiếu niên, giúp đỡ các cặp đính hôn chuẩn bị cho hôn nhân, và đồng hành với các đôi vợ chồng trong đời sống hôn nhân và gia đình. Phải luôn hỏi ý kiến họ bất cứ khi nào các sáng kiến mục vụ mới được lên kế hoạch ở mọi cấp độ, địa phương, quốc gia và toàn cầu. Họ phải có tiếng nói trong các hội đồng mục vụ của các Giáo hội địa phương và nên có mặt trong các văn phòng giáo phận. Họ có thể hỗ trợ trong việc đồng hành thiêng liêng với các giáo dân khác và đóng góp vào việc đào tạo các chủng sinh và tu sĩ. Có lần tôi nghe thấy một câu hỏi: “Thưa cha, một giáo dân có thể làm linh hướng được không?” Quả thực đó là một đặc sủng giáo dân! Một vị linh hướng có thể là một linh mục, nhưng đặc sủng không hoàn toàn thuộc linh mục như vậy; đồng hành thiêng liêng, nếu Chúa ban cho bạn khả năng thiêng liêng để làm như vậy, thì là một đặc sủng giáo dân. Cùng với các Mục tử, người giáo dân phải đưa chứng tá Kitô giáo đi vào đời sống thế tục: vào các thế giới việc làm, văn hóa, chính trị, nghệ thuật và truyền thông xã hội.

Chúng ta có thể diễn đạt theo cách này: giáo hữu và Mục tử cùng nhau trong Giáo hội, người giáo dân và Mục tử cùng nhau trên thế giới.

Tôi nhớ đến những trang cuối cùng trong quyển sách của linh mục Henri de Lubac, Méditation sur l'Église. Trong đó, ngài giải thích rằng điều tồi tệ nhất có thể xảy ra với Giáo hội là chủ nghĩa thế tục thiêng liêng mang tên chủ nghĩa giáo quyền, điều “sẽ vô cùng tai hại hơn bất kỳ chủ nghĩa đạo đức thế tục nào”. Nếu anh chị em có thời gian, hãy đọc ba hoặc bốn trang cuối của quyển Méditation sur l'Église của Cha de Lubac. Trích dẫn nhiều tác giả khác nhau, ngài cho thấy rằng chủ nghĩa giáo quyền là điều tồi tệ nhất có thể xảy ra với Giáo hội, thậm chí còn tồi tệ hơn cả những thời kỳ giáo hoàng có nhân tình. Chủ nghĩa giáo quyền phải bị “xua đuổi”. Một linh mục hay một Giám mục rơi vào thái độ này sẽ gây tổn hại rất lớn cho Giáo hội. Nhưng đó là một căn bệnh truyền nhiễm: vì giáo dân bị giáo quyền hóa là một bệnh dịch tồi tệ hơn trong Giáo hội, thậm chí còn tồi tệ hơn cả các linh mục hoặc Giám mục đã rơi vào chủ nghĩa giáo quyền. Xin hãy nhớ rằng giáo dân là giáo dân.

Các bạn thân mến, với vài nhận xét này, tôi muốn chỉ ra một lý tưởng, một nguồn cảm hứng để giúp chúng ta tiến bước. Tôi vô cùng ước ao rằng tất cả chúng ta có thể giữ trong tâm trí và trong lòng tầm nhìn đầy yêu thương này về Giáo Hội! Một Giáo hội hướng tới sứ mệnh, nơi mọi người hiệp lực và cùng nhau bước đi loan báo Tin Mừng. Một Giáo hội mà điều gắn kết chúng ta lại với nhau đó là chúng ta là những Kitô hữu đã được rửa tội, chúng ta thuộc về Chúa Giêsu. Một Giáo hội được ghi dấu bằng tình huynh đệ giữa người giáo hữu và các Mục tử, khi tất cả cùng làm việc với nhau mỗi ngày trong mọi lĩnh vực của đời sống mục vụ, vì tất cả họ đều đã được rửa tội.

Tôi khuyến khích anh chị em hãy cổ võ trong các Giáo hội của anh chị em tất cả những gì anh chị em nhận được trong những ngày này, để cùng nhau tiếp tục canh tân Giáo hội và sứ vụ của Giáo hội. Tôi chúc lành cho tất cả anh chị em và những người thân yêu của anh chị em, và tôi xin anh chị em hãy cầu nguyện cho tôi. Cảm ơn anh chị em.


[Nguồn: zenit]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 21/2/2023]


Thứ Hai, 20 tháng 2, 2023

Kinh Truyền tin của ĐTC Phanxicô ngày 19.02.2023: “Hãy giơ cả má bên kia và yêu thương ngay cả kẻ thù của mình”

“Hãy giơ cả má bên kia và yêu thương ngay cả kẻ thù của mình”

Huấn từ của Đức Thánh Cha trước giờ Kinh Truyền tin

Kinh Truyền tin của ĐTC Phanxicô ngày 19.02.2023: “Hãy giơ cả má bên kia và yêu thương ngay cả kẻ thù của mình”

Vatican Media


*******

Vào lúc 12 giờ trưa hôm nay, Đức Thánh Cha Phanxicô xuất hiện tại cửa sổ phòng làm việc trong Điện Tông tòa Vatican để đọc Kinh Truyền Tin với các tín hữu và khách hành hương tập trung tại Quảng trường Thánh Phêrô.

Sau đây là huấn từ của Đức Thánh Cha trước Kinh Truyền tin:

____________________________________________________


Trước Kinh Truyền tin

Anh chị em thân mến, buongiorno!

Những lời Chúa Giêsu nói với chúng ta trong Tin Mừng Chúa Nhật tuần này đòi hỏi rất khắt khe, và có vẻ nghịch lý: Chúa mời gọi chúng ta hãy giơ cả má bên kia ra và yêu thương ngay cả kẻ thù của mình (x. Mt 5:38-48). Thường thì chúng ta yêu mến những người yêu mến chúng ta, làm bạn với những người là bạn của chúng ta; thế nhưng Chúa Giêsu thách đố chúng ta bằng cách nói: nếu anh em hành động theo cách này, “thì anh em có làm gì lạ thường đâu?” (câu 47). Anh em phải làm điều gì hơn thế nữa? Đây là điểm mà tôi muốn anh chị em hôm nay hãy tập trung vào, về những điều anh chị em làm thể hiện sự phi thường.

“Hơn thế nữa”, “phi thường” là những gì vượt ra ngoài các giới hạn thông thường, những gì vượt quá những thói quen thông thường và những tính toán theo tiêu chuẩn được ấn định bởi sự thận trọng. Thay vào đó, nói chung, chúng ta cố gắng sắp xếp mọi thứ phần nào đó theo trật tự và trong tầm kiểm soát, sao cho phù hợp với những mong đợi của chúng ta, theo thước đo của chúng ta: lo sợ không được đền đáp hoặc bộc lộ bản thân quá nhiều để rồi thất vọng, chúng ta chọn yêu thương những người yêu thương chúng ta để tránh những thất vọng, chỉ làm điều tốt cho những người tốt với chúng ta, chỉ rộng rãi với những người có thể trả ơn; và với những người đối xử tệ bạc với chúng ta, chúng ta đáp lại cũng như vậy, để chúng ta được cân bằng. Nhưng Chúa cảnh cáo chúng ta: như thế không đủ! Chúng ta phải nói rằng: đây không phải là Kitô giáo! Nếu chúng ta vẫn theo cách thông thường, trong sự cân bằng giữa cho và nhận, mọi thứ sẽ không thay đổi. Nếu Thiên Chúa thực hiện theo luận lý này, chúng ta không có hy vọng được cứu rỗi! Nhưng, thật may mắn cho chúng ta, tình yêu của Thiên Chúa luôn luôn “phi thường”, tình yêu đó vượt xa những tiêu chuẩn thông thường mà con người chúng ta sống các mối tương quan của mình.

Do đó lời của Chúa Giêsu thách đố chúng ta. Trong khi chúng ta cố gắng duy trì sự bình thường của lập luận vị lợi, Chúa yêu cầu chúng ta mở lòng ra với sự phi thường, sự phi thường của một tình yêu cho đi không mong đền đáp; trong khi chúng ta luôn cố gắng cân bằng sổ sách, thì Chúa Kitô khuyến khích chúng ta sống một tình yêu thiếu cân bằng. Chúa Giêsu không phải là người giữ sổ sách giỏi, không! Người luôn dẫn đưa chúng ta đến sự mất cân bằng của tình yêu. Chúng ta không ngạc nhiên về điều này. Nếu Thiên Chúa không tự mình “mất cân bằng”, thì chúng ta đã không bao giờ được cứu rỗi: chính sự mất cân bằng của thập giá đã giải thoát chúng ta! Chúa Giêsu đã chẳng đi tìm kiếm chúng ta khi chúng ta lạc lối và xa rời; Chúa đã chẳng yêu thương chúng ta đến cùng, Người đã chẳng ôm lấy thập giá vì chúng ta là những con người bất xứng trước tất cả những điều này và không thể có bất kỳ điều gì để đáp lại cho Chúa. Như Thánh Tông đồ Phaolô viết, “Hầu như không ai chết vì người công chính, hoạ may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng. Thế mà Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rm 5:7-8). Vì vậy, Thiên Chúa yêu thương chúng ta trong khi chúng ta là những tội nhân, không phải vì chúng ta tốt lành hay có thể đáp lại cho Ngài điều gì đó. Thưa anh chị em, tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu luôn dư đầy, luôn vượt quá sự tính toán, luôn không cân xứng. Và hôm nay Người cũng yêu cầu chúng ta hãy sống theo cách như vậy, vì chỉ có như thế chúng ta mới thực sự làm chứng cho Người.

Anh chị em thân mến, Chúa mời gọi chúng ta hãy bước ra khỏi luận lý của tính tư lợi và không đo lường tình yêu trên những thước đo của những toan tính và lợi ích vật chất. Chúa mời gọi chúng ta đừng lấy ác trả ác, hãy can đảm làm việc tốt, dám mạo hiểm trong ân huệ, ngay cả khi chúng ta nhận lại được rất ít hoặc chẳng nhận được gì. Bởi vì, chính tình yêu này dần dần biến đổi những xung đột, rút ngắn những khoảng cách, chiến thắng hận thù và chữa lành những vết thương của thù hận. Và vì vậy, chúng ta hãy tự hỏi mình, mỗi người chúng ta: trong cuộc sống của tôi, tôi đi theo luận lý của sự đền đáp, hay theo luận lý của tính nhưng không, như Thiên Chúa làm? Tình yêu phi thường của Chúa Kitô không phải là điều dễ dàng, nhưng nó là có thể; điều đó là có thể bởi vì chính Chúa giúp chúng ta bằng cách ban cho chúng ta Thần Khí của Ngài, tình yêu của Ngài vô hạn.

Chúng ta hãy cầu nguyện với Đức Mẹ là Đấng đã trả lời “xin vâng” với Thiên Chúa mà không cần tính toán, cho phép Ngài biến Mẹ thành kiệt tác Ân Sủng của Ngài.

________________________________________________


Sau Kinh Truyền tin

Anh chị em thân mến,

Tình yêu của Chúa Giêsu mời gọi chúng ta cho phép mình biết rung động trước hoàn cảnh của những người đang gặp khó khăn. Tôi đặc biệt nghĩ đến Syria và Thổ Nhĩ Kỳ, đến rất nhiều nạn nhân của trận động đất, nhưng cũng nghĩ đến những thảm kịch hàng ngày của người dân Ukraine thân yêu và nhiều dân tộc phải chịu hậu quả của chiến tranh hoặc vì nghèo đói, thiếu tự do hoặc sự tàn phá môi trường: nhiều dân tộc… Về vấn đề này, tôi gần gũi với người dân New Zealand, những ngày gần đây đã bị một cơn bão tàn phá tấn công. Thưa anh chị em, chúng ta đừng quên những người đau khổ, và hãy để cho đức ái của chúng ta biết quan tâm, hãy cho phép nó trở thành đức ái thực sự!

Cha gửi lời chào đến tất cả anh chị em đến từ nước Ý và các nước khác. Cha xin chào anh chị em hành hương đến từ Oviedo, Tây Ban Nha, và các sinh viên của Vila Pouca de Aguair ở Bồ Đào Nha.

Cha xin chào các nhóm Công giáo Tiến hành đến từ Rimini và Saccolongo; các tín hữu của Lentiai, Turin và Bolzano; các ứng viên thêm sức đến từ Valvasone và Almenno San Salvatore; các thanh thiếu niên của Tricesimo, Leno, Chiuppano và Fino Mornasco; các Lễ sinh đến từ Arcene và các sinh viên của Trường Thánh Ambrôsiô ở Milan.

Cha chúc tất cả anh chị em Chúa nhật hạnh phúc. Xin đừng quên cầu nguyện cho cha. Chúc anh chị em bữa trưa ngon miệng, và arrivederci.



[Nguồn: exaudi]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 20/2/2023]