Thứ Năm, 9 tháng 10, 2025

Hai năm sau ngày 7 tháng Mười: phỏng vấn Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh về khủng bố của Hamas và thảm sát tại Gaza

Hai năm sau ngày 7 tháng Mười: phỏng vấn Đức Hồng Y Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh về khủng bố của Hamas và thảm sát tại Gaza
Đức Hồng y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh Photo: EuropaPress

Hai năm sau ngày 7 tháng Mười: phỏng vấn Đức Hồng y Quốc vụ khanh Tòa Thánh về khủng bố của Hamas và thảm sát tại Gaza

Đức Hồng y Quốc vụ khanh Tòa Thánh trả lời phỏng vấn với Truyền thông Vatican nhân dịp kỷ niệm hai năm cuộc tấn công “phi nhân” của Hamas vào Israel, dẫn đến sự tàn phá Dải Gaza. Ngài nói rằng những gì đang xảy ra tại Gaza là “phi nhân”, và ngài xúc động trước sự tham gia của công chúng vào các cuộc tuần hành vì hòa bình. Ngài nói thêm rằng chủ nghĩa bài Do Thái là một căn bệnh ung thư cần phải loại trừ tận gốc.

06 THÁNG MƯỜI, 2025 11:14

ZENIT STAFF


(ZENIT News – L´Osservatore Romano / Vatican City, 06.10.2025). – Hai năm đã trôi qua kể từ cuộc tấn công khủng bố của Hamas chống lại Israel, khởi đầu cho một cuộc chiến tranh toàn diện đã san bằng Dải Gaza. Chúng ta cùng nhìn lại những biến cố ấy, và những gì đã xảy ra kể từ đó, trong cuộc trò chuyện với Đức Hồng y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh.

H: Thưa Đức Hồng y, chúng ta bước vào năm thứ ba kể từ cuộc tấn công bi thảm ngày 7 tháng Mười. Người nhớ lại biến cố đó như thế nào, và theo quan điểm của Đức Hồng y, nó có ý nghĩa gì đối với Nhà nước Israel và các cộng đồng Do Thái trên toàn thế giới?

Đ: Tôi xin nhắc lại điều tôi đã nói lúc bấy giờ: cuộc tấn công khủng bố do Hamas và các nhóm dân quân khác thực hiện nhằm vào hàng ngàn người Israel và người di cư sinh sống tại đó, nhiều người trong họ là thường dân, đang chuẩn bị mừng ngày lễ Simchat Torah, kết thúc tuần lễ Sukkot, là phi nhân và không thể bào chữa được. Bạo lực tàn bạo nhắm vào trẻ em, phụ nữ, thanh niên, người già — hoàn toàn không có sự biện minh nào cho việc đó. Đó là một vụ thảm sát đáng hổ thẹn, và tôi xin nhắc lại, là vô nhân. Tòa Thánh ngay lập tức bày tỏ sự lên án mạnh mẽ và dứt khoát, kêu gọi thả con tin ngay lập tức, và bày tỏ sự gần gũi với các gia đình bị ảnh hưởng bởi cuộc tấn công khủng bố. Chúng tôi đã cầu nguyện, và tiếp tục cầu nguyện, và chúng tôi tiếp tục cầu xin rằng vòng xoáy thù hận và bạo lực dai dẳng này phải chấm dứt, vì nó có nguy cơ kéo chúng ta vào một vực thẳm không lối thoát.

Đức Hồng y muốn nói gì với gia đình các con tin Israel hiện vẫn đang bị Hamas giam giữ?

Thật đáng buồn, hai năm đã trôi qua. Một số người đã chết, những người khác được thả sau các cuộc đàm phán kéo dài. Tôi vô cùng xúc động và đau buồn trước hình ảnh của những người này bị giam trong đường hầm, bị bỏ đói. Chúng ta không thể và không được phép quên họ. Tôi xin nhắc lại rằng Đức Thánh Cha Phanxicô, trong một năm rưỡi cuối đời, đã có ít nhất 21 lời kêu gọi công khai về việc trả tự do cho các con tin và đã gặp gỡ một số gia đình của họ. Người kế vị ngài, Đức Thánh Cha Lêô XIV, đã tiếp tục những lời kêu gọi đó. Tôi xin bày tỏ sự gần gũi với tất cả họ, cầu nguyện hằng ngày cho những đau khổ của họ, và chúng tôi tiếp tục sẵn sàng làm bất cứ điều gì có thể để giúp họ còn sống và an toàn đoàn tụ với những người thân của họ — hoặc ít nhất là nhận được thi thể của những người đã thiệt mạng, để họ có thể được chôn cất cách xứng đáng.

Vào dịp kỷ niệm một năm cuộc tấn công ngày 7 tháng Mười, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói đến “sự bất lực đáng hổ thẹn của cộng đồng quốc tế và các quốc gia hùng mạnh nhất trong việc làm im tiếng súng và chấm dứt thảm kịch chiến tranh.” Điều cần thiết cho hòa bình là gì?

Ngày nay, tình hình tại Gaza còn nghiêm trọng và bi thảm hơn một năm trước, sau một cuộc chiến tàn khốc đã cướp đi sinh mạng của hàng chục ngàn người. Chúng ta cần khôi phục lại lý trí, từ bỏ luận lý mù quáng của lòng thù hận và sự báo thù, và khước từ bạo lực như một giải pháp. Những người bị tấn công có quyền tự vệ, nhưng ngay cả việc tự vệ chính đáng cũng phải tôn trọng nguyên tắc cân xứng. Thật đáng buồn, cuộc chiến xảy ra đã mang đến những hậu quả thảm khốc và vô nhân … Tôi rùng mình và vô cùng đau khổ trước số người chết hằng ngày ở Palestine — hàng chục, đôi khi hàng trăm, mỗi ngày — rất nhiều trẻ em mà dường như lỗi duy nhất của chúng là sinh ra ở đó. Chúng ta có nguy cơ trở nên vô cảm trước cảnh tàn sát này! Người ta bị giết khi đang cố gắng tìm một mẩu bánh mì, bị chôn vùi dưới đống đổ nát của căn nhà của mình, bị đánh bom trong bệnh viện, trong các trại tị nạn, phải di tản và buộc phải di chuyển từ đầu này sang đầu kia của vùng đất chật hẹp, đông đúc đó… Thật không thể chấp nhận và không thể biện minh khi biến con người thành “tổn thất phụ”.

Chúng ta nên nhìn nhận như thế nào về sự gia tăng các vụ việc bài Do Thái ở nhiều nơi trên thế giới trong những tháng gần đây?

Đó là một hậu quả đau buồn và cũng không thể bào chữa được. Chúng ta đang sống trong một thế giới của tin giả, của những câu chuyện được giản lược quá mức. Điều này khiến những người tiêu thụ các thông tin méo mó này quy trách nhiệm cho cho toàn dân tộc Do Thái về những gì đang xảy ra ở Gaza. Nhưng chúng ta biết điều đó không đúng sự thật. Nhiều tiếng nói bất đồng cũng đã được cất lên mạnh mẽ trong thế giới Do Thái chống lại cách chính phủ Israel đã và đang hành động ở Gaza và phần còn lại của Palestine, nơi mà, chúng ta đừng quên, chủ nghĩa bành trướng định cư, thường là bạo lực, đang tìm cách làm cho việc thành lập một Nhà nước Palestine trở nên bất khả thi.

Chúng ta đã thấy những chứng từ công khai của gia đình các con tin. Chủ nghĩa bài Do Thái là một căn bệnh ung thư cần phải được đấu tranh và nhổ tận gốc. Chúng ta cần những người thiện chí, những nhà giáo dục giúp chúng ta hiểu, và trên hết, giúp chúng ta phân định. Chúng ta không được quên những gì đã xảy ra ở ngay giữa lòng Châu Âu với thảm họa Shoah, và chúng ta phải huy động tất cả sức lực để đảm bảo rằng sự dữ đó không trỗi dậy nữa.

Đồng thời, chúng ta phải bảo đảm rằng các hành vi vô nhân và vi phạm luật nhân đạo không bao giờ được biện minh: không thể nào một người Do Thái bị tấn công hoặc kỳ thị chỉ vì họ là người Do Thái, và cũng không thể nào một người Palestine bị tấn công hoặc kỳ thị chỉ vì họ là người Palestine, bởi vì thật đáng tiếc, có những lúc họ bị nói là “những kẻ khủng bố tiềm tàng”. Chuỗi thù hận quái ác chỉ tạo ra một vòng xoáy chẳng dẫn tới điều gì tốt đẹp. Thật đau xót khi thấy rằng chúng ta vẫn thất bại trong việc rút ra bài học từ lịch sử, ngay cả lịch sử gần đây, vẫn luôn là một người thầy của cuộc sống.

Đức Hồng y đã nói về một tình huống không thể chấp nhận và đề cập đến những lợi ích đang cản trở việc chấm dứt chiến tranh. Những lợi ích đó là gì?

Có vẻ rõ ràng là cuộc chiến do quân đội Israel tiến hành nhằm loại bỏ các chiến binh Hamas đã không tính đến thực tế rằng nó đang nhắm vào một dân tộc gần như không có khả năng tự vệ, vốn đã bị dồn đến bờ vực, trong một khu vực mà các tòa nhà và nhà cửa bị biến thành đống đổ nát. Chỉ cần nhìn vào hình ảnh chụp từ trên không là đủ để hiểu Gaza ngày nay trông như thế nào. Thật đáng tiếc, nó cũng rõ ràng rằng cộng đồng quốc tế đang bất lực và các quốc gia thực sự có khả năng gây ảnh hưởng cho đến nay đã thất bại trong cách hành động để ngăn chặn cuộc thảm sát đang diễn ra. Tôi chỉ có thể nhắc lại những lời rất rõ ràng của Đức Thánh Cha Lêô XIV vào ngày 20 tháng Bảy: “Tôi xin lặp lại lời kêu gọi đối với cộng đồng quốc tế về việc tuân thủ luật nhân đạo và tôn trọng nghĩa vụ bảo vệ thường dân, cũng như nghiêm cấm việc trừng phạt tập thể, sử dụng vũ lực cách bừa bãi và cưỡng chế di tản dân chúng.” Đây là những lời vẫn đang chờ được đón nhận và hiểu thấu.

Vậy cộng đồng quốc tế có thể làm gì?

Chắc chắn là nhiều hơn những gì họ đang làm hiện nay. Không thể chỉ dừng lại ở việc tuyên bố rằng những gì đang xảy ra là không thể chấp nhận được, và sau đó tiếp tục để mặc nó diễn ra. Chúng ta phải nghiêm túc đặt câu hỏi về tính hợp pháp, chẳng hạn, việc tiếp tục cung cấp vũ khí đang được sử dụng chống lại thường dân. Thật đáng buồn, như chúng ta đã thấy, Liên Hợp quốc không thể ngăn chặn những gì đang xảy ra. Nhưng có những chủ thể quốc tế có thể, và nên làm nhiều hơn nữa để chấm dứt thảm kịch này, và chúng ta phải tìm cách trao cho Liên Hợp quốc một vai trò hiệu quả hơn trong việc chấm dứt nhiều cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn đang diễn ra trên khắp thế giới.

Đức Hồng y có ý kiến gì về kế hoạch do Tổng thống Trump đề xuất nhằm đạt được lệnh ngừng bắn và kết thúc chiến tranh?

Bất kỳ kế hoạch nào bao gồm người dân Palestine trong các quyết định về tương lai của chính họ, và giúp chấm dứt cuộc thảm sát này — trả tự do cho các con tin và chấm dứt việc giết hại hàng trăm người mỗi ngày — đều đáng được hoan nghênh và ủng hộ. Đức Thánh Cha cũng đã bày tỏ hy vọng rằng các bên sẽ chấp nhận kế hoạch và một tiến trình hòa bình thực sự cuối cùng có thể bắt đầu.

Đức Hồng y nhìn nhận như thế nào về những lập trường được xã hội dân sự, kể cả ở Israel, chống lại các chính sách chiến tranh của chính phủ Israel và ủng hộ hòa bình?

Mặc dù những sáng kiến này đôi khi có nguy cơ bị xuyên tạc trên các phương tiện truyền thông do tính bạo lực của một số người cực đoan, tôi vẫn có ấn tượng tích cực trước sự tham gia đông đảo của nhiều người trẻ trong các cuộc biểu tình và cam kết. Điều đó cho thấy chúng ta không bị lên án là thờ ơ. Chúng ta phải nghiêm túc xem xét mong muốn hòa bình này, sự sẵn lòng tham gia này… Tương lai của chúng ta, và tương lai của thế giới, phụ thuộc vào điều đó.

Một số người, thậm chí trong Giáo hội, nói rằng trước tất cả những điều này, trên hết chúng ta phải cầu nguyện, chứ không nên xuống đường, để không bị lợi dụng bởi những kẻ bạo lực…

Tôi là một người đã chịu Phép Rửa, một tín hữu, một linh mục; và đối với tôi, việc cầu nguyện liên lỉ trước Thiên Chúa – khẩn xin Người giúp đỡ, nâng đỡ, can thiệp để chấm dứt tất cả những điều này, đồng thời phù trợ các nỗ lực của những con người thiện chí – là điều thiết yếu, hằng ngày và nền tảng. Đức Thánh Cha Lêô một lần nữa mời gọi chúng ta đọc Kinh Mân Côi cầu cho hòa bình vào ngày 11 tháng Mười. Nhưng tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng đức tin Kitô giáo phải được nhập thể, bằng không nó hoàn toàn không phải là đức tin… Chúng ta đi theo một Thiên Chúa đã trở thành người phàm, đã mang lấy nhân tính của chúng ta, và đã chỉ cho chúng ta thấy rằng chúng ta không thể thờ ơ với những gì xảy ra xung quanh mình, ngay cả những gì ở xa chúng ta.

Đó là lý do tại sao cầu nguyện không bao giờ là đủ — nhưng hành động cụ thể, sự thức tỉnh lương tâm, các sáng kiến hòa bình, việc nâng cao nhận thức cũng không đủ, ngay cả khi điều đó bị xem là “lạc lõng” hoặc phải chấp nhận rủi ro. Có một đa số im lặng, trong đó có nhiều người trẻ, từ chối đầu hàng trước sự vô nhân này. Họ cũng được kêu gọi cầu nguyện. Nếu cho rằng vai trò của người Kitô hữu chúng ta chỉ là khép mình trong các phòng áo — tôi thấy điều đó rất sai lầm. Cầu nguyện cũng phải dẫn đến hành động, đến chứng tá, đến những lựa chọn cụ thể.

Đức Thánh Cha Lêô không ngừng kêu gọi hòa bình. Tòa Thánh có thể làm gì trong hoàn cảnh này? Đức Hồng y, và toàn thể Giáo hội, có thể đóng góp điều gì?

Tòa Thánh — đôi khi bị hiểu lầm — vẫn tiếp tục kêu gọi hòa bình, mời gọi đối thoại, sử dụng các từ “đàm phán” và “thảo luận,” và thực hiện điều đó xuất phát từ hiện thực sâu sắc: bỏ ngoại giao là chiến tranh không hồi kết, là vực thẳm của hận thù và sự tự hủy diệt của thế giới. Chúng ta phải lên tiếng mạnh mẽ: hãy dừng lại trước khi quá muộn. Và chúng ta phải hành động, làm mọi việc có thể để không quá muộn. Mọi điều đều có thể.

Tại sao việc công nhận Nhà nước Palestine lại quan trọng ở giai đoạn này?

Tòa Thánh đã chính thức công nhận Nhà nước Palestine mười năm trước, với Thỏa thuận Toàn cầu giữa Tòa Thánh và Nhà nước Palestine. Lời mở đầu của thỏa thuận quốc tế đó hoàn toàn ủng hộ một giải pháp công bằng, toàn diện và hòa bình cho vấn đề Palestine, trên tất cả các phương diện, phù hợp với luật pháp quốc tế và tất cả các nghị quyết liên quan của Liên Hợp quốc. Đồng thời, nó ủng hộ một Nhà nước Palestine độc lập, có chủ quyền, dân chủ và có thể đứng vững, bao gồm Bờ Tây, Đông Giêrusalem và Gaza. Thỏa thuận đó cho thấy Nhà nước này không đối lập với các quốc gia khác, mà có thể sống bên cạnh các nước láng giềng trong hòa bình và an ninh. Chúng tôi hài lòng khi nhiều quốc gia trên thế giới đã công nhận Nhà nước Palestine. Nhưng chúng tôi lưu ý với mối quan ngại rằng các tuyên bố và quyết định của Israel đang đi theo hướng ngược lại — tức là nhằm ngăn chặn khả năng ra đời của một Nhà nước Palestine. Giải pháp này, việc thành lập một Nhà nước Palestine, ngày nay càng có giá trị hơn dưới ánh sáng của những biến cố trong hai năm qua. Đó là con đường của hai dân tộc trong hai Nhà nước mà Tòa Thánh đã ủng hộ ngay từ đầu. Vận mệnh của cả hai dân tộc và hai Nhà nước đan quyện với nhau.

Cộng đồng Kitô hữu ở đó hiện nay ra sao, sau cuộc tấn công tàn khốc vào giáo xứ Thánh Gia, và tại sao họ có một vai trò quan trọng ở Trung Đông?

Các Kitô hữu ở Gaza, như chúng ta đã thấy, cũng bị tấn công… Tôi xúc động khi nghĩ về những người quyết tâm ở lại, những người hằng ngày cầu nguyện cho hòa bình và cho các nạn nhân. Đó là một tình huống ngày càng bấp bênh. Chúng tôi cố gắng gần gũi với họ bằng mọi cách, qua những cố gắng của Tòa Thượng Phụ Latinh ở Giêrusalem và Caritas. Chúng tôi biết ơn các chính phủ và các tổ chức đang nỗ lực đưa viện trợ vào và cho phép những người bị thương nặng được chăm sóc. Vai trò của các Kitô hữu ở Trung Đông đã — và luôn là — nền tảng, ngay cả khi số lượng của họ giảm dần. Tôi muốn nhấn mạnh rằng họ chia sẻ trọn vẹn vận mệnh của dân tộc Palestine đang chịu đau khổ, và cùng chịu đau khổ với họ.


[Nguồn: zenit]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 9/10/2025]


Tiếp Kiến Chung 8.9.2025: Đức Thánh Cha: Phục Sinh có nghĩa là đi vào sự hiệp thông sâu xa hơn với Thiên Chúa và với anh chị em của chúng ta

Đức Thánh Cha: Phục Sinh có nghĩa là đi vào sự hiệp thông sâu xa hơn với Thiên Chúa và với anh chị em của chúng ta

Tiếp Kiến Chung

Tiếp Kiến Chung 8.9.2025: Đức Thánh Cha: Phục Sinh có nghĩa là đi vào sự hiệp thông sâu xa hơn với Thiên Chúa và với anh chị em của chúng ta

*******

Buổi Tiếp kiến Chung sáng nay được tổ chức vào lúc 10 giờ sáng tại Quảng trường Thánh Phêrô, nơi Đức Thánh Cha Lêô XIV gặp gỡ các nhóm khách hành hương và tín hữu đến từ Ý và khắp nơi trên thế giới.

Trong bài huấn từ bằng tiếng Ý, Đức Thánh Cha, tiếp tục loạt bài giáo lý xuyên suốt Năm Thánh với chủ đề “Đức Giêsu Kitô, Niềm Hy Vọng của chúng ta,” đã tập trung suy niệm về đề tài “Tâm hồn bừng cháy.” “Lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” (Lc 24:32).

Buổi Tiếp kiến chung kết thúc với kinh Lạy Cha và phép lành Tòa Thánh.

Tiếp Kiến Chung 8.9.2025: Đức Thánh Cha: Phục Sinh có nghĩa là đi vào sự hiệp thông sâu xa hơn với Thiên Chúa và với anh chị em của chúng ta

Đức Thánh Cha Lêô XIV mời gọi chúng ta khám phá rằng sự Phục Sinh của Đức Kitô không được biểu lộ qua những cử chỉ ngoạn mục, nhưng qua sự đơn sơ của tình yêu thương hằng ngày. Chúa Phục Sinh bước đi bên cạnh chúng ta trong thinh lặng của đời sống hằng ngày, biến đổi nỗi đau thành niềm hy vọng và cuộc sống thường nhật thành nơi gặp gỡ Thiên Chúa.

_________________________________________


ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV

TIẾP KIẾN CHUNG

Quảng trường Thánh Phêrô
Thứ Tư ngày 8 tháng 10, 2025

Loạt bài Giáo lý – Năm Thánh 2025. Đức Giêsu Kitô, Niềm Hy Vọng của chúng ta. 10. Tâm hồn bừng cháy. “Lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” (Lc 24:32)


Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Hôm nay, tôi muốn mời anh chị em cùng suy niệm về một khía cạnh đầy ngạc nhiên của sự Phục Sinh của Đức Kitô: sự khiêm nhường của Người. Nếu chúng ta hồi tưởng lại các trình thuật Tin Mừng, chúng ta sẽ nhận ra rằng Chúa Phục Sinh không thực hiện điều gì ngoạn mục để áp đặt đức tin nơi các môn đệ của Người. Người không hiện ra giữa đoàn ngũ các thiên thần, Người không thực hiện các quyền năng phi thường, Người không đọc những bài diễn văn long trọng để mặc khải những huyền bí của vũ trụ. Trái lại, Người đến gần cách âm thầm, như một lữ khách bình thường, như một người đói khát xin được chia sẻ chút bánh (x. Lc 24:15, 41).

Bà Maria Mađalêna lầm tưởng Chúa là người làm vườn (x. Ga 20:15). Hai môn đệ trên đường Emmau nghĩ Chúa là một người khách lạ (x. Lc 24:18). Phêrô và các ngư phủ khác cho rằng Người chỉ là một khách qua đường (x. Ga 21:4). Chúng ta có thể đã mong đợi những hiệu ứng đặc biệt, những dấu chỉ quyền năng, hay những bằng chứng choáng ngợp. Nhưng Thiên Chúa không chọn cách đó: Người thích ngôn ngữ của sự gần gũi, của sự bình thường, của việc chia sẻ bữa ăn hơn.

Thưa anh chị em, có một thông điệp quý giá ở đây: Phục Sinh không phải là một màn trình diễn phi thường; đó là một sự biến đổi âm thầm đổ đầy ý nghĩa cho mỗi cử chỉ của con người. Chúa Giêsu Phục sinh ăn một miếng cá trước mặt các môn đệ của Người: đây không phải là một chi tiết vụn vặt, mà là sự xác nhận rằng thân xác chúng ta, lịch sử chúng ta, các mối tương quan của chúng ta không phải là một lớp vỏ để rồi phải vứt bỏ. Chúng được định đoạt cho sự viên mãn của sự sống. Phục Sinh không có nghĩa là trở thành những linh hồn như sương khói, nhưng là đi vào một sự hiệp thông sâu xa hơn với Thiên Chúa và với anh chị em của chúng ta, trong một nhân tính được biến đổi nhờ tình yêu.

Trong Mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô, mọi sự đều có thể trở thành ân sủng. Ngay cả những điều bình thường nhất: ăn uống, làm việc, chờ đợi, chăm sóc nhà cửa, hỗ trợ bạn bè. Sự Phục Sinh không cất đời sống ra khỏi thời gian và nỗ lực, nhưng thay đổi ý nghĩa và “hương vị” của nó. Mỗi cử chỉ được thực hiện trong tâm tình tạ ơn và hiệp thông đều là sự loan báo trước về Nước Thiên Chúa.

Tuy nhiên, có một trở ngại thường ngăn cản chúng ta không nhận ra sự hiện diện của Đức Kitô trong đời sống hằng ngày: cho rằng chỉ có niềm vui khi không còn đau khổ. Hai môn đệ Emmau buồn bã bước đi vì họ đã hy vọng vào một kết cục khác, vào một Đấng Mêsia không biết đến Thập giá. Mặc dù đã nghe nói ngôi mộ trống, họ vẫn không thể mỉm cười. Nhưng Đức Giêsu bước đi bên cạnh họ và kiên nhẫn giúp họ hiểu rằng đau khổ không phải là sự phủ nhận lời hứa, nhưng là con đường qua đó Thiên Chúa biểu lộ tình yêu của Người (x. Lc 24:13-27).

Khi cuối cùng họ cùng ngồi vào bàn với Người và bẻ bánh, mắt họ được mở ra. Họ nhận ra rằng lòng họ đã bừng cháy từ trước, dù họ chưa nhận biết (x. Lc 24:28-32). Đây là điều ngạc nhiên lớn nhất: khám phá ra rằng dưới đống tro tàn của thất vọng và mệt mỏi luôn có một cục than hồng sống động, chỉ chờ được khơi dậy.

Thưa anh chị em, sự phục sinh của Đức Kitô dạy chúng ta rằng không có lịch sử nào mang đậm dấu ấn của sự thất vọng hay tội lỗi đến mức không thể được viếng thăm bởi niềm hy vọng. Không có sa ngã nào là vĩnh viễn, không có đêm tối nào là vô tận, không vết thương nào bị định sẵn phải hở mãi không lành. Dù chúng ta cảm thấy xa cách, lạc lối hay bất xứng đến đâu, thì không có khoảng cách nào có thể dập tắt sức mạnh bất diệt của tình yêu Thiên Chúa.

Đôi khi chúng ta nghĩ rằng Thiên Chúa chỉ đến thăm chúng ta trong những giây phút chiêm niệm hay cầu nguyện sốt sắng, khi chúng ta cảm thấy mình xứng đáng, khi đời sống chúng ta có vẻ ngăn nắp và sáng sủa. Nhưng Đấng Phục Sinh lại ở gần chúng ta chính trong những nơi tối tăm nhất: trong những thất bại, trong những mối tương quan bị rạn nứt của chúng ta, trong những cuộc chiến đấu hằng ngày đè nặng trên vai chúng ta, trong những hoài nghi khiến chúng ta nản lòng. Không điều gì thuộc về chúng ta, không mảnh đời nào của chúng ta, là xa lạ với Người.

Hôm nay, Chúa Phục Sinh bước đi bên cạnh mỗi người chúng ta, khi chúng ta đi trên những nẻo đường của mình – những nẻo đường của lao động và cam kết, cả trên những nẻo đường đau khổ và cô đơn – và với sự dịu dàng vô biên, Người xin chúng ta hãy để Người sưởi ấm trái tim chúng ta. Người không áp đặt cách ồn ào; Người không đòi hỏi phải được nhận ra ngay lập tức. Người kiên nhẫn chờ đợi khoảnh khắc mắt chúng ta mở ra để nhìn thấy dung mạo thân thiện của Người, dung mạo có khả năng biến thất vọng thành sự mong chờ đầy hy vọng, biến nỗi buồn thành lòng biết ơn, sự cam chịu thành niềm hy vọng.

Đấng Phục sinh chỉ mong muốn tỏ lộ sự hiện diện của Người, trở thành người bạn đồng hành trên đường của chúng ta, và thắp lên trong chúng ta niềm xác tín rằng sự sống của Người mạnh hơn bất kỳ cái chết nào. Vậy, chúng ta hãy xin ơn biết nhận ra sự hiện diện khiêm nhường và kín đáo của Người, để không mong chờ một cuộc sống không có thử thách, để khám phá rằng mọi đau khổ, nếu được đón nhận trong tình yêu, đều có thể trở thành một nơi hiệp thông.

Và như thế, giống như các môn đệ Emmau, chúng ta cũng trở về nhà với con tim bừng cháy niềm vui. Một niềm vui đơn sơ không xóa đi các vết thương, nhưng soi sáng chúng. Một niềm vui đến từ sự chắc chắn rằng Thiên Chúa đang sống, đang bước đi cùng chúng ta, và ban cho chúng ta khả năng để bắt đầu lại trong mọi khoảnh khắc.

_______________________________________________


Lời Chào Đặc Biệt:

Tôi thân ái gửi lời chào đến anh chị em hành hương và các du khách nói tiếng Anh tham dự buổi Tiếp kiến hôm nay, đặc biệt là những anh chị em đến từ Úc, Đan Mạch, Anh, Ấn Độ, Indonesia, Ireland, Nhật Bản, Malaysia, Nigeria, Bắc Ireland, Na Uy, Philippines, Ả Rập Xê Út, Scotland, Nam Phi, Hàn Quốc, Thụy Điển, Việt Nam, Wales và Hoa Kỳ. Cách riêng, tôi gửi lời chào trìu mến đến các tu sĩ và những người sống đời tận hiến tham dự Năm Thánh Đời sống Tận hiến, tôi khuyến khích anh chị em hãy hướng nhìn về Đức Trinh nữ Maria, Đấng là “mẫu gương tuyệt vời về sự tận hiến cho Chúa Cha, kết hiệp với Chúa Con và mở lòng đón nhận Thánh Thần” (Vita consecrata, 28). Xin Chúa chúc lành cho tất cả anh chị em!


[Nguồn: exaudi]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 9/10/2025]