Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2022

Thánh Padre Pio được phong thánh ngày này 20 năm trước

Thánh Padre Pio được phong thánh ngày này 20 năm trước

Thánh Padre Pio được phong thánh ngày này 20 năm trước

Thánh Pio Pietrelcina (Padre Pio). | Public Domain.

Courtney Mares


Rome Newsroom, 16 tháng Sáu, 2022 / 09:36 am


Ngày này 20 năm trước, hơn 300.000 người đã tập trung về Quảng trường Thánh Phêrô khi Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II tuyên phong thánh cho Thánh Pio thành Pietrelcina, gọi cuộc đời của ngài là chứng nhân cho “vinh quang của thập giá”.

Đức Gioan Phaolô II nói rằng cuộc đời và sứ mệnh của vị tu sĩ Dòng Capuchin — thường được gọi cách đơn giản hơn là Padre Pio — “chứng minh rằng những khó khăn và sầu muộn, nếu được đón nhận vì yêu, có thể được biến đổi thành con đường đặc ân để nên thánh, mở ra các chân trời tốt lành hơn, chỉ có Chúa mới thấu suốt.”

“Không phải là ‘vinh quang của thập giá’ tỏa sáng trên Thánh Padre Pio sao? Linh đạo thánh giá được sống bởi người tu sĩ Capuchin khiêm nhường của thành Pietrelcina thật hợp lúc. Thời đại của chúng ta cần phải khám phá lại giá trị của thập giá để có thể mở rộng tâm hồn đón nhận hy vọng”, vị Giáo hoàng người Ba Lan nói.

Vào ngày 16 tháng Sáu năm nay, người Công giáo đánh dấu kỷ niệm 20 năm ngày phong thánh tại thị trấn nhỏ San Giovanni Rotondo thuộc miền nam nước Ý, nơi có trung bình 7 triệu người đến hành hương cầu nguyện tại mộ Thánh Padre Pio hàng năm.

Dự kiến ban đầu Đức Hồng y Luis Antonio Tagle sẽ chủ tế thánh lễ kỷ niệm, nhưng đã phải hủy bỏ vào phút cuối vì những vấn đề về sức khỏe.

Đức Tổng Giám mục Franco Moscone, giám mục của Manfredonia-Vieste-San Giovanni Rotondo, chia sẻ với cộng đoàn rằng Đức Hồng y Tagle không thể đến dâng Thánh lễ sau khi bác sĩ của Đức Hồng y khuyên ngài không nên đi xa sau cuộc phẫu thuật mắt bằng laser.


Trong bài giảng, Đức Cha Moscone nhận xét rằng Thánh Padre Pio, một “người tu sĩ bé nhỏ đã đến nơi nhỏ bé và vô danh này hơn một thế kỷ trước, bây giờ đã là một người khổng lồ về tu đức và San Giovanni Rotondo trở thành điểm gặp gỡ của đức tin được cả thế giới biết đến.”

Thánh Padre Pio là một vị thánh nổi tiếng với sự chịu đựng, khiêm nhường và những phép lạ của ngài. Ngài sinh tại Pietrelcina, Ý, năm 1887 và năm lên 10 tuổi đã cảm nhận được linh hứng trở thành một tu sĩ Capuchin. Không bao lâu sau khấn trọng là một tu sĩ dòng Phanxicô và được thụ phong linh mục vào năm 1910, ngài đã được nhận các dấu thánh — những dấu thương của Chúa Kitô hiện diện trên chính xác thịt của ngài.

Vào ngày Lễ Đức Mẹ Lên Trời năm 1914, Cha Piô viết: “Để đạt được mục đích cuối cùng, chúng ta phải đi theo Đấng là Đầu nước trời, Đấng không muốn dẫn dắt linh hồn được chọn đi theo con đường nào khác ngoài con đường mà Ngài đã đi theo; tôi muốn nói về con đường hy sinh và Thập tự giá.”

Tiếng tăm về sự thánh thiện và thừa tác vụ của Cha Padre Pio trong tòa giải tội bắt đầu thu hút những đám đông khổng lồ đến San Giovanni Rotondo trong suốt cuộc đời của ngài. Ngài nổi tiếng về sự nhẫn nại chịu đựng, nhiệt thành cầu nguyện và hướng dẫn thiêng liêng đầy từ bi.

Trong số những người đã đến San Giovanni Rotondo để xưng tội với Cha Padre Pio Cha Karol Wojtyła trẻ tuổi, ngài đã dành ra gần một tuần ở lại thị trấn nhỏ với vị tu sĩ dòng Phanxicô vào năm 1947. Sau đó ngài trở lại thị trấn với tư cách là một hồng y vào năm 1974. (sau cái chết của Cha Padre Pio vào năm 1968) và một lần nữa trong vai trò là Giáo hoàng Gioan Phaolô II vào năm 1987.

Tại lễ phong thánh năm 2002, Đức Gioan Phaolô II bày tỏ hy vọng rằng mẫu gương của Thánh Padre Pio sẽ động viên các linh mục dâng Bí tích Hòa giải “với niềm vui và lòng sốt sắng”.

Ngài nói: “Lý do cuối cùng cho tính hiệu quả thừa tác vụ tông đồ của Thánh Padre Pio, cội rễ sâu xa của rất nhiều hoa trái thiêng liêng có thể được tìm thấy trong sự kết hợp mật thiết và liên tục với Thiên Chúa, được chứng thực bằng những giờ dài cầu nguyện và ngồi tòa giải tội của ngài. Ngài thường nhắc lại, ‘Tôi là một tu sĩ Phanxicô nghèo khó cầu nguyện,’ vững tin rằng ‘cầu nguyện là vũ khí tốt nhất mà chúng ta có, là chìa khóa mở cửa trái tim của Thiên Chúa.”

Đức Gioan Phaolô II nói, “Cầu nguyện và bác ái, đây là sự tổng hợp cụ thể nhất của giáo huấn của Thánh Padre Pio được cung cấp cho con người ngày nay.”



[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 18/6/2022]


Thứ Năm, 16 tháng 6, 2022

Sứ điệp Ngày Thế giới Người nghèo lần thứ 6 của Đức Thánh Cha Phanxicô, 14.06.2022

Sứ điệp Ngày Thế giới Người nghèo lần thứ 6 của Đức Thánh Cha Phanxicô, 14.06.2022

Sứ điệp Ngày Thế giới Người nghèo lần thứ 6 của Đức Thánh Cha Phanxicô, 14.06.2022

*******

Sau đây là bản văn Sứ điệp Ngày Thế giới Người nghèo lần thứ 6 của Đức Thánh Cha Phanxicô, sẽ được tổ chức vào Chúa nhật 33 Mùa Thường niên – năm nay rơi vào ngày 13 tháng Mười Một 2022 – với chủ đề Vì anh em Đức Kitô đã trở nên nghèo khó (x. 2 Cr 8:9):

____________________________________

Sứ điệp của Đức Thánh Cha

Vì anh em Đức Kitô đã trở nên nghèo khó (x. 2 Cr 8:9)

1. “Đức Giêsu Kitô … vì anh em đã trở nên nghèo khó” (x. 2 Cr 8:9). Bằng những lời này, Thánh Phaolô Tông đồ đã ngỏ lời với những người Kitô hữu Côrintô tiên khởi để động viên họ cố gắng thể hiện tình liên đới với những anh chị em đang gặp khó khăn. Ngày Thế giới Người nghèo năm nay đến như một thách đố lành mạnh giúp chúng ta suy ngẫm về cách sống của mình và về nhiều hình thức nghèo nàn xung quanh chúng ta.

Ít tháng trước, thế giới trỗi dậy từ cơn giông tố của đại dịch, cho thấy những dấu hiệu của sự phục hồi kinh tế có thể mang lại lợi ích cho hàng triệu người đã trở thành nghèo đói do mất việc làm. Một vùng trời xanh đang mở ra, dù không làm giảm đi nỗi đau buồn của chúng ta vì đã mất đi những người thân yêu, hứa hẹn sẽ đưa chúng ta trở lại mối quan hệ trực tiếp giữa các cá nhân và giao lưu với nhau mà không có sự cấm đoán hoặc hạn chế nào khác. Nhưng hiện nay, một thảm họa mới đã xuất hiện ở chân trời, đặt thế giới của chúng ta đứng trước một viễn cảnh rất khác.

Cuộc chiến ở Ukraine giờ đây được cộng vào các cuộc chiến tranh khu vực đã cướp đi hàng loạt sinh mạng và gây ra nhiều sự tàn phá. Tuy nhiên, ở đây tình hình còn phức tạp hơn do có sự can thiệp trực tiếp của một “siêu cường” nhằm áp đặt ý chí của họ, vi phạm nguyên tắc về quyền tự quyết của các dân tộc. Các kịch bản bi thảm đang được tái hiện và một lần nữa những yêu cầu quá đáng của một số người có thế lực đang bóp nghẹt tiếng nói của một nhân loại mong muốn hòa bình.

2. Sự nghèo khổ khốn cùng được tạo ra bởi tính vô nghĩa của cuộc chiến! Dù nhìn ở đâu, chúng ta cũng có thể thấy rằng bạo lực tấn công vào những người không có khả năng tự vệ và dễ bị tổn thương. Chúng ta hãy nghĩ đến hàng ngàn người bị trục xuất, trên hết là những thiếu nhi, để cắt đứt nguồn cội của họ và áp đặt cho họ một bản sắc khác. Một lần nữa những lời của tác giả Thánh vịnh lại cho thấy hợp thời. Khi chứng kiến sự tàn phá thành Giêrusalem và sự lưu đày của những thanh niên Do Thái, ông hát lên: “Bờ sông Babylon – ta ra ngồi nức nở mà tưởng nhớ Xion; trên những cành dương liễu, ta tạm gác cây đàn. Bọn lính canh đòi ta hát xướng, lũ cướp này mời gượng vui lên … Bài ca kính Chúa Trời, làm sao ta hát nổi nơi đất khách quê người?” (Tv 137:1-4).

Hàng triệu phụ nữ, trẻ em và người già đang bị buộc phải bất chấp hiểm nguy của bom đạn chỉ để tìm được sự an toàn bằng cách tìm nơi ẩn náu ở các nước láng giềng như những người di tản. Còn bao nhiêu người khác phải ở lại trong vùng chiến sự, sống từng ngày trong nỗi kinh sợ và thiếu thốn thức ăn, nước uống, chăm sóc y tế và hơn hết là tình cảm của con người? Trong những hoàn cảnh này, lý trí bị đen tối và những người cảm nhận hậu quả của nó là vô số những con người bình thường và cuối cùng họ được cộng thêm vào con số khổng lồ những người thiếu thốn. Làm thế nào chúng ta có thể trả lời cách thỏa đáng cho hoàn cảnh này, và mang đến sự trợ giúp và bình an cho tất cả những người đang trong vòng vây của sự bấp bênh và bất ổn?

3. Trong tình hình của cuộc xung đột lớn này, chúng ta kỷ niệm Ngày Thế giới Người nghèo lần thứ sáu. Chúng ta hãy suy ngẫm về những lời kêu gọi của Thánh Tông đồ luôn giữ cái nhìn của chúng ta hướng về Chúa Giêsu, Đấng “vốn giàu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì [chúng ta], để lấy cái nghèo của mình mà làm cho [chúng ta] trở nên giàu có” (x. 2 Cr 8: 9). Trong chuyến viếng thăm Giêrusalem, Thánh Phaolô gặp Thánh Phêrô, Giacôbê và Gioan, những người đã thúc giục ngài đừng quên người nghèo. Cộng đoàn Giêrusalem đang gặp khó khăn lớn do tình trạng thiếu lương thực trong nước. Thánh Tông đồ ngay lập tức bắt tay vào việc tổ chức một cuộc lạc quyên lớn để cứu trợ những người nghèo khổ. Những người Kitô hữu Côrintô đầy lòng cảm thông và ủng hộ. Theo yêu cầu của Thánh Phaolô, vào mỗi ngày đầu tuần, họ quyên góp những gì họ tiết kiệm được và tất cả mọi người đều thể hiện lòng quảng đại.

Kể từ thời điểm đó, mỗi ngày Chúa Nhật, trong khi cử hành Thánh Lễ, chúng ta đều làm việc tương tự, góp chung những của dâng cúng của chúng ta để cộng đoàn có thể cung cấp cho người nghèo. Đó là điều mà người Kitô hữu luôn luôn làm với niềm vui và tinh thần trách nhiệm, để đảm bảo rằng không ai trong số anh chị em của chúng ta thiếu những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Chúng ta tìm thấy sự khẳng định về điều này từ Thánh Justin Martyr, ngài đã viết cho Hoàng đế Antoninus Pius vào thế kỷ thứ hai và mô tả việc cử hành ngày Chúa nhật của người Kitô giáo. Ngài viết, “Vào ngày Chúa nhật, chúng tôi có một cuộc họp cộng đoàn gồm tất cả các thành viên, cho dù họ sống trong thành hay ở các vùng xa xôi. Những hồi ức của các tông đồ hoặc các bài viết của các tiên tri được đọc lên, miễn là có thời gian… Thánh Thể được chia sẻ, mọi người hiện diện rước Mình Thánh, và các phó tế mang đến cho những người vắng mặt. Những người giàu có, nếu có lòng, có thể đóng góp và họ tự quyết định số tiền. Số tiền lạc quyên được quản lý bởi người chủ trì, người đó sử dụng nó để giúp đỡ những trẻ em mồ côi và các bà góa và tất cả những ai đau khổ vì bất cứ lý do gì, cho dù họ bị bệnh, bị tù đày hay xa nhà. Tóm lại, tất cả những ai thiếu thốn đều được quan tâm” (First Apology, LXVII, 1-6).

4. Về phần cộng đoàn Côrintô, sau sự nhiệt thành bộc phát ban đầu, cam kết của mọi người bắt đầu chững lại và sáng kiến do Thánh Tông đồ đề xuất đã mất đi phần nào động lực. Vì lý do này, Thánh Phaolô đã viết thư cho họ và bằng những lời tha thiết kêu gọi họ khởi động lại việc lạc quyên, “để như anh em đã hăng hái quyết định thế nào, thì cũng tuỳ khả năng mà hoàn thành như vậy” (2 Cr 8:11).

Tôi nghĩ rằng thời gian thể hiện lòng quảng đại này trong những năm gần đây đã dẫn đến việc toàn bộ người dân mở rộng cửa chào đón hàng triệu người tị nạn do chiến tranh ở Trung Đông, Trung Phi và bây giờ là Ukraine. Các gia đình đã mở cửa nhà của họ để cung cấp chỗ cho các gia đình khác, và các cộng đồng đã rộng rãi đón nhận nhiều phụ nữ và trẻ em để giúp họ sống với phẩm giá của họ. Mặc dù vậy, các cuộc xung đột càng kéo dài thì hậu quả của chúng càng trở nên gánh nặng nhiều hơn. Những người chào đón thấy ngày càng khó để duy trì các nỗ lực cứu trợ của họ; các gia đình và cộng đồng bắt đầu cảm thấy gánh nặng trước một tình hình tiếp tục vượt xa hơn giai đoạn khẩn cấp. Đây là thời điểm chúng ta không nên ngã lòng nhưng làm mới lại động lực ban đầu. Công việc chúng ta khởi xướng cần được hoàn thành với cùng một tinh thần trách nhiệm.

5. Trên thực tế, đó chính là tình liên đới: chia sẻ một ít những gì chúng ta có với người không có gì, để không ai không có chút gì. Ý thức cộng đồng và sự hiệp thông như một phong cách sống tăng lên và ý thức về tình liên đới được trưởng thành. Chúng ta cũng nên xem xét rằng ở một số quốc gia, trong những thập niên qua, các gia đình đã có sự gia tăng đáng kể về mức độ giàu có và an ninh. Đây là kết quả tích cực của các sáng kiến tư nhân và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế cũng như các động lực cụ thể để hỗ trợ gia đình và trách nhiệm xã hội. Hiện giờ, những lợi ích về an ninh và ổn định cần được chia sẻ với những người bị buộc phải bỏ lại nhà cửa và đất nước để tìm kiếm sự an toàn và sinh tồn. Là thành viên của xã hội dân sự, chúng ta hãy tiếp tục đề cao các giá trị tự do, trách nhiệm, tình huynh đệ và tình đoàn kết. Và là người Kitô hữu, chúng ta hãy luôn lấy đức ái, đức tin và đức cậy làm nền tảng cho cuộc sống và hành động của mình.

6. Điều thú vị là Thánh Tông đồ không muốn bắt buộc người Kitô hữu phải thực hiện những công việc bác ái: “Tôi nói thế không phải để ra lệnh cho anh em đâu” (2 Cr 8:8). Thay vào đó, Thánh Phaolô đang “xem lòng yêu mến [của họ] chân thành đến mức nào” qua sự quan tâm nhiệt thành của [họ] đối với người nghèo (sđd). Chắc chắn, yêu cầu của Thánh Phaolô được thúc đẩy bởi nhu cầu hỗ trợ cụ thể; Tuy nhiên, mong muốn của ngài còn sâu sắc hơn nhiều. Ngài yêu cầu các tín hữu Côrintô lấy việc lạc quyên là dấu chỉ của tình yêu, tình yêu được chính Chúa Giêsu thể hiện. Tóm lại, lòng quảng đại đối với người nghèo có động lực mạnh mẽ nhất nơi tấm gương của Con Thiên Chúa, Đấng đã chọn trở nên nghèo khó.

Thật vậy, Thánh Tông đồ nói rõ rằng mẫu gương này của Đức Kitô, “sự nghèo khó” này là một ân sủng: “ân sủng của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (2 Cr 8:9). Chỉ khi chấp nhận nó, chúng ta mới có thể thể hiện đức tin của mình cách cụ thể và nhất quán. Giáo huấn của toàn bộ Tân Ước đều chung quy về điểm này. Lời dạy của Thánh Phaolô được Thánh Tông đồ Giacôbê lặp lại: “Anh em hãy đem Lời ấy ra thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình. Thật vậy, ai lắng nghe Lời Chúa mà không thực hành, thì giống như người soi gương thấy khuôn mặt tự nhiên của mình. Người ấy soi gương rồi đi, và quên ngay không nhớ mặt mình thế nào. Ai thiết tha và trung thành tuân giữ luật trọn hảo - luật mang lại tự do -, ai thi hành luật Chúa, chứ không nghe qua rồi bỏ, thì sẽ tìm được hạnh phúc trong mọi việc mình làm” (Gc 1:22-25).

7. Ở đâu người nghèo được quan tâm, lời nói không phải là điều quan trọng; điều quan trọng là chúng ta phải xắn tay áo lên và thực hành niềm tin của chúng ta thông qua sự tham gia trực tiếp, không phải là ủy thác. Tuy nhiên, đôi khi một sự buông lỏng có thể len lỏi vào và dẫn đến những hành vi thiếu nhất quán, trong đó có sự thờ ơ đối với người nghèo. Cũng có thể có một số người Kitô hữu, vì quá gắn bó với tiền bạc, vẫn sa lầy vào việc sử dụng của cải và tải sản cách không tốt. Những tình huống này cho thấy một đức tin yếu ớt và đức cậy mong manh, thiển cận.

Chúng ta biết rằng vấn đề không nằm ở tiền bạc, vì tiền là một phần của cuộc sống hàng ngày của chúng ta trong vai trò là những cá nhân và trong các mối quan hệ xã hội của chúng ta. Đúng hơn, điều chúng ta cần xem xét là giá trị mà chúng ta đặt lên trên tiền bạc: nó không được trở thành mục đích chính và tuyệt đối trong cuộc sống của chúng ta. Sự gắn bó với tiền bạc cản trở chúng ta nhìn cuộc sống hàng ngày với quan điểm hiện thực; nó làm mờ cái nhìn của chúng ta và làm chúng ta trở nên mù trước sự thiếu thốn của người khác. Không có gì tồi tệ hơn có thể xảy ra cho một người Kitô hữu và cho một cộng đoàn hơn việc bị lóa mắt bởi ngẫu thần của cải, là điều cuối cùng trói buộc chúng ta vào một tầm nhìn phù du và phá sản về cuộc sống.

Do đó, vấn đề không phải là tiếp cận người nghèo với “tâm lý bố thí” như thường xảy ra, nhưng là bảo đảm rằng không ai thiếu những gì cần thiết. Chủ thuyết hoạt động không giải thoát, mà chính sự quan tâm chân thành và quảng đại khiến chúng ta tiếp cận với một người nghèo như là một người anh chị em, người đưa bàn tay giúp tôi rũ bỏ sự u mê mà tôi đã rơi vào. Do đó, “không ai được nói rằng họ không thể gần gũi với người nghèo vì lối sống của họ khiến họ phải quan tâm nhiều hơn đến các lĩnh vực khác. Đây là một lời bào chữa thường được nghe trong giới học thuật, kinh doanh hoặc chuyên môn, và thậm chí cả giáo hội… Không ai trong chúng ta có thể nghĩ rằng chúng ta được miễn trừ việc quan tâm đến người nghèo và công bằng xã hội” (Tông huấn Evangelii Gaudium, 201). Cần phải cấp thiết tìm ra những giải pháp mới có thể vượt xa hơn việc tiếp cận với những chính sách xã hội được coi là “chính sách cho người nghèo, mà không bao giờ là với người nghèo và của người nghèo, càng không phải là một thành phần của của một dự án đoàn kết mọi người” (Tông huấn Fratelli Tutti, 169). Thay vào đó, chúng ta cần noi gương thái độ của Thánh Tông đồ đã viết cho tín hữu Côrintô: “Vấn đề không phải là bắt anh em sống eo hẹp để cho người khác bớt nghèo khổ. Điều cần thiết là phải có sự đồng đều” (2 Cor 8:13).

8. Có một nghịch lý mà ngày nay, cũng như trong quá khứ, chúng ta khó chấp nhận, vì nó mâu thuẫn với lối suy nghĩ của con người chúng ta: có một hình thức của sự nghèo khó có thể làm cho chúng ta trở nên giàu có. Qua việc xin “ân sủng” của Chúa Giêsu Kitô, Thánh Phaolô muốn khẳng định thông điệp ngài đã rao giảng. Thông điệp cho thấy rằng của cải đích thực không phải là “tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ trộm khoét vách lấy đi” (Mt 6:19), mà là ở tình yêu thương lẫn nhau giúp chúng ta mang lấy gánh nặng của nhau để không ai bị bỏ lại phía sau hoặc bị loại trừ. Ý thức về sự yếu đuối và giới hạn mà chúng ta đã trải qua trong những năm gần đây, và bây giờ là thảm kịch của cuộc chiến với những hậu quả toàn cầu của nó, phải dạy cho chúng ta một điều trọng yếu: chúng ta ở trong thế giới này không chỉ để tồn tại, nhưng để sống một cuộc sống đúng phẩm giá và hạnh phúc. Thông điệp của Chúa Giêsu chỉ ra cho chúng ta con đường và làm cho chúng ta nhận ra rằng có một sự nghèo nàn làm nhục và sát nhân, và một sự nghèo khó khác, sự nghèo khó của Đức Kitô, giải thoát chúng ta và mang lại cho chúng ta sự bình an.

Cái nghèo giết người là sự khốn cùng, là con đẻ của sự bất công, bóc lột, bạo lực và sự phân phối tài nguyên không công bằng. Đó là một sự nghèo khổ vô vọng và không thể thay đổi, do cái văn hóa vứt bỏ không mang đến những triển vọng tương lai cũng như không có lối thoát áp đặt. Đó là sự khốn cùng không chỉ đẩy con người xuống đến mức bần cùng về vật chất, mà còn làm xói mòn chiều kích tinh thần, dù thường bị bỏ qua, nhưng nó vẫn còn đó và vẫn là quan trọng. Khi quy luật duy nhất chỉ là lợi nhuận thì không có gì ngăn cản chúng ta xem người khác đơn thuần là đối tượng để lợi dụng; người khác chỉ là một phương tiện để đạt mục tiêu. Không còn tồn tại những thứ như đồng lương công bằng hoặc giờ làm việc công bằng, và các hình thức nô lệ mới xuất hiện và gài bẫy những người không có lựa chọn thay thế và buộc phải chấp nhận sự bất công độc hại này chỉ vì cố kiếm sống.

Ngược lại, sự nghèo khó giúp chúng ta trở nên tự do là kết quả của một quyết định đầy trách nhiệm để loại bỏ tất cả những gánh nặng chết người và tập trung vào những gì thiết yếu. Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra sự thiếu thỏa mãn mà nhiều người cảm nhận bởi vì họ cảm thấy rằng cuộc sống của họ đang thiếu một điều gì đó quan trọng, dẫn đến kết quả là họ đi lang thang không mục đích để tìm kiếm nó. Với mong muốn tìm kiếm thứ gì đó có thể mang lại cho họ sự thỏa mãn, họ cần một người hướng dẫn họ đến với những người tầm thường, người dễ bị tổn thương và người nghèo, để cuối cùng họ có thể nhìn thấy bản thân họ thiếu những gì. Gặp gỡ người nghèo giúp chúng ta chấm dứt nhiều sự lo lắng và nỗi sợ hãi trống không, và đi đến điều thực sự quan trọng trong cuộc sống, là kho báu mà không ai có thể lấy cắp khỏi chúng ta: tình yêu thật sự và nhưng không. Người nghèo, trước khi là đối tượng cho sự bố thí của chúng ta, thì họ là những người có thể giúp chúng ta thoát khỏi cạm bẫy của lo lắng và hời hợt.

Một vị Giáo phụ và Tiến sĩ Giáo hội, Thánh John Chrysostom, người có những bài viết với những lời chỉ trích sắc bén về cách cư xử của người Kitô hữu đối với người nghèo, đã từng viết: “Nếu bạn không thể tin rằng sự nghèo khó có thể làm cho bạn trở nên giàu có thì hãy nghĩ đến Chúa và bỏ đi sự hoài nghi. Nếu Chúa không trở nên nghèo thì bạn đã không trở nên giàu có. Đây là một điều đáng kinh ngạc: sự nghèo khó đã trở thành nguồn gốc của sự giàu sang. Điều mà Thánh Phaolô muốn nói đến “sự giàu sang” [x. 2 Cr 8:9] đó là sự hiểu biết về lòng thành kính, sự thanh sạch khỏi tội lỗi, sự công bằng, sự thánh hóa và hàng ngàn điều tốt lành khác đã được ban cho chúng ta bây giờ và luôn mãi. Tất cả những điều này chúng ta có được là nhờ vào sự nghèo khó” (Bài giảng về II Côrintô, 17, 1).

9. Những lời của Thánh Tông đồ được chọn làm chủ đề cho Ngày Thế giới Người nghèo năm nay trình bày một nghịch lý lớn trong đời sống đức tin của chúng ta: Sự nghèo khó của Đức Kitô làm cho chúng ta trở nên giàu có. Thánh Phaolô đã có thể trình bày lời dạy này, điều mà Giáo Hội truyền bá và làm chứng qua nhiều thế kỷ, bởi vì chính Thiên Chúa đã chọn đi theo con đường này qua Con của Người là Chúa Giêsu. Vì Đức Kitô đã trở nên nghèo khó vì chúng ta nên đời sống của chúng ta được soi sáng và biến đổi, và nhận lấy một giá trị mà thế gian không biết trân quý và không thể ban tặng.

Kho tàng của Chúa Giêsu là tình yêu của Người, một tình yêu không loại trừ ai và tìm kiếm tất cả mọi người, đặc biệt là những người bị gạt ra ngoài lề xã hội và những người bị tước đoạt những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Vì yêu, Người đã trút bỏ vinh quang và mặc lấy thân phận con người của chúng ta. Vì yêu, Người đã trở thành người tôi tớ, vâng phục đến độ chấp nhận cái chết và chết trên thập giá (x. Pl 2:6-8). Vì yêu, Người đã trở thành “bánh ban sự sống” (Ga 6:35), để mọi người có được những gì họ cần và tìm được nguồn nuôi dưỡng cho sự sống đời đời. Cũng như các môn đệ của Chúa đã khó chấp nhận lời dạy này (xem Ga 6:60), thì với chúng ta ngày nay cũng vậy. Tuy nhiên, những lời của Chúa Giêsu rất rõ ràng: nếu chúng ta muốn sự sống chiến thắng sự chết, và phẩm giá được cứu chuộc khỏi sự bất công, chúng ta cần đi theo con đường khó nghèo của Chúa Giêsu, chia sẻ cuộc sống của chúng ta vì yêu, bẻ bánh cuộc sống hằng ngày của chúng ta với những anh chị em của chúng ta, bắt đầu với những người hèn mọn nhất, những người thiếu cả những thứ thiết yếu nhất của cuộc sống. Đây là con đường tạo ra sự bình đẳng, giải thoát người nghèo khỏi cảnh khốn cùng và người giàu thoát khỏi sự phù phiếm của họ, và cả người giàu và người nghèo thoát khỏi sự tuyệt vọng.

10. Vào ngày 15 tháng Năm vừa qua, tôi đã tuyên phong thánh cho Tu huynh Charles de Foucauld, một người sinh ra trong giàu có, đã từ bỏ mọi thứ để theo Chúa Giêsu, để trở thành người anh em nghèo khó đối với mọi người như Chúa. Cuộc sống ẩn tu của Thánh Charles, đầu tiên ở Nazareth và sau đó đến sa mạc Sahara, là một cuộc sống của sự thinh lặng, cầu nguyện và chia sẻ, một chứng tá gương mẫu cho sự nghèo khó của Kitô giáo. Chúng ta cần phải suy gẫm về những lời này của ngài: “Chúng ta đừng khinh thường người nghèo, người bé mọn, những người lao động; không chỉ vì họ là anh chị em của chúng ta trong Chúa, họ còn là những người noi gương Chúa Giêsu cách hoàn hảo nhất trong đời sống vật chất của Ngài. Họ đại diện cách hoàn hảo cho Chúa Giêsu, là người lao động của làng Nazareth. Họ là con đầu lòng trong số những người được chọn, là những người đầu tiên được gọi vào nôi của Đấng Cứu Thế. Họ là bạn đồng hành liên tục của Chúa Giêsu, từ khi Ngài hạ sinh cho đến khi chết… Chúng ta hãy tôn vinh họ; chúng ta hãy tôn vinh nơi họ hình ảnh của Chúa Giêsu và cha mẹ thánh của Người… Chúng ta hãy nhận lấy [điều kiện] mà Người đã tự nhận lấy cho mình… Chúng ta đừng bao giờ từ bỏ sự nghèo khó về mọi thứ, đừng từ bỏ là anh chị em với người nghèo, là bạn đồng hành với người nghèo; mong rằng chúng ta là người nghèo nhất trong những người nghèo như Chúa Giêsu, và cũng như Ngài yêu thương người nghèo và ở giữa họ” (Chú giải Phúc âm theo Thánh Luca, Bài suy niệm 263). [1] Đối với Tu huynh Charles, đó không đơn thuần là những lời nói, mà còn là một cách sống cụ thể khiến ngài chia sẻ với Chúa Giêsu của lễ dâng chính cuộc sống của mình.

Nguyện ước Ngày Thế giới Người nghèo năm 2022 này sẽ trở thành một thời gian ân sủng cho chúng ta. Ước mong nó làm cho chúng ta biết kiểm tra lương tâm cá nhân và cộng đoàn và tự hỏi bản thân xem sự nghèo khó của Chúa Giêsu Kitô có phải là người bạn đồng hành trung thành của chúng ta trong cuộc sống hay không.


Roma, Đền Thánh Gioan Lateran, 13 tháng Sáu 2022 Lễ nhớ Thánh Antôn Padua

PHANXICÔ

[1] Meditation No. 263 on Lk 2 :8-20: C. DE FOUCAULD, La Bonté de Dieu. Méditations sur les saints Evangiles (1), Nouvelle Cité, Montrouge 1996, 214-216.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 16/6/2022]