Thứ Năm, 20 tháng 8, 2026

Thánh John Henry Newman và “Ý niệm về một Giáo sư”

Thánh John Henry Newman và “Ý niệm về một Giáo sư”

Ảnh hưởng của Thánh Newman vẫn còn sống mãi nơi biết bao học giả Công giáo, những người đã được khơi nguồn cảm hứng từ cái nhìn của ngài về ơn gọi giáo sư.

Thánh John Henry Newman và “Ý niệm về một Giáo sư”

Đức Hồng y John Henry Newman. (Ảnh minh họa: Melissa Hartog / Shutterstock / Public Domain)


Jonathan Liedl

13 tháng Tám, 2026


Bài viết này nằm trong loạt phóng sự đặc biệt của Register về “Những vị giáo sư huyền thoại”. Độc giả đọc các bài viết đầu tiên tại đây tại đây.

Giáo hội Công giáo có nhiều vị thánh đã được tuyên phong, từng là những “giáo sư huyền thoại”. Trong số đó có Thánh John Henry Newman, một người Anh trở lại Công giáo ở thế kỷ XIX, đã theo đuổi con đường nên thánh trong vai trò là một "tutor" tại Oxford và là viện trưởng sáng lập Đại học Công giáo Ireland ở Dublin.

Nhưng ngài Newman không chỉ để lại một chứng tá Công giáo đầy sức thuyết phục về ơn gọi giáo sư. Có thể nói, ngài đã viết một tác phẩm về chính ơn gọi ấy.

Trong tác phẩm có tính nền tảng Ý niệm về một Đại học (The Idea of a University) xuất bản năm 1852, Thánh Newman đặt các nhà giáo dục vào trung tâm sứ mạng của đại học. Vị thánh nhân học giả tin rằng mục đích của đại học là đào luyện trí tuệ của sinh viên; và mục tiêu ấy đạt được cách hữu hiệu nhất không phải qua việc đọc sách, nhưng qua “sự tiếp xúc cá nhân” giữa sinh viên với các giáo sư của mình.

Theo quan điểm này, Thánh Newman không xem các giáo sư đại học đơn thuần là những người truyền đạt thông tin. Trái lại, ngài nhìn nhận họ như những chứng nhân của đời sống trí thức, những người đào luyện trí tuệ của sinh viên qua ảnh hưởng cá nhân của họ.

Thánh Newman viết rằng giáo sư là “một nhà truyền giáo và một nhà giảng thuyết, trình bày khoa học của mình dưới hình thức hoàn chỉnh và cuốn hút nhất, tuôn trào khoa học ấy với lòng nhiệt thành cháy bỏng, và thắp lên trong tâm hồn những người nghe tình yêu của chính họ đối với khoa học đó”.

Dĩ nhiên, Thánh Newman nhận thấy tầm quan trọng của một chương trình đào tạo vững chắc và những tiêu chuẩn học thuật cao. Nhưng ngài khẳng định rằng ảnh hưởng cá nhân của giáo sư là sine qua non (điều kiện tiên quyết) của nền giáo dục đại học. Ngài viết: “Một hệ thống học thuật không có tầm ảnh hưởng cá nhân của các thầy cô giáo trên học trò thì giống như một mùa đông bắc cực; nó sẽ tạo nên một đại học bị băng giá bao phủ, hóa đá, cứng như gang sắt, và chỉ là thế”.

Tương tự, ngài phê phán những môi trường học thuật “trong đó các thầy cô bị tách biệt khỏi người học như thể bởi một hàng rào không thể vượt qua”.

Trái lại, Thánh Newman kêu gọi các nhà giáo dục hãy quan tâm đến đời sống của sinh viên và tìm cách thấu hiểu họ ở một mức độ sâu sắc và mang tính cá nhân hơn. Ngài viết: “Một Đại học, theo cách gọi thông thường, là một Alma Mater [‘người mẹ nuôi dưỡng’], biết từng đứa con của mình; chứ không phải là một lò đúc, một xưởng in tiền, hay một cỗ máy chạy bộ”.

Và Thánh Newman đã thực hành những gì ngài giảng dạy. Chẳng hạn, Sổ Ghi nhớ về các sinh viên Đại học (Memorandum Book about College Pupils) của ngài lưu lại những ghi chép chi tiết về quá trình đào luyện trí thức, đạo đức và thiêng liêng của những sinh viên được ngài hướng dẫn trong thời gian làm "tutor" tại trường Oriel College, Oxford.

Nhờ đó, Thánh Newman đã hình thành những mối dây gắn bó suốt đời với nhiều sinh viên của ngài. Thật vậy, một số người trong đó, chẳng hạn như Richard Hurrell Froude và John William Bowden, về sau đã trở thành những người đối thoại trí thức của ngài, cho thấy tầm ảnh hưởng của Thánh Newman không chỉ tạo ra những người bắt chước đơn thuần, nhưng còn truyền cảm hứng để người khác trở thành những nhà tư tưởng nghiêm túc theo cách riêng của họ.

Ảnh hưởng của Thánh Newman vẫn tiếp tục sống mãi nơi biết bao nhà giáo dục Công giáo, những người đã được khơi nguồn cảm hứng từ cái nhìn của ngài về ơn gọi giáo sư. Và nếu còn có bất kỳ nghi ngờ nào về tầm quan trọng của ngài, thì ngày 1 tháng 11 năm 2025, Đức Giáo hoàng Lêô XIV đã tôn vinh Thánh Newman làm đồng bổn mạng của nền giáo dục Công giáo, cùng với Thánh Tôma Aquinô — qua đó đưa tác giả của Ý niệm về một Đại học lên vị trí đứng đầu trong hàng ngũ các giáo sư của Giáo hội.


[Nguồn: ncregister]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 18/08/2026]


CHÂU Á/HÀN QUỐC – Hành trình hướng tới Ngày Giới trẻ Thế giới 2027 giao thoa với Học thuyết Xã hội của Giáo hội

CHÂU Á/HÀN QUỐC – Hành trình hướng tới Ngày Giới trẻ Thế giới 2027 giao thoa với Học thuyết Xã hội của Giáo hội

Thứ Hai, 17 tháng Tám, 2026

CHÂU Á/HÀN QUỐC – Hành trình hướng tới Ngày Giới trẻ Thế giới 2027 giao thoa với Học thuyết Xã hội của Giáo hội


Pascale Rizk


Gwangju (Hãng tin Fides) – “Học thuyết Xã hội của Giáo hội không phải là một giáo huấn từ thiện theo kiểu ‘giúp đỡ kẻ bất hạnh’; đúng hơn, đó là việc tự vấn bản thân về mô hình xã hội chúng ta cần xây dựng để con người có thể sống đúng với phẩm giá của họ.” Đây là câu hỏi then chốt được Cha Vincenzo Segil Son (손세길 빈첸시오) đặt ra cho các bạn trẻ thuộc Tổng Giáo phận Gwangju, quy tụ trong hai ngày 15 và 16 tháng 8 tại Đại học Công giáo Gwangju để chuẩn bị cho Ngày Giới trẻ Thế giới (WYD) 2027 tại Seoul. Cha Son chia sẻ với Fides: “Đó là hai ngày với rất nhiều hoạt động: những buổi học giáo lý, cầu nguyện theo tinh thần Taizé, các sáng kiến và hoạt động chia sẻ được tổ chức tại những gian hàng khác nhau, một cử hành trọng thể và một đêm hội chúc tụng.”

Theo thông cáo của Giáo phận, “Ban Tổ chức Giáo phận đã chuẩn bị hành trình này để các bạn trẻ trước hết trở thành những người hành hương, được nếm trải trước bầu khí của Ngày Giới trẻ Thế giới (WYD) và đón nhận sự kiện này như một kinh nghiệm đức tin ngập tràn niềm vui,” đồng thời khuyến khích các bạn trẻ trở thành những “MAJI – Những sứ giả chào đón”, họ sẽ vui mừng đón tiếp các bạn trẻ từ khắp nơi trên thế giới nhân dịp Hội nghị cấp Giáo phận của WYD 2027.

“Được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, mỗi con người đều có một giá trị nội tại,” cha Vincenzo giải thích, khi đề cập đến bối cảnh lịch sử dẫn đến việc ban hành thông điệp Rerum Novarum của Đức Giáo hoàng Lêô XIII. “Văn kiện đó bảo vệ các quyền, phẩm giá và những điều kiện sống công bằng của người lao động, đánh dấu sự khởi đầu của Học thuyết Xã hội Công giáo hiện đại.” Đây là một trong bốn chủ đề được đề xuất cho các bạn trẻ Gwangju, cùng với Sứ mạng, Ơn gọi và Giáo dục tình cảm.

Nhìn lại những biến cố diễn ra tại Tổng Giáo phận vào tháng 5 năm 1980, khi một cuộc nổi dậy chống lại chế độ Chun Doo-hwan bùng nổ, Cha Son đã điểm lại hành trình của cộng đoàn Giáo hội thời bấy giờ và lập trường của Tổng Giáo phận. Tổng Giáo phận đã chọn “không giữ im lặng” và “bảo vệ phẩm giá con người”, lên án những tình trạng bóc lột và tổ chức các buổi cầu nguyện giữa làn sóng bắt bớ và tra tấn. Nhắc lại những biến cố ngày 18 tháng 5, khi cuộc đàn áp dẫn đến biến cố được gọi là “Thảm sát Gwangju”, các bạn trẻ được mời gọi suy tư “về cách thức và vai trò của Giáo hội trong việc cùng chung sống giữa thế giới”, giúp họ “phân định mình phải đứng ở đâu trong thế giới đang đau khổ hôm nay” và “nhận ra những nơi mà phẩm giá con người đang bị xâm phạm hiện nay, đồng thời tự hỏi bản thân phải đáp lại như thế nào”.

Hành trình hướng tới WYD Seoul đang được định hình qua nhiều sáng kiến khác nhau tại Hàn Quốc và những nơi khác. Sau khi bài thánh ca chính thức của WYD được công bố (xem Fides, 4/8/2026), trang tin Catholic Internet Good News của Tổng Giáo phận Seoul đã ra mắt ứng dụng “Catholic Prayer”, cho phép người dùng cầu nguyện, suy niệm và tìm kiếm thông tin về các đền thánh. Cũng trong tháng 8, nhóm quảng bá WYD đã bộ hành trên con đường Camino de Santiago tại Tây Ban Nha để quảng bá cho WYD 2027 tại Seoul, tổ chức các buổi biểu diễn, phát tờ rơi và trình diễn các điệu múa truyền thống cùng K-pop trên đường phố. Từ ngày 5 đến ngày 10 tháng 8, các thành viên trong nhóm đã thu hút khoảng 4.000 người hành hương tham gia các hoạt động của họ.

Ngoài ra, lần đầu tiên trong lịch sử WYD, các hướng dẫn dành riêng cho việc bảo vệ trẻ vị thành niên và người trưởng thành dễ bị tổn thương sẽ được ban hành riêng, tách biệt khỏi các biện pháp an ninh chung. Được soạn thảo với sự đóng góp của Ủy ban Giáo hoàng về Bảo vệ Trẻ vị thành niên và các nhà chức trách Giáo hội địa phương, tài liệu này sẽ giải thích những hậu quả của các hành vi không phù hợp, đồng thời xét đến các quy trình pháp lý của Hàn Quốc.

Thành phố Gwangju từng là tâm điểm của cuộc nổi dậy và cuộc đấu tranh chống chế độ độc tài quân sự. Khi quân đội đàn áp dữ dội các cuộc biểu tình vào ngày 18 tháng 5 năm 1980, người dân, sinh viên và công nhân đã đứng lên đòi chấm dứt chế độ cai trị độc tài. Cách nhìn nhận về “Phong trào Dân chủ hóa ngày 18 tháng 5” đã thay đổi theo thời gian, từ chỗ chính thức bị mô tả là một “cuộc nổi dậy do cộng sản xúi giục”, đến khi trở thành một biểu tượng quốc gia về sự hy sinh cho dân chủ và nhân quyền. Cuộc giải phóng này gắn liền với “Gwangbokjeol” (광복절), Ngày Giải phóng, được kỷ niệm vào ngày 15 tháng 8 để tưởng niệm việc Hàn Quốc được giải phóng khỏi ách cai trị thực dân của Nhật Bản vào ngày 15 tháng 8 năm 1945.

“Sự giải phóng hoàn toàn vẫn là một nhiệm vụ mà chúng ta phải tiếp tục hoàn thành,” Tổng thống Lee Jae-myung nói trong lời kêu gọi đối thoại gần đây với Bắc Triều Tiên, được đưa ra nhân dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Giải phóng vào ngày 15 tháng 8. Nhắc đến di sản của Gwangju, Tổng thống đã liên kết cuộc đối thoại liên Triều với hành trình lâu dài hướng tới dân chủ đã bắt đầu tại Hàn Quốc vào năm 1980, đồng thời bày tỏ hy vọng rằng cuộc đối thoại đó sẽ giúp tiến thêm những bước mới hướng tới sự chung sống hòa bình.
(Hãng tin Fides, 17/8/2026)


[Nguồn: fides.org]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 18/08/2026]



7 điều cần biết về Thánh Clare Assisi, bổn mạng ngành truyền hình

7 điều cần biết về Thánh Clare Assisi, bổn mạng ngành truyền hình

Giáo hội Công giáo mừng lễ Thánh Clare Assisi vào ngày 11 tháng 8.

7 điều cần biết về Thánh Clare Assisi, bổn mạng ngành truyền hình
Thánh Clara Assisi trên hàng cột các thánh tại Vatican. | Nguồn ảnh: Nick_Nick/Shutterstock

Francesca Pollio Fenton

11 tháng 08, 2026 at 4:00 AM ET 

Ngày 11 tháng 8, Giáo hội Công giáo mừng kính Thánh Clare Assisi, một trong những vị thánh được yêu mến nhất thời Trung Cổ. Được biết đến nhiều nhất trong vai trò là Đấng sáng lập Dòng Clare Khó nghèo và là người bạn thân thiết của Thánh Phanxicô Assisi, cuộc đời của thánh nữ được ghi dấu bởi sự tín thác tuyệt đối vào Thiên Chúa, lòng sùng kính Thánh Thể sâu sắc và lòng can đảm phi thường.
Dưới đây là bảy điều cần biết về người phụ nữ mà chứng tá của ngài vẫn tiếp tục truyền cảm hứng cho người Công giáo sau hơn 800 năm:


1. Thánh nhân xuất thân từ một gia đình quý tộc giàu có — nhưng đã từ bỏ mọi sự.

Thánh Clare sinh tại Assisi, Ý, ngày 16 tháng 7 năm 1194, trong một gia đình quý tộc danh giá bậc nhất thành phố. Khi còn là một thiếu nữ, ngài được nuôi dạy trong cảnh nhung lụa và được dự định sẽ kết hôn với một gia đình giàu có khác.

Tuy nhiên, sau khi nghe Thầy Phanxicô — người mà sau này được biết đến là Thánh Phanxicô Assisi — thuyết giảng về việc sống Tin Mừng với sự đơn sơ triệt để, Clare cảm nhận được tiếng gọi hiến dâng trọn vẹn đời mình cho Đức Kitô. Năm 18 tuổi, vào đêm Chúa Nhật Lễ Lá năm 1212, ngài bí mật rời bỏ gia đình để bắt đầu đời sống mới trong sự nghèo khó.
Gia đình ngài đã cố dùng vũ lực để đưa ngài về nhà, nhưng Clare kiên quyết từ chối và cắt tóc như một dấu chỉ cho thấy ngài chỉ thuộc về một mình Thiên Chúa.


2. Thánh nhân sáng lập Dòng Thánh Clare Khó nghèo.

Với sự hướng dẫn của Thánh Phanxicô, Clare đã thành lập một cộng đoàn nữ tại nhà thờ San Damiano, bên ngoài Assisi; cộng đoàn này về sau được biết đến là Dòng Thánh Clare Khó nghèo. Cuối cùng, ngài trở thành đan viện trưởng và lãnh đạo đan viện hơn 40 năm.

Dù có nhiều điểm tương đồng, Dòng Phanxicô và Dòng Thánh Clare Khó nghèo vẫn có những khác biệt đặc thù.

Dòng Phanxicô, do Thánh Phanxicô Assisi thành lập năm 1209, gồm những nam tu sĩ được mời gọi sống Tin Mừng qua sự khó nghèo, tình huynh đệ và phục vụ; thường thi hành mục vụ tại các giáo xứ, trường học, vùng truyền giáo và các hoạt động bác ái trên khắp thế giới. Dòng Thánh Clare Khó nghèo, được Thánh Clare Assisi thành lập năm 1212 dưới sự hướng dẫn của Thánh Phanxicô, là một dòng chiêm niệm dành cho nữ, sống đời đan tu, lấy việc cầu nguyện, Bí tích Thánh Thể và đời sống cộng đoàn làm trung tâm.
Trong khi cả hai đều đón nhận lý tưởng Phanxicô về sự đơn sơ và khó nghèo, các tu sĩ Phanxicô chủ yếu hoạt động trong sứ vụ tông đồ, còn các nữ đan sĩ Clare Khó nghèo hiến dâng đời mình để nâng đỡ Giáo hội qua đời sống cầu nguyện và chiêm niệm.


3. Ngài là người phụ nữ đầu tiên viết một luật dòng được giáo hoàng phê chuẩn.

Một trong những đóng góp quan trọng nhất của Thánh Clare cho Giáo hội là soạn Luật Dòng Thánh Clare Khó nghèo. Trong khi nhiều cộng đoàn nữ tu thời đó tuân theo những luật dòng được chuyển biên từ các truyền thống đan tu có sẵn, Thánh Clare muốn gìn giữ đặc sủng riêng biệt mà ngài đã đón nhận cùng với Thánh Phanxicô.

Trong nhiều thập niên, Thánh Clare đã chống lại sức ép từ các nhà chức trách Giáo hội nhằm thay đổi lối sống của cộng đoàn bằng việc tiếp nhận tài sản hoặc các khoản hiến tặng tài chính. Thay vào đó, ngài cẩn trọng soạn thảo một luật dòng phản ánh lý tưởng Phanxicô, đồng thời đưa ra những chỉ dẫn thực tiễn cho đời sống cộng đoàn, việc cầu nguyện, quản trị và việc tuân giữ luật nội cấm của các nữ đan sĩ.

Ngày 9 tháng 8 năm 1253, chỉ hai ngày trước khi Clare qua đời, Đức Giáo hoàng Innocentê IV đã chính thức phê chuẩn luật dòng của ngài, khiến ngài trở thành người phụ nữ đầu tiên trong lịch sử Giáo hội viết một luật dòng được Đức Giáo hoàng phê chuẩn.
Tu luật này vẫn là nền tảng của các cộng đoàn Dòng Clare Nghèo khó trên toàn thế giới và là minh chứng bền vững về khả năng lãnh đạo thiêng liêng cùng sự gắn bó kiên định của Thánh Clare với tầm nhìn của Thánh Phanxicô.


4. Ngài có lòng sùng kính Thánh Thể phi thường.

Có lẽ không có khía cạnh nào trong linh đạo của Thánh Clare nổi bật hơn lòng yêu mến của ngài dành cho Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể. Thánh nữ đã dành hàng giờ cầu nguyện trước Thánh Thể và khuyến khích các chị em đặt sự hiện diện đích thực của Đức Kitô làm trung tâm đời sống.

Lòng sùng kính Thánh Thể này trở nên đặc biệt rõ nét trong một sự kiện nổi tiếng nhất cuộc đời ngài.
Một trong những câu chuyện được biết đến nhiều nhất về Thánh Clare xảy ra khi những lính đánh thuê Saracen xâm lược đe dọa tu viện San Damiano. Dù đang lâm bệnh nặng, Clare xin đem Mình Thánh Chúa đến cho ngài. Cầm mặt nhật trước những kẻ tấn công, ngài cầu xin sự bảo vệ của Thiên Chúa, và quân xâm lược đã tháo chạy.


5. Ngài là bổn mạng của ngành truyền hình.

Vào cuối đời, bệnh tật khiến Clare không thể tham dự Thánh lễ. Theo truyền thống, thánh nữ đã được ơn phép lạ có thể nhìn thấy và nghe được Thánh lễ Đêm Giáng sinh năm 1252 đang cử hành trên bức tường căn phòng của ngài trong tu viện. Vì biến cố siêu nhiên phi thường này, Đức Giáo hoàng Piô XII đã tuyên bố ngài là bổn mạng của ngành truyền hình vào năm 1958.


6. Ngài và Thánh Phanxicô có một tình bạn đặc biệt nhất trong lịch sử Giáo hội.

Tình bạn giữa Thánh Clare và Thánh Phanxicô Assisi là một trong những mẫu gương bền vững nhất về tình bạn thánh thiện trong lịch sử Giáo hội. Mặc dù Thánh Phanxicô giữ vai trò then chốt trong việc phân định của Thánh Clare và là nguồn cảm hứng để thánh nữ đón nhận đời sống khó nghèo, mối tương quan của họ được ghi dấu bởi sự tôn trọng lẫn nhau và cùng chung khát khao bước theo Đức Kitô vượt trên mọi sự. Thánh Phanxicô đã trao phó cho Thánh Clare việc thành lập và lãnh đạo cộng đoàn tại San Damiano, trong khi Clare vẫn là người gìn giữ trung kiên đặc sủng Phanxicô, nhất là sau khi Thánh Phanxicô qua đời năm 1226.
Dù sống những ơn gọi riêng biệt, hai vị vẫn duy trì một mối liên kết thiêng liêng sâu sắc, bén rễ trong cầu nguyện, khiêm nhường và phục vụ Tin Mừng. Hơn tám thế kỷ sau, gương sáng của các ngài vẫn tiếp tục truyền cảm hứng cho các tín hữu nam nữ nâng đỡ nhau trong việc trung thành đáp lại tiếng gọi của Thiên Chúa.


7. Ảnh hưởng của thánh nữ vẫn tiếp tục hơn 800 năm sau.

Ngày 11 tháng 8 năm 1253, Clare qua đời ở tuổi 59. Ngài được Đức Giáo hoàng Alexander IV phong hiển thánh ngày 26 tháng 9 năm 1255.

Hơn 800 năm sau khi rời khỏi gia đình để bước theo Đức Kitô, chứng tá của Thánh Clare vẫn tiếp tục vang vọng nơi người Công giáo trên toàn thế giới. Lòng tín thác không lay chuyển của ngài vào sự quan phòng của Thiên Chúa, tình yêu sâu sắc đối với Thánh Thể và sự cam kết đối với đời sống đơn sơ vẫn phù hợp hôm nay cũng như vào thế kỷ XIII.

Qua các đan viện Dòng Thánh Clare Nghèo khó, tinh thần cầu nguyện chiêm niệm và khó nghèo của ngài vẫn tiếp tục sống mãi, với hàng ngàn nữ tu hiến dâng đời mình để cầu nguyện cho các nhu cầu của Giáo hội và thế giới.

Hiện nay, có khoảng 20.000 đan sĩ Dòng Thánh Clare trên toàn thế giới. Họ sống trong hơn 500 đan viện tại hơn 70 quốc gia.


[Nguồn: ewtnnews]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 13/08/2026]