Tiếp kiến các tham dự viên Cuộc gặp gỡ “Fratelli tutti: Đối thoại xã hội – môi trường Bắc – Nam”
*******
Sáng nay, tại Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã tiếp kiến các tham dự viên Cuộc gặp gỡ “Fratelli tutti: Đối thoại xã hội – môi trường Bắc – Nam” của Hội đồng Giám mục Mỹ Latinh và vùng Caribe (CELAM) và Hội đồng Giám mục Công giáo Hoa Kỳ (USCCB), do Ủy ban Giáo hoàng về Mỹ Latinh thúc đẩy.
Sau đây là bài diễn văn Đức Giáo hoàng gửi tới những người hiện diện tại cuộc gặp gỡ:
Diễn văn của Đức Thánh Cha
[Tiếng Tây Ban Nha]
Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần. Amen.
Bình an ở cùng anh chị em.
Tôi xin gửi lời chào thân ái đến các Đức Hồng y, các Đức Giám mục, các vị hữu trách Giáo hội của Hội đồng Giám mục Mỹ Latinh và vùng Caribe, Hội nghị Giáo hội vùng Amazon và Hội đồng Giám mục Công giáo Hoa Kỳ. Tôi đánh giá cao sự kiên trì mà anh chị em, cùng với Ủy ban Giáo hoàng về Mỹ Latinh, đã duy trì tiến trình đối thoại xã hội - môi trường Bắc - Nam này suốt năm năm qua.
Đồng thời, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với sự hiện diện và hỗ trợ của đại diện các tổ chức quốc tế, các ngân hàng phát triển khu vực, cộng đồng doanh nghiệp và các quỹ đã chọn đồng hành với chúng tôi trên hành trình này.
Tôi cũng xin chào mừng các chủ tịch, phó chủ tịch và tổng thư ký của các liên đoàn công đoàn và các tổ chức người sử dụng lao động từ châu Mỹ, cũng như các vị lãnh đạo những mạng lưới Giáo hội tại Mỹ Latinh và vùng Caribe, các Cộng đồng Tổ chức tại Bắc Mỹ, và các mạng lưới đại học ở cả hai bán cầu. Sự hiện diện của anh chị em thể hiện mong muốn tiếp tục cuộc đối thoại có thể dẫn đến những mô hình phát triển nhân bản hơn, bền vững hơn và đặt nền tảng trên tình liên đới, có khả năng bảo vệ phẩm giá của mỗi người và đặc biệt lưu tâm đến những người có nguy cơ bị gạt ra bên lề.
Cuộc gặp gỡ này đặc biệt đáng chú ý, xét đến phạm vi rộng lớn của các lĩnh vực được đại diện và trách nhiệm mà nhiều tham dự viên đang đảm trách trong những lĩnh vực then chốt của đời sống xã hội, kinh tế và văn hóa. Chính vì lý do đó, không gian đối thoại này có thể giúp chúng ta giải quyết những thách đố đang ảnh hưởng đến tương lai chung của chúng ta với tính thực tế cao hơn.
Khi bắt đầu triều đại giáo hoàng của tôi, trong cuộc gặp gỡ với Hồng y đoàn, tôi đã nhắc lại một số khía cạnh nền tảng của con đường mà Giáo hội hoàn vũ đã và đang tiến bước trong nhiều thập niên qua, theo sau Công đồng Vaticanô II. Trong đó, tôi nhấn mạnh đến sự cần thiết phải có “một cuộc đối thoại can đảm và tin tưởng với thế giới đương đại trong mọi thành phần và thực tại khác nhau của nó” (Diễn văn với Hồng y đoàn, ngày 10 tháng 5 năm 2025).
Cuộc đối thoại như thế là một phần trong chính sứ mạng của Giáo hội, đón nhận từ Đức Giêsu Kitô nhiệm vụ loan báo Tin Mừng cho mọi dân tộc và đem ánh sáng của Tin Mừng đến với những thực tại cụ thể của mọi thời đại. Đặc tính mục vụ là một phần thuộc về bản chất của Giáo hội và thúc đẩy Giáo hội trực tiếp đối diện với thực tại của những con người mà Giáo hội được sai đến. Mệnh lệnh của Tin Mừng về việc chăm lo cho người nghèo cũng đòi hỏi cái nhìn này phải đặc biệt hướng đến những người đang chịu đau khổ nặng nề nhất do những hệ quả của biến đổi xã hội, kinh tế và công nghệ.
Cách đây ít ngày, tôi đã nhắc lại rằng Giáo hội cam kết “dấn thân vào thực tại và vạch rõ những mâu thuẫn đặc trưng cho đời sống cá nhân và xã hội trong thế giới đương đại”, gồm cả những mâu thuẫn đi kèm với sự phát triển khoa học và công nghệ đang mở ra những khả năng chưa từng có (Bài giáo lý, 02 tháng 9 năm 2026).
Sự dấn thân này bén rễ sâu xa trong chính mầu nhiệm của đức tin Kitô giáo. Thiên Chúa đã đi vào lịch sử của chúng ta. Trong Đức Giêsu Kitô, Người đã mặc lấy nhân tính của chúng ta và trao phó cho Giáo hội sứ mạng loan báo Tin Mừng giữa những hoàn cảnh sống thực tế của các dân tộc. Từ Kinh Thánh cho đến các đại Giáo phụ của Giáo hội, như Thánh Ambrôsiô và Thánh Augustinô, truyền thống Kitô giáo đã học cách phân định trong lịch sử điều gì thực sự phục vụ nhân loại và điều gì cuối cùng quay lưng chống lại nhân loại.
Vì thế, những đổi mới của thời đại chúng ta đặt chúng ta trước một trách nhiệm chung. Trong Thông điệp Magnifica humanitas, tôi đã tìm cách diễn tả điều này bằng một hình ảnh Kinh Thánh: chúng ta đang đứng trước một ngã ba đường, nơi chúng ta phải chọn “hoặc xây dựng một Tháp Babel mới, hoặc xây dựng thành đô nơi Thiên Chúa và nhân loại cùng cư ngụ” (1). Vì lý do này, trước sự phát triển công nghệ, câu hỏi mang tính quyết định không chỉ đơn giản là chúng ta chấp nhận hay từ chối một số công cụ nào đó, nhưng là chúng ta muốn xây dựng một nhân loại như thế nào và mỗi người sẽ có vị trí nào trong đó. Một trách nhiệm có tầm mức lớn lao như vậy vượt quá khả năng của bất kỳ một định chế đơn lẻ nào. Vì thế, cần phải làm sống lại nguyên tắc bổ trợ (x. 13), nhìn nhận trách nhiệm riêng của mỗi chủ thể, đồng thời nhận ra sự cần thiết phải làm việc cùng nhau.
Tôi vui mừng vì Giáo hội tại châu Mỹ đã thúc đẩy diễn đàn gặp gỡ và hợp tác này nhằm tiến tới Chương trình nghị sự Bắc – Nam về trách nhiệm chung trong hợp tác đa ngành. Khi các cơ quan công quyền, doanh nghiệp, người lao động, các trường đại học, cộng đồng và các tổ chức xã hội chia sẻ kiến thức, kỹ năng và nguồn lực của mình để phục vụ công ích, điều đó mang đến một hình thái cụ thể cho niềm vững tin đã và đang trưởng thành trong học thuyết xã hội của Giáo hội; điều mà các vị tiền nhiệm của tôi đã phát triển theo nhiều cách khác nhau: những thách đố xã hội lớn đòi hỏi trách nhiệm chung, sự tham gia và hợp tác giữa các lĩnh vực khác nhau của xã hội. Đức Giáo hoàng Phanxicô đã diễn tả cùng một niềm vững tin ấy khi nói về “tình bằng hữu xã hội” (x. Fratelli tutti, 154).
Một chương trình nghị sự về trách nhiệm chung có thể giúp bảo đảm rằng những khác biệt chính đáng không dẫn đến sự phân mảnh. Trong thông điệp đầu tiên của tôi, tôi đã nhấn mạnh rằng tính đa nguyên đòi hỏi một nguyên tắc hiệp nhất, một nguyên tắc giúp tính đa nguyên được định hướng về những nền tảng chung và cùng đích tối hậu của con người (x. MH, 10). Kinh nghiệm hiệp hành của Giáo hội có thể đem lại một bài học ở đây: thực sự lắng nghe những khác biệt không có nghĩa là làm cho chúng bị hòa tan, nhưng là học cách phân định chúng và tìm kiếm, ngay từ bên trong những khác biệt ấy, điều có thể phục vụ ích chung. Việc thực hành này đặc biệt cần thiết trong thời đại mà những diễn ngôn phân cực được khuếch đại tức thời, và sự đối đầu có thể dễ dàng trở thành một công cụ quyền lực (x. MH, 190). Đối diện với động thái này, chính việc các cá nhân và định chế đa dạng như vậy quyết định ngồi lại cùng một bàn đã hàm chứa một trách nhiệm. Đối thoại đích thực đòi hỏi nhiều hơn là sự xã giao thuần túy: nó đòi hỏi chúng ta phải kiên trì trong cuộc đàm luận ngay cả khi xuất hiện những xung đột lợi ích và khi các quyết định đòi hỏi những hy sinh thực sự.
Hơn nữa, đối với các tín hữu, tình huynh đệ tìm thấy nền tảng tối hậu trong một chân lý có trước mọi thỏa thuận: chúng ta có cùng một Cha. Như Tông huấn Fratelli tutti đã nhắc nhở chúng ta: “nếu không mở lòng ra với Cha của mọi người, thì sẽ không có những lý do vững chắc và bền bỉ để kêu gọi tình huynh đệ” (272).
[Tiếp theo bằng tiếng Anh]
Những res novae của thời đại chúng ta khởi động một chuyển động thực sự về “suy tư và hành động” (MH, 174), một chuyển động phải “được hướng dẫn với tầm nhìn xa: bởi những thể chế có khả năng điều tiết mà không bóp nghẹt, và bảo vệ mà không tước đoạt; bởi những doanh nghiệp nhìn nhận lao động và phẩm giá là thước đo của thành công; bởi các tổ chức trung gian và những cộng đồng giáo dục tái xây dựng lòng tin và các mối tương quan; và bởi những công dân vun đắp tinh thần trách nhiệm, sự tiết độ, khả năng phân định và ý thức về sự thật” (MH, 181).
“Đừng sợ” là lời cổ vũ mà các vị tiền nhiệm của tôi đã lặp lại vào những thời điểm quyết định trong đời sống Giáo hội. Hôm nay, tôi cũng muốn biến lời ấy thành lời của chính tôi, bởi vì “chúng ta không nên bị những căng thẳng hay khác biệt làm cho khiếp sợ, vì chúng có thể trở thành những động lực sáng tạo khi được dẫn dắt bởi trách nhiệm chung” (MH, 13).
Học thuyết xã hội của Giáo hội mang lại sự trợ giúp vô giá trong vấn đề này. Nhiều tổ chức hiện diện ở đây đã quen thuộc với học thuyết ấy, đang nghiên cứu và góp phần phổ biến nó. Học thuyết “không phải là một cẩm nang về các nguyên tắc và chuẩn mực để áp dụng, nhưng là một tiến trình phân định chung” (MH, 27). Các nguyên tắc của học thuyết không thay thế những quyết định mà anh chị em phải đưa ra; đúng hơn, các nguyên tắc ấy cung cấp những tiêu chuẩn để đánh giá xem các quyết định đó có thực sự tôn trọng phẩm giá con người và phục vụ ích chung hay không.
Vì lý do này, giá trị của bất kỳ điểm đồng thuận nào có thể đạt được sẽ không chỉ được đo lường bằng số lượng người tán thành. Giá trị ấy sẽ được nhìn nhận qua những lợi ích mà các điểm đồng thuận đó có khả năng bảo vệ, và đặc biệt qua tác động của chúng trên đời sống của những người có ít khả năng tự bảo vệ mình nhất.
Các nguyên tắc công bằng xã hội cung cấp một tiêu chuẩn mang tính quyết định ở đây. Một trật tự xã hội, kinh tế và chính trị chỉ thực sự có thể được gọi là nhân bản khi nó cho phép mọi người – “đặc biệt là những người yếu thế nhất – được sống một đời sống thực sự xứng đáng, không bỏ bất cứ ai lại phía sau” (MH, 77).
Ở cuối Thông điệp Magnifica Humanitas, tôi đã suy niệm về hình của ảnh ngôn sứ Nơkhemia. Đứng trước một Giêrusalem đổ nát, ông lắng nghe nỗi đau khổ của dân mình, mang nỗi đau ấy đến trước mặt Thiên Chúa, phân định điều cần phải làm, tìm kiếm những nguồn lực cần thiết và tổ chức một dự án chỉ có thể được thực hiện nhờ sự tham gia của nhiều người (x. MH, 241).
Tôi muốn đề nghị với anh chị em chính hình ảnh đó cho công việc mà anh chị em đang thực hiện. Cũng vậy, trong thời đại chúng ta, những công trình lớn lao đã sụp đổ ở bất cứ nơi nào tiến bộ không còn phục vụ con người, nơi lao động mất đi phẩm giá, nơi toàn bộ các cộng đồng bị gạt sang một bên, hoặc nơi công nghệ cuối cùng lại đào sâu thêm những chia rẽ mà đáng lẽ ra nó phải giúp chúng ta vượt qua.
Giống như Tiên tri Nơkhemia, anh chị em được mời gọi “bước vào những công trường của lịch sử – các phòng thí nghiệm nghiên cứu, các công ty công nghệ, trường học, các phương tiện truyền thông, các định chế, những cộng đồng địa phương – để xây dựng lại những gì đã sụp đổ và bảo vệ những gì đang bị đe dọa” (MH, 241). Hơn nữa, tôi mời gọi anh chị em hãy cho phép bản thân bị thách đố bởi những dấu chỉ của thời đại, và đón nhận những đóng góp của các ngành khoa học, các nền văn hóa và những kinh nghiệm của nhân loại để phân định những con đường khả thi phía trước.
Thương thảo là một phần của công việc ấy và là một phần của “nền chính trị tốt đẹp hơn”, có khả năng tìm kiếm công ích vượt trên những lợi ích riêng (x. FT, 154). Vì thế, tôi khuyến khích anh chị em vun đắp một “văn hóa thương thảo” lành mạnh (x. MH, 221), một văn hóa có khả năng mở ra những con đường ở nơi mà những khác biệt dường như khép lại mọi khả năng gặp gỡ. Bằng cách này, anh chị em cũng sẽ có thể góp phần vào nền ngoại giao hòa bình mà thế giới chúng ta đang cần.
Tiên tri Nơkhemia đã không tái thiết Giêrusalem một mình. Ông kêu gọi dân tộc của ông, và mỗi người đều làm việc trên phần việc mà họ chịu trách nhiệm xây dựng. Giờ đây, đến lượt anh chị em nhận biết phần việc nào trong công trình chung này đã được trao phó cho anh chị em. Ước mong sự tiến bộ của thời đại chúng ta không để lại những đống đổ nát mới trên bước đường của nó, và ước mong bất cứ điều gì chúng ta xây dựng thực sự là ngôi nhà và nơi nương náu cho mọi người, bắt đầu từ những người túng thiếu nhất.
Xin chân thành cảm ơn anh chị em.
[Nguồn: vatican.va]
[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 13/09/2026]
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét