Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2026

Tiếp kiến các tham dự viên cuộc gặp gỡ do Hàn lâm viện Tòa Thánh về Sự sống tổ chức, ngày 30.10.2026

Tiếp kiến các tham dự viên cuộc gặp gỡ do Hàn lâm viện Tòa Thánh về Sự sống tổ chức, ngày 30.10.2026

Tiếp kiến các tham dự viên cuộc gặp gỡ do Hàn lâm viện Tòa Thánh về Sự sống tổ chức, ngày 30.10.2026

*******

Sáng nay, tại Điện Tông tòa Vatican, Đức Thánh Cha Lêô XIV tiếp kiến các tham dự viên cuộc gặp gỡ do Hàn lâm viện Tòa Thánh về Sự sống và Viện Tương lai Sự sống (Future of Life Institute) tổ chức, với chủ đề: “Tương lai của trí tuệ nhân tạo: Cuộc đối thoại giữa Vatican và giới khoa học về những bước phát triển và ứng dụng của các công nghệ thông minh”.

Sau đây là diễn văn của Đức Thánh Cha gửi tới các tham dự viên hiện diện tại cuộc gặp gỡ:


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.
Bình an cho anh chị em.

Tôi xin chào mừng tất cả anh chị em và cảm ơn sự có mặt của anh chị em trong buổi sáng hôm nay. Anh chị em đến từ nhiều quốc gia, mang theo rất nhiều những câu hỏi và góc nhìn đa dạng. Đồng thời, tôi tin rằng anh chị em cùng chia sẻ một cảm thức bất an nào đó trước sự phát triển của trí tuệ nhân tạo. Chúng ta nhận ra hướng đi mình cần thực hiện, song những gì đã làm để tiến về phía trước vẫn chưa đủ. Tôi chân thành cảm ơn anh chị em đã chia sẻ những mối quan ngại, cũng như những ý tưởng và đề xuất cho tương lai. Đây là những thành quả đầu tiên của một phương pháp tiếp cận xuyên ngành, điều mà ngày càng trở nên cần thiết nếu chúng ta muốn giải quyết tính phức tạp của những thách đố lớn của thời đại.

Hàn lâm viện Tòa Thánh về Sự sống, đơn vị tổ chức cuộc gặp gỡ này, ý thức rõ những thách đố nảy sinh ở bất cứ nơi nào phẩm giá con người bị đe dọa. Về vấn đề này, khi phát biểu trước các nhà lãnh đạo G7, Đức Thánh Cha Phanxicô đã mô tả trí tuệ nhân tạo là “một công cụ vừa thú vị vừa đáng sợ”, đồng thời khẳng định rằng không bao giờ được giao phó cho bất kỳ cỗ máy nào quyền quyết định tước đoạt mạng sống con người (x. Diễn văn tại Phiên họp G7 về Trí tuệ nhân tạo, ngày 14 tháng 6 năm 2024). Những lời ấy vẫn còn nguyên tính thời sự. Trong Thông điệp Magnifica Humanitas, tôi đã cố gắng đi sâu hơn vào những vấn đề này. Hôm nay, tôi muốn đưa ra năm suy tư đặc biệt sau đây.

Thứ nhất, tương lai của trí tuệ nhân tạo không phải là điều đã được định sẵn. Là một công nghệ do con người phát triển, tương lai của nó phụ thuộc vào những lựa chọn mà chúng ta đưa ra. Do đó, chúng ta có trách nhiệm định hướng, thay đổi, và từ chối những ứng dụng của nó khi cần thiết (x. các số 97, 104). Vì thế, câu hỏi mang tính quyết định không đơn thuần là: “Trí tuệ nhân tạo có thể làm được gì?”, mà phải là: “Nó phải phục vụ cho mục đích nào?”. Những ai chỉ xem sự phát triển của công nghệ này như một cuộc đua cần phải thắng có nguy cơ tập trung duy nhất vào đích đến, mà quên đi những người bị bỏ lại phía sau. Một hệ thống đáng tin cậy, phục vụ con người, luôn có giá trị hơn một hệ thống sở hữu sức mạnh phi thường nhưng những hệ quả của nó lại không thể dự liệu hoặc kiểm soát một cách thích đáng.

Thứ hai, máy móc là công cụ, không phải là con người. “Cái được gọi là trí tuệ nhân tạo không trải qua các kinh nghiệm, không có thân xác, không cảm nhận niềm vui hay đau đớn, không trưởng thành qua các mối tương quan và cũng không thấu hiểu từ bên trong ý nghĩa của tình yêu, lao động, tình bạn hay trách nhiệm” (số 99). Ngày nay, một số người đề xuất trao quyền cho những hệ thống này, thậm chí công nhận chúng có tư cách pháp nhân. Cách tiếp cận như thế có nguy cơ làm lu mờ trách nhiệm của con người và khiến những người chịu thiệt hại buộc phải đối diện với một thực thể không có khuôn mặt.

Thứ ba, có những quyết định tuyệt đối không bao giờ được ủy thác. Khi một người bị đưa vào danh sách mục tiêu hoặc được nhập vào cơ sở dữ liệu kiểm soát biên giới, người ấy có nguy cơ bị giản lược thành một điểm dữ liệu thuần túy. Những quyết định liên quan đến sự sống con người, quyền tự do và việc sử dụng vũ lực luôn phải đặt dưới sự giám sát hiệu quả, đầy đủ thông tin và có trách nhiệm của con người (x. các số 198–200). Vì lý do này, trí tuệ nhân tạo phải được “giải trừ vũ khí” (số 110), và tôi khuyến khích các quốc gia họp tại Genève vào tháng 11 này hãy thực hiện những bước đi cụ thể nhằm tiến tới việc cấm các loại vũ khí sát thương tự động.

Thứ tư, các công nghệ thông minh phải được định hướng về ích chung. “Công lý đòi hỏi mọi người phải được tiếp cận với những lợi ích của sự đổi mới, bao gồm việc chăm sóc, tri thức, công cụ và cơ hội” (số 161). Thật vậy, chúng tuyệt đối không được trở thành mục đích tự thân hoặc chỉ phục vụ lợi ích của một thiểu số đặc quyền. Trái lại, sự phát triển của chúng phải thúc đẩy tình liên đới và sự tham gia ở các cấp độ khác nhau trong cộng đồng toàn cầu, bảo đảm rằng những thành quả của tiến bộ được phân chia công bằng, đặc biệt dành cho những người túng thiếu thiết nhất (x. các số 71–72).

Sau cùng, tôi muốn nhấn mạnh một thách đố có lẽ là cấp bách nhất. Chúng ta đã biết nhiều nguyên tắc luân lý cần phải định hướng cho sự phát triển của trí tuệ nhân tạo. Điều chúng ta cần hiện nay là những thể chế có khả năng đưa các nguyên tắc ấy vào thực tiễn, đặc biệt là những thể chế quốc tế hiệu quả có thể bảo vệ công ích toàn cầu (x. số 64). Điều này đòi hỏi phải có những tiêu chuẩn chung, cơ chế giám sát độc lập và các cơ chế giải trình rõ ràng, để những quyết định liên quan đến việc phát triển và sử dụng trí tuệ nhân tạo có thể được thẩm tra, bị chất vấn khi cần thiết, đồng thời phải có những biện pháp khắc phục thích đáng đối với mọi thiệt hại gây ra (x. các số 105, 107).

Các bạn thân mến, với những suy tư trên đây, một lần nữa tôi xin cảm ơn những đóng góp quý báu của các bạn trong lãnh vực này và khuyến khích các bạn kiên trì trong những nỗ lực của mình, cùng nhau làm việc trong tinh thần đối thoại và trách nhiệm chung vì công ích. Tôi đồng hành với các bạn trong lời cầu nguyện, và tôi ban phép lành cho từng người trong các bạn. Cảm ơn các bạn.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 31/10/2026]


Người Kitô hữu có “cội rễ sâu xa” tại Jordan, chuyên gia nói với Crux Now sau vụ tấn công đẫm máu vào nhà thờ

Người Kitô hữu có “cội rễ sâu xa” tại Jordan, chuyên gia nói với Crux Now sau vụ tấn công đẫm máu vào nhà thờ

30 tháng 10 năm 2026

Người Kitô hữu có “cội rễ sâu xa” tại Jordan, chuyên gia nói với Crux Now sau vụ tấn công đẫm máu vào nhà thờ


Sau vụ tấn công tuần trước vào một nhà thờ ở Jordan, một chuyên gia khẳng định rằng các Kitô hữu thuộc về đất nước này và đối thoại liên tôn tại Trung Đông đang “chịu nhiều sức ép”.

Trao đổi với Crux Now, ông Waseem Haddad, chuyên gia về hoạt động liên tôn trong khu vực, khẳng định rằng cho dù có vụ tấn công ngày 23 tháng 10 nhằm vào một nhà thờ Chính thống giáo Hy Lạp tại tỉnh Karak, khiến chín người thiệt mạng và hàng chục người khác bị thương, người Kitô hữu vẫn thuộc về Jordan.

Ông Haddad nói: “Người Kitô hữu có cội rễ sâu xa tại Jordan. Đây là đất nước của họ, và họ tham gia vào đời sống công cộng, chính trị, kinh doanh, giáo dục cũng như mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế. Các Giáo hội Kitô giáo, trường học và tổ chức bác ái đã giữ vai trò lâu đời tại đây, với nhiều hoạt động phục vụ dành cho cả người Kitô hữu lẫn người Hồi giáo”.

Ông tiếp tục nhấn mạnh tầm quan trọng của người Kitô hữu đối với toàn khu vực.

“Người Kitô hữu thuộc về khu vực này. Đây là quê hương của họ, và chúng ta cần nói về họ như những công dân và những đối tác trong tương lai của khu vực, một tương lai chung của tất cả mọi người. Sự thuộc về đó phải được thể hiện qua cách người ta được đối xử như thế nào”, ông nói.

Ông nói thêm: “Chỉ nói những lời tốt đẹp về sự chung sống là chưa đủ, nếu các gia đình vẫn không chắc chắn về các quyền lợi của mình hoặc tương lai của con cái họ. Hoàn cảnh của các Kitô hữu khác biệt đáng kể giữa các nơi trong khu vực”.

Ông Haddad hiện là Giám đốc Chương trình cấp cao phụ trách khu vực Ả Rập tại Trung tâm Đối thoại Quốc tế (KAICIID). Tòa Thánh là một thành viên sáng lập với vai trò quan sát viên của KAICIID, tổ chức được Ả Rập Xê Út, Áo và Tây Ban Nha thành lập năm 2012, sau cuộc gặp giữa Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI và Quốc vương Abdullah của Ả Rập Xê Út vào năm 2007.

Ông Haddad nói với Crux Now rằng mặc dù có mong muốn đạt được sự thấu hiểu lớn hơn giữa các tôn giáo tại Trung Đông, công tác này cần thu hút sự tham gia của càng nhiều người càng tốt.

Ông nói: “Có một cam kết chân thành trong khu vực và chúng tôi nhận thấy điều đó nơi các nhà lãnh đạo tôn giáo cũng như các đối tác mà chúng tôi hợp tác rất chặt chẽ. Tuy nhiên, đối thoại vẫn có thể chỉ giới hạn trong những nhóm những người vốn đã có niềm tin vững chắc vào điều đó và cảm nhận được lợi ích của nó”.

Ông giải thích rằng thách thức đặt ra là phải “mở rộng những nhóm đó và thu hút những người có thể chưa nhận ra giá trị của đối thoại”.

“Tôi muốn nói rằng hiện nay, đối thoại đang chịu nhiều sức ép, điều đó có nghĩa là sự hiện diện và những nỗ lực của nó càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết”, ông nói thêm.

Ông Haddad nói: “Tuy nhiên, vẫn còn một chặng đường chúng ta phải đi để mọi người có thể thẳng thắn nói về nỗi sợ hãi, sự phân biệt đối xử và quyền công dân chung. Nếu không, những cuộc gặp gỡ và tuyên bố sẽ chẳng có nhiều ý nghĩa trong đời sống thường nhật của họ”.

Hôm thứ Hai, lực lượng an ninh Jordan đã bắt giữ ba người đàn ông liên quan đến vụ tấn công nhà thờ, sau một cuộc đấu súng khiến cả ba nghi phạm đều bị thương.

Ông Haddad cho rằng phản ứng của chính phủ Jordan là một dấu hiệu tích cực cho đất nước.

“An ninh và phẩm giá của các Kitô hữu đã được nhìn nhận như một phần trong an ninh và phẩm giá của Jordan”, ông nói.

“Phản ứng của cộng đồng Kitô giáo cũng đáng chú ý. Bất kể nỗi đau thương, các tiếng nói từ Giáo hội địa phương và cộng đồng đã tái khẳng định rằng họ thuộc về Jordan, và bác bỏ việc quy trách nhiệm cho người Hồi giáo về tội ác này”, ông nói thêm.

Cuộc phỏng vấn sau đây đã được biên tập một chút để diễn đạt rõ ràng hơn.


Crux Now: Ông đánh giá như thế nào về tình hình đối thoại liên tôn trên toàn khu vực Trung Đông?

Ông Haddad: Có một cam kết chân thành trong khu vực và chúng tôi nhận thấy điều đó nơi các nhà lãnh đạo tôn giáo cũng như các đối tác mà chúng tôi hợp tác rất chặt chẽ. Tuy nhiên, đối thoại vẫn có thể chỉ giới hạn trong những nhóm những người vốn đã có niềm tin vững chắc vào điều đó và cảm nhận được lợi ích của nó.

Thách thức đối với chúng tôi là phải mở rộng những nhóm đó và thu hút những người có thể chưa nhận ra giá trị của đối thoại. Đó chính là công việc mà chúng tôi thực hiện hằng ngày trong khu vực.

Tôi muốn nói rằng hiện nay, đối thoại đang chịu nhiều sức ép, điều đó có nghĩa là sự hiện diện và những nỗ lực của nó càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, vẫn còn một chặng đường chúng ta phải đi để mọi người có thể thẳng thắn nói về nỗi sợ hãi, sự phân biệt đối xử và quyền công dân chung. Nếu không, những cuộc gặp gỡ và tuyên bố sẽ chẳng có nhiều ý nghĩa trong đời sống thường nhật của họ.

Tôi cũng cho rằng chúng ta cần thận trọng, không nên xem mọi khó khăn đều là xung đột tôn giáo. Chiến tranh, tình trạng di tản và những khó khăn kinh tế đều tác động đến mối tương quan giữa những cộng đồng, và những vấn đề đó có thể bắt nguồn từ nhiều yếu tố xã hội khác nhau.

Chẳng hạn, để giải quyết những vấn đề này, chúng ta cần có trách nhiệm chính trị và các thể chế hoạt động hiệu quả. Các nhà lãnh đạo tôn giáo có thể đóng một vai trò hỗ trợ quan trọng, nhưng họ không thể tự mình giải quyết những vấn đề đó. Vai trò của họ là thiết yếu, bởi họ có thể phản bác những định kiến ngay trong cộng đồng của họ và lên tiếng khi những người khác bị đe dọa.

Đó là một nỗ lực lớn mà KAICIID luôn tìm cách thúc đẩy trên toàn khu vực. Bằng cách kết nối các nhà lãnh đạo tôn giáo với xã hội dân sự, hoặc thậm chí với các nhà lãnh đạo cộng đồng, chúng tôi tạo ra một không gian để cả hai phía cùng tìm kiếm các giải pháp chung, và trên hết, những giải pháp xuất phát từ nhu cầu thực tế của người dân.

Sau những tình huống xảy ra bạo lực, các nhà lãnh đạo tôn giáo có thể đóng một vai trò rất lớn, vượt qua việc chỉ lên án những hành vi bạo lực ấy. Họ có thể tiếp tục đồng hành với các gia đình bị ảnh hưởng, góp phần lấy lại lòng tin và ngăn chặn việc quy kết trách nhiệm tập thể, nhưng không yêu cầu người dân phải gạt bỏ quyền đòi hỏi công lý.

Họ hiểu cộng đồng của họ hơn bất cứ ai và có thể đóng vai như kim chỉ nam trong những thời điểm khó khăn, bằng cách kiên trì dấn thân mỗi ngày để thực sự trở thành một phần trong đời sống của người dân, cả những lúc vui lẫn lúc buồn, trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai.

Đó là lý do tại sao, tại KAICIID, chúng tôi quy tụ những người thuộc các tôn giáo và niềm tin khác nhau, đồng thời tiếp tục kết nối các nhà lãnh đạo tôn giáo với những nhà hoạch định chính sách và các tác nhân cộng đồng. Chúng tôi mong muốn không ngừng duy trì những mối tương quan đó, vượt ra ngoài khuôn khổ của một cuộc gặp gỡ hay một cuộc khủng hoảng.

Đối với tôi, việc người dân có cảm thấy tiếng nói của họ được lắng nghe hay không là thước đo, và liệu sự hợp tác đó có giúp giải quyết những lo ngại của họ hay không. Chúng ta cần đối thoại song song với trách nhiệm chính trị, chứ không phải để thay thế trách nhiệm chính trị.


Vậy người Kitô hữu có vị trí như thế nào trong bức tranh rộng lớn đó? Tình hình của họ trong khu vực hiện nay ra sao?

Người Kitô hữu thuộc về khu vực này. Đây là quê hương của họ, và chúng ta cần nói về họ như những công dân và những đối tác trong tương lai của khu vực, một tương lai chung của tất cả mọi người. Sự thuộc về đó phải được thể hiện qua cách người ta được đối xử như thế nào.

Chỉ nói những lời tốt đẹp về sự chung sống là chưa đủ, nếu các gia đình vẫn không chắc chắn về những quyền lợi của mình hoặc tương lai của con cái họ. Hoàn cảnh của các Kitô hữu khác biệt đáng kể giữa các nơi trong khu vực. Tình trạng bất ổn, khó khăn kinh tế và sự thiếu lòng tin vào các thể chế đều ảnh hưởng đến toàn thể xã hội.

Người Kitô hữu và những nhóm tôn giáo thiểu số khác có thể phải đối mặt với những mối đe dọa hoặc sự phân biệt đối xử vì niềm tin của họ. Những vấn đề ấy cần được giải quyết trực tiếp, đồng thời không được quên những khó khăn mà họ cùng chia sẻ với các anh chị em Hồi giáo của mình.

Các nhà lãnh đạo và tổ chức Kitô giáo cũng là những đối tác tích cực trong các tiến trình đối thoại và xây dựng hòa bình. Tại KAICIID, chúng tôi hướng đến việc tìm kiếm những phương thức hoạt động nhằm đưa các mối tương quan này lên vị trí hàng đầu.

Một ví dụ tiêu biểu là công tác chúng tôi phát triển cùng với Nền tảng Liên tôn về Đối thoại và Hợp tác trong Thế giới Ả Rập (IPDC). Nền tảng này ra đời từ một sáng kiến của KAICIID vào năm 2018, khi chúng tôi quy tụ các nhà lãnh đạo tôn giáo và các tổ chức Hồi giáo và Kitô giáo cấp cao từ khắp khu vực Ả Rập, nhằm tìm kiếm những phương thức thúc đẩy sự chung sống hòa bình, quyền công dân chung và sự gắn kết xã hội thông qua việc cổ võ đối thoại và hợp tác liên tôn.

Nền tảng này đã phát triển lên đến gần 25 thành viên cấp cao, và trở thành một bộ phận quan trọng trong nỗ lực ứng phó trong khu vực, và hiện nay, nền tảng hướng đến việc đấu tranh chống hận thù và chủ nghĩa bè phái, đồng thời hỗ trợ những nỗ lực chung nhằm ngăn ngừa xung đột và củng cố sự hiểu biết lẫn nhau,trong đó gồm nhiều sáng kiến khác nhau trong khu vực, được phát triển với sự hợp tác của KAICIID.


Nhiều tổ chức đã phát tín hiệu báo động về sự sụt giảm nghiêm trọng số lượng Kitô hữu tại các quốc gia như Syria. Cần phải làm gì để giúp các Kitô hữu tiếp tục ở lại Trung Đông?

Đối với tôi, điều đó bắt đầu từ việc thúc đẩy quyền công dân và xây dựng lòng tin. Cũng như mọi người khác, các Kitô hữu cần cảm nhận rằng đây là đất nước của họ và gia đình họ có một tương lai ở đó. Các quyền của họ không phụ thuộc vào số lượng người của họ hay vào việc ai đang nắm quyền.

Tại Iraq, đặc biệt là ở Mosul, nơi tuần trước tôi đã đến cùng với KAICIID để tham gia các dự án và hoạt động can thiệp nhằm nhìn lại những nỗ lực của chúng tôi tại đất nước này trong 10 năm qua, tôi được nghe những câu chuyện đau lòng từ các Kitô hữu và những cộng đồng khác.

Điều đọng lại sâu sắc trong tôi là cảm thức quê hương của họ và quyết tâm ở lại Iraq. Chúng ta cần lắng nghe những gì có thể giúp điều đó trở thành hiện thực, thay vì chỉ đơn thuần động viên họ ở lại. Các Kitô hữu cùng chung một quê hương và một tương lai với những người anh chị em Hồi giáo của mình. Các gia đình cần an ninh, việc làm, tự do và những thể chế mà họ có thể tin tưởng.

Đó là lý do tại sao việc xây dựng lòng tin lại quan trọng đến vậy. Chúng ta không thể bảo đảm tương lai cho một cộng đồng trong khi toàn bộ xã hội rộng lớn hơn vẫn bất an. Lòng tin phụ thuộc vào những gì người dân thực sự trải nghiệm: pháp luật có bảo vệ họ hay không, những mối quan ngại của họ có được xem xét nghiêm túc hay không, và họ có được tiếng nói trong những quyết định ảnh hưởng đến cuộc sống của họ hay không.

Vì lẽ đó, hòa giải, quyền công dân chung và sự tham gia dân chủ là vô cùng quan trọng. Chúng ta không thể yêu cầu các gia đình ở lại chỉ nhằm bảo tồn sự đa dạng của khu vực. Họ cần cảm thấy rằng việc ở lại sẽ đem đến cho bản thân và con cái họ một cuộc sống xứng đáng, không phải sống trong sợ hãi.

Thực ra, chúng tôi đang lên kế hoạch tổ chức một cuộc tham vấn khác tại Syria vào tháng 11, theo hình thức tương tự như những gì chúng tôi đã thực hiện ở Iraq. Trong năm nay, chúng tôi đã có một dự án trên phạm vi toàn quốc và mong muốn được nhìn thấy những dự án lớn mà chúng tôi đang phát triển ở đó, cùng những phản hồi từ các đối tác, vì nó sẽ giúp KAICIID chúng tôi tiếp tục hỗ trợ những nhịp cầu đối thoại liên tôn và liên văn hóa trong đất nước này cũng như trên toàn khu vực.


Theo ông, tại sao vụ tấn công ở Jordan lại xảy ra? Ông nhận định thế nào về phản ứng của chính phủ Jordan trước vụ tấn công?

Tôi tin rằng KAICIID không ở vị thế đưa ra bình luận về các chi tiết đó khi cuộc điều tra vẫn đang được tiến hành. Điều duy nhất chúng tôi có thể nói là những suy nghĩ của chúng tôi luôn hướng về các nạn nhân bị thương cùng tất cả những ai chịu ảnh hưởng bởi hành vi bạo lực này.

Tại KAICIID, chúng tôi tin chắc rằng các nơi thờ phượng phải luôn là những không gian dành cho cầu nguyện, suy niệm và hòa bình.

Tôi từ Iraq đến Amman vào khoảng thời điểm xảy ra vụ tấn công. Tối thứ Sáu hôm đ1o, tôi nhìn thấy sự bàng hoàng và đau đớn trên gương mặt của cả người Kitô hữu lẫn người Hồi giáo. Rõ ràng, nỗi đau thương không chỉ giới hạn trong cộng đồng Kitô giáo.

Tôi tin rằng phản ứng của chính quyền Jordan đáng được ghi nhận. Ba ngày quốc tang, chuyến thăm những người bị thương của Quốc vương, lời chia buồn của Hoàng gia và việc Thủ tướng thay mặt Quốc vương tham dự tang lễ có ý nghĩa quan trọng.

Nhà nước đã ở bên cạnh các gia đình, cùng chia sẻ mất mát với họ và tôn trọng các truyền thống tôn giáo của họ. Điều có ý nghĩa đối với tôi là cách chính phủ và công chúng đứng về phía các gia đình. Điều đó cho thấy nỗi đau của họ là mối bận tâm của toàn thể đất nước.

An ninh và phẩm giá của các Kitô hữu đã được nhìn nhận như một phần trong an ninh và phẩm giá của Jordan. Phản ứng của cộng đồng Kitô giáo cũng đáng chú ý. Bất kể nỗi đau thương, các tiếng nói từ Giáo hội địa phương và cộng đồng đã tái khẳng định rằng họ thuộc về Jordan, và bác bỏ việc quy trách nhiệm cho người Hồi giáo về tội ác này.

Họ kêu gọi công lý, nhưng không để vụ tấn công khiến họ quay lưng chống lại những người láng giềng. Chúng ta cần tôn trọng cam kết đó, đồng thời không mặc nhiên cho rằng những nỗi lo sợ của họ đã biến mất.

Tôi cũng muốn nhấn mạnh sự cần thiết phải bảo vệ thường dân trong mọi biện pháp ứng phó tiếp theo, dù trong phạm vi Jordan hay bên ngoài biên giới nước này. Nhà nước phải bảo vệ công dân và truy cứu trách nhiệm những người gây ra tội ác, đồng thời thực hiện mọi biện pháp phòng ngừa cần thiết để tránh gây thêm đau khổ cho những gia đình không liên quan đến tội ác.

Bất kỳ báo cáo nào về thương vong của thường dân cũng cần phải được xem xét một cách cẩn trọng và minh bạch, cùng với sự hỗ trợ dành cho những người chịu ảnh hưởng.


Người Kitô giáo tại Jordan đang sống như thế nào?

Người Kitô hữu có cội rễ sâu xa tại Jordan. Đây là đất nước của họ, và họ tham gia vào đời sống công cộng, chính trị, kinh doanh, giáo dục cũng như mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế. Các Giáo hội Kitô giáo, trường học và tổ chức bác ái đã giữ vai trò lâu đời tại đây, với nhiều hoạt động phục vụ dành cho cả người Kitô hữu lẫn người Hồi giáo.

Đối với tôi, những mối tương quan trong đời sống thường nhật là quan trọng – và đây là một trụ cột căn bản trong công việc của KAICIID: cách tiếp cận trong địa phương. Người Kitô hữu lớn lên, học tập và làm việc bên cạnh những người anh chị em Hồi giáo của họ. Họ biết nhau như những người láng giềng và bạn bè.

Chúng ta cần luôn ghi nhớ đời sống chung đó khi thảo luận về các mối tương quan giữa những cộng đồng tôn giáo.


Chính phủ Jordan đã phản ứng mạnh mẽ sau cuộc tấn công. Chính phủ Ả Rập Xê Út gần đây cũng đã hủy bỏ án tử hình đối với một người Sri Lanka lao động nhập cư bị cáo buộc phạm tội báng bổ. Đây có phải là tín hiệu cho thấy các chính phủ trong khu vực đang nới lỏng cách tiếp cận đối với tự do tôn giáo?

Tôi cho rằng điều quan trọng nhất là chúng ta cần duy trì đối thoại với các chính phủ, các nhà lãnh đạo tôn giáo và các cộng đồng, thấu hiểu hoàn cảnh của họ và cùng nhau hợp tác ở những nơi có thể đạt được tiến bộ; đây cũng chính là cách thức tiếp cận mà chúng tôi áp dụng trong công việc tại KAICIID. Việc ghi nhận một bước tiến tích cực sẽ góp phần thúc đẩy cuộc đối thoại đó.

Tôi hy vọng những bước đi này sẽ dẫn đến những tiến bộ xa hơn. Cam kết của chúng tôi vẫn luôn là bảo vệ quyền tự do tôn giáo hoặc niềm tin cho tất cả mọi người.


[Nguồn: cruxnow]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 31/10/2026]


Những nữ tu bị bắt cóc… và loan báo Tin Mừng cho chính những người bắt giữ mình

Những nữ tu bị bắt cóc… và loan báo Tin Mừng cho chính những người bắt giữ mình

Nữ tu Josephine trẻ tuổi đã biết các nhà thừa sai này — Dòng Thừa sai Thánh Thể Thánh Clare Khó nghèo — từ khi còn nhỏ

Những nữ tu bị bắt cóc… và loan báo Tin Mừng cho chính những người bắt giữ mình

Nhân dịp kỷ niệm 100 năm DOMUND (Chúa nhật Thế giới Truyền giáo), câu chuyện của các nhà thừa sai này nhắc nhở chúng ta rằng một thế kỷ nhiệt thành truyền giáo đã được thể hiện qua hàng ngàn cuộc đời tận hiến phục vụ Tin Mừng. "Nên một trong Đức Kitô, hiệp nhất trong sứ vụ" không đơn thuần là một khẩu hiệu, nhưng là lời mời gọi khám phá rằng công cuộc loan báo Tin Mừng bắt đầu khi tình yêu của Đức Kitô trở nên hữu hình qua các hành động của chúng ta, ngay cả đối với những người gây tổn hại cho chúng ta.

23 Tháng 10, 2026 18:55

ALMA RECINAS


(ZENIT News / Guadalajara, 23.10.2026). – Nhân dịp kỷ niệm 100 năm DOMUND, được cử hành vào ngày 18 tháng 10 vừa qua với chủ đề "Nên một trong Đức Kitô, hiệp nhất trong sứ vụ", chứng từ của Dòng Thừa sai Thánh Thể Thánh Clare Khó nghèo đã được thuật lại. Các chị đã trải qua cuộc tấn công của phe phiến quân vào tu viện và phòng khám bệnh của các chị tại Sierra Leone trong cuộc nội chiến của những năm 1990. Câu chuyện của các chị được kể lại với nhan đề: "Các Nữ tu thừa sai Dòng Thánh Clare Khó nghèo đã loan báo Tin Mừng cho những kẻ bắt giữ mình".


Nữ tu Josephine trẻ tuổi đã biết các nhà thừa sai này — Dòng Thừa sai Thánh Thể Thánh Clare Khó nghèo — từ khi còn nhỏ; vì họ phục vụ ngay trong cộng đồng của chị, điều hành một trường học và một phòng khám bệnh. Ngay từ đầu, vị sáng lập Hội dòng đã khuyến khích các nữ tu làm việc với các thiếu nữ, nhằm cải thiện đời sống của gia đình các em. Vào thời điểm ấy, các bé gái không được đến trường; các em phải ở nhà vì cha mẹ không cho các em đi học. Tuy nhiên, các nữ tu luôn dấn thân thúc đẩy và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Nữ tu María Soledad luôn ấp ủ ước mơ trở thành một nhà thừa sai. Trước khi đảm nhận trách nhiệm Bề trên tại Sierra Leone, chị đã phục vụ sáu năm ở Ireland, trước khi đến châu Phi.

"Năm 1991, tại Sierra Leone, tôi hỗ trợ tại một phòng khám, giúp chăm sóc các bệnh nhân. Khi ấy, tình trạng nghèo đói trong cộng đồng này hiện lên rõ rệt." Cả đất nước vô cùng nghèo khó; mỗi ngày có hơn 200 người đến phòng khám để được khám bệnh, nhưng chỉ có một nữ tu túc trực chăm sóc họ. Vị nữ tu Dòng Thánh Clare Khó nghèo này có nhiều kinh nghiệm: trước đó, chị từng phục vụ tại Indonesia và được đào tạo về gây mê. Sau đó, một phòng khám lớn, có cả phòng xét nghiệm, đã được xây dựng.

Nữ tu María Soledad kể lại biến cố nguy hiểm nhất mà chị từng trải qua trong thời gian đó:

"Phòng khám mới vừa được khai trương vào năm 1993. Ngày 23 tháng 12, phiến quân bất ngờ ập đến. Chúng tôi không nghĩ họ lại đến sớm như vậy, nhưng khi nghe tiếng ồn ào của những người đang có mặt trong phòng khám, người ta lập tức báo cho chúng tôi biết đó là quân nổi dậy, và tất cả mọi người vội vụt chạy, đúng nghĩa là như vậy, để tìm chỗ ẩn nấp. Chỉ trong một phút, không còn một bóng người trong phòng khám. Ưu tiên hàng đầu của chúng tôi là thực hiện những chỉ dẫn mà Bề trên Tổng quyền đã đưa ra: trong trường hợp phiến quân đến, một người trong chúng tôi phải rước Mình Thánh Chúa (các bánh thánh đã được truyền phép); một người khác phải thu gom hồ sơ của phòng khám; người thứ ba phụ trách mang theo máy bộ đàm; và người thứ tư có nhiệm vụ tìm xăng cho chiếc xe bán tải. Thú thật, chúng tôi chưa bao giờ tưởng tượng rằng mình sẽ thực sự sẽ phải đối diện với khoảnh khắc như thế, nhưng khi ngày ấy cuối cùng cũng đến, tất cả chúng tôi đều hối hả thực hiện nhiệm vụ đã được phân công. Nữ tu phụ trách Mình Thánh Chúa chạy đến nhà nguyện, và tất cả chúng tôi cùng rước Mình Thánh. Trong lúc chờ đợi, tự hỏi không biết khi nào họ sẽ xông vào, chúng tôi vẫn ở yên trong nhà, chuẩn bị tinh thần cho sự xuất hiện của họ."

Đến lúc đó, chúng tôi chuẩn bị tiền để trả lương cho các giáo viên và y tá, nhưng lại hết tiền… Tôi tự hỏi: "Ôi, Chúa ơi, chúng con phải làm gì đây?" Vì không biết kết cục của chúng tôi sẽ như thế nào, chúng tôi quyết định chia số tiền còn lại cho nhau, để dù có bị đưa đến bất cứ nơi nào, mỗi người cũng có một ít để trang trải. Chúng tôi đã làm như vậy; còn chuyện gì xảy ra sau đó… thì chỉ có Chúa biết.

Một giờ trôi qua, quân nổi dậy đến. Một người trong họ tiến đến cổng vào và phá vỡ ổ móc khóa bằng một nhát chém của dao rựa. Họ hét lớn: "Mở cổng! Ra ngoài, nếu không chúng tao sẽ giết hết, chúng tao sẽ bắn!" Dĩ nhiên, chẳng ai trong chúng tôi muốn là người đầu tiên bước ra.

Cuối cùng, chúng tôi bắt đầu bước ra, mỗi người mang theo một chiếc túi nhỏ đựng quần áo để thay, thuốc chống sốt rét, một chai nước và giấy tờ tùy thân, đó là tất cả những gì chúng tôi có. Khi bước ra ngoài, mỗi người mang túi riêng, người mang máy bộ đàm vô cùng sợ hãi vì chiếc túi quá nặng. Ngay từ đầu, chị ấy đã muốn vứt nó đi, nhưng tôi nói với chị: "Đừng, chị sẽ đổi túi cho em ngay khi có cơ hội. Chúng tôi đi thành một hàng nên không thể nói chuyện hay làm bất cứ điều gì khác thường. Cuối cùng, tôi cũng có cơ hội đón lấy chiếc túi của chị, trong đó còn có giấy tờ của chị, và tôi cầm lấy máy bộ đàm. Tôi mang nó theo cho đến khi tất cả chúng tôi bị đưa đến một nơi có đông người đã tập trung.

Chúng tôi đến một ngôi trường, nơi họ bắt chúng tôi ngồi trên các băng ghế dài. Họ nói: "Các bà sơ đến rồi; chơi ít nhạc đi." Ngay khi ấy, một nữ tu đề nghị: "Không, đọc một kinh Kính Mừng thì tốt hơn," và họ cho phép. Kinh Kính Mừng sau đó trở thành cả một chuỗi Mân Côi. Họ trông có vẻ hơi bồn chồn, nhất là người đang đứng gác. Rồi một người trong họ hỏi: "Ai đang giữ máy radio?" Tôi quyết định tốt nhất là không nói gì. Thực ra, tôi có mang theo một chiếc, nhưng đúng lúc ấy, một nữ tu lên tiếng: "Vâng, tôi có một chiếc ở đây", rồi lấy từ chiếc túi nhỏ của chị ra một chiếc radio cầm tay. Họ gần như phì cười, bởi cái họ muốn thực ra là máy bộ đàm hai chiều — họ muốn biết liệu chúng tôi có đang liên lạc với ai đó hay không.

Mỗi buổi sáng và buổi chiều, chúng tôi đều liên lạc với các giáo điểm khác, với tất cả các linh mục và nữ tu, để xem có tin tức gì không. Hóa ra, họ không tịch thu máy bộ đàm của chúng tôi, và chúng tôi tiếp tục hành trình. Họ áp giải chúng tôi đi, và chúng tôi đã đi bộ suốt nhiều giờ liền.

Cuối cùng, họ đưa chúng tôi đến một địa điểm nhất định rồi bắt đầu nói chuyện. Tôi lấy hết can đảm và nói: "Tôi muốn nói với các anh một điều: các anh có biết tại sao chúng tôi ở đây không? Chúng tôi ở đây để giúp đỡ người dân của các anh. Chúng tôi đã bỏ lại gia đình, quê hương, ngôn ngữ, phong tục và mọi thứ của mình, chỉ để đến đây giúp đỡ các bạn. Tôi không biết lý do của các anh là gì, nhưng chúng tôi đến đây chỉ để giúp đỡ mà thôi."

Lúc ấy, tình cờ tôi mang theo một vài ảnh đeo của Đấng sáng lập Dòng, và tôi nói với một người trong số họ — chính tôi cũng không biết tại sao mình lại cầm những ảnh đó trên tay — "Đây này, bất cứ khi nào anh gặp khó khăn, hãy cầu xin bà ấy giúp đỡ… bà ấy là một vị thánh; bà ấy đã đưa chúng tôi đến đây và sẽ bảo vệ chúng tôi." Anh ta cầm lấy ảnh đeo, thậm chí còn thử đeo nó. Đột nhiên, thái độ của anh ta thay đổi, rồi anh ta nói với chúng tôi: "Tất cả ra ngoài, chúng ta rời khỏi đây!" Và thế là, chúng tôi quay trở lại theo con đường mình đã đi, chúng tôi đang trên đường trở về!

Sáng hôm đó, tất cả các linh mục trong giáo phận đều nghe thấy tiếng súng máy và nhận ra: "Quân nổi dậy chắc chắn đã đến chỗ các nữ tu rồi!" Các ngài lập tức liên lạc với cảnh sát tại Freetown qua radio và nói: "Các nữ tu đang bị tấn công, các anh phải báo cho quân đội."

Lúc quân nổi dậy bắt chúng tôi đi bộ thì trời đã muộn, và tôi chỉ có thể nhìn thấy lờ mờ phòng khám, những cánh cửa sổ màu đỏ và hàng rào bao quanh khuôn viên. Rồi tiếng súng bắt đầu vang lên; quân đội đã đến và nổ súng qua khoảng đất trống. Nhiều người chết tại đó. Mối bận tâm duy nhất của tôi là các chị em trong dòng; tôi thấy những người trẻ chạy ngược trở lại theo con đường mà chúng tôi đã bị đưa đi. Ngay lúc ấy, tôi nói với họ: "Một Sơ lớn tuổi đang đi về hướng này." Tôi đứng đợi chị, và đúng lúc đó, một thanh niên đi phía trước tôi bị viên đạn bắn trúng đầu. Chúa đã gìn giữ tôi, tôi không biết tại sao, nhưng người bị bắn hoàn toàn có thể là tôi, vì tôi đi ngay phía sau cậu ta.

Đó là cách duy nhất buộc quân nổi dậy rút đi; họ rút vào rừng, còn chúng tôi ở lại nơi mình đang đứng. Các nữ tu đi cùng những tình nguyện viên người Mỹ, cùng với hai người khác, lập tức nằm rạp xuống đất để tránh đạn; khi mọi thứ lắng xuống, họ đến bằng một con đường khác. Cuối cùng, tất cả chúng tôi tập trung tại phòng khám trở lại, rồi sau đó được đưa đến một địa điểm khác.

Đức Giám mục luôn quan tâm đến tình hình của chúng tôi. Một chiếc xe đã được chuẩn bị sẵn để đưa chúng tôi đến thị trấn kế tiếp, một nơi tương đối yên ổn hơn, đón chúng tôi cùng với những nữ tu mà chúng tôi gặp trên đường. Bề trên miền đến đón chúng tôi. Hôm ấy là ngày 24 tháng 12, và các bệnh nhân bắt đầu tìm đến, một số người bị thương do dao chém, nên chúng tôi bắt tay vào chăm sóc họ. Tuy nhiên, những sĩ quan cảnh sát bảo vệ chúng tôi cảnh báo: "Nếu quân nổi dậy xuất hiện, các Sơ phải rời đi ngay lập tức!" Chúng tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải rời khỏi đó.

Trên đường đi, chúng tôi phải đối mặt với nhiều tình huống kinh hoàng, chẳng hạn như chạm trán với phe nổi dậy giả dạng binh lính. Có lần, gần nơi một chiếc xe tải bị đốt cháy, chúng tôi suýt bị xả súng. Vì một số nữ tu đến từ Nigeria — quốc gia đã hỗ trợ quân đội giúp chúng tôi — nên quân nổi dậy tỏ ra thù địch với chúng tôi. Cuối cùng, chúng tôi cũng đến được nhà dòng của miền.

Nữ tu Josephine kết thúc cuộc phỏng vấn bằng những lời sau: "Tôi từng học nội trú tại Nunsar. Tôi luôn xúc động trước cách các nữ tu Dòng Clare Khó nghèo sống và sự chăm sóc mà các chị dành cho chúng tôi. Tôi không thể hiểu tại sao các chị lại chăm sóc chúng tôi chu đáo đến vậy, các chị luôn quan tâm đến chúng tôi, không chỉ trong việc học hành; các chị dành trọn thời gian cho chúng tôi và dạy chúng tôi mọi điều, kể cả những điều nhỏ nhặt nhất. Tôi thường tự hỏi tại sao các nữ tu lại làm tất cả những điều ấy. Tôi không hiểu tại sao — đó là vì lòng yêu mến Thiên Chúa. Hơn nữa, các chị làm việc với niềm vui lớn lao và đối xử với chúng tôi bằng tình thương cùng sự tôn trọng sâu sắc. Tôi chưa từng nói bất cứ điều gì cho đến khi kết thúc khóa học, tôi nói với các chị: ‘Con muốn phục vụ giống như các Sơ — với niềm vui.’ Mọi việc đều được thực hiện bằng tình yêu, và trên hết, chúng tôi chú trọng rất nhiều vào việc giáo dục các bé gái, bởi vì có một câu nói rất nổi tiếng: ‘Nếu bạn giáo dục một bé gái, bạn giáo dục cả một quốc gia.’"

Nhân dịp kỷ niệm 100 năm DOMUND (Chúa nhật Thế giới Truyền giáo), câu chuyện của các nhà thừa sai này nhắc nhở chúng ta rằng một thế kỷ nhiệt thành truyền giáo đã được thể hiện qua hàng ngàn cuộc đời tận hiến phục vụ Tin Mừng. "Nên một trong Đức Kitô, hiệp nhất trong sứ vụ" không đơn thuần là một khẩu hiệu, nhưng là lời mời gọi khám phá rằng công cuộc loan báo Tin Mừng bắt đầu khi tình yêu của Đức Kitô trở nên hữu hình qua các hành động của chúng ta, ngay cả đối với những người gây tổn hại cho chúng ta. Vì sứ vụ của Giáo hội không chỉ được đo lường bằng những nơi Giáo hội vươn tới, mà còn bằng lòng trung thành mà Giáo hội làm cho tình yêu của Thiên Chúa hiện diện.


[Nguồn: zenit]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 29/10/2026]