Thứ Tư, 2 tháng 7, 2025

Thông điệp của Đức Thánh Cha Lêô XIV gửi các tham dự viên Khóa họp thứ 44 của Hội nghị Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp, ngày 30.06.2025

Thông điệp của Đức Thánh Cha Lêô XIV gửi các tham dự viên Khóa họp thứ 44 của Hội nghị Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp, ngày 30.06.2025

Thông điệp của Đức Thánh Cha Lêô XIV
gửi các tham dự viên Khóa họp thứ 44 của Hội nghị Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp, ngày 30.06.2025

*******

Thưa Ngài Chủ tịch,

Thưa Ngài Tổng Giám đốc FAO,

Thưa Quý vị Hữu trách,

Thưa Quý ông, quý bà:

Tôi rất biết ơn vì lần đầu tiên có cơ hội ngỏ lời với Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), năm nay kỷ niệm 80 năm thành lập. Tôi xin gửi lời chào thân ái đến tất cả quý vị tham dự Khóa họp thứ 44 của Hội nghị, cơ quan lãnh đạo tối cao của tổ chức này, và đặc biệt là Ngài Tổng Giám đốc Qu Dongyu, để bày tỏ lòng cảm kích đối với những công việc mà Tổ chức đang thực hiện hằng ngày nhằm tìm kiếm những giải pháp thỏa đáng cho vấn đề mất an ninh lương thực và suy dinh dưỡng, đây vẫn là một trong những thách đố lớn nhất của thời đại chúng ta.

Giáo hội luôn khuyến khích mọi sáng kiến nhằm chấm dứt thảm cảnh của nạn đói trên thế giới, và thể hiện những tình cảm của Chúa Giêsu, như các sách Tin mừng thuật lại, khi thấy đoàn lũ đông đảo đến để lắng nghe lời Ngài, trước hết Ngài quan tâm đến việc cho họ ăn, và vì mục đích này, Ngài đã yêu cầu các môn đệ đảm nhận việc đó, đồng thời chúc lành dư đầy cho những nỗ lực họ đã thực hiện (x. Ga 6:1-13). Tuy nhiên, khi đọc lại trình thuật về biến cố thường được gọi là “phép lạ hóa bánh ra nhiều” (x. Mt 14:13-21; Mc 6:30-44; Lc 9:12-17; Ga 6:1-13), chúng ta nhận ra rằng phép lạ thật sự do Đức Kitô thực hiện là để cho thấy điểm mấu chốt để vượt qua nạn đói nằm ở sự chia sẻ chứ không phải là sự tích trữ tham lam. Đây là điều mà ngày nay chúng ta dường như đã quên, vì dù đã có một số bước tiến đáng kể được thực hiện, nhưng tình trạng an ninh lương thực toàn cầu vẫn tiếp tục xấu đi, khiến mục tiêu “Không còn nạn đói” trong Chương trình Nghị sự 2030 ngày càng khó đạt được. Nó cho thấy chúng ta còn xa mới hoàn thành được nhiệm vụ được giao phó cho tổ chức liên chính phủ này kể từ năm 1945.

Có biết bao người đau khổ tột cùng và mong mỏi những giải pháp giải quyết cho những nhu cầu của họ. Chúng ta biết rõ rằng họ không thể tự mình giải quyết được những vấn đề đó. Thảm kịch triền miên của nạn đói và suy dinh dưỡng lan rộng, vẫn tồn tại dai dẳng tại nhiều quốc gia ngày nay, lại càng đáng buồn và đáng hổ thẹn hơn khi chúng ta nhận ra rằng, mặc dù trái đất có khả năng sản xuất đủ lương thực cho toàn thể nhân loại, và dù có những cam kết quốc tế về an ninh lương thực, thật đáng buồn là vẫn còn quá nhiều người nghèo trên thế giới không có miếng bánh hằng ngày.

Mặt khác, chúng ta hiện đang chứng kiến với sự thất vọng việc sử dụng nạn đói như một thứ vũ khí chiến tranh cách bất nhân. Đẩy người dân đến chỗ chết đói là một cách rất rẻ tiền để tiến hành chiến tranh. Đó là lý do tại sao ngày nay, khi phần lớn các cuộc xung đột không phải do quân đội chính quy thực hiện mà bởi các nhóm dân sự vũ trang với ít nguồn lực, thì việc đốt phá ruộng đồng và trộm cắp gia súc, ngăn chặn viện trợ nhân đạo đang trở thành những chiến thuật được sử dụng ngày càng nhiều bởi những kẻ tìm cách kiểm soát toàn bộ những người dân không có vũ khí. Vì thế, trong loại hình xung đột này, những mục tiêu quân sự đầu tiên là các hệ thống cung cấp nước và các tuyến đường liên lạc. Người nông dân không thể bán sản phẩm của họ trong môi trường bị đe dọa bởi bạo lực, và lạm phát tăng vọt. Hậu quả dẫn đến là biết bao người phải gánh chịu thảm họa đói kém và chết dần mòn, với hoàn cảnh trầm trọng là trong khi người dân phải chịu cảnh khốn cùng, thì giới lãnh đạo chính trị lại béo bở từ những khoản lợi nhuận xung đột.

Việc trì hoãn giải pháp cho tình trạng tàn khốc này sẽ không giúp ích gì, ngược lại, tình trạng thống khổ và túng quẫn của người nghèo sẽ tiếp tục gia tăng, khiến con đường càng thêm khó khăn và quanh co hơn. Vì thế, mệnh lệnh bắt buộc là phải chuyển từ lời nói sang hành động, tập trung vào những biện pháp hiệu quả giúp những người này có thể nhìn vào hiện tại và tương lai của họ với niềm tin tưởng và thanh thản, chứ không chỉ bằng sự cam chịu, để từ đó chấm dứt kỷ nguyên của những khẩu hiệu và lời hứa hão huyền. Về vấn đề này, chúng ta đừng quên rằng sớm hay muộn chúng ta sẽ phải đưa ra lời giải thích cho các thế hệ tương lai, những người sẽ nhận được di sản của sự bất công và bất bình đẳng nếu ngay từ bây giờ chúng ta không hành động cách khôn ngoan.

Những khủng hoảng chính trị, xung đột vũ trang và bất ổn kinh tế đóng vai trò then chốt trong việc làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng lương thực, cản trở cứu trợ nhân đạo và làm tổn hại đến sản xuất nông nghiệp địa phương, từ đó phủ nhận không chỉ khả năng tiếp cận lương thực mà còn phủ nhận quyền được sống một cuộc sống đúng phẩm giá và có cơ hội. Sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu không chữa lành những vết thương và rạn nứt do nhiều năm ích kỷ và thiển cận gây ra. Tương tự như vậy, nếu không có hòa bình và ổn định, thì không thể bảo đảm cho các hệ thống nông nghiệp và lương thực vững bền, cũng như không thể bảo đảm nguồn cung lương thực lành mạnh, dễ tiếp cận và bền vững cho tất cả mọi người. Do đó, cần phải có đối thoại, nơi các bên liên quan không chỉ sẵn sàng nói chuyện với nhau, mà còn biết lắng nghe nhau, hiểu nhau và cùng nhau hành động. Sẽ không thiếu những trở ngại, nhưng với tinh thần nhân văn và huynh đệ, kết quả đạt được sẽ tích cực.

Các hệ thống lương thực có ảnh hưởng lớn đến biến đổi khí hậu, và ngược lại. Những bất công xã hội do thiên tai và sự mất mát đa dạng sinh học phải được đảo ngược để đạt được một sự chuyển đổi sinh thái công bằng, đặt con người và môi trường vào trung tâm. Để bảo vệ các hệ sinh thái và những cộng đồng thua thiệt, trong đó có các dân tộc bản địa, các chính phủ, các thực thể công và tư, các cơ quan cấp quốc gia và địa phương, cần huy động các nguồn lực nhằm thực hiện những chiến lược đặt ưu tiên cho việc tái tạo đa dạng sinh học và sự phì nhiêu của đất. Nếu không có hành động dứt khoát và phối hợp về khí hậu, sẽ không thể bảo đảm các hệ thống nông nghiệp và thực phẩm đủ khả năng nuôi sống dân số thế giới đang gia tăng. Việc sản xuất lương thực là chưa đủ: điều quan trọng là bảo đảm rằng các hệ thống lương thực phải bền vững, và cung cấp các chế độ ăn uống lành mạnh và giá cả phù hợp cho mọi người. Vì thế, vấn đề là phải suy nghĩ lại và đổi mới các hệ thống lương thực của chúng ta theo tầm nhìn của tinh thần liên đới, gạt bỏ luận lý khai thác cạn kiệt thụ tạo, và định hướng tốt hơn những nỗ lực của chúng ta để canh tác và bảo vệ môi trường cũng như các tài nguyên của nó, để bảo đảm an ninh lương thực và hướng đến chế độ dinh dưỡng đầy đủ và lành mạnh cho tất cả mọi người.

Thưa Ngài Chủ tịch, hiện tại chúng ta đang chứng kiến một sự phân cực rất lớn trong những quan hệ quốc tế do các cuộc khủng hoảng và đối đầu hiện nay. Các nguồn tài chính và công nghệ tiên tiến đang bị chuyển hướng từ việc xóa bỏ nạn đói nghèo trên thế giới sang việc sản xuất và buôn bán vũ khí. Theo đó, các ý thức hệ đáng ngờ được cổ vũ, trong khi các mối quan hệ nhân loại thì nguội lạnh, làm suy yếu sự hiệp thông và bóp nghẹt tình huynh đệ và tình bằng hữu xã hội.

Chưa bao giờ cấp thiết hơn lúc này, chúng ta phải trở thành những người kiến tạo hòa bình làm việc vì ích chung, vì những điều tốt đẹp cho tất cả mọi người chứ không chỉ cho một số ít người. Để bảo đảm hòa bình và phát triển, được hiểu như là sự cải thiện điều kiện sống cho những người dân đang phải chịu đói, chiến tranh và bần cùng, cần có những hành động cụ thể, bắt nguồn từ những hướng đi nghiêm túc và có tầm nhìn xa.

Vì thế, chúng ta phải gạt bỏ những lời hoa mỹ sáo rỗng và với ý chí chính trị vững vàng, như Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói, “giải quyết các cuộc xung đột và từ đó… thúc đẩy bầu khí hợp tác và tin tưởng lẫn nhau nhằm đáp ứng các nhu cầu chung”.[1]

Thưa quý vị, để đạt được mục tiêu cao cả này, tôi muốn bảo đảm với quý vị rằng Tòa Thánh luôn phục vụ cho sự hòa hợp giữa các dân tộc, và sẽ không bao giờ mệt mỏi trong việc hợp tác vì lợi ích chung của gia đình các quốc gia, đặc biệt quan tâm đến những người đau khổ nhất đang chịu cảnh đói khát, cũng như với những vùng miền xa xôi không thể tự mình vực dậy thoát khỏi cảnh khốn cùng do sự thờ ơ của những người mà lẽ ra tình liên đới bền bỉ phải là biểu tượng cho đời sống của họ. Với niềm hy vọng này, và như một tiếng nói đại diện cho tất cả những người đang chịu cảnh bần cùng, tôi khẩn cầu Thiên Chúa Toàn năng ban cho công việc của quý vị sinh nhiều hoa trái, đem lại lợi ích cho những người kém may mắn và cho toàn thể nhân loại.

_______________________________________

[1] Address to members of the Diplomatic Corps accredited to the Holy See (9 January 2023).


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 01/07/2025]


Thứ Hai, 30 tháng 6, 2025

Thánh Lễ và nghi thức làm phép Dây Pallium cho các Tân Tổng Giám mục Chánh tòa trong Lễ trọng kính hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô

Thánh Lễ và nghi thức làm phép Dây Pallium cho các Tân Tổng Giám mục Chánh tòa trong Lễ trọng kính hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô

THÁNH LỄ VÀ NGHI THỨC LÀM PHÉP DÂY PALLIUM CHO CÁC TÂN TỔNG GIÁM MỤC CHÁNH TÒA TRONG LỄ TRỌNG KÍNH HAI THÁNH TÔNG ĐỒ PHÊRÔ VÀ PHAOLÔ

*******

THÁNH LỄ DO ĐỨC THÁNH CHA CHỦ SỰ

BÀI GIẢNG CỦA ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV

Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô, Chúa Nhật ngày 29 tháng Sáu năm 2025

________________________________________


Anh chị em thân mến,

Hôm nay, chúng ta mừng lễ hai vị huynh đệ trong đức tin: Thánh Phêrô và Phaolô, hai vị mà chúng ta tôn vinh như rường cột của Giáo hội, và tôn kính là các thánh bổn mạng của giáo phận cũng như của thành phố Rome.

Câu chuyện của hai Thánh Tông đồ này có nhiều điều muốn nói với chúng ta là cộng đoàn các môn đệ của Chúa, khi chúng ta đang thực hiện cuộc lữ hành trong thế giới hôm nay. Khi suy ngẫm, tôi muốn nhấn mạnh đến hai khía cạnh đặc biệt trong đời sống đức tin của các ngài: hiệp thông trong Hội Thánh và sức sống của đức tin.

Trước hết, là sự hiệp thông trong Hội Thánh. Phụng vụ hôm nay nhắc cho chúng ta rằng Thánh Phêrô và Thánh Phaolô được kêu gọi chia sẻ một định mệnh chung: đó là phúc tử đạo, điều liên kết các ngài một cách trọn vẹn với Đức Kitô. Trong bài đọc thứ nhất, chúng ta thấy Thánh Phêrô đang trong ngục chờ bị xét xử (x. Cv 12:1-11). Còn trong bài đọc thứ hai, Thánh Phaolô, cũng bị xiềng xích, nói với chúng ta như một bản di chúc và ước nguyện sau cùng, rằng máu của ngài sắp được đổ ra để dâng lên Thiên Chúa (x. 2 Tm 4:6-8.17-18). Cả Thánh Phêrô và Phaolô đều sẵn sàng hiến dâng mạng sống vì Tin Mừng.

Tuy nhiên, sự hiệp thông của hai Thánh Tông đồ trong việc tuyên xưng đức tin là hoa trái của một hành trình dài, trong đó mỗi người đã đón nhận đức tin và thi hành sứ vụ Tông đồ theo cách thế riêng. Tình huynh đệ trong Thánh Thần không xóa bỏ lai lịch khác nhau của các ngài: Simon là một ngư phủ miền Galilê, còn Saolê có học thức cao và là thành viên của nhóm Pharisêu. Phêrô lập tức từ bỏ mọi sự để theo Chúa, còn Phaolô thì từng bách hại các Kitô hữu trước cuộc gặp gỡ với Đức Kitô Phục sinh làm biến đổi cuộc đời ngài. Phêrô rao giảng chủ yếu cho người Do Thái, còn Phaolô thì được thúc đẩy để mang Tin Mừng đến cho các dân ngoại.

Như chúng ta biết, giữa hai vị từng có những bất đồng về cách thức đón nhận những người ngoại giáo trở lại, đến mức Thánh Phaolô thuật lại với chúng ta rằng: “Nhưng khi ông Kêpha đến Antiôkhia, tôi đã cự lại ông ngay trước mặt, vì ông đã làm điều đáng trách” (Gl 2:11). Tại Công đồng Giêrusalem, hai vị Tông đồ lại một lần nữa tranh luận về vấn đề này.

Các bạn thân mến, lịch sử của Thánh Phêrô và Thánh Phaolô cho chúng ta thấy rằng sự hiệp thông mà Chúa kêu gọi chúng ta là sự hòa điệu của các tiếng nói và những tính cách, mà không loại trừ quyền tự do của bất kỳ ai. Các thánh bổn mạng của chúng ta đã đi theo những con đường khác nhau, có những quan điểm khác nhau, và đôi khi đã tranh luận với nhau một cách thẳng thắn trên tinh thần Phúc Âm. Nhưng điều đó không cản trở các ngài sống concordia apostolorum, nghĩa là sự hiệp thông sống động trong Thánh Thần, một sự hài hòa hiệu quả trong sự đa dạng. Thánh Augustinô đã nhận xét rằng: “Lễ kính hai Thánh Tông Đồ được cử hành trong cùng một ngày. Hai vị cũng là một. Vì dù chịu tử đạo vào những ngày khác nhau, nhưng các ngài vẫn là một” (Bài giảng 295, 7.7).

Tất cả những điều này mời gọi chúng ta suy tư về bản chất của sự hiệp thông trong Hội Thánh: Được khơi dậy nhờ ơn linh hứng của Chúa Thánh Thần, nó hiệp nhất những khác biệt và xây dựng những nhịp cầu hiệp nhất bằng sự đa dạng phong phú của các đặc sủng, ân ban và thừa tác vụ. Điều quan trọng là chúng ta học biết để trải nghiệm sự hiệp thông theo cách này — nghĩa là hiệp nhất trong đa dạng — để những ân ban khác nhau, được hiệp nhất trong cùng một tuyên xưng đức tin, có thể thúc đẩy việc rao giảng Tin Mừng. Chúng ta được mời gọi kiên trì bước đi trên hành trình này, noi gương Thánh Phêrô và Phaolô, bởi vì tất cả chúng ta đều cần đến tình huynh đệ ấy. Toàn thể Giáo hội cần tình huynh đệ, điều này phải hiện diện trong mọi mối tương quan, dù là giữa giáo dân và linh mục, giữa linh mục và giám mục, giữa các giám mục và Giáo hoàng. Tình huynh đệ cũng rất cần thiết trong việc chăm sóc mục vụ, trong đối thoại đại kết, và trong các mối quan hệ hữu nghị mà Giáo hội mong muốn duy trì với thế giới. Vì thế, chúng ta hãy nỗ lực biến những khác biệt của mình thành một công xưởng của sự hiệp nhất và hiệp thông, của tình huynh đệ và hòa giải, để mọi người trong Giáo hội, mỗi người với lịch sử cá nhân của mình, có thể học biết cách bước đi bên nhau.

Thánh Phêrô và Phaolô cũng thách đố chúng ta suy nghĩ về sức sống của đức tin. Trong đời sống của chúng ta là những người môn đệ, chúng ta luôn có nguy cơ rơi vào lối mòn, theo thói quen, khuynh hướng theo đuổi những chương trình mục vụ xưa cũ mà không trải nghiệm sự canh tân tâm hồn và sẵn sàng đáp ứng trước những thách đố mới. Tuy nhiên, hai Thánh Tông đồ có thể truyền cảm hứng cho chúng ta bằng tấm gương của các ngài về sự cởi mở trước những thay đổi, trước những biến cố mới, những cuộc gặp gỡ và những hoàn cảnh cụ thể trong đời sống cộng đoàn, cũng như bằng sự sẵn sàng xem xét những cách thế tiếp cận mới trong việc loan báo Tin Mừng để đáp lại các vấn nạn và khó khăn do anh chị em trong đức tin của chúng ta nêu lên.

Trọng tâm của Tin Mừng hôm nay là câu hỏi mà Chúa Giêsu đặt ra cho các môn đệ của Ngài. Hôm nay, Ngài cũng hỏi chúng ta câu hỏi ấy, câu hỏi thách đố chúng ta duyệt xét lại đời sống đức tin của chúng ta có còn giữ được năng lượng và sức sống hay không: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” (Mt 16:15).

Mỗi ngày, tại mọi thời điểm trong lịch sử, chúng ta đều phải khắc ghi câu hỏi này trong lòng. Nếu chúng ta không muốn căn tính Kitô hữu của mình bị biến thành một di tích của quá khứ, như Đức Giáo hoàng Phanxicô thường nhắc nhở chúng ta, thì điều hệ trọng là phải vượt qua một đức tin mỏi mệt và trì trệ. Chúng ta cần tự hỏi: Đức Kitô là ai đối với chúng ta hôm nay? Người giữ vị trí nào trong đời sống của chúng ta và trong đời sống của Giáo hội? Làm cách nào chúng ta có thể làm chứng cho niềm hy vọng ấy trong cuộc sống hằng ngày và loan báo nó cho những người chúng ta gặp gỡ?

Anh chị em thân mến, việc thực hành sự phân định khởi đi từ những câu hỏi này có thể giúp đức tin của chúng ta và của Hội Thánh không ngừng được canh tân, và tìm ra những con đường mới và những cách tiếp cận mới để rao giảng Tin Mừng. Điều này, cùng với sự hiệp thông, phải là khát vọng lớn nhất của chúng ta. Hôm nay, tôi muốn nói riêng với Giáo hội tại Rome, vì Giáo hội này hơn ai hết được kêu gọi trở nên dấu chỉ của sự hiệp nhất và hiệp thông, một Giáo hội bừng cháy đức tin sống động, một cộng đoàn các môn đệ làm chứng cho niềm vui và sự an ủi của Tin Mừng ở bất cứ nơi nào con người hiện diện.

Trong niềm vui của sự hiệp thông mà đời sống của hai Thánh Tông đồ mời gọi chúng ta vun trồng, tôi thân ái chào các Đức Tổng Giám mục sẽ lãnh nhận dây Pallium hôm nay. Anh em thân mến, dấu chỉ trách nhiệm mục tử được trao phó cho anh em cũng diễn tả sự hiệp thông của anh em với Giám mục Rome, để trong sự hiệp nhất của đức tin Công giáo, mỗi người trong anh em có thể xây dựng sự hiệp thông trong các Giáo hội địa phương của mình.

Tôi cũng gửi lời chào các thành viên Thượng Hội đồng của Giáo hội Công giáo Hy Lạp Ukraine. Tôi xin cảm ơn sự hiện diện và lòng nhiệt thành mục vụ của anh em. Xin Chúa ban hòa bình cho dân tộc anh em!

Và với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời chào Phái đoàn của Tòa Thượng Phụ Đại kết, được hiền huynh thân yêu của tôi là Đức Thượng phụ Bartholomew, cử đến đây.

Anh chị em thân mến, được củng cố bởi chứng tá của hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô, chúng ta cùng nhau tiến bước trong đức tin và sự hiệp thông, và khẩn xin sự chuyển cầu của các ngài cho chúng ta, cho thành Rome, cho Giáo hội và cho toàn thế giới.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 30/6/2025]