Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2026

CHÂU Á/HÀN QUỐC - “Tôi sẽ chờ các bạn tại Seoul”: Cha Bordo, từ trẻ em đường phố đến Ngày Giới trẻ Thế giới (WYD) 2027, một Giáo hội ra đi để gặp gỡ nhân loại

CHÂU Á/HÀN QUỐC - “Tôi sẽ chờ các bạn tại Seoul”: Cha Bordo, từ trẻ em đường phố đến Ngày Giới trẻ Thế giới (WYD) 2027, một Giáo hội ra đi để gặp gỡ nhân loại

Thứ Tư, ngày 2 tháng 9 năm 2026

CHÂU Á/HÀN QUỐC - “Tôi sẽ chờ các bạn tại Seoul”: Cha Bordo, từ trẻ em đường phố đến Ngày Giới trẻ Thế giới (WYD) 2027, một Giáo hội ra đi để gặp gỡ nhân loại


Seoul (Hãng tin Fides) – “Ước tính có khoảng 250.000 trẻ em đường phố tại Hàn Quốc. Đó là một con số khổng lồ. Vì vậy, chúng tôi tự nói với mình rằng: nếu các em không đến với chúng ta, chúng ta sẽ đi đến với các em.” Đó là cách mà “Azit” ra đời — một phong trào đưa nhân viên và các thiện nguyện viên ra những con đường trong thành phố để tiếp cận với những thanh thiếu niên và trao cho các em một con đường phục hồi và tái hòa nhập xã hội. Cha Vincenzo Bordo, OMI – được biết đến tại Hàn Quốc với tên gọi Cha Kim Ha-jong – đã chia sẻ với Fides về công việc của ngài với những trẻ em đường phố tại Hàn Quốc, “một xã hội đang thay đổi nhanh chóng, nơi những hình thức nghèo khổ mới không ngừng xuất hiện”.

Cha giải thích, “Chúng tôi thành lập phong trào Azit, và từ 4 giờ chiều đến 11 giờ đêm, chúng tôi đi bằng xe buýt đến khắp nơi trong thành phố, tìm kiếm những người trẻ đang sống trên đường phố. Đây là cách làm việc của Thiên Chúa.”

“Tôi đang làm việc để thiết lập Azit tại mọi giáo phận ở Hàn Quốc, và tôi sẽ rất hạnh phúc nếu Azit có thể trở thành một thông điệp cho Giáo hội toàn cầu. Azit chính là phương pháp của Chúa Giêsu. Khi Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ của Người, Người không xây dựng một nhà thờ ở Nadaret rồi chờ người ta đến. Người đã đi ra trên các nẻo đường của Palestine để gặp gỡ con người và ở lại với họ.”

Đây là một trong những kinh nghiệm được thuật lại trong quyển sách Tôi sẽ chờ bạn tại Seoul (I’ll Be Waiting for You in Seoul), cuốn sách mà vị thừa sai Dòng Hiến sĩ Đức Mẹ Vô nhiễm đang giới thiệu tại Ý. Cuốn sách gắn liền với sự kiện trọng đại vào năm tới: Ngày Giới trẻ Thế giới (WYD), sẽ được tổ chức tại Seoul vào tháng 8 năm 2027.

Cha Bordo đã dành 36 năm cho thừa tác vụ mục vụ tại Hàn Quốc, dấn thân phục vụ một số những người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội Hàn Quốc, bao gồm những người vô gia cư, thanh thiếu niên bỏ nhà đi và những người cao tuổi sống cô đơn.

“Kinh nghiệm của Cha Bordo kết nối chặt chẽ với công tác chuẩn bị cho WYD 2027 và với những kỳ vọng xoay quanh việc giới trẻ từ khắp nơi trên thế giới sẽ đến Seoul”, ông Shin Hyung-sik, Đại sứ Hàn Quốc cạnh Tòa Thánh, người tổ chức buổi giới thiệu sách, cho biết. “Chúng tôi hy vọng Ngày Giới trẻ Thế giới tại Seoul không chỉ là một dịp quan trọng cho chuyến viếng thăm Hàn Quốc của Đức Thánh Cha Lêô XIV, mà còn là cơ hội để những người trẻ lớn lên trong đức tin và tham gia vào việc giao lưu văn hóa, quy tụ các bạn trẻ đến từ mọi miền trên thế giới.”

Ông Shin nói thêm, “Chính phủ Hàn Quốc sẽ làm mọi điều cần thiết để bảo đảm WYD được tổ chức thành công và an toàn, để sự kiện này có thể trở thành một thời khắc gặp gỡ và là cơ hội để những người trẻ từ khắp nơi trên thế giới cùng chia sẻ thông điệp hòa bình và tình liên đới.”

“Cùng với Tòa Thánh, chính phủ chúng tôi sẽ tiếp tục thực hiện phần trách nhiệm của mình vì hòa bình trên Bán đảo Triều Tiên và trên toàn thế giới, vì phẩm giá con người và vì công ích”, vị Đại sứ nói.

Đối với Cha Bordo, WYD không thể tách rời khỏi những con phố và những con người mà ngài gặp gỡ mỗi ngày. Cha nói rằng đây chính là trọng tâm phương pháp của Azit: “Chúng ta không nên chờ đợi những người dễ bị tổn thương nhất đến với các cơ cấu của Giáo hội. Chúng ta phải đi ra và gặp gỡ họ tại nơi họ đang sống.”

Đối với vị thừa sai, kinh nghiệm này vượt xa công tác xã hội.

“Nơi những người nghèo, nơi những người cao tuổi sống cô đơn, nơi những người sống trên đường phố, nơi những trẻ em đường phố, và nơi những tình nguyện viên tận tâm phục vụ tha nhân, tôi đã nhìn thấy Thiên Chúa. Tôi đã cảm nhận Người. Tôi đã gặp Người, và Người đã ôm lấy tôi.”

Trong số rất nhiều cuộc gặp gỡ đã định hình sứ vụ của mình, Cha Bordo nhớ đặc biệt một cuộc gặp.

“Một buổi tối tháng Giêng – và vào thời điểm đó trong năm, Hàn Quốc rất lạnh – chúng tôi đeo ba lô, bánh mì kẹp và sữa, đi khắp nơi tìm kiếm những người bạn vô gia cư của mình. Tôi nhớ có một người đàn ông bị bệnh rất nặng. Tôi nói với ông: ‘Tôi rất tiếc vì ông cảm thấy quá đau yếu.’ Và ông trả lời: ‘Không đâu, thưa Cha. Cuộc sống thật đẹp.’”

“Ông là một người vô gia cư nói với một linh mục rằng cuộc sống thật đẹp. Người đàn ông đó đã trở thành một trong những người thầy của tôi. Ông giúp tôi đi sâu hơn vào cuộc sống và khám phá được điều gì mới thực sự quan trọng.”

Kinh nghiệm ấy đã được thể hiện cách cụ thể tại Casa di Anna, một trung tâm được thành lập để đón tiếp và đồng hành với những người đang đối diện với các hoàn cảnh dễ bị tổn thương.

“Casa di Anna phục vụ những người sống trên đường phố, trẻ em, người trẻ, người vô gia cư và người già sống cô đơn. Chúng tôi có nhiều chương trình và sáng kiến khác nhau.”

Mỗi ngày, khoảng 500 suất ăn được phục vụ.

“Đó là bữa tối dành cho những người nghèo. Chúng tôi cũng có phòng tắm, thợ cắt tóc và quần áo cơ bản.”

Trong những năm qua, Casa di Anna đã cung cấp hơn ba triệu suất ăn cho những người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội Hàn Quốc và hỗ trợ hàng ngàn người khi họ nỗ lực xây dựng lại cuộc sống của họ.

Tầng hai có nhiều dịch vụ bổ trợ: “Chúng tôi có một nhóm luật sư, một nhóm bác sĩ và một phòng khám cung cấp thuốc miễn phí. Chúng tôi giúp những người đang tìm việc, hướng dẫn họ và giúp họ tìm được việc làm. Chúng tôi cũng cung cấp phương pháp trị liệu bằng âm nhạc, trị liệu bằng nghệ thuật và nhiều chương trình khác.”

Trung tâm cũng có một khu lưu trú.

“Trên tầng ba, chúng tôi có một khu lưu trú dành cho những người vô gia cư, nơi 30 người đang sinh sống. Và trên tầng bốn, chúng tôi có một xưởng nhỏ dành cho họ. Mục tiêu là giúp những người này tái hòa nhập xã hội.”

Mười mái ấm gia đình cũng đã được thành lập dành cho trẻ em đường phố.

Trong những năm qua, Casa di Anna cũng trở thành một nơi đào tạo của Giáo hội Hàn Quốc.

“Trong những năm gần đây, hơn 100 chủng sinh đã trải qua ba hoặc sáu tháng tại Casa di Anna như một phần trong chương trình đào tạo của họ. Ngày nay, tất cả họ đều đã là linh mục.”

Cha Bordo nhớ lại sự ngạc nhiên của nhiều chủng sinh khi họ đối diện với một thực tại thường vẫn khá xa lạ với đời sống chủng viện.

“Họ hỏi chúng tôi: ‘Có những nơi như thế này ở Hàn Quốc sao?’ Thông thường, việc đào tạo diễn ra trong chủng viện, sau đó bạn trở về nhà và đi đến một giáo xứ. Đây là một thực tại nằm ngoài những môi trường quen thuộc đó.”

Nhiều tu sĩ nam nữ cũng đã đến thăm Casa di Anna.

“Họ đến để xem chúng tôi đang làm gì, và một số người đã bắt đầu những bếp ăn như chúng tôi. Đó là một đóng góp nhỏ bé.”

Cha Bordo cũng nhận thấy mối liên hệ với thừa tác vụ và giáo huấn của Đức Thánh Cha Phanxicô.

“Những gì Đức Thánh Cha Phanxicô mang đến cho Giáo hội, đó là sự gần gũi với người nghèo, cũng chính là điều chúng tôi đã và đang sống. Rất nhiều người đã đến để xem công việc của chúng tôi. Có lẽ đây là một đóng góp nhỏ trong việc nâng cao nhận thức về lòng thương xót.”

Cha Bordo nói, “Theo tôi, Casa di Anna có hai chức năng. Thứ nhất là giúp đỡ người nghèo. Thứ hai là giúp xã hội Hàn Quốc ý thức về thực tại này.”

Mỗi tháng, khoảng 1.500 tình nguyện viên đến với trung tâm.

“Mỗi tháng, chúng tôi chọn một chủ đề để đào tạo các tình nguyện viên. Mọi người được dạy về việc phục vụ thiện nguyện, chia sẻ, tình huynh đệ, công lý và yêu thương.”

Theo cách đó, Cha Bordo giải thích, bác ái cũng trở thành một kinh nghiệm biến đổi chính những người phục vụ.

“Chúng tôi không chỉ giúp đỡ người nghèo. Chúng tôi còn giúp xã hội nhìn thấy họ, biết đến họ và chia sẻ cuộc sống của những con người ấy.”

Tựa đề cuốn sách, Tôi sẽ chờ bạn tại Seoul, trực tiếp gợi lên những kỳ vọng xoay quanh WYD.

Cha Bordo giải thích: “Nhưng nó cũng diễn tả một mong chờ khác, đó là sự mong chờ của những người nghèo mà chúng tôi gặp mỗi ngày. Quyển sách mang tựa đề này bởi vì có rất nhiều người đang chờ Đức Giáo hoàng, chờ những người trẻ sẽ đến. Nhưng người nghèo cũng đang chờ đợi. Họ cũng có những hy vọng và những mong đợi của riêng họ.”

Cha Bordo đã đặc biệt cảm nghiệm điều này trong dịp thánh du của Thánh giá Năm Thánh dành cho giới trẻ được đưa đến Casa di Anna.

“Chúng tôi đã có niềm vui được hai lần đón Thánh giá Năm Thánh dành cho giới trẻ. Một lần, chúng tôi đặt Thánh giá bên ngoài Casa di Anna. Chúng tôi chuẩn bị cho những vị khách đến viếng, phần lớn họ không phải là người Công giáo cũng không phải là Kitô hữu.”

Sau đó đã xảy ra một điều mà vị thừa sai không ngờ tới.

“Chúng tôi cầu nguyện trước Thánh giá, với những bài thánh ca. Những bạn trẻ của chúng tôi, những người sống trên đường phố, những người nghèo của chúng tôi – từng người một tiến lên, chạm vào Thánh giá và cầu nguyện trong giây lát.”

Cha nói: “Có một khát khao về đời sống thiêng liêng, về sự thật, về một sứ điệp, về Tin Mừng. Đó là lý do tại sao tôi tin rằng WYD sẽ giúp tất cả chúng ta, kể cả những người bạn không phải là người Công giáo và không chia sẻ kinh nghiệm đức tin của chúng ta.”

Từ góc nhìn của vị thừa sai, WYD Seoul vì thế có thể trở thành một cơ hội để vượt qua những ranh giới hữu hình của Giáo hội: không đơn thuần là một cuộc quy tụ lớn của giới trẻ Công giáo, nhưng còn là một nơi gặp gỡ với một xã hội đang trải qua những biến đổi sâu sắc và đang đối diện với những hình thức nghèo khó mới.

Vì vậy, Tôi sẽ chờ bạn tại Seoul không chỉ là một tựa đề sách. Đó là một lời hứa: lời hứa về một Giáo hội không đơn thuần chờ đợi người ta đến với mình, nhưng, như Chúa Giêsu trên những nẻo đường của Palestine, chọn ra đi để gặp gỡ nhân loại.

(PA) (Hãng tin Fides, 2/9/2026)


[Nguồn: fides.org]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 03/09/2026]


Đức Tổng Giám mục Anh quốc nói với Crux Now: xu hướng thúc đẩy trợ tử xuất phát từ nhu cầu muốn quản lý

Đức Tổng Giám mục Anh quốc nói với Crux Now: xu hướng thúc đẩy trợ tử xuất phát từ nhu cầu muốn quản lý

Fionn Shiner
Ngày 1 tháng 9 năm 2026


Đức Tổng Giám mục Anh quốc nói với Crux Now: xu hướng thúc đẩy trợ tử xuất phát từ nhu cầu muốn quản lý


Vị Tổng Giám mục phụ trách các vấn đề về sự sống tại Anh và xứ Wales cho rằng việc chăm sóc xã hội và chăm sóc giảm nhẹ tốt hơn sẽ góp phần rất lớn giúp con người tìm lại cảm thức về sự sống như một hồng ân, đồng thời chống lại nỗi sợ hãi về việc mất khả năng kiểm soát mà những thử thách ở cuối đời chắc chắn sẽ mang đến.

Đức Tổng Giám mục John Sherrington của Liverpool, Giám mục phụ trách các vấn đề về sự sống thuộc Hội đồng Giám mục Anh và xứ Wales, đưa ra nhận định trên trong cuộc phỏng vấn gồm hai phần về nhiều vấn đề với Crux Now (Phần 1 tại đây).

Ngài nói: “Con người ai cũng sợ chết, ai cũng sợ đau đớn, và thật khó để chấp nhận việc phải sống trong tình trạng khuyết tật nghiêm trọng; vì lý do đó, tôi nghĩ người ta đang biện luận để ủng hộ trợ tử”.

Đức Tổng Giám mục Sherrington nói: “Điều chúng ta cần làm là định hình lại cuộc đối thoại để giúp mọi người hiểu rằng việc sống chung với khuyết tật hoặc trong tình trạng khuyết tật cũng là một phần quan trọng của sự sống – và có lẽ nếu chúng ta có thể cung cấp dịch vụ chăm sóc xã hội và chăm sóc giảm nhẹ tốt hơn, thì nhiều người sẽ lựa chọn điều đó.”

Đức Tổng Giám mục Sherrington nói: “Có nỗi sợ hãi về việc mất khả năng kiểm soát, có nỗi sợ hãi về việc mất sự tự chủ”.

Ngài nói rằng “chính từ ‘tự chủ’ đó đang tạo đà lập luận cho nhiều người, bởi vì chúng ta đang sống trong một bối cảnh mà việc tự mình ra luật cho mình (self-law), làm chủ cuộc đời mình, được coi là điều vô cùng quan trọng.”

Ngài nói thêm: “Việc tự mình làm luật đó, sự tự chủ ấy, được mở rộng đến khả năng tự kết thúc sự sống của mình. Vì vậy, đó là một cách nhìn khác đang định hình việc đưa ra quyết định của nhiều người: tôi làm chủ cuộc đời tôi và vì thế tôi có thể lựa chọn phải làm gì với nó.”

Crux Now đã trao đổi với Đức Tổng Giám mục Sherrington trong bối cảnh một nỗ lực lập pháp mới nhằm hợp pháp hóa trợ tử tại Vương quốc Anh đang tiến tới cuộc bỏ phiếu mang tính quyết định.

Phiên thảo luận lần thứ hai về dự luật Người trưởng thành mắc bệnh giai đoạn cuối (Cuối đời) sẽ diễn ra vào ngày 11 tháng 9 tại Hạ viện, sau khi bà Lauren Edwards, một nghị sĩ thuộc Đảng Lao động, trình lại dự luật vào tháng 6.

Một dự luật gần như tương tự do Nghị sĩ Đảng Lao động Kim Leadbeater trình vượt qua giai đoạn bỏ phiếu cuối cùng tại Hạ viện vào tháng 6 năm 2025, nhưng đã hết thời hạn vào tháng 4 năm nay sau khi có hơn 1.200 khoản sửa đổi được đưa ra tại Thượng viện.

Mặc dù Đức Tổng Giám mục Sherrington đã thể hiện rõ sự phản đối dự luật dựa trên những cơ sở nguyên tắc lẫn thực tiễn, ngài nói với Crux Now rằng điểm tốt trong cuộc tranh luận là vấn đề này đã làm sáng tỏ những câu hỏi nền tảng về bản chất con người.

Ngài nói: “Điểm tốt về cuộc tranh luận này là nó đã làm nổi bật một trong những câu hỏi căn bản nhất về đời sống con người chúng ta, về cái chết và chúng ta sẽ chết như thế nào. Việc chúng ta đang thảo luận về nó lúc này vẫn tốt hơn việc trước đây chúng ta không thảo luận, và có lẽ thậm chí không muốn nói đến nó.”

Dưới đây là phần thứ hai trong cuộc phỏng vấn của Crux Now với Đức Tổng Giám mục John Sherrington của Liverpool, đã được biên tập để bảo đảm tính rõ ràng và độ dài …


Crux Now: Một cuộc thăm dò gần đây cho thấy đa số người được hỏi cho rằng vấn đề trợ tử không nên được đưa ra xem xét lại nếu không có sự thẩm tra đầy đủ của cả hai viện. Tuy nhiên, cũng có những cuộc thăm dò cho thấy sự ủng hộ rộng rãi đối với trợ tử tại Vương quốc Anh. Trước hết, Đức Tổng Giám mục cho rằng kết quả nào phản ánh chính xác hơn? Và thứ hai, cách thức cuộc tranh luận này được tiến hành có khiến công chúng trở nên hoài nghi hơn về vấn đề trợ tử không?

Đức Tổng Giám mục John Sherrington: Con người ai cũng sợ chết, ai cũng sợ đau đớn, và thật khó để chấp nhận việc phải sống trong tình trạng khuyết tật nghiêm trọng; vì lý do đó, tôi nghĩ người ta đang biện luận để ủng hộ trợ tử.

Điều chúng ta cần làm là định hình lại cuộc đối thoại để giúp mọi người hiểu rằng việc sống chung với khiếm khuyết hoặc trong tình trạng khuyết tật cũng là một phần quan trọng của sự sống. Và có lẽ nếu chúng ta có thể cung cấp dịch vụ chăm sóc xã hội và chăm sóc giảm nhẹ tốt hơn, thì nhiều người sẽ lựa chọn nó.

Điểm tốt về cuộc tranh luận này là nó đã làm nổi bật một trong những câu hỏi căn bản nhất về đời sống con người chúng ta, về cái chết và về cách chúng ta sẽ chết như thế nào.

Việc chúng ta đang thảo luận về nó lúc này vẫn tốt hơn việc trước đây chúng ta không thảo luận, và có lẽ thậm chí không muốn nói đến nó.

Nhìn chung, chúng ta cần tiếp tục xem xét những vấn đề của dự luật này, đồng thời lắng nghe tiếng nói của những người dễ bị tổn thương, dù là vì nguy cơ bị ép buộc, hay của những người đang sống trong tình trạng khuyết tật và kiên quyết phản đối điều này.

Một cuộc tranh luận rộng lớn hơn nhiều đang nổi lên, không chỉ xoay quanh riêng dự luật này, và điều đó rất quan trọng.


Đã có dự luật Leadbeater mà bà Edwards đưa trở lại nghị trình. Gần đây, Pháp cũng đã thông qua vấn đề trợ tử sau một quá trình kéo dài. Theo Đức Tổng Giám mục, sự nhiệt tình muốn đưa những dự luật như thế này thành luật xuất phát từ đâu?

Có nỗi sợ hãi về việc mất khả năng kiểm soát, có nỗi sợ hãi về mất sự tự chủ.

Chính từ tự chủ đó đang tạo đà cho lập luận của nhiều người, bởi vì chúng ta đang sống trong một bối cảnh mà việc tự mình ra luật cho mình (self-law), làm chủ cuộc đời mình, được coi là điều vô cùng quan trọng.

Và việc tự mình làm luật đó, sự tự chủ ấy, được mở rộng đến khả năng tự kết thúc sự sống của mình.

Vì vậy, đó là một cách nhìn khác đang định hình việc đưa ra quyết định của nhiều người: tôi làm chủ cuộc đời tôi và vì thế tôi có thể lựa chọn phải làm gì với nó.

Trái lại, quan điểm Kitô giáo – và quan điểm của những người thuộc nhiều tín ngưỡng khác – cho rằng chúng ta đón nhận sự sống như một hồng ân.

Chúng ta nhận thức rằng mình phải tôn trọng sự sống đó, trân trọng sự sống ấy và đối xử tốt với sự sống đó; đồng thời chắc chắn phải nhận ra những giới hạn của các can thiệp y khoa, nhưng luôn luôn cần phải chăm sóc sự sống.

Quan điểm về sự sống như một hồng ân và việc chăm sóc là một cách nhìn khác, rõ ràng rất khác với cách nhìn tập trung vào sự tự chủ cá nhân.

Quan điểm về sự sống là một hồng ân cũng nhìn nhận sâu sắc hơn nhiều về tính tương thuộc giữa con người với con người. Không phải chỉ là cá nhân một mình tôi.

Chúng ta có sự tương thuộc lẫn nhau, và vì thế nhu cầu được chăm sóc là một phần của bản chất con người, cho dù điều đó thật khó khăn. Chúng ta không dễ dàng chấp nhận điều ấy.


Vậy Đức Tổng Giám mục có cho rằng trợ tử là biểu hiện của một nguyên nhân sâu xa hơn không?

Đó là một khía cạnh của cuộc tranh luận sâu xa hơn rất nhiều về bản chất con người, về sự kiểm soát, về việc nhìn nhận tính tương thuộc, và sau cùng là về ý nghĩa của việc từ bỏ sự kiểm soát.

Nếu nhìn vào Tin Mừng theo thánh Marcô, Chúa Giêsu hoạt động, Người rao giảng, Người giảng dạy, Người chữa lành.

Rồi đến một thời điểm Người bị bắt và trở nên thụ động: Người bị đánh đòn, bị điệu đi, phải vác thập giá, chịu đóng đinh. Trên thập giá, Chúa Giêsu phó dâng mạng sống mình cho Thiên Chúa: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.”

Dưới góc độ mạc khải, Chúa Giêsu đang dạy chúng ta một điều rất căn bản về bản chất con người.

Có những lúc chúng ta phải phó thác cho Thiên Chúa và cho Chúa Cha; điều đó hoàn toàn khác với việc tự mình quyết định kết thúc cuộc đời mình.


Thánh Gioan Phaolô II đã nhiều lần nói về văn hóa sự chết và Đức Giáo hoàng Phanxicô nói về văn hóa vứt bỏ. Đức Tổng Giám mục có nghĩ rằng trợ tử phù hợp với những khuôn mẫu tư tưởng đó không?

Đôi khi tôi nghĩ chúng ta đã đơn giản hóa vấn đề nếu cố gắng đặt mọi sự vào các khuôn mẫu. Theo cách nói của Đức Giáo hoàng Phanxicô, điều chúng ta nhận ra là sự thiếu hiểu biết về món quà sự sống.

Vì thế, chúng ta cần tái khám phá giá trị của món quà sự sống được ban tặng cho chúng ta, và xây dựng một văn hóa sự sống cùng với nền văn minh tình thương.

Điều này ảnh hưởng đến cách chúng ta sống, cách chúng ta tương quan với nhau, cách chúng ta chăm sóc lẫn nhau, và cách chúng ta xây dựng tình liên đới giữa con người với nhau.

Mối nguy hại của một xã hội đề cao chủ nghĩa cá nhân là những ai không được coi là tốt đẹp như người khác vì họ thiếu một số năng lực nào đó, hoặc có thể đang sống trong tình trạng khuyết tật, thì không được coi trọng bằng những người khác.

Theo nghĩa đó, chúng ta có thể nhanh chóng tiến tới một xã hội vứt bỏ.

“Văn hóa sự chết” là một hình ảnh hết sức mạnh mẽ. Tôi nghĩ có thể có những yếu tố của văn hóa đó bên trong con người, nhưng đồng thời cũng có những yếu tố của văn hóa sự sống.

Vì vậy, chúng ta cần tiếp tục hướng tới những điều tốt lành; đến sự thiện hảo bẩm sinh trong con người và hiện diện trong tất cả mọi người, nhằm phát triển việc bảo vệ sự sống và văn minh tình thương của chúng ta.

Cho nên, với thuật ngữ về các "văn hóa", người ta rất dễ đổ lỗi cho người khác mà không nhận ra rằng hai văn hóa đó có thể cùng tồn tại bên trong mỗi con người.


Giáo hội có thể làm gì để hướng tới việc xây dựng văn minh tình thương mà Đức Tổng Giám mục vừa nói đến?

Tôi nhìn thấy những mẫu gương tuyệt vời về tình yêu quảng đại và sự hy sinh trong các gia đình, cách mà nhiều gia đình chăm sóc những người già, những thành viên đau bệnh của họ, dù họ có ở trong Giáo hội hay không.

Tất cả những điều đó đều là dấu chỉ của một nền văn minh tình thương. Tôi cũng nhìn thấy điều này qua sự phục vụ quảng đại và tuyệt vời tại các viện dưỡng lão, trong ngành y tế, trong Dịch vụ Y tế Quốc gia (NHS), và tại các cơ sở chăm sóc cuối đời.

Chứng tá tuyệt vời cho sự sống ấy cần được nhìn nhận và công bố.

Tôi cũng nhận thấy nơi các vị tuyên úy bệnh viện, dù là giáo sĩ hay giáo dân, đang thực hiện một công việc tuyệt vời trong việc chăm sóc người bệnh; cũng như các giáo sĩ trong việc cử hành các bí tích, đồng hành với con người trong cơn bệnh tật đang bước gần tới cái chết – tất cả đều là những dấu chỉ của vương quốc mà chúng ta mong đợi.

Tôi vừa trở về từ Lộ Đức, nơi những người sống chung với bệnh tật là trung tâm của đời sống.

Tôi thường nghĩ rằng Lộ Đức là một biểu tượng tuyệt vời cho việc chăm sóc người bệnh, cho mẫu vương quốc mà Chúa Giêsu mong muốn.

Những người dễ bị tổn thương, đau bệnh và khuyết tật nằm ở trung tâm mọi hoạt động, mọi sự chăm sóc của con người. Họ được đối xử bình đẳng, thậm chí còn được đối xử tốt hơn những người khác, và được sống cuộc đời cách trọn vẹn.

Vì thế, có một hình ảnh và biểu tượng tuyệt vời tại Lộ Đức khi những người hành hương quy tụ về để nhận thức về món quà sự sống và cử hành văn minh tình thương.


Có điều gì khác mà Đức Giám mục muốn bổ sung, hoặc có điều gì đặc biệt ngài muốn nói mà chúng ta chưa đề cập đến không?

Điều quan trọng là tất cả những ai đọc bài viết này và đang sống tại một đơn vị bầu cử tại Vương quốc Anh hãy liên lạc với nghị sĩ đại diện cho mình.

Điều quan trọng là nếu nghị sĩ của các bạn đã bỏ phiếu chống lại dự luật Leadbeater, hãy cảm ơn họ và khuyến khích họ tiếp tục làm như vậy, đồng thời giải thích tại sao điều đó càng trở nên quan trọng hơn.

Nếu nghị sĩ của quý vị đã bỏ phiếu ủng hộ dự luật, điều quan trọng là hãy đề nghị họ bỏ phiếu chống lại nó, đặc biệt vì chúng ta cần một cuộc tranh luận rộng lớn hơn về việc chăm sóc xã hội và chăm sóc giảm nhẹ, cũng như vì tất cả những lý do khác mà tôi đã nêu.

Do đó, việc mọi người thực thi quyền chính trị của mình qua sự liên lạc với nghị sĩ về những vấn đề này là vô cùng quan trọng.

Và dĩ nhiên, xin các bạn hãy cầu nguyện.


[Nguồn: cruxnow]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 02/09/2026]


Tuyên phong Chân phước Đức Cha Fulton Sheen/I – Đức ông Roger Landry (PMS Hoa Kỳ): Chân phước Fulton Sheen và hiện tại của sứ mạng

Tuyên phong Chân phước Đức Cha Fulton Sheen/I – Đức ông Roger Landry (PMS Hoa Kỳ): Chân phước Fulton Sheen và hiện tại của sứ mạng

Pascale Rizk
Thứ Ba, ngày 1 tháng 9 năm 2026

Tuyên phong Chân phước Đức Cha Fulton Sheen/I – Đức ông Roger Landry (PMS Hoa Kỳ): Chân phước Fulton Sheen và hiện tại của sứ mạng

Rôma (Hãng Thông tấn Fides) – Lòng nhiệt thành truyền giáo thấm đượm toàn bộ cuộc đời và công việc của Đức Tổng Giám mục Fulton J. Sheen không phải là một nỗ lực hay chiến lược. Nó cũng không được thúc đẩy bởi tham vọng chinh phục. Mọi sự nơi ngài đơn giản tuôn chảy từ vai trò ngài là một “tông đồ nhiệt thành của Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ thế giới”. Ngài là một môn đệ trở nên tinh tế và thực tế chính bởi đức tin, một đức tin nhìn nhận rằng nếu không có tình yêu của Đức Kitô, thì ngay cả những chiến lược và phương tiện loan báo Tin Mừng tinh vi nhất rốt cuộc cũng chỉ như “thanh la phèng phèng, chũm chọe xoang xoảng”, như lời Thánh Phaolô viết trong Thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô.

Tầm nhìn truyền giáo của Đức Tổng Giám mục Sheen và tính thời sự của tầm nhìn ấy được Đức ông Roger J. Landry, Giám đốc Quốc gia các Hội Giáo hoàng Truyền giáo tại Hoa Kỳ, làm nổi bật lên khi ngài suy tư về cuộc đời và di sản của vị Tổng Giám mục người Mỹ, người sẽ được tuyên phong Chân phước vào ngày 24 tháng 9 tại Saint Louis, Missouri, trong một Thánh lễ trọng thể do Đức Hồng y Luis Antonio Tagle chủ sự.

Dưới đây, chúng tôi đăng toàn văn cuộc phỏng vấn qua video mà Đức ông Roger J. Landry đã dành cho Fides trong kỳ Đại hội Toàn thể gần đây nhất của các Hội Giáo hoàng Truyền giáo.

Chính Đấng Đáng kính Fulton J. Sheen đã dẫn dắt các Hội Giáo hoàng Truyền giáo tại Hoa Kỳ từ năm 1950 đến năm 1966.


Di sản của Đức Tổng Giám mục Fulton J. Sheen cụ thể có ý nghĩa gì đối với căn tính truyền giáo của Giáo hội tại Hoa Kỳ ngày nay?

Đức Tổng Giám mục Fulton Sheen, sắp được tuyên phong Chân phước. Toàn bộ cuộc đời ngài được định hình bởi tình yêu cháy bỏng dành cho Chúa Giêsu Kitô. Điều ngài đã làm là cố gắng phụng sự Chúa Giêsu cách trọn vẹn và dẫn đưa số người nhiều nhất theo khả năng ngài có thể đến việc nhận biết Chúa Giêsu, cảm nhận được Chúa Giêsu yêu thương, đáp lại tình yêu ấy, và cố gắng lan tỏa tình yêu dành cho Người.

Đó là lý do tại sao ngài miệt mài học tập và trở thành một trong những linh mục có học vấn uyên bác nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Đó là lý do tại sao ngài đã dành hết sức cho việc giảng thuyết, và tại sao ngài có thể làm cho các tòa giảng bừng cháy bằng ngọn lửa của Chúa Thánh Thần khi truyền đạt tình yêu của ngài dành cho Chúa Giêsu. Đó cũng là một trong những lý do khiến mỗi buổi sáng, trong suốt 61 năm đời linh mục, ngài dành trọn một giờ chầu trước Thánh Thể Chúa. Và đó là lý do tại sao ngài có thể nói rằng tình yêu lớn nhất của ngài luôn dành cho các sứ mạng của Giáo hội. Ngài đã cho đi tất cả những gì có thể, quá nhiều năng lượng, quá nhiều tài năng, quá nhiều tiền bạc mà ngài quyên góp được qua các hoạt động khác nhau, để cố gắng loan truyền đức tin trên toàn cầu.

Mọi sự đều phát xuất từ sự thật rằng ngài là một người môn đệ đạo đức và một tông đồ nhiệt thành của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ thế giới.


Những khía cạnh nào trong đời sống thiêng liêng cá nhân của ngài mà Đức ông thấy có ý nghĩa nhất đối với các nhà truyền giáo đang thi hành sứ vụ ngày nay, và khía cạnh nào chạm đến cá nhân Đức ông cách sâu xa nhất, và tại sao?

Đối với các nhà truyền giáo, Đức Fulton Sheen không chỉ là một nhà truyền giáo vĩ đại mà ngài còn đào tạo toàn thể Giáo hội từ chính hiệu quả của sứ mạng. Tôi muốn nói hai điều về đời sống đạo đức của ngài mà tất cả chúng ta đều có thể noi theo.

Thứ nhất, ngài nhìn nhận sự hiện diện thật của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể một cách rất nghiêm túc. Đối với ngài, Thánh Thể không phải là một sự vật, mà là một người. Việc ưu tiên dành thời gian bên Chúa Giêsu mỗi ngày là điều hiển nhiên đối với ngài. Sứ mạng của Giáo hội không chỉ là mang lời Tin Mừng đến tận cùng trái đất. Sứ mạng ấy cũng không chỉ là thành lập các nhà thờ. Sứ mạng của Giáo hội là đưa Chúa Giêsu Kitô đến tận cùng trái đất. Đấng đang sống với chúng ta, Thiên Chúa ở cùng chúng ta, vẫn đang ở cùng chúng ta trong Bí tích Thánh Thể, với thân mình, máu, linh hồn và thần tính của Người. Do đó, lòng mến của Đức Fulton Sheen dành cho Thánh Thể đã thực sự truyền cảm hứng cho linh đạo truyền giáo của ngài, để các nhà thờ được xây dựng không chỉ như những công trình kiến trúc hay cơ sở vật chất, nhưng là những nhà thờ trở thành Thân thể Mầu nhiệm nhờ Chúa Giêsu hoạt động trong Bí tích Thánh Thể.

Điểm vĩ đại thứ hai mà tôi muốn nói về Đức cha Sheen là ngài đã dốc sức cho nghệ thuật truyền thông. Ngài biết rằng chỉ có đức tin thôi thì chưa đủ, chỉ có ước muốn loan truyền đức tin cũng chưa đủ. Ngài cần phải đạt hiệu quả trong việc loan truyền đức tin. Ngài cần phải cho thấy ngọn lửa tình yêu mà Thiên Chúa dành cho chúng ta qua lời nói của ngài khi rao giảng Tin Mừng. Đức Fulton Sheen luôn có điều đó. Và một trong những ảnh hưởng lớn nhất trong cuộc đời ngài là ngài đã khuyến khích sử dụng không chỉ một vài phương tiện truyền thông, cả cũ và mới, như những tòa giảng, để nhiệt thành chia sẻ kho tàng đức tin của chúng ta. Vì vậy, đó là hai điều mà tôi nghĩ ngài đã dạy toàn thể Giáo hội về cách thực thi sứ mạng một cách hiệu quả.

Đối với tôi, điều mạnh mẽ nhất nơi Đức Fulton J. Sheen chính là tình yêu của ngài đối với chức linh mục. Đức Fulton Sheen là một “linh mục của các linh mục”, và cuối cùng khi nghỉ hưu, ngài đã dành thập niên cuối đời để giảng ba buổi tĩnh tâm tuần cho các linh mục mỗi tháng, bởi vì ngài muốn đào tạo các anh em linh mục có một trái tim truyền giáo thực sự giống Chúa Kitô, để họ có thể ra đi như muối và men, và biến đổi toàn thế giới.

Tôi bắt đầu nghe những băng cassette của Đức Fulton Sheen khi tôi 18 tuổi, trong những chuyến lái xe đường dài, và tư tưởng của ngài thấm sâu vào tâm trí tôi, ngọn lửa của ngài thấm sâu vào trái tim tôi. Và bây giờ, với tư cách là người kế nhiệm ngài, tôi nghĩ rằng, ngài là vị Giám đốc Quốc gia thứ năm của tổ chức này, tôi không chỉ có gương sáng của ngài để noi theo, một “cẩm nang” của ngài để thực hiện, mà còn có lời chuyển cầu đầy quyền năng của ngài từ bên hữu đời đời của Chúa Giêsu. Vì thế, tôi thực sự yêu mến Đức Fulton Sheen.


Những “nhà truyền giáo kỹ thuật số” ngày nay có thể học được gì từ Đức Tổng Giám mục Fulton J. Sheen, không chỉ về phương diện kỹ thuật, mà còn về nền tảng thiêng liêng? Theo cách phê bình, Đức Tổng Giám mục sẽ nghĩ gì về những ảo tưởng của kỷ nguyên truyền thông của chúng ta?

Ngài sẽ nghĩ gì, và ngài sẽ đưa ra những lời phê bình nào trước những gì đang diễn ra ngày nay trong thế giới truyền thông kỹ thuật số và giữa những nhà truyền giáo kỹ thuật số? Đức Tổng Giám mục sẽ khuyến khích tất cả các nhà truyền giáo kỹ thuật số và những người có ảnh hưởng ngày nay trước hết và trên hết phải bắt đầu từ Chúa Giêsu.

Nếu họ không có kinh nghiệm về tình yêu cá nhân của Chúa dành cho họ, nếu họ không thực sự cố gắng lớn lên trong đức tin, đức cậy và đức mến trong mối tương quan cá nhân với Chúa Giêsu, thì theo lời của thánh Phaolô nói với tín hữu Côrintô, họ sẽ chỉ là những thanh la phèng phèng và chũm chọe xoang xoảng. Muốn sinh nhiều hoa trái, họ phải gắn kết với Chúa Giêsu như những cành nho liền với cây nho. Và đó sẽ là lời khuyên đầu tiên mà Đức Fulton Sheen muốn gửi gắm.

Đối với Đức Fulton Sheen, phương tiện không phải là điều quan trọng. Điều quan trọng là thông điệp được truyền tải qua bất cứ phương tiện nào mà ngài sử dụng, dù là sách báo, đài phát thanh, truyền hình, hay theo cách gọi ngày nay là video, podcast, thậm chí trí tuệ nhân tạo, v.v..

Đức cha Fulton Sheen luôn tập trung vào thông điệp đó, và thông điệp ấy... là những gì Thiên Chúa muốn thực hiện nơi chúng ta; Người muốn sống cuộc đời kết hiệp với chúng ta; Người không chỉ chịu đau khổ, chịu chết và sống lại vì chúng ta, mà còn tiếp tục đồng hành với chúng ta hôm nay. Đức Kitô đã sống lại, Người vẫn hiện diện với chúng ta.

Và chân lý đó được Đức Fulton Sheen thấu hiểu rất sâu sắc; ngài sống mỗi ngày, bắt đầu bằng một giờ trước Chúa Giêsu Phục sinh trong Nhà tạm tại các nhà nguyện riêng của ngài.

Đối với trí tuệ nhân tạo, trước hết Đức Fulton Sheen sẽ nhìn thấy tiềm năng to lớn của nó. Thứ hai, ngài sẽ muốn bảo đảm rằng... phương tiện có khả năng to lớn đó để giúp Giáo hội và giúp nhân loại sẽ không quay ngược lại làm hại nhân loại. Chúng ta không được trở thành những tín đồ của trí tuệ nhân tạo, để rồi cuối cùng bị nó thống trị.

Nhưng chúng ta phải thực thi quyền quản trị đối với những công trình do tay chúng ta làm nên, đối với sức sáng tạo mà Người đã khơi nguồn, như Chúa đã truyền dạy chúng ta trong sách Sáng Thế. Vì vậy, Đức Fulton Sheen trước hết sẽ nhìn thấy những khả năng trong những phương tiện mới mà Thiên Chúa đặt trước mắt chúng ta, nhưng đồng thời, ngài cũng sẽ kêu gọi mọi người nhận biết rằng ma quỷ thực sự có thể lợi dụng chính những phương tiện đó.

Vì thế, chúng ta phải cảnh giác để bảo đảm rằng chúng luôn được quy hướng về Thiên Chúa; vì nếu không được quy hướng về Thiên Chúa, thì những phương tiện đó, và cả chúng ta qua chúng, sẽ trở nên hỗn loạn. Như anh nói, ngài Fulton Sheen xây dựng hoạt động truyền giáo của mình dựa trên sức mạnh thánh mỗi ngày trước Thánh Thể.


Đức Tổng Giám mục Fulton Sheen đã xây dựng toàn bộ hoạt động truyền giáo của mình trên một giờ chầu mỗi ngày trước Thánh Thể. Năm 2024, Đức ông đã đi bộ 65 ngày kiệu rước Thánh Thể xuyên khắp Hoa Kỳ. Mối liên hệ trọng yếu giữa Thánh Thể và sứ vụ truyền giáo là gì?

Như Đức Hồng y Tagle, Quyền Tổng trưởng Bộ Loan báo Tin Mừng, đã nói với Giáo hội tại Hoa Kỳ trong Đại hội Thánh Thể Toàn quốc năm 2024 ở Indianapolis: “Chúa Giêsu Thánh Thể tự bản chất là truyền giáo”. Người trao ban thân mình và máu Người cho chúng ta, rồi Người nói: “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”. Điều đó không chỉ đơn thuần có nghĩa là cử hành Thánh lễ để tưởng nhớ Người, nhưng còn có nghĩa là làm cho đời sống của chúng ta thực sự là đời sống Thánh Thể. Nghĩa là chúng ta, giống như Chúa Giêsu, được mời gọi trở thành tấm bánh được bẻ ra cho người khác. Chúng ta phải có khả năng nói với người khác: đây là thân mình tôi, đây là máu tôi, đây là những vết chai sần của tôi, đây là mồ hôi của tôi, đây là những giọt nước mắt của tôi, đây là trái tim tôi; tất cả những gì tôi là và những gì tôi có, tôi trao tặng vì yêu thương bạn.

Một đời sống Thánh Thể không trở thành sứ mạng, như thánh Gioan Phaolô II từng nói với chúng ta, thì tự bản chất đã bị phân mảnh, đã bị bẻ gãy. Nhưng cũng như chúng ta đón nhận tình yêu tuôn đổ của Chúa dành cho mình khi chúng ta có thể lãnh nhận Chúa Giêsu cách xứng đáng trong Hiệp lễ, thì Chúa Giêsu giờ đây ở trong chúng ta muốn chúng ta tiếp tục sự hiệp thông với Người bằng cách tham dự vào sứ mạng của Người vì ơn cứu độ thế giới.

Đó là một trong những lý do tại sao việc cử hành mỗi Thánh lễ kết thúc bằng việc Thiên Chúa ban phép lành cho chúng ta, rồi nói: Hãy ra đi loan báo Tin Mừng của Chúa. “Ite, missa est” có nghĩa là mục tiêu của Giáo hội đã được đặt ra, và vì thế, Đức Kitô, Đấng làm cho chúng ta trở nên Thân thể của Người, sai chúng ta ra đi cùng với Người, để được Người biến đổi, nhờ Bí tích Thánh Thể, chúng ta cũng có thể biến đổi toàn thế giới.


Đức Giáo hoàng Lêô XIV thường được mô tả là một vị Giáo hoàng truyền giáo; nhưng vượt trên những khẩu hiệu, Đức ông phân tích thế nào về quan điểm và tầm nhìn truyền giáo của Đức Thánh Cha?

Đức Giáo hoàng Lêô đã phục vụ 22 năm với tư cách là chủng sinh, linh mục và giám mục truyền giáo tại Peru. Sau đó, trong 12 năm, ngài đã đến 50 quốc gia khác nhau với tư cách là Bề trên Tổng quyền Dòng Thánh Augustinô. Như vậy, một nửa cuộc đời ngài là một nhà truyền giáo. Khi được bầu chọn vào ngày 8 tháng 5 năm 2025, ngài là vị giáo hoàng đầu tiên kể từ Thánh Phêrô đã dành một phần cuộc đời mình rời xa quê hương, đi đến những nơi xa xôi để loan báo Tin Mừng cho những người chưa được nghe về Chúa Giêsu, như Đức Lêô đã làm giữa những vùng núi phía bắc Peru. Vì thế, ngài mang kinh nghiệm ấy, mang theo cuốn hộ chiếu dày đặc dấu mộc ấy cùng ngài đến Tòa Phêrô.

Và cũng như Thánh Giáo hoàng Piô X là vị Giáo hoàng đầu tiên sau nhiều thế kỷ từng là một cha sở, rồi dùng kinh nghiệm mục vụ ấy để biến đổi sứ vụ giáo hoàng, thì Đức Giáo hoàng Lêô, vị Giáo hoàng truyền giáo (missio ad gentes) đầu tiên kể từ Simon Barjona, quê ở Betsaida thuộc Galilê, đã đi ngang dọc khắp thế giới để củng cố các anh chị em mình trong đức tin, và mang kinh nghiệm ấy theo ngài đến Điện Tông tòa.

Vì thế không ngạc nhiên khi trong bài giảng khởi đầu sứ vụ, ngài không chỉ chào hỏi những người dân tại Chiclayo, nơi ngài từng là giám mục truyền giáo, mà ngài còn nói rằng chúng ta phải cùng nhau tìm kiếm những phương cách để trở thành một Giáo hội truyền giáo.

Khi suy nghĩ về điều làm cho kinh nghiệm truyền giáo của ngài trở nên độc đáo, đó là ngài... nhận ra rằng công cuộc truyền giáo là nỗ lực chung của toàn thể Giáo hội; rằng đó không phải là công việc của một nhà truyền giáo đơn lẻ, cũng không phải là công việc của một số ít người trong một dòng truyền giáo, nhưng để sứ mạng của Giáo hội thành công, cần có sự chung tay của tất cả mọi người.

Và ngay từ những lời đầu tiên với tư cách là Đấng kế vị thứ 267 của Thánh Phêrô, ngài đã kêu gọi tất cả chúng ta cùng với ngài, với sự nhiệt thành truyền giáo, mang món quà vĩ đại nhất của thế giới, là Chúa Giêsu Kitô – chính Chúa Kitô – đến cho mọi người, cho tất cả 8,1 tỷ người đang sống hôm nay, những người mà Chúa Giêsu đã yêu thương hiến mạng sống mình.

Đó là điều làm cho Ngài trở nên đặc biệt, và chúng ta thật có phúc, không chỉ vì có một vị Giáo hoàng người Mỹ, tôi có thể nói điều đó với tư cách là một người Mỹ, mà còn vì có một vị Giáo hoàng truyền giáo thực sự, một khát vọng lan truyền đức tin đã thấm sâu vào tận xương tủy ngài.

(Hãng thông tấn Fides, 1/9/2026)


[Nguồn: fides.org]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 02/09/2026]