Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2026

TUYÊN PHONG CHÂN PHƯỚC ĐỨC CHA FULTON SHEEN/IV – Những người con của cùng một Cha. Đức Fulton Sheen và nạn phân biệt chủng tộc

TUYÊN PHONG CHÂN PHƯỚC ĐỨC CHA FULTON SHEEN/IV – Những người con của cùng một Cha. Đức Fulton Sheen và nạn phân biệt chủng tộc

Thứ Ba, ngày 22 tháng 9 năm 2026

TUYÊN PHONG CHÂN PHƯỚC ĐỨC CHA FULTON SHEEN/IV – Những người con của cùng một Cha. Đức Fulton Sheen và nạn phân biệt chủng tộc

Marie-Lucile Kubacki

Rochester (Hãng tin Fides) – “Xung quanh chúng ta có những người không bao giờ ngừng căm ghét một ai đó hoặc điều gì đó, luôn hô to: ‘Đả đảo chủ nghĩa tư bản! Đả đảo các nghiệp đoàn! Đả đảo tôn giáo! Đả đảo chính phủ! Đả đảo giới tài phiệt kinh tế! Đả đảo tư hữu! Đả đảo giai cấp này! Đả đảo giai cấp kia!’ Nhưng tôi nói: ‘Hãy vượt lên trên hận thù giai cấp! Hãy vượt lên trên mọi sự thù ghét! Chúng ta hãy ngừng đả đảo mọi thứ, và bắt đầu ngước nhìn lên, nhìn lên, nhìn lên, nhìn lên Thiên Chúa!’”

Đức cha Fulton J. Sheen đã cất lên những lời nổi tiếng này tại Los Angeles trong thời Thế chiến thứ Hai, trong một lời kêu gọi hòa bình giữa người Do Thái, người Tin Lành và người Công giáo nhằm chống lại khuynh hướng thù địch tập thể. Những lời đó cũng cho thấy một cái nhìn thoáng qua ít được chú ý trong chứng tá công khai của vị giáo sĩ người Mỹ này: sự phản đối kiên trì của ngài đối với nạn phân biệt chủng tộc, được thể hiện từ rất lâu trước khi các đạo luật về dân quyền được ban hành vào thập niên 1960.


Một bệnh viện phụ sản dành cho các bà mẹ da đen

Năm 1938, vị linh mục Công giáo nhận được một khoản thừa kế từ Nữ Công tước Brady, một ân nhân mà ngài đã gặp tại Lộ Đức. Thomas C. Reeves viết trong cuốn America’s Bishop: The Life and Times of Fulton J. Sheen rằng Cha Sheen đã dành phần lớn số tiền này cho Giáo phận Mobile, bang Alabama, để giúp các Nữ tu Lòng Thương xót (Sisters of Mercy) sử dụng khoản tiền ấy xây dựng một khu hộ sinh nhỏ dành cho các bà mẹ da đen. Tại Mobile, nơi nạn phân biệt chủng tộc đang thống trị, những người mẹ da đen bị loại khỏi các bệnh viện dành riêng cho bệnh nhân da trắng. Chương trình được tài trợ bằng nguồn quỹ này sau đó gắn liền với Bệnh viện Martin de Porres. Sáng kiến đó mở rộng theo thời gian. Năm 1950, một cơ sở bệnh viện lớn hơn được khánh thành sau một chiến dịch gây quỹ quy mô lớn, trong đó Cha Sheen tiếp tục tham gia. Ông Reeves cũng cho biết mối quan tâm của Cha Sheen đối với dự án này có liên quan đến Fanny Washington, người đầu bếp và quản gia người Mỹ gốc Phi của ngài.

Trong những năm tiếp theo, Đức cha Sheen đã hiến tặng tiền nhuận bút từ các cuốn sách của ngài và thù lao nhận được từ các buổi diễn thuyết trước công chúng cho các sáng kiến và tổ chức Công giáo tại Alabama. Những đóng góp này bao gồm việc ngài hỗ trợ cho Giáo điểm Truyền giáo Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ ở Hillview, Alabama, cũng như đóng góp cho các nhà nguyện và các dự án truyền giáo lưu động ở Bắc Carolina và Texas.

Năm 1942, sau khi nhận lời mời của một người phụ nữ da đen, ngài đi đến một thị trấn nhỏ ở Bắc Carolina, nơi ngài giảng một tuần đại phúc trên các bậc tam cấp của trường công lập địa phương. Một năm sau, ngài cùng một linh mục đi xuyên qua Alabama trên một chiếc xe kéo, nói chuyện “tại các góc phố và giữa những cánh đồng ngô với bất cứ ai chịu lắng nghe”, ông Reeves viết.

Những câu chuyện này diễn ra vào thời điểm người Công giáo da đen thường sống bên lề đời sống Giáo hội và dân sự Hoa Kỳ. Chúng cho thấy quyết tâm của Đức cha Sheen trong việc sử dụng ảnh hưởng, số tiền ngài quyên góp được và sự hiện diện công khai của mình để phục vụ những cộng đồng có rất ít khả năng tiếp cận những nguồn lực như vậy.


Từ Mobile đến Rochester

Sự trợ giúp cụ thể mà Đức cha Sheen dành cho các cộng đồng Công giáo da đen bắt nguồn từ một xác tín luân lý và thần học rộng lớn hơn. Nhân quyền, như ngài lập luận trong tác phẩm A Declaration of Dependence (1941), không bắt nguồn từ chính phủ và không thể bị phụ thuộc vào sở thích của số đông. Nền tảng của các quyền ấy là phẩm giá của nhân vị trước mặt Thiên Chúa. Về điểm này, chính quyền có thể công nhận và bảo vệ các quyền; nhưng chính quyền không thể gán giá trị thấp hơn cho một nhóm người này so với một nhóm người khác, theo bất kỳ tiêu chuẩn công lý căn bản nào.

Bắt nguồn từ truyền thống Kitô giáo, quan điểm này đã dẫn Đức cha Sheen đến chỗ coi thành kiến chủng tộc trước hết là sự khước từ nhìn nhận người khác như một người con của Thiên Chúa.

Khi Đức Sheen trở thành Giám mục Rochester năm 1966, ngài đến một thành phố đang chịu những hậu quả của tình trạng bất bình đẳng chủng tộc ở miền Bắc. Các cuộc bạo động vào tháng 7 năm 1964 đã làm bùng phát sự phẫn nộ do các biện pháp của cảnh sát, điều kiện nhà ở, việc làm và sự loại trừ khỏi những lợi ích kinh tế của một thành phố công nghiệp. Các tổ chức Công giáo tại Rochester trước đó đã bắt đầu có phản ứng: Hội đồng Liên chủng tộc Công giáo được thành lập năm 1960, trong khi các sáng kiến của giáo phận cung cấp sự trợ giúp cho trẻ em da đen và các gia đình Puerto Rico. Trong thời gian điều hành giáo phận, Đức cha Sheen đã thể hiện sự hỗ trợ rõ rệt cho hoạt động này. Báo chí Công giáo tại Rochester đưa tin rằng, giữa năm 1967 và 1968, chính ngài đã thành lập một tổ chức mà sau này phát triển thành Quỹ Nhà ở Hiệp nhất Giám mục Sheen (Bishop Sheen Ecumenical Housing Foundation), một cơ quan cung cấp nhà ở giá cả phải chăng hiện vẫn đang hoạt động trong vùng nhằm giải quyết tình trạng thiếu hụt nhà ở đàng hoàng cho cư dân có thu nhập thấp.

Sự phân biệt đối xử trong lĩnh vực nhà ở không chỉ giới hạn ở miền Nam. Tại các thành phố miền Bắc, tình trạng này tiếp diễn qua sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận với nhà cho thuê, mua bán nhà, các khoản vay thế chấp và tín dụng, cũng như thông qua các thông lệ phi chính thức nhằm hạn chế nơi các gia đình có thể sinh sống.

Tại Rochester, Đức cha Sheen cũng tham gia vào cuộc tranh luận công khai về việc làm và sự loại trừ chủng tộc tại Eastman Kodak, nhà tuyển dụng tư nhân lớn nhất thành phố. Một bài viết đăng trên tạp chí America liệt kê ngài vào số những người gây áp lực buộc Kodak phải cải thiện cơ hội tiếp cận đào tạo và việc làm cho các công nhân da đen (“Fulton Sheen, God’s Love and the Civil Rights Movement”, ngày 26 tháng 8 năm 2026).


Một viễn cảnh truyền giáo ôm lấy toàn thể nhân loại

Chiều kích quốc tế trong sứ vụ của Đức cha Sheen càng củng cố thêm góc nhìn này. Từ năm 1950 đến năm 1966, ngài đảm nhiệm vai trò Giám đốc Quốc gia Hội Truyền bá Đức tin (Society for the Propagation of the Faith) tại Hoa Kỳ. Vị trí này đã đưa ngài vào vai trò nói với người Công giáo Mỹ về một Giáo hội vượt lên trên các văn hóa, ngôn ngữ và quốc gia.

Trong các chuyến đi vào năm 1960, ngài đến thăm Argentina và Brazil, dành thời gian đặc biệt tại Buenos Aires và Rio de Janeiro. Tại Rio, ngài nhận thấy sự tương phản gay gắt giữa sự giàu có tột bậc và sự nghèo khổ khốn cùng: sự đối lập giữa các khu phố ven biển sang trọng của thành phố và sự thiếu thốn cơ cực chỉ cách đó một khoảng cách ngắn đã thách thức bất kỳ sự đánh đồng đơn thuần nào giữa thành công kinh tế và xã hội với nhân đức luân lý. Sau đó, ngài đến Kenya thăm các giáo điểm truyền giáo và các cộng đồng đang gánh chịu bệnh tật, cô lập và tình trạng bất an sâu sắc. Ngài dâng Thánh lễ trong một nhà thờ truyền giáo khiêm tốn với nền đất nén trộn phân gia súc, và sau đó nhớ lại cuộc gặp gỡ với một người phụ nữ, mẹ của mười người con, đã bị chồng bỏ rơi. Hành trình của ngài cũng đưa ngài đến Johannesburg, nơi ngài tận mắt chứng kiến chế độ phân biệt chủng tộc apartheid. Các bản tường thuật về chuyến thăm mô tả quyết tâm của ngài, bất chấp sự cản trở từ chính quyền, trong việc đến gặp một giáo lý viên da đen tại một khu vực bị phân biệt đối xử.

Tại một hội nghị truyền giáo ở St. Louis vào năm 1953, Đức cha Sheen đã liên kết một cách rõ ràng tính phổ quát của sứ mạng Công giáo với việc bác bỏ bất kỳ sự phân thứ bậc nào dựa trên sắc tộc. Theo một bài tường thuật kể lại cuộc quy tụ được đăng trên National Catholic Register, ngài nói với các nhà truyền giáo: “Đừng để ý đến chủng tộc hay màu da, vì trên thế giới không có người thấp kém khi họ là những người con của ân sủng nhờ các bí tích.” (“When Venerable Fulton Sheen addressed 270,000 people in St. Louis,” 14 tháng 4 năm 2026.) Cũng trong bài diễn văn đó, Đức cha Sheen đã đề cập đến niềm tin của người Hồi giáo vào một Thiên Chúa duy nhất và lòng tôn kính của họ dành cho Chúa Giêsu và Đức Mẹ. Ngài cũng nói về Trung Quốc như một đất nước vẫn mở ra cho sự canh tân đức tin, mặc dù đang trải qua một giai đoạn khó khăn.


Bác ái đối với “người lân cận” mà chúng ta không chọn làm người lân cận

Đức Fulton Sheen không dễ dàng được xếp vào các phạm trù chính trị đương thời. Theo thuật ngữ xuất hiện sau này trong phong trào dân quyền, ngài không phải là một nhà hoạt động dân quyền cũng không phải là một nhà lý luận về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc mang tính cơ cấu. Sự dấn thân của ngài được thể hiện qua các bài giảng, những sáng kiến từ thiện, các chuyến đi mục vụ và những lời kêu gọi lương tâm. Tuy nhiên, những hình thức hành động này đã có tác động đáng kể trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ: hỗ trợ việc chăm sóc thai sản tại những nơi mà chế độ phân biệt chủng tộc hạn chế khả năng tiếp cận điều trị y tế đối với phụ nữ da đen; trợ giúp những cộng đồng truyền giáo bị các cơ quan công quyền bỏ rơi; và bênh vực quyền có nhà ở và việc làm tại Rochester.

Sự nghiệp của ông Jerome Gary Cooper minh họa rất rõ cho phương pháp tiếp cận của Đức cha Sheen. Lớn lên tại Mobile, Alabama — một thành phố đậm nét phân biệt chủng tộc — Cooper vào học Đại học Notre Dame năm 1954 nhờ một học bổng và tốt nghiệp ngành tài chính bốn năm sau đó. Sau đó, ông nhập ngũ vào binh chủng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ, trở thành sĩ quan Thủy quân Lục chiến gốc Phi đầu tiên chỉ huy một đại đội bộ binh chiến đấu trong Chiến tranh Việt Nam. Về sau, ông được thăng cấp thiếu tướng và được bổ nhiệm làm Đại sứ Hoa Kỳ tại Jamaica, nơi ông phục vụ từ năm 1994 đến năm 1997.

Tạp chí America và cơ sở dữ liệu tiểu sử BlackPast ghi nhận rằng một thư giới thiệu của Đức cha Fulton Sheen đã giúp Cooper nhận được học bổng vào Đại học Notre Dame.

Đối với Đức cha Sheen, người đó chính là ‘người lân cận’. Không phải là ‘người lân cận’ mà chúng ta lựa chọn vì người đó suy nghĩ như chúng ta hay có nét giống với chúng ta — theo luận lý của các thuật toán tạo ra các cộng đồng ảo — nhưng là người được đặt ở trước mặt chúng ta, thường theo một cách thức bất tiện, thường là ở bên vệ đường. Đức cha Sheen tin rằng, chính nơi con người đó mà các Kitô hữu có thể gặp gỡ hình ảnh của Thiên Chúa bằng cách làm chứng cho đức tin của mình vào Đức Kitô.
(Hãng tin Fides, 22/9/2026)


[Nguồn: fides.org]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 23/09/2026]


100 NĂM KỂ TỪ NGÀY TẤN PHONG SÁU GIÁM MỤC TRUNG QUỐC ĐẦU TIÊN/1 - Đức cha Odorico Cheng Hede và Giáo phận Puchi

100 NĂM KỂ TỪ NGÀY TẤN PHONG SÁU GIÁM MỤC TRUNG QUỐC ĐẦU TIÊN/1 - Đức cha Odorico Cheng Hede và Giáo phận Puchi

Thứ Ba, ngày 22 tháng 9 năm 2026

Một trăm năm sau ngày tấn phong sáu giám mục Trung Quốc đầu tiên trong thời kỳ hiện đại (28 tháng 10 năm 1926), Hãng tin Fides dành một chuỗi bài viết tư liệu về những vị kế nhiệm các Thánh Tông đồ và các giáo phận được trao phó cho các ngài. Việc truyền chức cho các ngài đã đánh dấu một thời điểm quan trọng trong lịch sử Giáo hội Công giáo tại Trung Quốc.

100 NĂM KỂ TỪ NGÀY TẤN PHONG SÁU GIÁM MỤC TRUNG QUỐC ĐẦU TIÊN/1 - Đức cha Odorico Cheng Hede và Giáo phận Puchi

Giáo sư Liu Zhiqing

Phổ Kỳ (Hãng tin Fides) – Hạt Phủ doãn Tông tòa Phổ Kỳ (Puchi - 蒲圻) là giáo khu đầu tiên của Giáo hội Công giáo tại Trung Quốc được trao cho sự lãnh đạo của một giáo sĩ người Trung Quốc. Hạt Phủ doãn được thành lập ngày 12 tháng 12 năm 1923. Vị giám mục đầu tiên của hạt là Đức cha Odorico Cheng Hede (成和德), một trong sáu giám mục Trung Quốc được Đức Giáo hoàng Piô XI tấn phong tại Đền thờ Thánh Phêrô ở Vatican ngày 28 tháng 10 năm 1926. Trước khi được truyền chức giám mục, ngài đã được bổ nhiệm làm Phủ doãn Tông tòa ngày 21 tháng 3 năm 1924, và Đức Giáo hoàng Piô XI bổ nhiệm ngài làm giám mục đắc cử ngày 24 tháng 6 năm 1926.


1. Lịch sử Giáo phận

Năm 1922, không lâu sau khi đến Trung Quốc với tư cách Khâm sứ Tòa Thánh đầu tiên, Đức Tổng Giám mục Celso Costantini bắt đầu xúc tiến mạnh mẽ việc thành lập các giáo khu để có thể được giao phó cho hàng giáo sĩ Trung Quốc. Sau này, ngài viết trong cuốn Cùng các nhà truyền giáo tại Trung Quốc, 1922–1933: Hồi ký về các sự kiện và tư tưởng:

“Tôi đề nghị với Rôma rằng đã đến lúc thành lập một hoặc hai giáo phận bản xứ. Bằng cách này, một số giám mục Trung Quốc có thể tham dự với tư cách là những đại diện chính thức tại Công đồng Toàn quốc (Công đồng Thượng Hải năm 1924).”

Khi đến Trung Quốc, Đức Tổng Giám mục Costantini đặt trụ sở tại Hán Khẩu và, vì những lý do địa lý, duy trì liên lạc thường xuyên với Hạt Đại diện Tông tòa Hán Khẩu. Hơn nữa, vì cả hai đều là người Ý, ngài đã xây dựng mối quan hệ đặc biệt thân tình với Cha Gratianus Gennaro (田瑞玉, 1863–1923), một tu sĩ Dòng Phanxicô người Ý và là Đại diện Tông tòa Hán Khẩu.

Do đó, Đức Tổng Giám mục Costantini biết rằng “Hạt Đại diện Tông tòa dự định trao mười giáo khu nhỏ nằm ở phía nam sông Dương Tử cho các tu sĩ Phanxicô người Mỹ.” Vì thế, ngài nghĩ đến việc “lấy bốn trong số các giáo khu này để thành lập một giáo phận giao phó cho một giám mục Trung Quốc, với Phổ Kỳ làm trung tâm, nơi công cuộc của Giáo hội đã đặt được một số nền móng.”

Vì vậy, Đức Tổng Giám mục Costantini tập trung nỗ lực thuyết phục vị Đại diện Tông tòa Hán Khẩu ủng hộ kế hoạch này. Sau này, ngài nhớ lại: “Tôi cố thuyết phục ngài Gennaro chấp thuận sáng kiến thành lập một giáo phận bản xứ. Ngài ngạc nhiên và, sau khi nêu ra một số khó khăn, kết luận: ‘Các linh mục Trung Quốc không có địa vị pháp lý tại Trung Quốc và không được chính quyền Trung Quốc tôn trọng. Nhưng nếu Rôma muốn như vậy, chúng ta không thể làm gì khác ngoài việc vâng phục.’” (sđd.)

Ngày 12 tháng 12 năm 1923, Hạt Phủ doãn Tông tòa Phổ Kỳ được thành lập sau khi tách khỏi Hạt Đại diện Tông tòa Đông Hồ Bắc (Houpe Oriental). Hạt Đại diện Tông tòa này do các tu sĩ Phanxicô người Ý quản lý và vào năm 1923 bao gồm năm phủ: Vũ Xương, Hán Dương, Hoàng Châu (Hwangchow), Đức An (Teian) và An Lục. Lãnh thổ được tổ chức thành năm giáo hạt: Vũ Xương, Hán Dương, An Lục, Đức An và Hoàng Châu.

Có 97 linh mục phục vụ trong Hạt Đại diện Tông tòa: 74 vị người nước ngoài và 23 vị người Trung Quốc. Như vậy, các linh mục Trung Quốc chiếm 23,71 phần trăm hàng giáo sĩ, một tỷ lệ tương đối thấp, khiến Hạt Đại diện Tông tòa này đứng thứ 39 trong số 57 Hạt Đại diện Tông tòa và Hạt Phủ doãn Tông tòa hiện diện tại Trung Quốc thời bấy giờ.

Ba vùng truyền giáo mới được thành lập từ Hạt Đại diện Tông tòa Đông Hồ Bắc. Hạt Đại diện Tông tòa Hán Khẩu (Hankow) có 54 giáo xứ với các linh mục thường trú và 43.914 tín hữu Công giáo đã được rửa tội.

Tháng 12 năm 1923, cùng lúc với việc thành lập Hạt Phủ doãn Tông tòa Phổ Kỳ, Hạt Phủ doãn Tông tòa Vũ Xương cũng được thành lập và trao cho các tu sĩ Phanxicô người Mỹ, trong khi Hạt Phủ doãn Tông tòa Hán Dương được trao cho Hội Truyền giáo Thánh Columban (S.S.C.).

Hạt Phủ doãn Tông tòa Phổ Kỳ và Vũ Xương đều được hình thành từ Giáo hạt Vũ Xương thuộc Hạt Đại diện Tông tòa Đông Hồ Bắc, trong khi Giáo hạt Hán Dương trở thành địa hạt của Hạt Phủ doãn Tông tòa Hán Dương.

Theo các thống kê hiện có, năm 1923, Giáo hạt Vũ Xương thuộc Hạt Đại diện Tông tòa Đông Hồ Bắc bao gồm mười giáo khu. Hạt Phủ doãn Tông tòa Phổ Kỳ sau này bao gồm bốn giáo khu Phổ Kỳ, Gia Ngư (Kiayu), Sùng Dương (Tsuogyang) và Đồng Thành (Tungcheng). Trong năm đó, chỉ có một giáo xứ tại Sùng Dương, với một linh mục Trung Quốc và 729 tín hữu.

Hạt Phủ doãn Tông tòa Vũ Xương sau này bao gồm Vũ Xương, Hàm Ninh (Sienning), Ngạc Thành (Wocheng), Đại Dã (Tayeh), Đồng Sơn (Tungshan) và Hưng Quốc (Hingkwo), với sáu giáo xứ và 2.793 tín hữu. Giáo hạt Hán Dương có 7.689 tín hữu.

Như vậy, ngày 12 tháng 12 năm 1923, Hạt Phủ doãn Tông tòa Phổ Kỳ được thành lập. Trong lịch sử Giáo hội tại Trung Quốc, đây được xem là giáo khu đầu tiên được trao cho một thành viên thuộc hàng giáo sĩ bản địa Trung Quốc. Trong năm đó, hạt có 866 tín hữu Công giáo được rửa tội, với bảy linh mục Trung Quốc và một linh mục người Ý hoạt động mục vụ.

Các nguồn lực vật chất của Hạt Phủ doãn Tông tòa mới hầu như không là con số không, và công cuộc truyền giáo vô cùng khó khăn. Để hỗ trợ vùng địa hạt mới này, Hạt Đại diện Tông tòa Đông Hồ Bắc (Hán Khẩu) đã phân bổ 100.000 lạng bạc cho các hoạt động loan báo Tin Mừng.

Ngày 10 tháng 5 năm 1951, Hạt Phủ doãn Tông tòa Phổ Kỳ được nâng lên hàng giáo phận, bao gồm bốn giáo khu Gia Ngư, Phổ Kỳ, Sùng Dương và Đồng Thành.

Theo những số liệu thống kê do Zhao Qingyuan ghi lại trong Niên biểu về việc phân chia các Giáo phận Công giáo tại Trung Quốc và sự kế thừa của các vị lãnh đạo, giáo phận có 19 nhà thờ và nhà nguyện, 10 linh mục Trung Quốc và 5.046 tín hữu Công giáo đã được rửa tội.


2. Các Giám mục của Giáo phận

Vị giám mục đầu tiên của Hạt Phủ doãn Tông tòa Phổ Kỳ là Đức cha Odorico Cheng Hede (Thành Hòa Đức) (成和德, 1873–1928), một tu sĩ thuộc Dòng Anh em Hèn mọn Phanxicô (OFM).

Đức cha Odorico Cheng Hede sinh ngày 22 tháng 7 năm 1873 tại Lão Hà Khẩu, tỉnh Hồ Bắc. Ban đầu, ngài theo học tại trường Chayuangou và năm lên mười tuổi, ngài được gửi sang Ý cùng với một chủng sinh Phanxicô khác để được đào tạo.

Ngày 7 tháng 8 năm 1894, ngài gia nhập Dòng Anh em Hèn mọn tại La Verna, Ý, và được thụ phong linh mục ngày 5 tháng 7 năm 1900. Tháng 1 năm 1903, ngài trở về Trung Quốc để dấn thân vào công cuộc truyền giáo. Từ năm 1907, ngài giữ chức phó giám đốc Tiểu Chủng viện tại Chayuangou, một chức vụ ngài đảm nhiệm trong 14 năm.

Đức cha Odorico có năng khiếu đặc biệt về thánh nhạc và thích đọc các tác phẩm lịch sử. Ngài dịch Luật Dòng Phanxicô sang tiếng Trung Quốc và soạn một quyển văn phạm tiếng Ý cho học sinh Trung Hoa. Ngài cũng viết Tiểu sử của hai Chân phước Tử đạo Liu Fangji và Dong Wenxue — tên tiếng Trung Hoa của hai vị tử đạo là Thánh Phanxicô Fernández de Capillas và Thánh Jean-Gabriel Perboyre — được nhà in Nhà thờ Xujiahui ở Thượng Hải xuất bản.

Ngày 21 tháng 3 năm 1924, ngài được bổ nhiệm làm Phủ doãn Tông tòa của Hạt Phủ doãn Tông tòa Phổ Kỳ, trở thành vị Phủ doãn Tông tòa người Trung Quốc đầu tiên. Mặc dù ngài Cheng Hede đảm nhiệm chức vụ này khi còn là linh mục và chưa phải là giám mục, việc bổ nhiệm ngài vẫn là một biến cố quan trọng đối với Giáo hội tại Trung Quốc, 250 năm sau lễ tấn phong giám mục cho tu sĩ Dòng Đa Minh Grêgôriô Luo Wenzao diễn ra vào năm 1674.

Năm 1924, Đức cha Cheng Hede cùng với một Phủ doãn Tông tòa người Trung Quốc khác tham dự Primum Concilium Sinense, Công đồng của Giáo hội Công giáo tại Trung Quốc, được triệu tập tại Thượng Hải.

Ngày 24 tháng 6 năm 1926, ngài được bổ nhiệm làm giám mục hiệu tòa Catenna. Ngày 28 tháng 10 năm 1926, tại Vương cung thánh đường Thánh Phêrô ở Rôma, ngài được Đức Giáo hoàng Piô XI truyền chức giám mục, trở thành một trong sáu vị giám mục Trung Quốc đầu tiên được tấn phong trong thời kỳ hiện đại.

Ngài qua đời ngày 14 tháng 11 năm 1928, hưởng dương 55 tuổi.

Sau khi ngài qua đời, linh mục Giuse Zhang Jingxiu (张敬修, 1881–1941) được bổ nhiệm làm Phủ doãn Tông tòa Phổ Kỳ ngày 16 tháng 4 năm 1929. Ngài qua đời ngày 20 tháng 4 năm 1941.

Ngày 23 tháng 2 năm 1949, một tu sĩ Phanxicô khác, linh mục Giuse Li Daonan, O.F.M. (李道南, 1902–1971), được bổ nhiệm làm Phủ doãn Tông tòa Phổ Kỳ. Ngày 10 tháng 5 năm 1951, khi Hạt Phủ doãn Tông tòa được nâng lên hàng giáo phận, Đức cha Li Daonan trở thành Giám mục Giáo phận Phổ Kỳ. Ngài qua đời năm 1971.


3. Sự phát triển của Giáo phận

Vào thời điểm được thành lập, Giáo phận Phổ Kỳ có nguồn lực rất hạn chế và địa hạt tương đối nhỏ, chỉ bao gồm bốn giáo khu. Ban đầu, trong vùng chỉ có một giáo xứ tại Sùng Dương, thuộc Giáo hạt Vũ Xương.

Sau 27 năm phát triển, số tín hữu Công giáo được rửa tội tăng lên 5.351 người, trong khi giáo phận có 10 linh mục Trung Quốc và 10 nữ tu Trung Quốc. Tuy nhiên, nhìn chung, sự phát triển các hoạt động mục vụ của giáo phận vẫn ở mức tương đối khiêm tốn và chưa đạt được những mức độ thực sự khả quan.

100 NĂM KỂ TỪ NGÀY TẤN PHONG SÁU GIÁM MỤC TRUNG QUỐC ĐẦU TIÊN/1 - Đức cha Odorico Cheng Hede và Giáo phận Puchi

(Hãng tin Fides, 22/9/2026)


[Nguồn: fides.org]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 22/09/2026]