Thứ Hai, 26 tháng 9, 2016

Đức Thánh Cha dâng Lễ Năm Thánh các Giáo Lý Viên

Đức Thánh Cha dâng Lễ Năm Thánh các Giáo Lý Viên

Pope Francis arrives to celebrate a Jubilee mass for catechists, at the Vatican, Sunday, Sept. 25, 2016 - AP
Đức Thánh Cha Phanxico đến dâng Thánh lễ cho các Giáo lý viên tại Vatican, Chúa nhật 25 tháng 9, 2016 - AP
25/09/2016 13:44
(Vatican Radio) Đức Thánh Cha Phanxico đã dâng Thánh lễ để đánh dấu Năm Thánh của các Giáo lý viên hôm Chủ nhật – Chúa nhật 26 mùa Thường niên và Năm Thánh của các Giáo lý viên trong Năm thánh đặc biệt Lòng thương xót.
Dưới đây là toàn văn bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxico, văn bản dịch tiếng Anh chính thức.
********************************************************
Trong bài đọc hai Thánh Tông đồ Phaolo gửi Ti-mô-thêu, nhưng cũng là gửi cho chúng ta, những lời khuyên xuất phát từ con tim của ngài. Trong nhiều vấn đề, ngài buộc ông rằng “hãy tuân giữ điều răn của Chúa mà sống cho tinh tuyền, không chi đáng trách” (1 Tim 6:14).  Ngài đơn giản nói đến một điều răn. Dường như ngài muốn giữ sự tập trung của chúng ta gắn chặt vào những gì là quan trọng cho đức tin của chúng ta. Quả thật, Thánh Phaolo Tông đồ không đưa ra quá nhiều điểm khác nhau, nhưng chỉ nhấn mạnh vào điểm cốt lõi của đức tin. Mọi việc đều quay xung quanh tâm điểm này, trái tim đang đập này trao tặng sự sống cho mọi loài đó là Bài ca Phục sinh, lời loan báo đầu tiên: Đức Giê-su đã sống lại, Đức Giê-su yêu thương chúng ta, và Người đã trao tặng sự sống của Người cho chúng ta; hãy trỗi dậy và sống, Người ở cạnh chúng ta và Người chờ đợi chúng ta mỗi ngày. Chúng ta không bao giờ được quên điều này. Trong Năm thánh cho Giáo lý viên này, chúng ta đang được yêu cầu kiên tâm bền chí giữ vững thông điệp then chốt của đức tin luôn ở phía trước và ở trung tâm: Thiên Chúa đã sống lại. Không có điều gì quan trọng hơn thế; không có điều gì chắc chắn và chính đáng hơn điều này. Mọi điều trong đức tin trở nên rất đẹp khi được liên kết đến vấn đề trọng tâm này, nếu nó được hòa trộn trọn vẹn trong Bài ca Phục sinh. Tuy nhiên, nếu nó vẫn còn ở trong tình trạng cách ly, nó sẽ mất ý nghĩa và sức mạnh của nó. Chúng ta được kêu gọi để sống thực hành và tuyên xưng tính mới lạ của tình yêu của Thiên Chúa: “Giê-su thực sự yêu bạn, như chính con người của bạn. Hãy cho Ngài một không gian: cho dù bao chán nản và vết thương trong cuộc đời bạn, hãy cho Ngài cơ hội để yêu bạn. Ngài sẽ không làm bạn thất vọng.”
Lề luật mà Thánh Phaolo đang nói tới bắt chúng ta cũng phải nghĩ đến lề luật mới của Chúa Giê-su: “anh em hãy yêu thương nhau như thầy đã yêu thương anh em” (Gioan 15:12).  Chính bởi tình yêu và Thiên Chúa-là-tình-yêu được loan báo cho thế giới: không phải bằng sức mạnh của tính thuyết phục, không bao giờ bằng cách áp đặt sự thật, cũng chẳng bằng cách mở rộng sự gắn bó với một nghĩa vụ tôn giáo hay đạo đức nào đó. Thiên Chúa được loan báo qua việc gặp gỡ giữa con người, với sự quan tâm đến lịch sử và hành trình của họ. Vì Thiên Chúa không phải là một ý tưởng, nhưng là một con người đang sống: thông điệp của Ngài được chuyển qua chứng tá đơn sơ và đích thực, bằng cách lắng nghe và chào đón, với niềm vui lan tỏa ra ngoài. Chúng ta không thể nói về Giê-su một cách thuyết phục khi chúng ta buồn; chúng ta cũng chẳng thể chuyển tải vẻ đẹp của Thiên Chúa đơn thuần bằng những bài giảng hay. Thiên Chúa của hy vọng được loan báo bằng đời sống thực hành Tin mừng tình yêu trong giây phút hiện tại, mà không hề e sợ phải chứng thực nó, thậm chí bằng nhiều cách mới lạ.
Tin mừng Chúa nhật hôm nay giúp chúng ta hiểu ý nghĩa của sự yêu thương là gì, và còn là cách để tránh những mối nguy hiểm nào đó. Trong dụ ngôn có một người giàu có, ông ta không để ý đến La-za-rô, một người nghèo đang ở “ngoài cổng của ông ta” (Lc 16:20).  Thực ra, người giàu có này không làm điều gì xấu với bất kỳ ai; cũng không có câu nào nói rằng ông ta là người xấu. Nhưng ông ta có một chứng bệnh nặng hơn bệnh của La-za-rô là người chịu “nhiều đau đớn” (ibid.): người giàu có này bị một chứng mù lòa kinh khủng, vì ông ta không thể nhìn vượt ra khỏi thế giới của ông ta, một thế giới chỉ có dạ tiệc và quần áo lụa là. Ông ta không thể nhìn xa hơn cánh cửa nhà của ông ta nơi có La-za-rô đang nằm, vì những gì xảy ra bên ngoài kia không làm ông ta bận tâm. Ông ta không nhìn thấy bằng đôi mắt, vì ông ta không thể cảm nhận bằng con tim.  Vì tính trần tục đã đi vào trong tim và làm u mê linh hồn. Tính trần tục giống như một “hố đen” nuốt chửng những gì tốt đẹp, nó làm lụi tàn tình yêu, vì nó nuốt lấy hết mọi thứ ngay từ trong bản thân nó. Và ở đây là một con người chỉ nhìn thấy dáng vẻ bên ngoài, không chú ý đến người khác vì anh ta đã trở nên thờ ơ trước mọi người. Một người bị chứng mù nặng thường thường có hành vi “bị lé mắt”: anh ta nhìn với thái độ a dua nịnh hót những người nổi tiếng, những người có chức vụ cao, được thế giới ngưỡng mộ, nhưng lại quay cái nhìn tránh khỏi rất nhiều La-za-rô ngày nay, khỏi những người nghèo, khỏi những người đau khổ là người được Chúa yêu.
Nhưng Thiên Chúa lại nhìn đến những người bị thế giới chối bỏ và bị gạt ra bên lề. La-za-rô là cái tên duy nhất được gọi trong tất cả các dụ ngôn của Chúa Giê-su. Tên của ông ta nghĩa là “Thiên Chúa cứu giúp.” Thiên Chúa không quên ông ta. Thiên Chúa sẽ chào đón ông ta vào dự tiệc trong vương quốc của Người, cùng với A-bra-ham, trong tình hiệp nhất với tất cả những người chịu đau khổ. Về mặt khác, người giàu có trong dụ ngôn thậm chí không có tên; cuộc sống ông ta qua đi trong quên lãng, vì ai chỉ biết sống cho riêng mình không viết nên lịch sử. Và người Ki-tô hữu phải viết nên lịch sử! Nhưng những ai chỉ biết sống cho riêng họ không thể viết nên lịch sử. Sự nhẫn tâm ngày nay gây ra những hố ngăn cách lớn và bị đào sâu không bao giờ có thể vượt qua. Và bây giờ, chúng ta đã rơi vào căn bệnh thờ ơ, ích kỷ và trần tục.
Có một chi tiết khác trong dụ ngôn, một trái ngược. Cuộc sống giàu sang của người đàn ông không tên này được miêu tả là phô trương: mọi điều về ông ta chỉ liên quan đến nhu cầu và quyền lợi. Ngay cả khi ông ta chết ông ta năn nỉ xin được giúp đỡ và đòi hỏi những gì thuộc quyền lợi của ông ta. Tuy nhiên, sự nghèo đói của La-za-rô được gắn với một phẩm giá rất lớn: từ miệng của ông không có lời phàn nàn hay phản đối hay khinh khi. Đây là một bài học rất giá trị: là những tôi tớ của Lời của Đức Giê-su, chúng ta được kêu gọi không phô trương hình thức bên ngoài của chúng ta và không tìm đến vinh quang; chúng ta cũng không thể buồn bã hay đầy lời than vãn. Chúng ta không phải là những tiên tri của bóng tối ảm đạm đem niềm vui chôn vào những mối nguy hiểm vừa được tìm ra hay đi sai đường; chúng ta không phải là những người ngồi bó gối trong môi trường riêng của chúng ta, đưa ra những phán xét cay đắng về xã hội, về Giáo hội, về mọi thứ và mọi người, làm ô nhiễm thế giới bằng sự tiêu cực của chúng ta. Chủ nghĩa hoài nghi đáng thương không thuộc về những người gần gũi với Lời của Chúa.
Những ai loan truyền sự hy vọng của Đức Giê-su mang theo niềm vui và nhìn thấy từ một khoảng cách rất xa; những người như vậy có chân trời riêng rộng mở trước họ; chẳng có bức tường nào chắn lối họ; họ nhìn thấy từ rất xa vì họ biết cách nhìn vượt ra ngoài tội lỗi và vượt ra ngoài những vấn đề của họ. Đồng thời, họ nhìn thấy rất rõ từ khoảng cách gần, vì họ chú tâm đến anh em và đến những nhu cầu của họ. Hôm nay Thiên Chúa đặt câu hỏi này cho chúng ta: trước tất cả những La-za-rô mà chúng ta nhìn thấy, chúng ta được kêu gọi phải biết can thiệp vào, tìm cách để gặp gỡ và giúp đỡ, mà không chuyển cho người khác và nói rằng: “Ngày mai tôi sẽ giúp bạn; hôm nay tôi không có giờ, ngày mai tôi sẽ giúp bạn.” Đây là một cái tội. Thời gian dành để giúp người khác là thời gian dành cho Chúa Giê-su; đó là tình yêu sẽ mãi trường tồn: đó là gia tài của chúng ta trên thiên đàng mà chúng ta mua được ở trên trần gian này.
Và vì vậy, các anh chị em giáo lý viên thân mến, nguyện xin Thiên Chúa ban cho chúng ta ơn sủng được canh tân mỗi ngày bởi sự vui mừng của lời loan báo đầu tiên cho chúng ta: Đức Giê-su đã chết và nay sống lại, Đức Giê-su yêu từng người chúng ta! Nguyện xin Người ban cho chúng ta sức mạnh để biết sống và loan báo giới răn yêu thương, vượt qua được sự mù quáng vì những cách thể hiện bên ngoài, và sự buồn bã của trần gian. Nguyện xin Người làm cho chúng ta biết trở nên rung cảm trước người nghèo, họ không phải là những người đến sau trong Tin mừng nhưng là một trang quan trọng, luôn mở ra trước mắt chúng ta.

[Nguồn:  en.radiovaticana.va]


[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 26/09/2016]



Chủ Nhật, 25 tháng 9, 2016

Đức Hồng y Parolin tại LHQ: Không có hòa bình, không thể có sự phát triển con người trọn vẹn

Đức Hồng y Parolin tại LHQ: Không có hòa bình, không thể có sự phát triển con người trọn vẹn

Quốc Vụ Khanh Vatican đọc diễn văn khai mạc phiên họp 71 của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc
23 tháng 9, 2016
Mons. Parolin before to be nominate cardinal (Foto archive)
ZENIT - HSM
Đức Hồng y Pietro Parolin, Quốc Vụ Khanh Vatican, hôm thứ Năm đọc diễn văn khai mạc Phiên họp 71 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Dưới đây là văn bản chính:
***
cardinal parolin
Thưa ông Chủ tịch,
Năm ngoái, trong diễn văn cũng trong Hội trường này, Đức Giáo hoàng Phanxico đã vạch rõ Chương trình Nghị sự Phát triển Bền vững 2030 như là “một dấu chỉ quan trọng của sự hy vọng.” Chỉ vài ngày trước [1], ngài đã nhắc lại sự trân trọng của ngài trước những hành động được thực hiện năm trước của Liên Hiệp Quốc, cổ vũ tất cả hãy đưa những mục tiêu đầy triển vọng này vào thực hành: “Việc bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta đòi hỏi một sự đồng tâm nhất trí về chính trị toàn cầu ngày một nhiều hơn. Theo dòng hoạt động này, tôi rất hài lòng vì vào tháng 9 năm 2015 các quốc gia trên thế giới đã thông qua Những Mục tiêu Phát triển Bền vững, và vào tháng 12 năm 2015, họ đã phê chuẩn Hiệp định Paris về thay đổi khí hậu, đã đặt ra mục tiêu đòi hỏi khắt khe, nhưng là căn bản cho việc ngăn chặn sự nóng lên của nhiệt độ toàn cầu. Bây giờ các chính phủ cần phải tuân thủ những cam kết họ đã đưa ra, đồng thời các doanh nghiệp cũng phải gánh trách nhiệm của họ. Đây là việc mọi công dân kiên quyết yêu cầu điều này phải được thực hiện, và thậm chí bảo vệ cho những mục tiêu nhiều triển vọng hơn.” [2]
Thành tựu của Chương trình Nghị sự 2030 gồm một giả định quan trọng của trách nhiệm về phía các Chính phủ và sự cam kết của tất cả mọi người cho thiện ích chung. Sự cam kết này bắt buộc phải nhận ra được nhu cầu đấu tranh không chỉ cho những mục tiêu kinh tế vĩ mô to lớn nhưng còn cho những kết quả cụ thể, lâu dài, và được phân chia một cách công bằng. Tuy nhiên, nếu không có một tình hình tài chính ổn định, những đầu tư lâu dài và một sự giám định thương mại giúp sự phát triển nội địa, Chương trình Nghị sự 2030 sẽ không thể đạt được.
Đức Giáo hoàng Phanxico nhấn mạnh rằng “chính trị và kinh tế, xã hội và văn hóa không thể bị thống trị bởi những suy nghĩ chỉ nhắm vào những lợi ích ngắn hạn và tài chính hoặc bầu chọn tức thời. Thay vì vậy, họ cần phải được chuyển hướng một cách khẩn thiết sang thiện ích chung, trong đó bao gồm tính bền vững và chăm sóc tạo vật. Một trường hợp cụ thể là “món nợ sinh thái” giữa bán cầu nam và bán cầu bắc. Để trả lại cho món nợ này đòi hỏi việc đối xử với môi trường của các quốc gia nghèo hơn bằng sự quan tâm và cung cấp những nguồn tài chính và hỗ trợ kỹ thuật cần thiết để giúp họ đối phó với sự thay đổi khí hậu và thúc đẩy sự phát triển bền vững.” [3]
Chúng ta phải luôn nhớ rằng sự phát triển – đặc biệt là phát triển con người toàn diện – không thể bị áp đặt. Mọi con người, từng cá nhân, phải là những tác nhân chính của Chương trình Nghị sự 2030. Năm trước, cũng trong hội trường này, Đức Giáo hoàng Phanxico khẳng định rằng việc này “bao hàm và đòi hỏi quyền giáo dục, … đây là điều phải được bảo đảm trước hết và trên hết qua sự tôn trọng và củng cố thêm quyền căn bản của gia đình để giáo dục con cái, cũng như quyền của các nhà thờ và các tổ chức xã hội ủng hộ và trợ giúp các gia đình trong việc giáo dục con cái của họ.” [4]  Vì thế, Đức Giáo hoàng tiếp tục, “biện pháp và chỉ số ứng dụng đơn giản nhất và tốt nhất cho Chương trình Nghị sự Phát triển sẽ là quyền sử dụng hiệu quả, thực tế và cấp thời, một phần trong tất cả, những sản phẩm vật chất và tinh thần: nhà ở, việc làm được tôn trọng giá trị và được trả lương xứng đáng, thực phẩm và nước uống phù hợp, tự do tôn giáo và, nói một cách tổng quát, sự tự do tinh thần và giáo dục.” [5]
Một tiến trình như vậy sẽ đem lại sự phát triển con người toàn diện – một khái niệm bao gồm, nhưng không bị làm cạn kiệt bởi, sự phát triển kinh tế – phải kích thích, qua sáng kiến từ nhiều phía, những hệ thống tài chính bổ sung và thay thế có khả năng bảo đảm được những nguồn tài chính dễ tiếp cận và duy trì lâu dài cho những người nghèo nhất.
Như Đức Giáo hoàng Phanxico đã nói ở đây năm ngoái, “Những trụ cột của sự phát triển con người toàn diện có một nền tảng chung, đó là quyền được sống,” [6] điều được diễn tả là “việc thấy giá trị của thân xác của một người trong phái tính nữ hay phái tính nam của nó là cần thiết (Thông điệp Chúc tụng Chúa - Laudato Si’, 155), và tuyệt đối tôn trọng sự sống trong mọi giai đoạn và mọi chiều kích của nó.” [7]
Hơn nữa, nếu không có hòa bình thì không có sự phát triển con người trọn vẹn. Chỉ hai ngày trước ở Assisi, Đức Giáo hoàng Phanxico cùng với rất đông các nhà lãnh đạo tôn giáo khác của thế giới, nhấn mạnh đến tầm quan trọng của đối thoại như là con đường đặc quyền để trở thành những nhà xây dựng hòa bình. Những xung đột không chỉ làm cho kết quả đạt được của Những Mục tiêu Phát triển Bền vững ở cấp độ miền là hoàn toàn không khả thi, mà nó còn phá hủy rất nhiều nguồn lực con người, là nguồn lực sản xuất và di sản văn hóa. Ngày nay, cũng giống như trong các thập niên 1950, 60 và 70, đang có sự tái diễn mối đe dọa của xung đột vũ khí nguyên tử với những hậu quả khủng khiếp của nó.
Hậu quả to lớn và bất hạnh của chiến tranh là một đường xoắn ốc đi xuống, trong đó thường không có lối thoát, làm bùng nổ một sự gia tăng sự phân cực chính trị ở mức độ toàn cầu và thu hẹp những không gian trong đó cộng đồng quốc tế có thể đề xuất những giải pháp hiệu quả cho nền hòa bình bền vững và dài lâu.
Trong số những nhân tố làm suy giảm sự chung sống của xã hội trong các quốc gia và ngầm phá hoại toàn thể cộng đồng quốc tế, chúng ta phải tính toán đến tai họa của chủ nghĩa khủng bố. Trong những năm gần đây, chúng ta đã nhìn thấy sự di căn của chủ nghĩa khủng bố ở rất nhiều nơi trên thế giới. Những vùng lân cận của Syria và Iraq đã và đang trở thành những nạn nhân của vô số những hành động man rợ. Vượt ra khỏi vùng Trung Đông, những hành động tàn ác của chủ nghĩa khủng bố đã gieo rắc sự sợ hãi trong đời sống hàng ngày của quá nhiều người trên trái đất này.
Ở Trung Đông, chúng ta nhìn thấy những hậu quả khủng khiếp của vòng xoáy chiến tranh: nhiều mạng sống đã bị phá hủy; các chính phủ bị sụp đổ; những cuộc ngừng bắn bị phá vỡ; những sáng kiến hòa bình bất thành; và những nỗ lực bị thất bại trong việc giải quyết những nguyên nhân gốc rễ của cuộc xung đột ở Syria, Iraq và Libya, để tìm ra một giải pháp cho cuộc khủng hoảng tranh chức vụ tổng thống ở Li-băng, và để giải quyết cuộc xung đột Israel-Palestin. Sự thất bại liên tục này làm mất đi những hy vọng và cam kết của tất cả những người xem khu vực đó là linh thiêng và thánh thiêng.
Chúng ta cũng có thể chứng kiến những thất bại này trong những xung đột kéo dài đang tiếp tục đè nặng và lấy đi sự sống của quá nhiều người ở Nam Sudan, vùng Great Lakes, và bây giờ là hai năm rưỡi ở Đông Ukraina. Dù tình hình ở những nơi này đã được chú ý rất  nhiều và đã gây ra sự đau khổ quá lớn cho con người, chúng ta vẫn còn quá xa để giải quyết được những nguyên nhân gốc rễ. Gần như là chúng ta đã chấp nhận tình trạng xung đột, chiến tranh và chủ nghĩa khủng bố như là một phần của sự bình thường mới của chúng ta.
Vượt ra ngoài tính cấp bách cần thiết của những cuộc ngừng bắn, của sự tôn trọng phẩm giá và quyền của những dân tộc đang bị ảnh hưởng, và của việc cứu trợ nhân đạo, cũng cần phải tạo điều kiện cho sự đàm phán  với những bên có trách nhiệm trực tiếp hoặc gián tiếp trong những cuộc xung đột. Thật cảm kích về kết quả tích cực ở Colombia, Tòa thánh thực sự hy vọng rằng, qua việc tạo thuận lợi của cộng đồng quốc tế, nhiều hình thức liên lạc và đối thoại sẽ được theo đuổi để giải quyết những xung đột đang xảy ra.
Đặc biệt, ngay từ đầu của cuộc xung đột ở Syria, Tòa thánh đã mời tất cả các bên đến đối thoại, và cộng đồng quốc tế không dành nỗ lực trong việc tạo điều kiện để chấm dứt bạo lực và thúc đẩy những điều kiện đối thoại nhằm mục tiêu tìm ra được một giải pháp chính trị. Tuy nhiên, Syria đã bị tàn phá bởi đủ loại các nhóm vũ trang. Sự hỗn loạn vũ trang phải dừng lại để hòa bình có cơ may diễn ra, và trên hết, để những cứu trợ nhân đạo có thể đến được với những người đang rất cần đến nó. Tòa thánh tin rằng điều này là khả thi miễn là có quyết tâm chính trị đem đến hồi kết cho cuộc chiến.
Bất kể những khó khăn hiện tại, chúng ta vẫn có thể tìm được ở Li-băng một sức thuyết phục rằng thiện ích chung đòi hỏi sự tham gia và hợp tác của mọi thành phần của xã hội, đặt trên nền tảng luật pháp và ý kiến cho rằng các thể chế được xây dựng trên sự tôn trọng phẩm giá vốn có của từng con người. Thỏa thuận hiến pháp của Li-băng, trong đó các nhóm sắc tộc, văn hóa và tôn giáo đa dạng đều có giá trị và góp phần vào sự chung sống hòa bình, cũng có thể là một mô hình cho một giải pháp chính trị trong vùng.
Tòa thánh cũng tin rằng ở Trung đông một cam kết đổi mới luật pháp và tự do tôn giáo và chung sống là một con đường hiệu quả nhất để bảo vệ phẩm giá của tất cả mọi người. Trong bối cảnh này, Thỏa thuận Toàn cầu 2015 mà Tòa thánh đã ký kết với Palestine và sau đó được cả hai bên thông qua đưa và vào trong đạo luật bảo vệ nhân quyền căn bản nhất, trong đó có tự do tôn giáo, quyền chung sống hòa bình, và sự tự do công khai tuyên xưng niềm tin tôn giáo của một người. Trong tình hình phức tạp của Trung Đông, và đặc biệt ở Iraq và Syria, Tòa thánh giữ quan điểm rằng Thỏa thuận Toàn cầu với Palestine có thể phục vụ như một mô hình cho các Quốc gia khác có cấu trúc xã hội tương tự.
Trong bối cảnh của những nỗ lực đổi mới để lấy lại tiến trình hòa bình giữa Israel và Palestine, Tòa thánh xin lặp lại lời thỉnh cầu cả Hai Bên tránh những biện pháp giải quyết đơn phương hoặc không hợp pháp dưới bất kỳ hình thức nào có thể tạo ra những trở ngại cho việc tìm kiếm hòa bình và tiến đến giải pháp hai Chính phủ.
Khi chúng ta nhìn đến hiện tượng di cư cưỡng bức, chúng ta thấy trước mắt chúng ta một lượng dân số đang di chuyển lớn hơn dân số của nhiều Chính phủ đang có đại diện ở đây: 65 triệu người đã bị buộc phải di tản ra khỏi nhà cửa và cộng đồng của họ, vì bách hại, vì xung đột, vì bạo lực và nạn đói lan tràn, và những vùng đất hoang tàn. Một lời khen ngợi xin gửi đến đất nước Li-băng và Jordan vì lòng bao dung mà họ dành cho tất cả những người phải trốn chạy khỏi chiến tranh và tàn phá ở Iraq và Syria cũng như Thổ Nhĩ kỳ, hiện đang là nơi tạm trú của hàng triệu người tị nạn Syria.
Vượt ra ngoài sự quan tâm cấp bách cần thiết của việc tìm cách giải quyết những nguyên nhân của sự di dân cưỡng bức, chúng ta phải lưu ý rằng sự di cư và phát triển được liên kết rất chặt chẽ với nhau. Những hậu quả của sự di cư ồ ạt của những người tị nạn và di dân đe dọa làm suy yếu cam kết của chúng ta về những giá trị của tình đoàn kết và lòng bao dung cho những người thiếu thốn. Những giá trị này nằm ở trung tâm của Năm thánh Đặc biệt Lòng Thương xót mà Đức Giáo hoàng Phanxico đã mở ra trên toàn thế giới. Như Đức Giáo hoàng Phanxico đã nhấn mạnh, “Lòng thương xót là giới răn căn bản cư ngụ trong trái tim của mỗi người biết nhìn một cách chân thành vào đôi mắt của những người anh em chị em trên hành trình cuộc sống,”[8] đặc biệt là những người bé mọn nhất và cô thế nhất.
Dẫn đưa sự chú ý đặc biệt đến những người đang bị cầm tù, Đức Giáo hoàng đã nhắc lại lời thỉnh cầu của ngài “đến lương tâm của các nhà lãnh đạo để họ có thể đi đến một đồng lòng quốc tế nhắm đến loại bỏ án tử hình.”[9]
Nếu không có sự tôn trọng sự sống đích thực và tuyệt đối, sẽ không có sự phát triển thực sự nhân bản, trọn vẹn và bền lâu. Để thúc đẩy sự phát triển này, Đức Giáo hoàng Phanxico đã thiết lập một Bộ mới của Tòa thánh, mục đích của việc thiết lập Bộ này là thúc đẩy công bằng, hòa bình, bảo vệ môi trường, và chăm sóc những người thiếu thốn nhất. Người nghèo và người thiếu thốn là khuôn mặt nhân loại của sự phát triển bền vững mà chúng ta cần hơn bao giờ hết luôn đặt trước tầm nhìn của chúng ta, để chúng ta có thể trở nên những tác nhân đầy trách nhiệm của một xã hội công bằng hơn và thực sự nhân bản hơn.
Xin cảm ơn quý vị.
[1] Message of His Holiness Pope Francis for the Celebration of the World Day of Prayer for the Care of Creation, 1 September 2016.
[2][7] Ibid.
[8] Pope Francis, Misericordiae Vultus Bull of Indiction of the Extraordinary Jubilee of Mercy (11 April 2015),  2.
[9] Ibid.

[Nguồn:  zenit]



[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 24/09/2016]