Chủ Nhật, 10 tháng 9, 2023

CHUYẾN TÔNG DU CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ ĐẾN MÔNG CỔ - HỌP BÁO TRÊN MÁY BAY

CHUYẾN TÔNG DU CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ ĐẾN MÔNG CỔ - HỌP BÁO TRÊN MÁY BAY

CHUYẾN TÔNG DU CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ ĐẾN MÔNG CỔ

[31 tháng 8 - 4 tháng 9 năm 2023]
HỌP BÁO TRÊN MÁY BAY

________________________________________


Ông Matteo Bruni:

Chào (buổi chiều) mọi người. Thưa Đức Thánh Cha, cảm ơn người vì những ngày bận rộn với các cuộc gặp gỡ dân tộc này, những người mà ĐTC mô tả là nhỏ bé, mặc dù giàu văn hóa và phủ trên một diện tích đất rộng lớn; và với một cộng đoàn Kitô hữu sống động, làm chứng cho Đức tin cách tươi mới. Các nhà báo đã có thể quan tâm đến địa điểm này và khi tận mắt chứng kiến, họ vẫn có một số câu hỏi muốn đặt ra với ĐTC.

ĐTC Phanxicô:

Chào tất cả anh chị em và cảm ơn sự đồng hành của anh chị em. Cảm ơn về công việc của anh chị em. Ước mong các phương tiện truyền thông cũng làm cho văn hóa và lịch sử của dân tộc này được biết đến. Cảm ơn anh chị em nhiều.

Ông Matteo Bruni:

Thưa Đức Thánh Cha, câu hỏi đầu tiên đến từ một nhà báo người Mông Cổ, ông Dambadarjaa.

Jargalsaikhan Dambadarjaa (The Defacto Gazette):

Thưa Đức Thánh Cha, xin cảm ơn ĐTC rất nhiều đã đến thăm Mông Cổ. Câu hỏi của con là: mục đích chính của chuyến thăm của ĐTC là gì và người có hài lòng với việc đạt được mục đích đó không?

ĐTC Phanxicô:

Có. Ý tưởng thăm Mông Cổ đến với tôi khi nghĩ về cộng đoàn Công giáo nhỏ bé. Tôi thực hiện những chuyến đi này để thăm viếng các cộng đoàn Công giáo và cũng là để đối thoại với lịch sử và văn hóa của các dân tộc cũng như với nền linh đạo đặc biệt của họ. Điều quan trọng là việc truyền giáo không được coi là chiêu mộ tín đồ, bởi vì việc chiêu mộ tín đồ luôn mang tính giới hạn. Đức Thánh Cha Bênêđictô nói rằng đức tin không phát triển nhờ việc chiêu mộ tín đồ mà bằng sự thu hút. Việc loan báo Tin Mừng đi vào cuộc đối thoại với văn hóa. Có công cuộc Phúc Âm hóa văn hóa và hội nhập Tin Mừng, vì người Kitô hữu cũng thể hiện các giá trị của mình bằng văn hóa của chính dân tộc mình. Điều đó hoàn toàn ngược lại với sự thuộc địa hóa tôn giáo. Đối với tôi, chuyến Tông du này là để tìm hiểu người dân Mông Cổ, đối thoại với họ, trải nghiệm nền văn hóa của họ, và đồng hành cùng Giáo hội trên hành trình giữa dân tộc này, với sự tôn trọng đặc biệt đối với họ và nền văn hóa của họ. Tôi hài lòng với kết quả.

Ông Matteo Bruni:

Thưa Đức Thánh Cha, câu hỏi thứ hai đến từ ông Markhaakhuu, Đài Truyền hình Mông Cổ.

Ulambadrakh Markhaakhuu (ULS Suld TV)

Những cuộc xung đột trong nền văn minh của chúng ta, như nhiều người nói ngày nay, những cuộc xung đột chỉ được giải quyết thông qua đối thoại, như Đức Thánh Cha đã nói. Ulaanbaatar có thể trở thành nền tảng cho cuộc đối thoại quốc tế giữa Châu Âu và Châu Á không?

ĐTC Phanxicô:

Vâng, tôi tin như vậy. Các bạn có điều gì đó rất thú vị, nó ưu ái cho sự đối thoại như vậy. Tôi có thể gọi đây là “bí quyết người hàng xóm thứ ba”, cho phép bạn đi theo chính sách “người hàng xóm thứ ba”. Hãy coi Ulaanbaatar là thủ đô của một đất nước rất xa biển, và chúng ta có thể nói rằng vùng đất của các bạn nằm giữa hai cường quốc là Nga và Trung Quốc. Đó là lý do tại sao bí quyết của các bạn là tìm cách đối thoại với “những người hàng xóm thứ ba” của mình: không phải vì xem thường hai nước này, vì các bạn có quan hệ tốt với cả hai, mà vì mong muốn tính phổ quát, để thể hiện những giá trị của các bạn với toàn thế giới, và cũng để nhận được từ người khác những giá trị của họ để bước vào đối thoại. Điều đáng tò mò là, trong suốt lịch sử, việc đi tìm những vùng đất khác thường bị nhầm lẫn với chủ nghĩa thực dân, hoặc với ý tưởng đi ra để thống trị. Thay vì vậy, với bí quyết người hàng xóm thứ ba, các bạn có triết lý đi ra ngoài tìm kiếm người khác để đối thoại. Tôi rất thích cách diễn đạt này về người hàng xóm thứ ba. Đó là sự giàu có của các bạn.

Ông Matteo Bruni:

Cảm ơn người, thưa Đức Thánh Cha. Câu hỏi thứ ba đến từ chị Cristina Cabrejas của EFE.

Cristina Cabrejas (EFE)

Con xin chào (buổi chiều) Đức Thánh Cha. Đây là câu hỏi của nhóm nói tiếng Tây Ban Nha. Hôm qua, ĐTC đã gửi một thông điệp tới người dân Trung Quốc và kêu gọi người Công giáo Trung Quốc hãy trở thành những công dân tốt, sau khi Chính quyền nước này không cho phép các Giám mục đến Mông Cổ. Mối quan hệ với Trung Quốc hiện nay thế nào? Và có tin tức gì về chuyến viếng thăm Bắc Kinh của Đức Hồng Y Zuppi liên quan đến sứ mệnh của ngài tới Ukraine không? Cảm ơn ĐTC.

ĐTC Phanxicô:

Sứ mệnh của Đức Hồng y Zuppi là sứ mệnh hòa bình mà tôi đã giao phó cho ngài. Ngài lên kế hoạch đến thăm Moscow, Kiev, Hoa Kỳ và cả Bắc Kinh. Đức Hồng y Zuppi là một người đối thoại tuyệt vời và có kinh nghiệm quốc tế. Lịch sử của ngài bao gồm hoạt động ở Mozambique để tìm kiếm hòa bình, và đó là lý do tại sao tôi cử ngài đến. Mối quan hệ với Trung Quốc đầy tôn trọng, rất tôn trọng. Cá nhân tôi ngưỡng mộ người dân Trung Quốc. Chúng ta có thể nói rằng họ rất cởi mở… Về việc bổ nhiệm các Giám mục, có một Ủy ban đã làm việc với chính phủ Trung Quốc và Vatican trong một thời gian dài. Đó là một cuộc đối thoại. Sau đó, có nhiều linh mục Công giáo hoặc các nhà trí thức Công giáo thường được mời giảng dạy tại các đại học Trung Quốc. Theo nghĩa này, đã có một cuộc đối thoại mở. Tôi nghĩ chúng ta cần phải tiến tới trên khía cạnh tôn giáo để hiểu nhau hơn, để người dân Trung Quốc không nghĩ rằng Giáo hội không chấp nhận văn hóa và giá trị của họ hoặc Giáo hội lệ thuộc vào một thế lực nước ngoài khác. Con đường thân thiện này được thực hiện tốt bởi Ủy ban do Đức Hồng y Parolin dẫn đầu. Họ đang làm tốt công việc, về phía Trung Quốc cũng vậy, một công việc tốt. Nói một cách dễ hiểu, tôi có thể nói rằng các mối quan hệ đang tiến triển. Tôi rất tôn trọng người dân Trung Quốc. Chị còn câu hỏi khác nữa phải không?

Ông Matteo Bruni:

Đó là đã có tin tức gì về sứ mệnh của Đức Hồng y Zuppi hay không.

ĐTC Phanxicô:

Tôi đã nói về vấn đề đó ngay từ đầu. Chúng ta tiếp tục.

Ông Matteo Bruni:

Cảm ơn Đức Thánh Cha. Câu hỏi thứ tư đến từ anh Gerry O'Connell thuộc Tạp chí Mỹ.

Gerard O’Connell (America Magazine)

Thưa Đức Thánh Cha, do mối quan hệ giữa Tòa thánh và Việt Nam khá tích cực và gần đây đã có một bước tiến đáng chú ý, nhiều người Công giáo Việt Nam đang xin ĐTC đến thăm họ, như người đến Mông Cổ. Câu hỏi của con là: có khả năng đến thăm Việt Nam lúc này không? ĐTC có nhận được lời mời từ phía Chính phủ không? Và người đang lên kế hoạch cho những chuyến đi nào khác? Cảm ơn ĐTC.

ĐTC Phanxicô:

Việt Nam là một trong những kinh nghiệm đối thoại rất tốt đẹp mà Giáo hội đã có được trong thời gian gần đây. Tôi có thể nói nó giống như một tình cảm của hai bên trong đối thoại. Cả hai bên đều có thiện chí hiểu nhau và tìm cách tiến về phía trước. Đã và đang có những vấn đề, nhưng ở Việt Nam tôi thấy các vấn đề sớm muộn gì cũng sẽ được khắc phục. Cách đây không lâu, chúng tôi đã nói chuyện không gò bó với Chủ tịch nước Việt Nam.

Tôi rất lạc quan về mối quan hệ với Việt Nam; công việc tốt đẹp đã diễn ra trong nhiều năm. Tôi nhớ, cách đây khoảng 4 năm, có một nhóm đại biểu quốc hội Việt Nam đến thăm: chúng tôi đã có sự đối thoại tốt, rất tôn trọng. Khi một nền văn hóa cởi mở thì có cơ hội đối thoại; nếu một nền văn hóa khép kín hoặc nghi ngờ thì việc đối thoại sẽ rất khó khăn. Với Việt Nam, đối thoại là cởi mở, có lúc thăng trầm, nhưng cởi mở và từ từ tiến về phía trước. Đã và đang có một số vấn đề, nhưng chúng đã được giải quyết. Về việc Tông du đến Việt Nam, nếu tôi không đi thì Đức Gioan XXIV chắc chắn sẽ đi! Chắc chắn sẽ có một chuyến viếng thăm, bởi đó là vùng đất xứng đáng để phát triển và có được tình cảm của tôi. Liên quan đến các chuyến đi khác, có Marseille; và sau đó chúng tôi đang xem xét khả năng đến một quốc gia nhỏ ở Châu Âu. Nhưng thành thực mà nói, đối với tôi việc đi Tông du bây giờ không còn dễ dàng như ban đầu. Việc đi bộ bị hạn chế, và điều đó làm tôi bị hạn chế. Nhưng chúng ta sẽ thấy.

Ông Matteo Bruni:

Cảm ơn Đức Thánh Cha. Câu hỏi tiếp theo đến từ anh Fausto Gasparroni thuộc hãng thông tấn ANSA, đến từ nhóm tiếng Ý.

Fausto Gasparroni (ANSA)

Thưa Đức Thánh Cha, con xin đặt câu hỏi này thay mặt cho nhóm nói tiếng Ý. Những bình luận gần đây của ĐTC với giới trẻ Công giáo Nga về “nước Nga vĩ đại”, di sản của những nhân vật như Peter Đại đế và Catherine II đã làm dấy lên một số tranh cãi. Chẳng hạn, những bình luận này đã khiến người Ukraine vô cùng khó chịu và cũng gây ra những hậu quả về mặt ngoại giao, và nó được coi gần như là sự tán dương chủ nghĩa đế quốc của Nga và thậm chí là một hình thức tán thành đối với các chính sách của Putin. Con xin được hỏi người: tại sao ĐTC lại cảm thấy cần phải đưa ra những bình luận đó; ĐTC có nghĩ đến tính phù hợp của những bình luận đó không; người có lặp lại những lời đó không? Ngoài ra, để làm rõ mọi việc, ĐTC có thể cho chúng con suy nghĩ của người về chủ nghĩa đế quốc và đặc biệt là chủ nghĩa đế quốc Nga?

ĐTC Phanxicô:

Chúng ta hãy nói về bối cảnh: đó là cuộc đối thoại với giới trẻ Nga. Và khi kết thúc cuộc đối thoại, tôi đã đưa ra cho họ một thông điệp, một thông điệp mà tôi luôn nhắc lại: rằng họ phải chịu trách nhiệm về di sản của họ. Đó là điểm đầu tiên: gánh vác di sản của bạn. Tôi nói điều tương tự ở mọi nơi. Và với suy nghĩ này, tôi cố gắng tạo ra một cuộc đối thoại giữa ông bà và con cháu: rằng con cháu phải trân quý di sản của họ. Tôi nói điều này ở khắp nơi, và đó là thông điệp. Điểm thứ hai, để làm rõ di sản đó, tôi nói đến tư tưởng của nước Nga vĩ đại, vì di sản của Nga rất tốt; nó rất đẹp. Xét đến lĩnh vực văn học, âm nhạc, trở lại với Dostoevsky, những điều nói với chúng ta về một chủ nghĩa nhân văn trưởng thành ngày nay; họ tiếp thu chủ nghĩa nhân văn đó, vốn đã phát triển trong nghệ thuật và văn học. Đây sẽ là khía cạnh thứ hai khi tôi nói về di sản của họ. Điểm thứ ba, có lẽ không thích hợp, nhưng khi nói về nước Nga vĩ đại, không phải theo nghĩa địa lý, mà theo nghĩa văn hóa, tôi nhớ lại những gì chúng tôi được dạy ở trường về Peter I, Catherine II; do đó khía cạnh thứ ba này xuất hiện, có lẽ không hoàn toàn chính xác. Tôi không biết. Các sử gia có thể cho chúng ta biết. Nhưng đó là một ý nghĩ bổ sung hiện lên trong đầu vì tôi đã học nó ở trường. Tuy nhiên, tôi nói với những thanh niên Nga hãy chịu trách nhiệm về di sản của họ, gánh vác di sản của họ, nghĩa là đừng “mua” nó ở nơi khác. Hãy kế thừa di sản của riêng bạn. Và nước Nga vĩ đại đã để lại di sản gì? Văn hóa Nga có nét đẹp và chiều sâu tuyệt vời, không nên bị loại bỏ vì những vấn đề chính trị. Đã có những năm tháng đen tối ở nước Nga nhưng di sản của nó vẫn luôn nguyên vẹn.

Rồi anh nói về chủ nghĩa đế quốc. Thật sự tôi không nghĩ đến chủ nghĩa đế quốc khi tôi nói, tôi đang nói về văn hóa, và việc truyền tải văn hóa không bao giờ mang tính “đế quốc”, không bao giờ. Nó luôn luôn là một cuộc đối thoại, và tôi đang nói về điều đó. Đúng là có những đế quốc muốn áp đặt hệ tư tưởng của họ. Tôi sẽ dừng ở đó: khi văn hóa bị “chưng cất” và biến thành hệ tư tưởng, nó trở thành chất độc: văn hóa bị lạm dụng, chắt lọc thành một hệ tư tưởng. Chúng ta phải phân biệt văn hóa của một dân tộc với những hệ tư tưởng xuất hiện từ một triết gia hay chính trị gia nào đó của dân tộc đó. Và tôi nói điều này cho mọi người, cũng như cho Giáo hội. Trong Giáo hội thường có những hệ tư tưởng tách Giáo hội ra khỏi sự sống được khởi đầu từ cội nguồn và phát triển hướng thượng; tách Giáo hội ra khỏi tác động của Chúa Thánh Thần. Một hệ tư tưởng không có khả năng trở thành cụ thể; nó chỉ là một ý tưởng. Nhưng khi một hệ tư tưởng có được sức mạnh và mang tính chính trị, nó thường trở thành một chế độ độc tài, nó không còn khả năng đối thoại, không thể tiến tới với các nền văn hóa. Và đó là trường hợp của chủ nghĩa đế quốc. Chủ nghĩa đế quốc luôn phát triển trên cơ sở của hệ tư tưởng. Trong Giáo Hội cũng vậy, chúng ta phải phân biệt giữa giáo lý và ý thức hệ: giáo lý đích thực không bao giờ mang tính ý thức hệ, không bao giờ. Nó được đặt nền tảng trong dân thánh trung thành của Thiên Chúa. Trong khi hệ tư tưởng tách rời khỏi thực tế, tách rời khỏi con người... Tôi không biết tôi đã trả lời rõ câu hỏi của anh chưa.

Ông Matteo Bruni:

Xin cảm ơn Đức Thánh Cha. Câu hỏi tiếp theo đến từ anh Robert Messner thuộc hãng thông tấn DPA.

Robert Messner (DPA)

Xin chào (buổi chiều) ĐTC. Một câu hỏi liên quan đến bản cập nhật Tông huấn Laudato Si’ của người: con muốn hỏi rằng liệu việc ĐTC tham gia vào việc bảo vệ môi trường và bản cập nhật này có thể được hiểu như một cách thể hiện tình liên đới với các nhà hoạt động môi trường không, chẳng hạn như phong trào “The Last Generation”, tổ chức các cuộc phản đối được công bố rộng rãi không? Có lẽ trong bản cập nhật này cũng sẽ có một thông điệp cho các nhà hoạt động trẻ xuống đường?

ĐTC Phanxicô:

Nói chung, tôi không đụng chạm đến những người cực đoan. Nhưng người trẻ lo lắng, vì đó là tương lai của họ! Một nhà khoa học tốt lành, một người Ý, khi chúng tôi gặp nhau tại Hàn Lâm viện [Khoa học] đã có một bài phát biểu hay và kết luận bằng câu nói “Tôi không muốn cháu gái của tôi, mới chào đời ngày hôm qua, phải sống trong một thế giới xấu xí như vậy trong thời gian ba mươi năm nữa”.” Người trẻ suy nghĩ về tương lai. Và theo nghĩa đó, tôi thích họ tranh đấu tốt đẹp. Nhưng tiếp tục, khi ý thức hệ hoặc áp lực chính trị chiếm ưu thế hoặc được sử dụng cho những mục đích đó, mọi việc sẽ không diễn ra tốt đẹp. Tông Huấn của tôi, sẽ được công bố vào Ngày Lễ Thánh Phanxicô Assisi, ngày 4 tháng Mười, là một đánh giá về những gì đã diễn ra kể từ Hội nghị COP ở Paris, cuộc họp có lẽ có kết quả nhất cho đến nay. Có một số điểm mới trong các Cuộc họp COP khác nhau và một số vấn đề vẫn chưa được giải quyết và cần được giải quyết cách cấp bách. Tài liệu của tôi không dài như Laudato Si’, nhưng nó đưa Laudato Si’ vào những lĩnh vực mới. Nó cũng là một phân tích về tình hình hiện tại.

Ông Matteo Bruni:

Cảm ơn người. Câu hỏi tiếp theo là của các nhà báo nói tiếng Pháp, từ anh Etienne Loraillère.

Etienne Loraillère (KTO TV)

Xin chào buổi chiều Đức Thánh Cha. ĐTC muốn có một Giáo hội đồng nghị, ở Mông Cổ và trên toàn thế giới. Hội nghị tháng Mười đã là thành quả công việc của Dân Chúa. Làm cách nào những người được rửa tội trên khắp thế giới có thể tham gia vào giai đoạn tiếp theo này? Làm sao để tránh được sự phân cực về ý thức hệ? Và liệu những người tham gia có thể nói và chia sẻ một cách công khai những gì họ đang trải qua để cùng nhau tiến bước không? Hay toàn bộ tiến trình sẽ được giữ kín?

ĐTC Phanxicô:

Anh nói về cách để tránh sự phân cực về ý thức hệ. Không có chỗ cho hệ tư tưởng trong Thượng Hội đồng, vì đó là một động lực khác. Thượng Hội đồng là về sự đối thoại: giữa những người đã được rửa tội, giữa các thành viên của Giáo hội, về đời sống của Giáo hội, về đối thoại với thế giới, về những vấn đề ảnh hưởng đến gia đình nhân loại hôm nay. Nhưng nếu chúng ta suy nghĩ theo con đường của hệ tư tưởng thì Thượng Hội đồng đã là dấu chấm hết! Không có chỗ cho hệ tư tưởng tại Thượng hội đồng; chỉ có không gian để đối thoại, để nói chuyện với nhau, như những anh chị em, và thảo luận về giáo lý của Giáo hội, để tiến về phía trước. Tiếp theo, tôi muốn nhấn mạnh rằng Thượng Hội đồng này không phải là phát minh của tôi: chính Thánh Phaolô VI là người khi bế mạc Công đồng Vatican II đã nhận ra rằng ở phương Tây, Giáo hội đã mất đi chiều kích đồng nghị. Trong khi đó Giáo hội ở phương Đông vẫn còn có nó. Vì lý do này, ngài đã thành lập Văn phòng thường trực Thượng Hội đồng Giám mục, trong sáu mươi năm qua đã tiến hành phản ánh theo cách thức đồng nghị, một tiến trình liên tục, tiến về phía trước. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm quyết định đó của Thánh Phaolô VI, tôi đã ký và công bố một tài liệu về Thượng Hội đồng là gì và nó đã phát triển như thế nào. Bây giờ nó đã tiến triển, đã trưởng thành hơn nữa, và vì lý do này, tôi nghĩ điều quan trọng là phải có một Thượng Hội đồng về tính hiệp hành của Giáo hội, đó không phải là một mốt nhất thời mà là một thực tại từ xa xưa, điều mà Giáo hội ở phương Đông luôn luôn duy trì. Chúng ta có thể sống tính hiệp hành như thế nào; và sống nó với tư cách là những Kitô hữu, như tôi đã nói trước đây, mà không nhượng bộ các ý thức hệ? Tôi không biết đã trả lời hết câu hỏi chưa, hay còn điều gì khác nữa…

Etienne Loraillère

Có phải các phiên họp của Hội đồng sẽ được tổ chức riêng tư?

ĐTC Phanxicô:

Một điều phải được bảo vệ là bầu khí đồng nghị. Đây không phải là một chương trình truyền hình nơi mọi người thảo luận về bất cứ điều gì và về mọi thứ. Không! Đó là thời gian của tôn giáo, thời gian thảo luận của tôn giáo. Tôi nghĩ rằng trong các phát biểu của Thượng Hội đồng, mỗi người sẽ nói từ ba đến bốn phút, và tiếp theo là ba đến bốn phút thinh lặng để cầu nguyện. Sau đó là ba bài phát biểu, và cầu nguyện. Không có tinh thần cầu nguyện này thì không có tính hiệp hành; nó trở thành chính trị và chủ nghĩa nghị viện. Thượng Hội đồng không phải là một quốc hội. Về quyền riêng tư của các cuộc thảo luận: có một phòng do Tiến sĩ Ruffini đứng đầu, người đang ở đây, và sẽ đưa ra các thông cáo báo chí liên quan đến tiến trình của Thượng hội đồng. Trong Thượng Hội đồng, điều cần thiết là bảo vệ tính tôn giáo và bảo vệ quyền tự do của những người phát biểu. Về vấn đề này sẽ có một ủy ban, do Tiến sĩ Ruffini làm chủ tịch, sẽ cung cấp thông tin về tiến trình của Thượng Hội đồng.

Ông Matteo Bruni:

Câu hỏi tiếp theo là của ông Antonio Pelayo, ĐTC biết ông rất rõ, từ báo Vida Nueva.

Antonio Pelayo (Vida Nueva)

Thưa Đức Thánh Cha, người vừa nói về Thượng hội đồng và tất cả chúng con đều đồng ý với người rằng Thượng hội đồng này đã tạo ra nhiều sự tò mò và quan tâm. Đáng tiếc, nó cũng dẫn đến nhiều chỉ trích từ nhiều người Công giáo. Ở đây, con đang đề cập đến một quyển sách có lời mở đầu của Đức Hồng Y Burke nói rằng Thượng Hội đồng là một “chiếc hộp Pandora” mà từ đó những tai họa cho Giáo hội sẽ xuất hiện. ĐTC nghĩ gì về quan điểm đó? ĐTC có nghĩ rằng nó sẽ bị thực tế đánh bại hay nó có thể có ảnh hưởng đến Thượng Hội đồng?

ĐTC Phanxicô:

Tôi không biết trước đây tôi đã nói điều này chưa: cách đây vài tháng, tôi đã gọi điện cho một tu sĩ Cát Minh và nói với Nữ viện trưởng: “Các nữ tu thế nào rồi, thưa Mẹ Bề Trên?” Chị là một tu sĩ Cát Minh không phải người Ý, và cuối cùng chị trả lời: “Thưa Đức Thánh Cha, chúng con quan ngại về Thượng Hội đồng”. Tôi nói đùa: “Vậy làm sao bây giờ? Mẹ có muốn gửi một nữ tu đến Thượng Hội đồng không?” “Không, chúng con sợ người sẽ thay đổi giáo lý.” Và đây là điều Mẹ Bề trên nói, chị có ý tưởng này… Nhưng nếu anh đi sâu vào nền tảng của những ý tưởng này, anh sẽ tìm thấy những hệ tư tưởng. Trong Giáo hội, bất cứ khi nào người ta muốn tấn công con đường hiệp thông thì đó luôn là sự tấn công thuộc hệ tư tưởng. Và họ buộc tội Giáo hội về điều này hay điều kia, nhưng họ không bao giờ đưa ra lời buộc tội sự thật: rằng Giáo hội được tạo nên từ những người tội lỗi. Họ không bao giờ nói về tội nhân. Họ bảo vệ một “học thuyết”, một học thuyết giống như nước cất không có mùi vị và không phải là giáo lý Công giáo đích thực trong Kinh Tin kính. Và thường thì giáo lý Công giáo đích thực làm chướng tai người ta. Thật chướng tai biết bao khi cho rằng Thiên Chúa đã trở nên xác phàm, rằng Thiên Chúa đã trở thành Người phàm, Đức Mẹ vẫn đồng trinh? Điều này gây chướng tai. Giáo lý Công giáo đôi khi gây chướng tai. Các hệ tư tưởng đều là những sản phẩm chắt lọc, chúng không bao giờ gây chướng tai.

Ông Matteo Bruni:

Xin cảm ơn Đức Thánh Cha. Có lẽ đến đây chúng ta có thể thực hiện cuộc “đổi ca trực” khác. Con sẽ gọi chị Cindy Wooden đặt câu hỏi tiếp theo.

Cindy Wooden (CNS)

Chào (buổi chiều) Đức Thánh Cha. Con muốn tiếp tục câu hỏi của đồng nghiệp người Pháp về Thượng Hội đồng và thông tin. Nhiều giáo dân Công giáo đã dành nhiều thời gian, cầu nguyện và cam kết lên tiếng nói và lắng nghe. Họ muốn biết điều gì đang diễn ra trong Thượng Hội đồng, trong phiên họp. Và ĐTC đã nói về kinh nghiệm của ngài tại Hội nghị về Dòng tu, trong đó một số người nói, “không được làm điều này…”, hoặc “anh không thể nói điều đó…” Những nhà báo chúng con thậm chí không có cơ hội tiếp cận với Hội đồng và các phiên họp chung. Làm thế nào chúng con có thể chắc chắn rằng những gì chúng con được trao như “những đúc kết” là thật? Không có cơ hội rộng mở hơn một chút với các nhà báo sao?

ĐTC Phanxicô:

Nhưng nó rất cởi mở, rộng mở! Có ủy ban do ngài [Paolo] Ruffini chủ trì sẽ cung cấp thông tin cập nhật hàng ngày; nhưng cởi mở hơn nữa, tôi không biết, rộng mở hơn, tôi không biết... Thật tốt khi ủy ban này sẽ rất tôn trọng phát biểu của mọi người và cố gắng không “đồn thổi”, mà thay vào đó là truyền đạt chính xác về tiến trình của thượng hội đồng, mang tính xây dựng cho Giáo hội. Nếu chị muốn, nếu ai đó muốn tin tức theo kiểu “người này đã đả kích người kia vì lý do này hay lý do kia,” thì đó là kiểu đồn thổi chính trị. Không, sự hiệp thông không phải là một nhiệm vụ dễ dàng, khi nói: “Hôm nay sự suy tư đã đi theo hướng này, nó đã diễn ra như thế này,” và truyền tải tinh thần hội thánh chứ không phải tinh thần chính trị. Nghị viện khác với Thượng hội đồng. Đừng quên rằng vai chính của Thượng Hội đồng là Chúa Thánh Thần. Và việc này được truyền tải như thế nào? Đây là lý do tại sao sự tiến triển của Giáo hội phải được chuyển tải.

Nhưng cảm ơn chị. Cảm ơn chị đã can đảm hỏi về điều này.

Ông Matteo Bruni:

Cảm ơn người. Câu hỏi tiếp theo đến từ ông Enzo Romeo, từ đài Tg2. Sau đó có lẽ chúng ta sẽ kết thúc.

Vincenzo Romeo (RAI TG 2)

Con xin chào Đức Thánh Cha. Người là Giáo hoàng của các vùng ngoại vi, và lúc này các vùng ngoại vi, đặc biệt là ở Ý, đang phải chịu đau khổ rất nhiều. Chúng ta đã và đang trải qua một số giai đoạn đáng lo ngại về bạo lực, suy thoái... Chẳng hạn, gần Naples, một Linh mục xứ, Cha Don [Maurizio] Patriciello thậm chí đã mời ĐTC đến đó; sau đó đến Palermo. Liệu có thể làm được gì? ĐTC đã đến thăm các villas miserias (khu ổ chuột) ở Buenos Aires, vì vậy ĐTC có kinh nghiệm về vấn đề này. Thủ tướng của chúng con cũng đã đến thăm một trong những vùng ngoại vi này và có rất nhiều cuộc thảo luận. ĐTC nghĩ có thể làm được gì? Cả Giáo hội và các tổ chức Nhà nước có thể làm gì để vượt qua sự suy thoái này và biến các vùng ngoại vi thực sự là một phần của một quốc gia?

ĐTC Phanxicô:

Anh nói về những vùng ngoại vi, những thị trấn tồi tàn: anh phải tiến về phía trước, anh phải đến đó và làm việc ở đó, như đã được thực hiện ở Buenos Aires bởi các linh mục làm việc ở đó – một nhóm các linh mục do một Giám mục phụ tá đứng đầu – và anh làm việc ở đó. Chúng ta phải mở rộng về vấn đề này, các Chính phủ phải mở rộng, tất cả các Chính phủ trên thế giới. Nhưng có một số vùng ngoại vi rất bi thương. Một lần nữa tôi đề cập đến một vùng ngoại đáng thương mà người ta cố gắng che đậy: vùng ngoại vi người Rohingya. Người Rohingya đang đau khổ. Họ không phải là người Kitô hữu; họ là người Hồi giáo, nhưng họ đau khổ vì bị đẩy ra vùng ngoại vi; họ đã bị đuổi ra ngoài. Chúng ta phải nhìn thấy các vùng ngoại vi khác nhau và biết rằng vùng ngoại vi là nơi thực tại con người trở nên rõ ràng hơn và ít giả tạo hơn, những thời khắc tồi tệ… Tôi không muốn khái quát hóa, nhưng anh có thể hiểu rõ. Một triết gia từng nói một điều đánh động tôi rất mạnh: “Thực tế được hiểu rõ nhất ở những vùng ngoại vi”. Chúng ta hiểu rõ thực tế từ những nơi đó. Chúng ta phải nói chuyện với các vùng ngoại vi, và các Chính phủ phải mang lại công bằng xã hội thực sự, công bằng xã hội thực sự, với các vùng ngoại vi khác nhau về mặt xã hội và với những vùng ngoại vi ý thức hệ, để làm cho họ lên tiếng nói, bởi vì rất thường khi chính một vùng ngoại vi ý thức hệ nào đó gây ra những vùng ngoại vi xã hội. Thế giới của những vùng ngoại vi không dễ dàng. Cảm ơn anh.

Ông Matteo Bruni:

Có lẽ chúng ta kết thúc ở đây, cũng vì trên chuyến bay có phục vụ ăn uống và chúng ta bắt đầu đi qua vùng nhiễu không khí. Chúc mọi người làm tốt công việc của mình.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 8/9/2023]


Thứ Sáu, 8 tháng 9, 2023

Chuyến tông du của Đức Thánh Cha Phanxicô đến Mông Cổ – Thánh lễ tại sân vận động Steppe Arena, 03.09.2023

Chuyến tông du của Đức Thánh Cha Phanxicô đến Mông Cổ – Thánh lễ tại sân vận động Steppe Arena, 03.09.2023

Chuyến tông du của Đức Thánh Cha Phanxicô đến Mông Cổ (31 tháng Tám đến 4 tháng Chín năm 2023) – Thánh lễ tại sân vận động Steppe Arena, 03.09.2023

*******

Sáng nay, sau khi rời Phủ Tông Tòa, Đức Thánh Cha Phanxicô đã di chuyển bằng xe hơi đến sân vận động Steppe Arena để cử hành Thánh lễ.

Khi đến nơi, sau khi đổi xe, Đức Thánh Cha chạy nhiều vòng trên xe golf giữa hơn 2000 tín hữu hiện diện, và vào lúc 16 giờ (10 giờ Roma), ngài chủ tế Thánh Lễ bằng tiếng Anh, vào Chúa Nhật 22 Thường niên.

Trong thánh lễ, sau phần công bố Tin Mừng, Đức Thánh Cha giảng lễ.

Cuối lễ, sau bài phát biểu bày tỏ lòng tôn kính của Đức Hồng Y Giorgio Marengo, I.M.C., Phủ doãn Tông tòa Ulaanbaatar, và trước khi ban phép lành cuối lễ, Đức Thánh Cha đã gửi lời chào cuối cùng và lời cảm ơn đến các tín hữu và những người hành hương hiện diện. Sau đó, ngài lên xe trở về Phủ Tông tòa, và ngài dùng bữa tối riêng tại đây.

Sau đây là bài giảng và lời chào cuối lễ của Đức Thánh Cha trong Thánh Lễ:

________________________________________

Bài giảng của Đức Thánh Cha

Với những lời của Thánh vịnh Đáp ca, chúng ta cầu nguyện rằng: “Lạy Thiên Chúa, … Linh hồn con đã khát khao Ngài, tấm thân này mòn mỏi đợi trông, như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước” (Tv 63:2). Lời khẩn cầu tuyệt vời này đồng hành với hành trình cuộc sống của chúng ta, giữa tất cả những sa mạc mà chúng ta được mời gọi vượt qua. Chính tại những sa mạc đó nơi chúng ta nghe thấy tin vui rằng chúng ta không đơn độc trong hành trình của mình; những lúc khô hạn đó không thể khiến cuộc sống của chúng ta trở nên cằn cỗi mãi mãi; tiếng kêu khát của chúng ta không rơi vào hư không. Thiên Chúa Cha đã sai Con của Ngài đến ban cho chúng ta nước hằng sống của Chúa Thánh Thần để thỏa mãn tâm hồn chúng ta (x. Ga 4:10). Chúa Giêsu, như chúng ta đã nghe trong Tin Mừng, chỉ cho chúng ta con đường làm dịu cơn khát của chúng ta. Đó là con đường tình yêu mà Chúa đã đi thậm chí đến thập giá, và trên thập giá Chúa mời gọi chúng ta hãy theo Ngài, hy sinh mạng sống để tìm được chúng (x. Mt 16:24-25).

Chúng ta cùng suy ngẫm về hai điều này: cơn khát trong chúng ta và tình yêu làm dịu đi cơn khát đó.

Trước hết, chúng ta được mời gọi biết thừa nhận cơn khát trong chúng ta. Tác giả Thánh vịnh kêu lên Thiên Chúa trong sự khô cằn của mình, vì cuộc đời ông đã trở nên như một sa mạc. Những lời của ông có âm vang vọng đặc biệt ở một vùng đất như Mông Cổ: rộng lớn, giàu lịch sử và văn hóa, nhưng cũng là một vùng đất cũng bị đánh dấu bởi sự khô cằn của thảo nguyên và sa mạc. Nhiều người trong anh chị em thấu biết sự hài lòng lẫn sự nhọc mệt của cuộc hành trình, điều này gợi lên một khía cạnh nền tảng của linh đạo Kinh thánh được đại diện bởi Abraham và, theo nghĩa rộng hơn, bởi dân tộc Israel và tất cả mọi người môn đệ của Chúa. Vì tất cả chúng ta đều là “dân du mục của Thiên Chúa”, những người hành hương tìm kiếm hạnh phúc, những lữ khách khao khát tình yêu. Sa mạc mà tác giả Thánh vịnh nói tới chính là cuộc sống của chúng ta. Chúng ta là mảnh đất khô cằn khát nước ngọt, thứ nước có thể làm dịu đi cơn khát sâu thẳm nhất của chúng ta. Tâm hồn chúng ta khao khát khám phá được bí mật của niềm vui đích thực, một niềm vui mà ngay cả giữa sự cằn cỗi của cuộc sống, vẫn có thể đồng hành và nâng đỡ chúng ta. Sâu thẳm trong chúng ta, chúng ta khao khát niềm hạnh phúc vô bờ; chúng ta tìm kiếm ý nghĩa và hướng đi trong cuộc sống của mình, tìm kiếm lý do cho tất cả những việc chúng ta làm mỗi ngày. Chúng ta khao khát tình yêu hơn bất cứ điều gì, vì chỉ có tình yêu mới thực sự làm chúng ta thỏa mãn, mang đến cho chúng ta sự viên mãn; chỉ có tình yêu mới có thể khiến chúng ta hạnh phúc, thôi thúc sự vững lòng và cho phép chúng ta thưởng thức vẻ đẹp của cuộc sống. Anh chị em thân mến, đức tin Kitô giáo là câu trả lời cho cơn khát này; nó đón nhận cơn khát cách nghiêm túc, không loại bỏ hoặc cố gắng thay thế cơn khát đó bằng những liều thuốc an thần hoặc chất thay thế. Vì trong cơn khát này ẩn chứa mầu nhiệm cao cả của nhân loại chúng ta: nó mở rộng tâm hồn chúng ta đón nhận Thiên Chúa hằng sống, Thiên Chúa tình yêu, Đấng đến gặp gỡ chúng ta và làm cho chúng ta trở thành con cái của Người, và là anh chị em với nhau.

Điều này đưa chúng ta đến điểm thứ hai: tình yêu làm dịu cơn khát của chúng ta. Trước hết là cơn khát cuộc sống sâu thẳm của chúng ta, và bây giờ chúng ta suy ngẫm về tình yêu làm dịu cơn khát của chúng ta. Đây là tâm điểm của đức tin Kitô giáo: Thiên Chúa, Đấng là Tình yêu, đã đến gần anh chị em, đến gần tôi, đến gần tất cả mọi người, trong Chúa Giêsu Con của Người, và muốn chia sẻ cuộc sống, công việc, những ước mơ và niềm khao khát hạnh phúc của anh chị em. Sự thật là có những lúc chúng ta cảm thấy mình như “mảnh đất khô cằn, không có nước”, nhưng chính Thiên Chúa quan tâm đến chúng ta và ban cho chúng ta nước trong lành, sảng khoái, nước hằng sống của Thánh Thần, tuôn trào trong chúng ta để đổi mới và giải thoát chúng ta khỏi mối nguy bị khô hạn. Chúa Giêsu ban cho chúng ta nước đó. Như Thánh Augustinô nói với chúng ta, “…nếu chúng ta nhận ra mình nơi những người khát, chúng ta cũng nhận ra mình nơi những người làm dịu cơn khát đó” (On the Psalms, 63:1). Thật vậy, nếu trong cuộc sống này chúng ta thường trải qua sa mạc với sự cô đơn, mệt mỏi và trống rỗng, thì chúng ta cũng hãy nhớ rằng, như lời Thánh Augustinô, “vì sợ rằng chúng ta mệt lả trong sa mạc này, Thiên Chúa làm tươi mới chúng ta bằng làn sương của lời Người… Đúng vậy, Người làm cho chúng ta cảm thấy khát, nhưng rồi lại đến để thỏa mãn cơn khát đó… Thiên Chúa luôn thương xót chúng ta; Ngài đã mở cho chúng ta một con đường trong sa mạc là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”. Và đó là con đường xuyên qua sa mạc của cuộc đời chúng ta. “Người ban cho chúng ta nguồn an ủi trong sa mạc đó: là những người rao giảng lời Chúa. Người ban cho chúng ta nước trong sa mạc đó, bằng cách đổ đầy Chúa Thánh Thần vào những nhà rao giảng này, để tạo ra nơi họ một nguồn nước tuôn trào cho sự sống đời đời” (nt. 1, 6). Các bạn thân mến, những lời này nói với các bạn về lịch sử của chính các bạn. Giữa những sa mạc của cuộc sống và trong những khó khăn liên quan đến tình trạng là một cộng đoàn nhỏ bé, Chúa bảo đảm rằng các bạn không thiếu nước lời Người, đặc biệt nhờ các nhà rao giảng và các nhà truyền giáo, những người được Chúa Thánh Thần xức dầu, gieo những hạt giống về vẻ đẹp của nó giữa các bạn. Lời đó luôn đưa chúng ta trở lại điều trọng yếu, về với điểm cốt lõi đức tin của chúng ta: đó là cho phép mình được Thiên Chúa yêu thương và từ đó biến cuộc sống của chúng ta thành một lễ vật tình yêu. Vì chỉ có tình yêu mới thực sự làm dịu cơn khát của chúng ta. Chúng ta đừng bao giờ quên: chỉ có tình yêu mới thực sự làm dịu cơn khát của chúng ta.

Đó chính là những gì Chúa Giêsu nói với Thánh Tông đồ Phêrô trong Tin Mừng hôm nay. Phêrô không thể chấp nhận sự thật rằng Chúa Giêsu phải chịu đau khổ, bị các nhà lãnh đạo dân chúng kết án, chịu khổ hình và chịu chết trên thập giá. Phêrô phản ứng, ông phản kháng, ông cố gắng thuyết phục Chúa Giêsu rằng Ngài đã sai, vì trong suy nghĩ của Phêrô – và chúng ta cũng thường có cùng một ý tưởng – thì Đấng Mêsia không thể có kết cục trong thất bại, chết trên thập giá như một tội nhân bị Thiên Chúa bỏ rơi. Sau đó, Chúa quở trách Phêrô vì tư tưởng của ông là “tư tưởng của loài người”, chứ không phải như Thiên Chúa (x. Mt 16:21-23). Nếu chúng ta nghĩ rằng sự thành công, quyền lực hay của cải vật chất đủ để thỏa mãn cơn khát trong cuộc sống thì chúng ta đang suy nghĩ như thế gian. Tính thế gian đó chẳng dẫn tới đâu; quả thực, nó khiến chúng ta còn khát hơn trước. Ngược lại, Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta con đường: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy” (Mt 16:24-25).

Anh chị em thân mến, đây chắc chắn là cách tốt nhất: ôm lấy thập giá của Đức Kitô. Trọng tâm của Kitô giáo là một thông điệp tuyệt vời và phi thường. Nếu bạn mất mạng sống mình, nếu bạn biến nó thành của lễ phục vụ dâng lên cách hào phóng, nếu bạn mạo hiểm nó qua việc chọn yêu thương, nếu bạn biến nó thành một món quà miễn phí cho người khác, thì nó sẽ trở lại với bạn cách dồi dào, và bạn sẽ bị choáng ngợp bởi niềm vui bất tận, sự bình an trong lòng, sức mạnh và sự hỗ trợ bên trong; và chúng ta cần sự bình an nội tâm.

Đây là sự thật mà Chúa Giêsu muốn chúng ta khám phá, sự thật mà Ngài muốn mặc khải cho tất cả các bạn và cho vùng đất Mông Cổ này. Bạn không cần phải nổi tiếng, giàu có hay quyền lực để được hạnh phúc. Không! Chỉ có tình yêu mới làm thỏa mãn cơn khát của tâm hồn chúng ta, chỉ có tình yêu mới chữa lành những vết thương của chúng ta, chỉ có tình yêu mới mang đến cho chúng ta niềm vui đích thực. Đây là con đường Chúa Giêsu đã dạy chúng ta; đây là con đường mà Ngài đã mở ra trước mặt chúng ta.

Anh chị em thân mến, ước mong chúng ta cũng hãy chú ý đến những gì Chúa đã nói với Phêrô trong câu đáp lại: “Lui lại đằng sau Thầy” (Mt 16:23). Nói cách khác, hãy là môn đệ của Thầy, đi theo những bước chân của Thầy và đừng suy nghĩ như thế gian. Nếu chúng ta thực hiện điều này, nhờ ân sủng của Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần, chúng ta sẽ có thể hành trình trên con đường của tình yêu. Ngay cả khi tình yêu đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ bản thân, chống lại các hình thức ích kỷ cá nhân và thế gian, và chấp nhận mạo hiểm sống một cuộc đời huynh đệ đích thực. Vì chắc chắn tất cả những điều này đòi hỏi cố gắng và hy sinh, và đôi khi phải vác thập giá, nhưng điều còn chắc chắn hơn nữa là, khi chúng ta mất mạng sống vì Tin Mừng, Chúa sẽ ban lại cho chúng ta cách dồi dào, trong tình yêu và niềm vui trọn vẹn đến muôn đời.

______________________________________

Lời chào của Đức Thánh Cha cuối lễ

Tôi muốn nhân cơ hội này, trước sự hiện diện của hai anh em giám mục – Đức Giám mục danh dự của Hồng Kông và Đức Giám mục đương nhiệm của Hồng Kông – để gửi lời chào chân thành đến người dân Trung Quốc cao quý. Tôi xin gửi những lời chúc tốt đẹp tới tất cả bạn: hãy luôn tiến về phía trước, luôn tiến lên! Và với người Công giáo Trung Quốc: cha mong anh chị em hãy là những Kitô hữu tốt và những công dân tốt. Cảm ơn tất cả anh chị em.

Xin cảm ơn Đức Hồng y vì những lời tốt đẹp và cảm ơn vì món quà của ngài! Đức Hồng y đã đề cập rằng trong những ngày này, ngài cảm nhận được sự thân thương của dân Chúa ở Mông Cổ trong trái tim tôi như thế nào. Đúng vậy: tôi bắt đầu cuộc hành hương này với lòng háo hức mong chờ được gặp gỡ tất cả các bạn và làm quen với các bạn. Bây giờ tôi cảm tạ Chúa vì các bạn, vì qua các bạn, Chúa thích sử dụng những gì nhỏ bé để đạt được những điều lớn lao. Cảm ơn các bạn vì các bạn là những Kitô hữu tốt và những công dân lương thiện. Hãy tiến bước một cách nhẹ nhàng và không sợ hãi, ý thức về sự gần gũi và sự khích lệ của toàn thể Giáo hội, và trên hết là ánh mắt dịu dàng của Chúa, Đấng không quên ai và trìu mến nhìn đến từng đứa con của Người.

Tôi xin chào các anh em giám mục, linh mục, các tu sĩ nam nữ và tất cả bạn bè đến đây từ các quốc gia khác nhau, đặc biệt từ các vùng khác nhau thuộc lục địa Châu Á rộng lớn, nơi tôi thấy rất vinh dự được đến đây. Tôi ôm lấy tất cả các bạn với tình cảm sâu sắc. Tôi đặc biệt biết ơn tất cả những người đã hỗ trợ Giáo hội địa phương về tinh thần và vật chất.

Trong những ngày này, các phái đoàn quan trọng của Chính phủ đều có mặt tại mọi sự kiện. Tôi xin cảm ơn ngài Tổng thống và các nhà chức trách vì sự chào đón và lòng hiếu khách của họ cũng như về tất cả những công việc chuẩn bị đã được thực hiện. Tôi cảm nhận được sự thân thiện truyền thống của các bạn; xin cảm ơn!

Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các anh chị em thuộc các hệ phái Kitô giáo khác và các tôn giáo khác. Ước mong chúng ta tiếp tục xích lại gần nhau hơn trong tình huynh đệ, như những hạt giống hòa bình trong một thế giới bị tàn phá kinh hoàng bởi quá nhiều cuộc chiến tranh và xung đột.

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả những người đã làm việc thật vất vả và trong thời gian dài để làm cho Cuộc hành trình của tôi có thể thực hiện được và thành công, cũng như lời cảm ơn tất cả những người đã chuẩn bị cho cuộc hành trình này bằng lời cầu nguyện.

Thưa Đức Hồng y, ngài đã nhắc nhở chúng tôi rằng trong tiếng Mông Cổ, từ “Cảm ơn” xuất phát từ động từ “vui mừng”. Lời “Cảm ơn” của tôi hoàn toàn phù hợp với cái nhìn sâu sắc tuyệt vời này của ngôn ngữ địa phương, vì nó tràn ngập niềm vui. Đó là lời “Cảm ơn” thật nhiều gửi đến người dân Mông Cổ, vì món quà tình bạn mà tôi đã nhận được trong những ngày này, vì khả năng thật sự của các bạn trong việc trân trọng ngay cả những khía cạnh đơn giản nhất của cuộc sống, để gìn giữ một cách khôn ngoan các mối tương quan và truyền thống cũng như vun đắp cuộc sống hàng ngày với sự quan tâm và chăm sóc.

Thánh lễ tự nó là một lời tạ ơn: “Eucharistía”. Khi cử hành Thánh lễ tại miền đất này, tôi nhớ đến lời cầu nguyện mà Cha Pierre Teilhard de Chardin Dòng Tên đã dâng lên Thiên Chúa đúng một trăm năm trước, trong sa mạc Ordos, cách đây không xa. Ngài cầu nguyện rằng: “Lạy Chúa, con xin phủ phục trước sự hiện diện của Chúa trong vũ trụ bây giờ đã trở thành ngọn lửa sống: bên dưới nét đặc trưng của tất cả những gì con sẽ gặp ngày nay, tất cả những gì xảy ra với con, tất cả những gì con đạt được, đó là Chúa mà lòng con khao khát, con đợi trông”. Cha Teilhard de Chardin tham gia nghiên cứu địa chất. Ngài tha thiết muốn cử hành Thánh Lễ, nhưng lại thiếu bánh và rượu. Vì vậy, ngài đã viết quyển “Mass on the World”, diễn tả hy lễ của ngài bằng những lời này: “Lạy Chúa, xin nhận lấy bánh thánh này, mà toàn thể tạo vật của Người, được thúc đẩy bởi sự cuốn hút của Người, dâng lên Chúa vào buổi bình minh của ngày mới này”. Một lời cầu nguyện tương tự đã hình thành trong Cha khi ngài làm người khiêng cáng ở tiền tuyến trong Thế chiến thứ nhất. Vị linh mục này, thường bị hiểu lầm, đã cảm nhận trực giác được rằng “Bí tích Thánh Thể luôn được cử hành một cách nào đó trên bàn thờ của thế giới” và là “trung tâm sống động của vũ trụ, cốt lõi tràn ngập tình yêu và sự sống vô tận” (Tông huấn Laudato Sì, 236 ), ngay cả trong thời đại như thời đại chúng ta, ghi đậm dấu của những cuộc xung đột và chiến tranh. Vậy hôm nay chúng ta hãy cầu nguyện theo lời của Cha Teilhard de Chardin: “Lời rạng ngời, Quyền năng rực sáng, Đấng nhào nặn sự đa dạng để thổi sự sống vào đó, con cầu xin Chúa, hãy đặt trên chúng con đôi bàn tay của Người – quyền năng, ân cần, ở muôn nơi”.

Anh chị em Mông Cổ thân mến, cảm ơn vì chứng tá của anh chị em. Bayarlalaa! [Cảm ơn!]. Xin Chúa ban phúc lành cho anh chị em. Anh chị em ở trong trái tim tôi, và anh chị em sẽ mãi ở lại trong trái tim tôi. Xin hãy nhớ đến tôi trong lời cầu nguyện và trong suy nghĩ của anh chị em. Cảm ơn anh chị em.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 7/9/2023]