Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2020

Caritas chuẩn bị cho những gì có thể là xấu nhất của đại dịch (Phỏng vấn)

Caritas chuẩn bị cho những gì có thể là xấu nhất của đại dịch (Phỏng vấn)

Caritas chuẩn bị cho những gì có thể là xấu nhất của đại dịch (Phỏng vấn)


Silvia Costantini

Aug 21, 2020


Tổ chức bác ái quốc tế của Giáo hội Công giáo được huy động để trợ giúp trước con số người đói ngày càng tăng và những vấn đề lớn khác.

Tình trạng khẩn cấp về sức khỏe toàn cầu không chỉ biến những người nhiễm bệnh trở thành nạn nhân, mà cả những người bị ảnh hưởng bởi các phạm vi thuộc kinh tế. Đây là sự thật đặc biệt trong những quốc gia nghèo nhất, nơi hậu quả của virus là không tưởng tượng được đối với hàng triệu người.

Chúng tôi gặp gỡ ông Aloysius John, tổng thư ký của Caritas Quốc tế, là tổ chức hợp tác với các tổ chức Caritas quốc gia và khu vực trên khắp thế giới.

Costantini: Những dư chấn của đại dịch thậm chí có thể còn phức tạp và chết người hơn cả chính ảnh hưởng của virus, đặc biệt đối với những cộng đồng dễ bị tổn thương nhất trong các quốc gia nghèo nhất. Caritas đang đối phó với tình trạng khẩn cấp này như thế nào?

Aloysius John: Nửa đầu của năm 2020 là một cơn ác mộng cho thế giới toàn cầu hóa của chúng ta. COVID 19, được công bố là đại dịch, khiến toàn thế giới nhiễm virus. Hàng trăm ngàn người đã chết trên khắp thế giới, và thế giới toàn cầu hóa đã bắt đầu hành động trong sự đoàn kết để chống lại đại dịch. Trước sự ngạc nhiên, các nhà chính trị và khoa học gia đã bắt đầu đề nghị – hoặc trong một số trường hợp là áp đặt – một số hành vi xã hội nhất định: cách ly toàn dân, đóng cửa các biên giới, những biện pháp vệ sinh quan trọng, và giãn cách xã hội trở thành quy tắc. Những người dân thường trở nên quá ý thức về sự hiện diện của người khác, và người khác như là một mối đe dọa, vì người đó có thể lây truyền virus.

Người ta rời bỏ những cách làm việc thông thường và chấp nhận những cách làm việc mới, đòi hỏi những thói quen làm việc mới. Làm việc thông minh, làm việc từ xa, làm việc tại nhà v.v.. bắt đầu trở thành mô hình mới trong một bối cảnh khi mà mọi sự đều không có gì chắc chắn, chỉ trừ một điều: tương lai vô định và loại virus sẽ dẫn chúng ta tới đâu!

“Điều xấu nhất vẫn chưa xảy ra, nó sẽ là dư chấn của đại dịch,” Đức Thánh Cha Phanxico nói khi chúng tôi gặp ngài vào tháng Ba.

Ngài thúc giục, “Chúng ta phải chuẩn bị cho tương lai. Điều này phải được thực hiện hôm nay và phải là mối quan tâm của tất cả chúng ta.”

Bằng những lời này, chúng ta chắc chắn rằng tác động của Covid-19 và những gì trận đại dịch này sản sinh ra sẽ trở thành thách thức quan trọng nhất. Chương trình Lương thực Thế giới đã thông báo rằng sẽ có vấn đề mất an ninh lương thực với trên 300 triệu người bị ảnh hưởng bởi nạn đói trong tương lai gần. Sự phát triển của những quốc gia đang phát triển sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng do hậu quả của suy thoái kinh tế ở miền bắc.

Caritas chuẩn bị cho những gì có thể là xấu nhất của đại dịch (Phỏng vấn)

“Chúng ta phải chuẩn bị cho tương lai. Điều này phải được thực hiện hôm nay và phải là mối quan tâm của tất cả chúng ta.”

Các hoạt động kinh tế đang bế tắc do sự khó khăn của công việc trong thời gian cách ly. Người nghèo nhất sẽ bị ảnh hưởng lớn nhất, và điều này sẽ dẫn đến tình trạng bần cùng hóa cho những người dễ bị tổn thương nhất. Sự tiếp cận với những tiện ích cơ bản chẳng hạn như trợ giúp y tế và chăm sóc sức khỏe cơ bản cho người dễ bị tổn thương nhất cũng sẽ là một vấn đề chính. Covid-19 phải là một sự khởi đầu mới nơi người nghèo nhất được quan tâm, những nhu cầu căn bản của họ được giải quyết như một ưu tiên, và họ sống trong phẩm giá.

Những hoạt động của Caritas Quốc tế ứng phó với COVID-19

Caritas Quốc tế, cùng với Bộ Phát triển Con người Toàn diện, đã thực hiện một số hoạt động để ứng phó với Covid-19. 

Trước hết là Quỹ Ứng phó Covid được thiết lập để hỗ trợ các dự án cho những cộng đồng dễ bị tổn thương nhất trong các quốc gia nghèo nhất. Việc này là để đáp lại lời kêu gọi của Đức Thánh Cha Phanxico hãy làm chứng qua các hành động cụ thể của tình đoàn kết trong Giáo hội. Tính đến hôm nay, khoảng 30 dự án đã được cấp vốn. Qua những nguồn vốn này, Caritas địa phương thực hiện nhiều loại hình hoạt động khác nhau để xây dựng ý thức, phân phát những bao thực phẩm – vì người nghèo không thể tiếp cận được với lương thực do thiếu phương tiện và việc làm – cũng như sự chăm sóc sức khỏe, qua các bộ dụng cụ vệ sinh, các công cụ làm vệ sinh v.v..

Một phạm vi khác mà Caritas hiện đang tập trung vào là thúc đẩy những hoạt động biện hộ tiến đến việc giải quyết sự khủng hoảng kinh tế hậu Covid-19 trên quan điểm công bằng xã hội. Bây giờ là thời gian phải nhanh chóng và hành động với sự quả quyết, kêu gọi hủy bỏ hoặc giảm bớt nợ quốc tế và sử dụng các quỹ cho sự phát triển cộng đồng địa phương. Các tổ chức có nền tảng đức tin, đặc biệt là các văn phòng Caritas, được đặt đúng chỗ và có thể trở thành những vai chính hữu hiệu trong việc thúc đẩy sự phát triển trong phạm vi nhỏ của địa phương thông qua những quỹ này. Caritas sẽ thực hiện những hoạt động biện hộ trong lĩnh vực này, thúc giục những người đưa ra quyết định cùng cam kết trong vấn đề này.

Các tổ chức thành viên Caritas cũng đã đóng góp để thực hiện những dự án trị giá khoảng 15 triệu Euro trong những vùng khác nhau trên thế giới để xây dựng ý thức và huy động sự trợ giúp trực tiếp về trợ cấp thực phẩm, phân phát những bộ dụng cụ vệ sinh và các công cụ làm vệ sinh và những vật dụng tối cần khác cho người nghèo nhất và dễ bị tổn thương nhất.

Covid-19 chắc chắn sẽ tác động và ảnh hưởng đến phản ứng nhân đạo.

Nếu tôi nhìn lại ba thập niên đã qua, có ba thời điểm quan trọng có ảnh hưởng đến những hoạt động nhân đạo.

Năm 1992 bão lốc xoáy Chittagong và những đợt sóng thủy triều ở Bangladesh đã mang đến khái niệm về sự sẵn sàng ứng phó với thảm họa và qua một thời gian nó trở thành một phần của các hoạt động nhân đạo và phát triển.

Trận bão siêu lốc xoáy và trận động đất Gujarat sau đó tiến thêm một bước xa hơn trong việc hợp nhất sự sẵn sàng ứng phó với thảm họa, đặt trọng tâm vào việc liên kết sự cứu tế, phục hồi và phát triển. Đây là một bước tiến quan trọng để nhìn vào những hoạt động phát triển theo cách nhìn khác. Thời điểm thứ ba là kinh nghiệm Sóng thần Tsunami và đây là một bước tiến chính.

Costantini: Làm việc với Caritas, ông từng là giám đốc của các hoạt động sóng thần Châu Á, đối mặt với sự tàn phá của trận sóng thần năm 2004. Hiện chúng ta đang phải đối mặt với một loại sóng thần toàn thế giới. Như đã đề cập, Chương trình Lương thực Thế giới dự báo trên toàn thế giới rằng số người trên bờ vực của nạn đói sẽ tăng gấp đôi do hậu quả của Covid-19 và có thể lên tới 230 triệu người. Bài học rút ra từ trận sóng thần sẽ giúp ông đối mặt với tình huống hiện tại như thế nào?

Aloysius John: Kinh nghiệm sóng thần rất quan trọng vì nó là sự tổng hợp của tất cả những gì đã được thực hiện từ đầu những năm 90, dẫn đến sự phê phán về Giảm thiểu rủi ro thiên tai. Trách nhiệm giải trình đối với những người hưởng lợi, tầm quan trọng của việc tăng cường các nhân vật chính ở địa phương, và nói một cách dễ hiểu, một sự ứng phó thiên tai lấy người dân làm trung tâm là toàn diện và không thể thiếu vì nó quan tâm đến môi trường. Kinh nghiệm sóng thần đã thúc đẩy ý tưởng thực hiện hành động phù hợp với nhu cầu của người dân.

Giờ đây, Covid-19 đang tiến thêm một bước nữa.

Nó đặt nhu cầu trao quyền cho các tác nhân địa phương lên hàng đầu ở Nam bán cầu và cũng để xây dựng mối tương quan tự tin và tin tưởng. Thảm họa này chắc chắn sẽ đẩy nhanh kế hoạch địa phương hóa, trong đó Caritas địa phương phải được trao quyền để thực hiện các dự án và cũng hành động với các phương cách thích hợp.

Giờ đây, người ta nhận thức được rằng các dự án phát triển hoặc ứng phó với thiên tai không thể là sản phẩm trí tuệ của miền bắc, và điều thứ hai, Covid-19 cũng cho thấy rõ rằng việc ứng phó với thiên tai phải được thực hiện trên tinh thần đồng trách nhiệm. Phải ưu tiên cho các tác nhân địa phương là những người phải được trao quyền, để suy nghĩ về mặt kỹ thuật, phát triển và thực hiện các dự án của riêng họ bằng cách tham gia cùng với cộng đồng địa phương.

Tương lai của luận lý nhân đạo sẽ khác đi với nhiều không gian hơn và nhiều vị trí hơn cho Nam bán cầu đóng vai trò chính đáng của họ.

Điều này cũng sẽ đưa các tổ chức nhân đạo truyền thống ở miền Bắc xác định vai trò của họ trong mô hình quan hệ đối tác mới.

Ứng phó với Covid-19 sẽ cần nhiều phương tiện và ý chí chính trị hơn để giải quyết đại dịch, nhưng tiếc là các phương tiện sẵn có vẫn chưa đủ và cần tiếp tục yêu cầu chung tay với Caritas và các tổ chức khác để hỗ trợ những người dễ bị tổn thương nhất.

Costantini: Làm sao ông lại quyết định cống hiến cuộc đời để phục vụ anh chị em của chúng ta qua Caritas? Ông có thể chia sẻ cho chúng tôi một chút về ơn gọi giúp đỡ của ông?

Aloysius John: Về sự tham gia của cá nhân tôi trong Caritas, đó là một câu hỏi phức tạp để trả lời. Tất cả đều bắt đầu từ cuối thập niên 70. Đó là năm 1977, Vijayawada ở Andhra Pradesh bị ảnh hưởng bởi một cơn bão kéo theo các đợt sóng thủy triều và số người chết khá cao. Một số bạn bè lớn tuổi hơn tôi đã đi giúp đỡ những người nghèo nhất. Cha Ceyrac, một tu sĩ Dòng Tên người Pháp mà tôi biết rõ, đã có mặt trên các tiền tuyến để tổ chức hỗ trợ các nạn nhân. Động lực hành động của cha là, “làm sao một con người có thể tìm thấy hạnh phúc và sự viên mãn khi người anh em của mình còn đang đau khổ và trong hoạn nạn?” Những từ ngữ then chốt của cha để thực hiện hành động là “lòng trắc ẩn, sự phục vụ, sự trao quyền.”

Một ngày vào năm 1978, tôi gặp cha và chúng tôi đang thảo luận về sự ứng phó với Vijayawada và cha giải thích như sau, “Sự thôi thúc phục vụ xuất phát từ lòng trắc ẩn và sự phục vụ với lòng trắc ẩn sẽ trao quyền cho người được phục vụ. Một khi người đó được trao quyền, chúng ta thấy rằng người đó nhận thấy phẩm giá là của họ.” Điều này vẫn hướng dẫn tôi trong sứ mạng tại Caritas.

Năm 1980, tôi tham gia một trung tâm caritas ở Chennai để giúp những người nghèo nhất trong số người nghèo, những người bệnh phong và con cái của họ. Khẩu hiệu của trung tâm này là “không ai có quyền được hạnh phúc một mình”. Những suy tư này đã giúp tôi tiến đến với những người nghèo nhất và phục vụ họ. Chính cuộc gặp gỡ với người nghèo, gặp gỡ với những người bị bỏ rơi bên lề xã hội đã nuôi dưỡng giá trị của tôi và mang lại ý nghĩa cho đức tin của tôi. Tôi có thể nói rằng sự gặp gỡ với người nghèo đã dẫn đến sự hối cải và biến đổi bản thân và thái độ.

Việc phục vụ những người anh em nghèo nhất đã trở thành một phần hòa quyện trong đức tin của tôi và thậm chí ngày nay nó còn tạo động lực và tác động đến thái độ chuyên môn của tôi.

Costantini: Khoảnh khắc cảm động nhất trong cuộc đời ông phục vụ tại Caritas là gì?

Aloysius John: Khoảnh khắc cảm động nhất trong công việc phục vụ của tôi tại Caritas là khi tôi nhìn thấy các cộng đồng được giúp đỡ trở nên tự chủ và được giải phóng. Ở đó bạn cảm thấy một cảm xúc viên mãn, vì cộng đồng đó đã tìm thấy phẩm giá con người của mình và có thể sống trọn vẹn ơn gọi làm người của mình. Kinh nghiệm cảm động nhất là sự phát triển của các bộ lạc Chakma ở Khu vực đồi Chittagong ở Bangladesh. Tôi hỗ trợ dự án này với Caritas Bangladesh từ năm 1989 đến năm 1994-95. Tôi đã gặp những cộng đồng này nhiều lần và nhìn thấy sự tăng trưởng và phát triển cụ thể của họ.

Costantini: Giá trị gia tăng của Caritas là gì? Caritas tạo ra sự khác biệt trong thế giới ngày nay như thế nào?

Aloysius John: Caritas vượt ngoài một tổ chức phát triển hay một tổ chức phi chính phủ. Nó là sự phục vụ của Giáo hội với một tầm nhìn rõ ràng. Đức Giáo hoàng Benedict XVI đã viết, Diakonia hay công cuộc Bác ái là một phần không thể thiếu trong ba sứ mạng của Giáo hội Công giáo. Phụng vụ, Loan báo Tin Mừng, và công cuộc Bác ái có mối liên hệ với nhau và bao hàm lẫn nhau. Công cuộc Bác ái là sứ mạng được giao phó cho Caritas.

Mục đích của sứ mạng được Giáo hội trao phó là phục vụ, đồng hành, bảo vệ và thể hiện tình liên đới và yêu thương bằng những hành động cụ thể dưới hình thức các dự án hoặc các hoạt động khác. Đây chính là những gì chúng tôi đã làm thông qua việc ứng phó với Covid-19.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 24/8/2020]


Thứ Năm, 27 tháng 8, 2020

TOÀN VĂN TIẾP KIẾN CHUNG CỦA ĐỨC THÁNH CHA: ‘Niềm hy vọng của người Kitô hữu, bắt nguồn từ Thiên Chúa, là cái neo của chúng ta’

TOÀN VĂN TIẾP KIẾN CHUNG CỦA ĐỨC THÁNH CHA: ‘Niềm hy vọng của người Kitô hữu, bắt nguồn từ Thiên Chúa, là cái neo của chúng ta’

© Vatican Media

TOÀN VĂN TIẾP KIẾN CHUNG CỦA ĐỨC THÁNH CHA: ‘Niềm hy vọng của người Kitô hữu, bắt nguồn từ Thiên Chúa, là cái neo của chúng ta’

‘Những cộng đoàn Kitô đầu tiên hiểu điều này. Họ đã sống những thời gian khó khăn như chúng ta’

26 tháng Tám, 2020 10:40

ZENIT STAFF

 

Tiếp kiến chung sáng nay được tổ chức lúc 9:39 trong Thư viện của Điện Tông tòa Vatican. Đức Thánh Cha tiếp tục loạt giáo lý mới về việc chữa lành thế giới. Sau phần tóm lược bài giáo lý của ngài bằng một số ngôn ngữ, Đức Thánh Cha gửi lời chào đặc biệt đến các tín hữu. Buổi Tiếp kiến chung kết thúc với Kinh Lạy Cha và Phép Lành Tòa Thánh. Dưới đây là bản dịch (ND: tiếng Anh) không chính thức của Vatican:


***

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Đứng trước đại dịch và những hậu quả xã hội của nó, nhiều người có nguy cơ mất niềm hy vọng. Trong thời gian bấp bênh và đau khổ này, cha mời gọi mọi người hãy chào đón món quà hy vọng đến từ Đức Kitô. Chính Ngài là người giúp chúng ta đi qua những vùng nước đầy biến động của bệnh tật, cái chết và bất công, là những điều không có tiếng nói sau cùng đối với đích đến cuối cùng của chúng ta.

Đại dịch đã phơi bày và làm xấu thêm những vấn đề xã hội, nhất là vấn đề bất bình đẳng. Một số người có thể làm việc tại nhà, trong khi điều này là không thể đối với nhiều người khác. Một số trẻ em, tuy có những khó khăn nhất định, vẫn có thể tiếp tục việc học tập, trong khi nó bị gián đoạn đột ngột đối với nhiều, nhiều trẻ em khác. Một số quốc gia hùng cường có thể lưu hành tiền để đối phó với khủng hoảng, trong khi điều này đồng nghĩa với cầm cố tương lai đối với các nước khác.

Những triệu chứng bất bình đẳng này cho thấy một căn bệnh xã hội; nó là một loại virus xuất phát từ một nền kinh tế bệnh tật. Và chúng ta phải gọi nó một cách đơn giản: nền kinh tế bệnh tật. Nó đã bị bệnh. Nó mang căn bệnh. Nó là kết quả của sự phát triển kinh tế không đồng đều – đây là căn bệnh: kết quả của sự phát triển kinh tế không đồng đều – nó xem thường những giá trị nền tảng của con người. Trong thế giới hôm nay, một số người giàu có sở hữu nhiều hơn tất cả phần nhân loại còn lại, một nhóm nhỏ, sở hữu nhiều hơn tất cả dân số còn lại của nhân loại.

Đây là thống kê thuần túy. Đây là một sự bất công kêu thấu lên tới trời! Đồng thời, mô hình kinh tế này làm ngơ trước sự tàn phá mà ngôi nhà chung của chúng ta đang phải hứng chịu. Sự chăm sóc ngôi nhà chung không được để ý tới.

Chúng ta đang rất gần với việc vượt qua nhiều hạn giới của hành tinh tuyệt vời của chúng ta, với những hậu quả nghiêm trọng và không thể khắc phục được: từ việc mất đi hệ sinh thái và biến đổi khí hậu đến sự tăng cao mực nước biển và phá hủy các khu rừng nhiệt đới. Sự bất bình đẳng và suy giảm môi trường cùng đi với nhau và xuất phát từ cùng nguyên nhân (xem Tông huấn Laudato Si’, 101): đó là tội muốn chiếm hữu và muốn thống trị những người anh chị em, muốn chiếm hữu và thống trị thiên nhiên và chính Thiên Chúa. Nhưng đây không phải là bản thiết kế của tạo vật.

“Ngay từ lúc khởi đầu Thiên Chúa đã trao phó trái đất và những tài nguyên của nó cho quyền cai quản chung của con người để chăm sóc chúng” (Giáo lý Giáo hội Công giáo, 2402). Thiên Chúa kêu gọi chúng ta cai quản trái đất nhân danh của Người (xem St 1:28), canh tác nó và giữ gìn nó như một khu vườn, khu vườn của mọi người (xem St 2:15). “‘Canh tác là nói đến việc trồng trọt, cày cấy hoặc làm việc, trong khi ‘giữ gìn’ có nghĩa là chăm sóc, bảo vệ, trông nom và bảo tồn” (LS, 67). Nhưng hãy cẩn thận đừng giải thích điều này như một sự toàn quyền mà anh có thể làm bất cứ điều gì anh muốn đối với trái đất. Không. Luôn luôn có một “mối tương quan về trách nhiệm đối với nhau” (nt.) giữa chúng ta và thiên nhiên. Một mối tương quan về trách nhiệm đối với nhau giữa chúng ta và thiên nhiên. Chúng ta đón nhận từ tạo vật và về phần mình chúng ta phải trao lại. “Mỗi cộng đồng có thể đón nhận bất kỳ thứ gì họ cần cho sự sống từ sự hào phóng của trái đất, nhưng họ cũng có bổn phận phải bảo vệ trái đất” (nt.). Nó đi theo hai chiều.

Thật vậy, trái đất “đã có ở đây trước chúng ta và nó được trao tặng cho chúng ta” (nt.), nó được Thiên Chúa trao ban “cho toàn thể nhân loại” (GLHGCG, 2402). Và vì vậy bổn phận của chúng ta là bảo đảm rằng hoa trái của nó đến được với mọi người, không chỉ là một số người. Và đây là một yếu tố then chốt của mối tương quan giữa chúng ta với những sự tốt lành của mặt đất. Như các Giáo phụ của Công đồng Vatican II nhắc lại, các ngài nói: “Con người cần phải xem những vật chất bên ngoài mà họ sở hữu một cách hợp lý không chỉ là của riêng họ nhưng cũng là của chung với ý thức rằng những thứ đó có thể mang lại lợi ích không chỉ cho riêng bản thân nhưng cho cả những người khác” (Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, 69). Thật vậy, “Sự sở hữu bất kỳ tài sản nào đều khiến người sở hữu nó trở thành người quản lý của Đấng Quan Phòng, với trách nhiệm làm cho nó đem lại hoa lợi và truyền những ích lợi của nó cho người khác” (GLGHCG, 2404). Chúng ta là những người quản lý của cải, không phải là ông chủ.

Là người quản lý? “Vâng, nhưng của cải đó là của tôi”: đúng vậy, nó là của bạn, nhưng hãy quản lý nó, đừng sở hữu nó một cách ích kỷ cho riêng mình.

Để bảo đảm những gì chúng ta sở hữu mang lại giá trị cho cộng đồng, “giới chức chính trị có quyền và có trách nhiệm phải điều chỉnh việc thi hành quyền sở hữu hợp pháp vì ích chung” (nt., 2406).[1] “Sự phụ thuộc của tài sản riêng đối với đích điểm chung của của cải, [...] là quy tắc vàng của đạo đức xã hội và nguyên tắc đầu tiên của toàn bộ trật tự đạo đức và xã hội ” (LS, 93).[2]

Tài sản và tiền bạc là những khí cụ phục vụ cho sứ mạng. Tuy nhiên, chúng ta dễ dàng biến chúng thành những đích điểm thuộc cá nhân hoặc phe nhóm. Và khi điều này xảy ra, những giá trị cốt lõi của con người bị ảnh hưởng.

Con người khôn ngoan bị biến dạng và trở thành một chủng loài con người của kinh tế – theo nghĩa tiêu cực – là loài người theo chủ nghĩa cá nhân, tính toán và độc đoán. Chúng ta quên rằng chúng ta là những hữu thể có xã hội tính, có tính sáng tạo và tính liên đới với khả năng yêu thương vô bờ bến, được tạo dựng theo hình ảnh của Chúa.

Chúng ta thường quên đi điều này. Trên thực tế, trong số tất cả các loài, chúng ta là những hữu thể có tính hợp tác nhất và chúng ta phát triển mạnh mẽ trong cộng đồng, như được thể hiện rõ rệt trong kinh nghiệm của các vị thánh. Có một câu nói bằng tiếng Tây Ban Nha đã truyền cảm hứng cho cha để viết cụm từ này. Câu đó nói: “Florecemos en racimo, como los santos”: chúng ta phát triển mạnh mẽ trong cộng đồng, như được thể hiện rõ rệt trong kinh nghiệm của các vị thánh.[3]

Khi nỗi ám ảnh chiếm hữu và thống trị đã loại trừ hàng triệu người không được hưởng những thiện ích căn bản; khi sự bất bình đẳng về kinh tế và công nghệ tiến đến mức làm cho cấu trúc xã hội bị xé rách; và khi sự lệ thuộc vào tiến bộ vật chất vô hạn định đe dọa ngôi nhà chung của chúng ta, thì chúng ta không thể khoanh tay đứng nhìn. Không, điều này thật đáng lo. Chúng ta không thể khoanh tay đứng nhìn! Với ánh mắt chăm chú của chúng ta hướng về Chúa Giêsu (xem Dt 12: 2) với sự chắc chắn rằng tình yêu của Người đang hoạt động thông qua cộng đoàn các môn đệ của Người, chúng ta phải cùng nhau hành động, với hy vọng tạo ra điều gì đó khác biệt và tốt đẹp hơn. Niềm hy vọng của Kitô giáo, bắt nguồn từ Thiên Chúa, là cái neo của chúng ta. Nó thúc đẩy ý chí chia sẻ, củng cố sứ mạng của chúng ta là những môn đệ của Đức Kitô, là Đấng đã chia sẻ mọi sự với chúng ta.

Các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi hiểu được điều này. Họ đã sống những thời kỳ khó khăn như chúng ta. Nhận thức rằng họ đã hợp nhất một tâm hồn và một linh hồn, họ đặt tất cả của cải của mình làm của chung, làm chứng cho ân huệ dồi dào của Đức Kitô trong họ (xem Cv 4:32-35). Chúng ta đang trải qua một cuộc khủng hoảng. Đại dịch đã đưa tất cả chúng ta rơi vào sự khủng hoảng. Nhưng chúng ta hãy nhớ rằng sau một cuộc khủng hoảng, con người sẽ không còn như trước. Chúng ta thoát khỏi nó và trở nên tốt hơn, hoặc chúng ta thoát ra khỏi nó và trở nên tồi tệ hơn. Đây là lựa chọn của chúng ta. Sau cuộc khủng hoảng, liệu chúng ta sẽ vẫn tiếp tục với hệ thống kinh tế bất công xã hội và xem nhẹ việc chăm sóc cho môi trường, cho tạo vật, cho ngôi nhà chung của chúng ta không? Chúng ta hãy suy nghĩ về điều này. Ước mong các cộng đồng Kitô giáo của thế kỷ XXI phục hồi lại thực tế đó – quan tâm đến tạo vật và công bằng xã hội: họ cùng tiến bước … – để làm chứng cho sự Phục sinh của Chúa. Nếu chúng ta chăm sóc cho sản vật mà Đấng Tạo hóa đã ban tặng cho chúng ta, nếu chúng ta đem những gì chúng ta sở hữu góp chung theo cách để không ai bị thiếu, thì chúng ta sẽ thực sự khơi dậy niềm hy vọng tái tạo một thế giới lành mạnh và bình đẳng hơn. Và trong phần kết, chúng ta hãy suy nghĩ về những trẻ em. Hãy đọc những con số thống kê: có bao nhiêu trẻ em ngày nay đang chết đói vì sự phân chia của cải không tốt, vì hệ thống kinh tế như cha đã nói ở trên; và bao nhiêu trẻ em ngày nay không có quyền được học hành vì lý do tương tự.

Mong rằng hình ảnh những đứa trẻ bị đói khát và thiếu nền giáo dục đó sẽ giúp chúng ta hiểu rằng sau cuộc khủng hoảng này, chúng ta phải thoát khỏi nó và trở nên tốt hơn. Cảm ơn anh chị em.

______________________

[1] See GS, 71; S. John Paul II, Encyclical Letter Sollicitudo rei socialis, 42; Encyclical Letter Centesimus annus, 40.48).

[2] See S. John Paul II, Encyclical Letter Laborem exercens, 19.

[3] “Florecemos en racimo, como los santos” (We bloom in clusters, like the saints): a popular expression in Spanish.

[Bản dịch (tiếng Anh) không chính thức của Vatican]


[Nguồn: zenit]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 27/8/2020]