Thứ Hai, 31 tháng 8, 2026

Phóng viên trải qua một đêm bên trong ngôi thánh đường linh thiêng nhất của Giêrusalem cùng với các giáo sĩ và khách hành hương

Phóng viên trải qua một đêm bên trong ngôi thánh đường linh thiêng nhất của Giêrusalem cùng với các giáo sĩ và khách hành hương

Giovanna Dell'Orto

26 tháng 8, 2026 | Associated Press

Phóng viên trải qua một đêm bên trong ngôi thánh đường linh thiêng nhất của Giêrusalem cùng với các giáo sĩ và khách hành hương

Các tín hữu Chính Thống giáo cầm nến trong nghi thức Lửa Thánh tại Nhà thờ Mộ Thánh ở Thành Cổ Giêrusalem, thứ Bảy, ngày 11 tháng 4, 2026. (Ảnh: Mahmoud Illean/AP.)

GIÊRUSALEM — Những cánh cửa khổng lồ được đóng lại, các chốt cửa kêu lách cách được cài từ bên ngoài, và một số giáo sĩ, khách hành hương cùng một phóng viên — là tôi — bị khóa qua đêm bên trong một trong những thánh địa linh thiêng nhất của Kitô giáo tại Giêrusalem.

Nhà thờ Mộ Thánh được xây dựng trên những địa điểm mà các Kitô hữu tin rằng Chúa Giêsu đã chịu đóng đinh, được mai táng và sống lại từ cõi chết.

Qua nhiều thế kỷ, khi các nhà cầm quyền Hồi giáo cai quản vùng đất này và những biến động chính trị làm thay đổi sự ảnh hưởng của các quyền lực tôn giáo, một thỏa thuận đã hình thành, rất đặc thù cũng như kiến trúc hòa trộn của chính ngôi thánh đường. Ngày nay, Giáo hội Tông truyền Armenia, Giáo hội Công giáo và Giáo hội Chính Thống Hy Lạp cùng chia sẻ quyền sở hữu không gian thờ tự này.

Tôi nhìn qua một khe cửa nhỏ khi đại diện của một gia đình Hồi giáo — họ được ủy thác giữ chìa khóa của vương cung thánh đường từ thế kỷ 13 — trèo lên chiếc thang gỗ nhỏ để với tới then chốt cửa phía trên. Sau đó, ông đưa chiếc thang trở lại qua chính khe cửa đó, và một linh mục Chính Thống Hy Lạp cũng khóa cửa lại. Một người khác chúc chúng tôi bằng tiếng Anh: “Chúc ngủ ngon!” trước khi nhanh chóng rời đi.

Hầu như mỗi đêm, từ 9 giờ tối đến lúc rạng sáng, khi cửa được mở lại với nghi thức tương tự, khoảng một chục linh mục, một số ít khách hành hương đã đăng ký và vài con mèo cùng chia sẻ không gian rộng lớn, âm u của vương cung thánh đường.

Trong khi các linh mục và một vài nữ tu nhanh chóng nghỉ ngơi hoặc thực hiện các công việc bổn phận, những người khách chúng tôi phải mất một vài phút thinh lặng, suy niệm mới quyết định được sẽ bắt đầu rảo bước từ đâu trong không gian quanh co như mê cung được tôn kính này.

Một trải nghiệm cầu nguyện độc đáo tại ngôi thánh đường linh thiêng nhất của Giêrusalem

Peter Stängle, một khách hành hương đến từ Brazil, liên tục quỳ gối cầu nguyện. Hai bắp tay đầy hình xăm và trán ông áp trên Phiến đá xức dầu (Stone of the Unction), nơi được tin rằng xác của Chúa Giêsu được chuẩn bị trước khi mai táng.

Ông nói, “Có rất nhiều điều đang diễn ra trong tâm trí tôi — những điều tôi đã sai phạm trong đời, liệu có ơn cứu độ cho tất cả mọi người không, có thể cho cả tôi nữa?”

Ban ngày, ông bị xao nhãng bởi dòng người đến viếng — dù số lượng đã giảm đi rất nhiều so với trước đại dịch COVID-19, cuộc chiến Israel-Hamas và cuộc chiến Iran làm suy yếu trầm trọng ngành du lịch — đến mức ông từng tính đến việc ẩn mình vào một trong rất nhiều các nhà nguyện phụ khi đến giờ đóng cửa. Sau đó, ông phát hiện ra mình chỉ cần đăng ký để được ở lại cầu nguyện suốt đêm trong nhà thờ.

Khu phức hợp này phần lớn được xây dựng vào thời Trung cổ trên những địa điểm đã được tôn kính từ thế kỷ IV. Với các công trình trùng tu và bổ sung vẫn đang được tiến hành, những bước chân của chúng tôi vang vọng trên những phiến đá có tuổi đời hàng thiên niên kỷ, trong khi những bức tranh khảm trên tường của thế kỷ XX sáng lấp lánh.

Đây là một công trình nhiều tầng, quanh co, được trang trí theo những phong cách khác nhau của các hệ phái sử dụng chung nơi này. Ngoài những bàn thờ riêng, tất cả các khách hành hương đều thường viếng ba địa điểm — Đá xức dầu, nhà nguyện xây dựng trên phần mộ của Chúa Giêsu, và nhà nguyện trên đồi Canvê, nơi theo truyền thống, một phiến đá đánh dấu vị trí dựng thập giá của Chúa Giêsu.

Phóng viên trải qua một đêm bên trong ngôi thánh đường linh thiêng nhất của Giêrusalem cùng với các giáo sĩ và khách hành hương

Một Kitô hữu hôn Đá xức dầu, phiến đá theo truyền thống được cho là nơi xác Chúa Giêsu được chuẩn bị để mai táng, tại Nhà thờ Mộ Thánh, nơi nhiều Kitô hữu tin rằng Chúa Giêsu đã chịu đóng đinh, được mai táng và sống lại từ cõi chết, tại Thành cổ Giêrusalem, vào Thứ Sáu Tuần Thánh, ngày 29 tháng 3, 2024. (Ảnh: Leo Correa/AP.)

Stängle và tôi ngồi đối diện với nơi ấy trong một thời gian dài. Chỉ có một số ít đèn dầu chập chờn trong bóng tối của những không gian thờ phượng của Công giáo và Chính Thống giáo Hy Lạp nằm cạnh nhau, với những vách ngăn bằng kính phân chia phiến đá dành cho việc thờ phượng của các tín đồ mỗi bên.

Chúng tôi cũng chạm mặt nhau trước Nhà nguyện Mộ Thánh (Holy Edicule), ngôi nhà nguyện bằng đá cẩm thạch được dựng trên ngôi mồ của Chúa Giêsu. Ba khách hành hương Armenia ngồi trang nghiêm phía trước cho đến khi một con mèo thong thả bước tới và cuộn tròn dưới chân họ, gần như chạm vào các hạt của chuỗi Mân côi mà một phụ nữ trùm khăn trắng đang cầm trên tay.

Các truyền thống Kitô giáo khác nhau cùng chia sẻ những không gian thờ phượng linh thiêng

Chính tại Nhà nguyện Mộ Thánh này, mỗi đêm vào khoảng nửa đêm, sau tiếng chuông ngân, các giờ kinh phụng vụ đầu tiên bắt đầu được cử hành khi các giáo sĩ của đền thánh bắt đầu cầu nguyện và kết thúc vào khoảng 6 giờ sáng. Đó cũng thường là lúc những người ở lại qua đêm như chúng tôi được ra ngoài, và các tín hữu đến cầu nguyện ban ngày có thể bước vào.

Cha Giuseppe Gaffurini nói rằng lòng tôn kính ấy “làm phong phú cho vương cung thánh đường”.

“Anh vẫn có thể hít thở bầu khí hiện diện của Đấng đã chịu đóng đinh và sống lại từ cõi chết,” cha Gaffurini nói, ngài đứng đầu cộng đoàn đan tu gồm 10 tu sĩ Phanxicô sống trong những căn phòng phía trên khu vực thuộc Công giáo của nhà thờ.

Vị linh mục người Ý than phiền vì các cuộc xung đột đang diễn ra đã ngăn cản hàng trăm ngàn khách hành hương không thể tham dự các nghi thức tại vương cung thánh đường. Cha thường ngưỡng mộ lòng đạo đức của họ — những người chạm vào hoặc hôn những phiến đá lịch sử lạnh giá, và những người ôm lấy nhau trong nước mắt.

Cha nhớ lần đầu tiên đến đây để hát trong một số nghi thức phụng vụ ban đêm, cách đây 15 năm. Cha đã khấn dòng ba thập niên trước đó, nên ngài không mong chuyến đi sẽ trở thành một trải nghiệm làm thay đổi cuộc đời — nhưng trải nghiệm ấy quá mãnh liệt đến mức Cha đã không rời khỏi nơi đây.

“Niềm vui của cuộc gặp gỡ tại mộ của Đấng Phục sinh xóa tan cả một đời mệt mỏi và lại đưa anh tiến bước,” cha Gaffurini nói.

Sau đó, Cha trở về phòng để ngủ vài giờ trước khi các nghi thức ban mai của các tu sĩ Phanxicô bắt đầu, chiếc áo dòng màu nâu của ngài khuất dần vào không gian chỉ được soi sáng bằng ánh nến.

Phóng viên trải qua một đêm bên trong ngôi thánh đường linh thiêng nhất của Giêrusalem cùng với các giáo sĩ và khách hành hương

Một linh mục đóng cửa Nhà thờ Mộ Thánh vào ban đêm tại Giê usalem, thứ Năm, ngày 17 tháng 5, 2012. (Ảnh: Dusan Vranic/AP.)

Một tu sĩ cùng dòng đến từ Guinea-Bissau là người thức dậy đầu tiên trong dòng Công giáo. Thầy rung chuông và mở cửa nhà nguyện Mình Thánh Chúa (Blessed Sacrament) của Công giáo — nơi các tu sĩ Phanxicô đã thờ phượng suốt 700 năm qua — để các linh mục thuộc nghi lễ Chính Thống Hy Lạp, Armenia và Coptic có thể xông hương tại đó trong chuyến đi quanh những điểm thánh thiêng bên trong nhà thờ vào khoảng nửa đêm. Các giáo sĩ Chính Thống giáo Ethiopia và Syria cũng có quyền ra vào nhà thờ được quy định rõ ràng trong một thỏa thuận từ thế kỷ XIX vốn thường gây tranh cãi.

Vị tu sĩ Dòng Phanxicô, một linh mục Chính Thống Hy Lạp và một linh mục Armenia mặc lễ phục đỏ tươi gật đầu chào nhau khi làn khói hương trầm tỏa bay gần Nhà nguyện Mộ Thánh. Sau đó, mỗi người bắt đầu các nghi thức riêng theo thứ tự luân phiên — một sự chung sống hòa hợp, là sự thay đổi đáng hoan nghênh so với những thế kỷ đôi khi xảy ra các cuộc tranh chấp bạo lực về quyền phụng tự tại đây.

“Chúng tôi đang sống trong một giai đoạn đặc biệt tích cực về mối quan hệ với các Giáo hội khác,” Cha Francesco Ielpo nói, ngài là linh mục Dòng Phanxicô trong vai trò Người Canh giữ Đất Thánh (Custos of the Holy Land), quản lý hơn 300 tu sĩ trong khu vực phục vụ tại vương cung thánh đường và nhiều thánh địa khác.

Sự tích cực và hợp tác đó, Cha nói, “tôi tin rằng, là dấu chỉ đầu tiên và quan trọng nhất để thực sự trở thành những ngôn sứ của hòa bình.”

Ban đêm, các giáo sĩ và khách hành hương ở một mình với những suy tư — và đức tin

Trước những cuộc chiến tranh gần đây, mê cung những con hẻm chật hẹp đầy cửa hàng bao quanh nhà thờ bên trong Thành Cổ Giêrusalem thường chật kín những đoàn khách hành hương chen chúc nhau. Trong một chuyến đi đến đây năm 2016, đám đông quá dày đặc đến mức tôi thậm chí không thể bước vào sân lát đá của vương cung thánh đường.

Một nhóm các nhà khảo cổ và một vài nhóm du khách vẫn đến đây hằng ngày, băng qua những lối đi cùng với người Do Thái và Hồi giáo đến cầu nguyện tại các thánh địa chính của họ, cách đó vài trăm mét. Đối với các linh mục, tu sĩ nam nữ Kitô giáo, những người có thể dễ dàng nhận ra qua những bộ tu phục dài, những cuộc chạm trán đó ngày càng trở nên căng thẳng.

Nhưng bên trong nhà thờ, đặc biệt trong sự tĩnh lặng của màn đêm, bạn ở một mình với những suy tư của mình — và đối với các Kitô hữu, với một biểu tượng gần như hữu hình của giáo lý trung tâm của đức tin.

Bạn bị khóa bên trong một không gian mát lạnh, tối tăm, ngay tại nơi Chúa Giêsu đã phải chịu một hình thức hành hình tàn bạo bị đóng đinh trên thập giá. Thế nhưng, đối với các tín hữu, đây cũng chính là nơi trang sử đó được lật sang trang mới — nơi Người chiến thắng sự chết, để lại lời hứa về sự sống đời đời cho những ai tin.

Khi chúng tôi ngồi trên băng ghế bên dưới Nhà nguyện Canvê — đối diện với một linh mục trẻ 17 tuổi người Armenia đang trải qua một trong những đêm đầu tiên ở đây — tôi hỏi Cha Gaffurini liệu mầu nhiệm này còn tác động đến cha sau 15 năm hay không.

“Mười lăm năm?” cha đáp lại ngay. “Mầu nhiệm ấy vẫn sẽ tiếp tục tác động dù có sau 50 năm đi nữa.”


[Nguồn: cruxnow]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 27/08/2026]


Người Philippines là cộng đồng Công giáo chiếm đa số khác thường tại Châu Á

Người Philippines là cộng đồng Công giáo chiếm đa số khác thường tại Châu Á

Trong khi gần như mọi người Philippines đều là người Công giáo được rửa tội, thì chỉ có ba trong số 100 người Châu Á đã được rửa tội. Điều này có ý nghĩa gì?

26/08/2026

Simone Lorenzo-Peckson

Người Philippines là cộng đồng Công giáo chiếm đa số khác thường tại Châu Á

Là người Philippines thường rất dễ bỏ qua một thực tế rằng Công giáo chỉ là một thiểu số rất nhỏ tại Châu Á.

Trong khi người Công giáo chiếm khoảng 80% dân số Philippines, họ chỉ chiếm 3% dân số Châu Á. Nói cách khác, trong khi gần như mọi người Philippines đều là người Công giáo được rửa tội, thì chỉ có ba trong số 100 người Châu Á được rửa tội.

Để so sánh, Châu Mỹ có khoảng 60 người Công giáo trong số 100 người; Châu Âu có khoảng 35 người, Châu Đại Dương khoảng 25, trong khi Châu Phi có khoảng 18. Do đó, Châu Á là khu vực có tỷ lệ Công giáo thấp nhất trên thế giới. Khoảng cách này cho chúng ta thấy còn rất nhiều điều phải làm để rút ngắn lại khoảng cách giữa người Công giáo và người không Công giáo tại Châu Á, như đã được nhấn mạnh tại Đại hội Toàn thể của Liên hội Hội đồng Giám mục Châu Á (FABC) được tổ chức vào tháng 7 vừa qua:

“Như chúng tôi đã cùng nhau phân định, một sự đồng thuận chung nổi bật lên rằng, hơn bao giờ hết, Giáo hội tại Châu Á được kêu gọi trở thành một cầu nối và là người xây dựng cầu cầu thông qua việc không ngừng hoán cải theo tinh thần hiệp hành, đón nhận sự đa dạng phong phú của các nền văn hóa và các dân tộc chúng ta.”


Đôi nét lịch sử

Tầm nhìn này không phải là mới; nó đã xuất hiện ngay từ những ngày đầu của FABC. Khi các Giám mục Châu Á nhóm họp để thành lập liên hội trong chuyến viếng thăm lịch sử của Đức Giáo hoàng Phaolô VI đến Manila năm 1970, các ngài đã ý thức rõ về thách đố mục vụ trước mắt, với tư cách là những mục tử trên một lục địa mà phần lớn là người không theo Kitô giáo. Thay vì theo đuổi một chương trình cải đạo mang tính quyết liệt, các ngài đã chọn con đường mục vụ lấy đối thoại và tình liên đới làm trung tâm – một cách tiếp cận được diễn tả cách hoàn hảo qua hình ảnh xây dựng cầu nối.

Đến năm 1972, FABC chính thức định hình phương thức tiếp cận mang tính tương quan này trong quy chế của mình qua điều được gọi là “Ba cuộc đối thoại”: đối thoại với (1) các nền văn hóa Châu Á, (2) các tôn giáo Châu Á, và (3) người nghèo.

Ngay từ nền tảng thành lập, FABC đã kêu gọi các tín hữu Công giáo Châu Á nhìn nhận những người hàng xóm ngoài Công giáo là anh chị em và là những người bạn lữ khách đồng hành. Niềm tin tưởng cốt lõi này vẫn luôn được duy trì – đã âm vang trong những văn kiện đầu tiên và được tái khẳng định trong đại hội gần đây nhất của các ngài.


“Pakikipagkapwa”: vì sao đối thoại lại cộng hưởng với giá trị sâu sắc này của người Philippines

Niềm vững tin rằng xây dựng sự cộng tác mang lại hiệu quả cao hơn việc nhắm đến mục tiêu cải đạo không chỉ riêng cho người Châu Á. Chẳng hạn, Đức Giáo hoàng Lêô được biết đến là một người cổ vũ mạnh mẽ cho quan điểm này, cũng như các vị tiền nhiệm gần đây của ngài, đặc biệt là Đức Bênêđictô XVI.

Cách tiếp cận này cộng hưởng với bản năng của người Châu Á trong việc xây dựng những mối tương quan hòa hợp. Đối với người Philippines, khuynh hướng này được thể hiện qua giá trị pakikipagkapwa. Xuất phát từ gốc kapwa, có nghĩa là nhìn nhận người khác như một con người có cùng phẩm giá và nhân tính như chính mình, pakikipagkapwa chính là hình thức xây dựng cầu nối theo hình thức trực quan nhất. Khi chúng ta đến với những người hàng xóm ngoài Công giáo bằng sự tôn trọng và tình liên đới, chúng ta mở ra những con đường cho sự hợp tác và tình bằng hữu sâu sắc hơn.

Tuyên bố bế mạc của FABC khẳng định với các tín hữu Công giáo Châu Á rằng việc đến với những người thuộc các tôn giáo khác bằng sự tôn trọng và tình liên đới không làm tổn hại đến căn tính Công giáo, nhưng đúng hơn là hướng trở lại cốt lõi căn tính của chúng ta với tư cách là những môn đệ của Đức Giêsu. Là những môn đệ của Đức Kitô, chúng ta được mời gọi nhận ra hình ảnh của Ngài nơi mỗi con người, bất kể tín ngưỡng hay văn hóa, và trở nên hiện thân của chính cây cầu mà Ngài là:

"Chúng tôi rời Đại hội này với một niềm tin tưởng được đổi mới rằng chính Đức Kitô là Cầu nối sống động giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa và nhân loại, giữa các dân tộc, và giữa nhân loại với ngôi nhà chung của chúng ta. Đối với chúng ta, bước theo Ngài là trở thành những nhịp cầu và những người xây dựng cầu nhân danh Ngài, trong chính thời đại và môi trường sống của chúng ta."


Đường hầm nối liền nhà thờ chánh tòa và đền thờ Hồi giáo

Trong thời gian ở Jakarta, các tham dự viên Đại hội toàn thể FABC đã đi bộ qua Đường hầm Hữu nghị (Tunnel of Friendship), nối Nhà thờ Chánh tòa Jakarta với Đền thờ Hồi giáo Istiqlal – một biểu tượng vật chất nổi bật về ơn gọi của người Công giáo là xây dựng những nhịp cầu nối với các dân tộc thuộc các niềm tin khác nhau.

Sứ mạng xây dựng cầu nối ấy đang được thể hiện cụ thể mỗi ngày trong đời sống của các lao động Philippines tại hải ngoại (OFW), 70% trong số họ đang làm việc tại các xã hội không theo Kitô giáo trên khắp Châu Á và Trung Đông. Họ là những người chăm sóc và bảo mẫu làm việc tại những nơi như Hồng Kông, Singapore và Đài Bắc; là những kỹ sư, y tá và nhân viên phục vụ làm việc tại Dubai và Riyadh.

Thay vì rao giảng trên tòa giảng, họ xây dựng những cây cầu sống động bằng sự hy sinh và lòng trắc ẩn mỗi ngày: kiên nhẫn chăm sóc những người chủ lao động cao tuổi, hy sinh sự thoải mái cá nhân để hỗ trợ gia đình ở quê nhà, phục vụ những người di cư đồng hương và mở rộng lòng hiếu khách chân thành đến tất cả những người họ gặp gỡ.

Chính chứng tá âm thầm này, được nhân lên hàng triệu lần đã tỏ lộ Đức Giêsu mà không cần một bài giảng hay một cuộc tranh luận. Qua lòng nhân hậu bền bỉ và tình liên đới ấm áp, những người Philippines di cư biến nơi làm việc xa lạ thành những không gian gặp gỡ thiêng liêng. Qua họ, Đường hầm Hữu nghị tại Jakarta trở thành một cầu nối hằng ngày được xây dựng bằng chính đời sống con người thể hiện điều các giám mục Châu Á đã hình dung:

“Tại Châu Á, một lục địa được chúc phúc với những nền văn minh cổ xưa, các tôn giáo lớn đầy sức sống và những dân tộc trẻ trung, chúng ta được kêu gọi trở thành những cầu nối và những người xây dựng cầu: những cây cầu của lòng tin và đối thoại nơi người khác dựng lên những bức tường nghi kỵ; những cây cầu hòa bình nơi bạo lực và xung đột chia rẽ các cộng đồng; những cây cầu của lòng trắc ẩn nơi người nghèo, những người dễ bị tổn thương và những người bị loại trừ khao khát phẩm giá; và những cây cầu hy vọng cho những người trẻ đang tìm kiếm ý nghĩa giữa những biến đổi của xã hội và công nghệ diễn ra nhanh chóng, sự phân mảnh toàn cầu và cuộc khủng hoảng sinh thái đang đe dọa ngôi nhà chung của chúng ta.”


Sâu sắc hơn và rộng lớn hơn những gì chúng ta thường nghĩ

Lời kêu gọi xây dựng những nhịp cầu của các giám mục mời gọi chúng ta đi vào cách hiểu về sứ mạng sâu sắc hơn và rộng lớn hơn.

Sâu sắc hơn, bởi vì điều đó đặt sứ mạng Kitô giáo trên nền tảng của tập quán lắng nghe chăm chú: lắng nghe Thiên Chúa trong cầu nguyện và phân định Thánh Thần khi Người nói qua những người khác.

Rộng lớn hơn, bởi vì nó mở rộng tầm nhìn của chúng ta để ôm trọn lấy tình liên đới, tình bằng hữu và sự hợp tác. Qua đại hội, các giám mục nhắc nhở toàn thể tín hữu Công giáo rằng mục đích của một tâm hồn truyền giáo không chỉ là mời gọi những người chưa tin đón nhận Bí tích Rửa tội; mà còn là đồng hành và phục vụ họ.

Đây là lý do tại sao tính hiệp hành lại vô cùng quan trọng đối với công cuộc của Giáo hội tại Châu Á. Tính hiệp hành cung cấp một khuôn khổ mục vụ để tương quan với những người anh chị em ngoài Kitô giáo theo cách tôn trọng các giá trị văn hóa về sự kính trọng và hòa hợp. Tuy nhiên, trước khi có thể cùng lữ hành bên cạnh họ, các giám mục cũng nhắc nhở chúng ta rằng trước hết, chúng ta phải để Chúa Thánh Thần hoán cải tâm hồn của chính chúng ta. Các ngài nhắc chúng ta rằng để công cuộc loan báo Tin Mừng sinh nhiều hoa trái tại Châu Á cũng như ở bất cứ nơi nào khác, chúng ta phải bắt đầu sự biến đổi này từ chính bản thân và từ những mối tương quan hiện tại của mình:

“Trong suốt những ngày cầu nguyện, lắng nghe, thinh lặng và đàm đạo trong Thánh Thần, chúng tôi một lần nữa cảm nghiệm rằng tính hiệp hành không đơn thuần là một phương pháp làm việc cùng nhau; trên hết, đó là một con đường hoán cải hướng đến sứ mạng. Trước khi biến đổi các cơ cấu của chúng ta, tính hiệp hành biến đổi tâm hồn chúng ta. Trước khi đổi mới các thể chế của chúng ta, nó đổi mới các mối tương quan của chúng ta.”

Sự thật này sẽ vang vọng vượt ra ngoài phạm vi Công giáo. Mahatma Gandhi đã trực cảm thấy điều tương tự khi ông viết:

“Chúng ta chỉ là tấm gương phản chiếu thế giới. Mọi khuynh hướng hiện diện trong thế giới bên ngoài đều được tìm thấy trong thế giới nơi thể xác của chúng ta. Nếu chúng ta có thể thay đổi chính mình, những khuynh hướng trong thế giới cũng sẽ thay đổi... Chúng ta không cần phải chờ xem người khác làm gì.”

Tính hiệp hành làm nổi bật những hiệu quả cộng đồng của nhận thức này: sự đổi mới mà mỗi người cảm nghiệm nơi chính bản thân phải lan tỏa ra bên ngoài vào đời sống của những người chung quanh. Hoán cải không nhằm để chúng ta trở nên những con người đơn độc. Hoán cải mời gọi mỗi người Kitô hữu vượt qua các rào cản, cùng bước đi bên nhau và khích lệ mọi người chúng ta gặp gỡ tiến đến gần hơn với Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng nên tất cả chúng ta.

Sau cùng, cuộc lữ hành chung này chính là cây cầu sống động mà Châu Á đang cần nhất.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 27/08/2026]