Thứ Hai, 9 tháng 12, 2019

Toàn văn họp báo của Đức Thánh Cha Phanxico trên chuyến bay trở về từ Nhật Bản & Thái Lan - PHẦN 1

Toàn văn họp báo của Đức Thánh Cha Phanxico trên chuyến bay trở về từ Nhật Bản & Thái Lan
© Vatican Media

Toàn văn họp báo của Đức Thánh Cha Phanxico trên chuyến bay trở về từ Nhật Bản & Thái Lan

Đức Phanxico dành một giờ với các nhà báo trên chuyên cơ giáo hoàng, gồm có ZENIT

26 tháng Mười Một, 2019 20:53

Đức Thánh Cha Phanxico trả lời nhiều câu hỏi được các nhà báo đặt ra cho ngài trong chuyến bay đưa họ về Roma từ Nhật. Dưới đây là bản dịch (tiếng Anh) không chính thức cuộc họp báo trên chuyên cơ – do Vatican News cung cấp:

****

PHẦN 1

“Tôi cảm ơn anh chị em vì công việc của anh chị em, vì một chuyến đi đầy cảm xúc với một sự thay đổi rõ rệt: Thái Lan mang một sắc thái và Nhật Bản mang sắc thái khác. Anh chị em không thể đánh giá hai nơi này theo cùng những hạng mục. Nhật Bản và Thái Lan là hai thực tế hoàn toàn khác nhau. Đó là lý do tại sao cần phải làm việc gấp đôi, và tôi cảm ơn anh chị em vì điều đó, ngay cả trong những ngày với lịch dày đặc, tôi cảm thấy gần gũi với anh chị em trong công việc này.”

Cha Makoto Yamamoto, nhật báo Shimbum Công giáo

Cảm ơn Đức Thánh Cha rất nhiều vì đã đến Nhật Bản từ rất xa xôi. Con là một linh mục giáo phận. Con sống gần Nagasaki. Cha đã nhìn thấy Nagasaki và Hiroshima. Cha cảm nhận thế nào? Giáo hội và xã hội ở phương Tây có gì để học được gì từ Giáo hội và xã hội ở phương Đông không?

“Tôi sẽ bắt đầu với câu hỏi cuối cùng. Câu nói lux ex Oriente, ex Occidente luxus truyền cho tôi rất nhiều cảm hứng. Ánh sáng đến từ phương Đông; sự sang trọng, chủ nghĩa tiêu dùng, đến từ phương Tây. Có sự thông thái của Đông phương, không chỉ là sự thông thái của kiến thức, nhưng là của thời gian, của sự chiêm niệm. Sẽ rất hữu ích cho xã hội Tây phương chúng ta, vốn luôn luôn quá vội vàng, để học cách chiêm niệm, học cách dừng lại và ngắm nhìn vào mọi thứ một cách thơ mộng. Đây chỉ là ý kiến cá nhân, nhưng tôi nghĩ Tây phương nên mang tính thơ hơn một chút nữa. Có những điều đẹp đẽ nên thơ, nhưng Đông phương vượt xa hơn thế. Đông phương có khả năng nhìn mọi thứ bằng con mắt vượt xa hơn. Tôi không muốn sử dụng từ "siêu việt" vì một số tôn giáo phương Đông không có đề cập đến siêu việt tính, nhưng có một tầm nhìn vượt quá giới hạn của nội tại tính, nhưng không nói đến siêu việt tính. Đó là lý do tại sao tôi sử dụng những cách nói như thi ca, [gratuità], tìm kiếm sự kiện toàn cá nhân thông qua việc ăn chay, hãm mình, đọc sự khôn ngoan của các nhà hiền triết phương Đông. Tôi tin rằng sẽ rất tốt nếu người phương Tây chúng ta dừng lại một chút và dành thời gian cho sự khôn ngoan.

“Cả Nagasaki và Hiroshima đều gánh chịu [hậu quả của] bom nguyên tử, và điều này khiến cả hai nơi có vẻ giống nhau. Nhưng có một sự khác biệt: Nagasaki không chỉ chịu đựng cuộc ném bom mà còn có các Ki-tô hữu. Nagasaki có những cội nguồn Ki-tô giáo. Ki-tô giáo đã có từ lâu. Có một cuộc bách hại Ki-tô hữu trên khắp Nhật Bản, nhưng nó rất mạnh ở Nagasaki. Vị Thư ký của ngài Sứ thần đã đưa cho tôi một bản sao bằng gỗ với dòng chữ “Truy nã” của thời đó trên bảng: Truy nã người Ki-tô hữu! Nếu anh tìm được một người, hãy giao nộp người đó và anh sẽ nhận được một phần thưởng. Nếu anh tìm được một linh mục thì hãy bắt và giao nộp ngay, và anh sẽ nhận được một phần thưởng lớn. Điều này để lại một dấu ấn: có nhiều thế kỷ bách hại. Đây là một hiện tượng của Ki-tô giáo mà cách này cách khác nó “mang tính tương đối”, theo nghĩa tốt của từ ngữ này, bom nguyên tử. Thay vào đó, đến Hiroshima chỉ để tưởng niệm vụ ném bom nguyên tử, bởi vì đây không phải là một thành phố Ki-tô giáo như Nagasaki. Đó là lý do tại sao tôi muốn đi đến cả hai nơi. Có thảm họa nguyên tử ở cả hai nơi.

“Hiroshima là một bài dạy thật sự của con người về sự tàn ác. Tôi không thể đến thăm bảo tàng Hiroshima vì thời gian không cho phép, vì đó là một ngày khó khăn. Nhưng họ nói nó rất khủng khiếp. Có những lá thư của các Nguyên thủ quốc gia, các vị Tướng giải thích về cách một thảm họa lớn hơn có thể được tạo ra như thế nào. Trải nghiệm này gây cho tôi nhiều xúc động hơn. Và ở đó tôi đã lặp lại rằng việc sử dụng vũ khí nguyên tử là phi đạo đức, đó là lý do tại sao nó phải được thêm vào Giáo lý của Giáo hội Công giáo. Không chỉ là sử dụng chúng, nhưng ngay cả việc sở hữu chúng: bởi vì một tai nạn hoặc sự điên rồ của một nhà lãnh đạo chính phủ nào đó, sự điên rồ của một người nào đó có thể hủy diệt loài người. Những lời của Einstein lại hiện lên trong đầu: ‘Chiến tranh thế giới thứ tư sẽ được chiến đấu bằng gậy và đá’.”

Shinichi Kawarada, nhật báo The Asahi Shimbum

Như cha đã phân tích rất đúng rằng không thể đạt được hòa bình dài lâu nếu không giải trừ quân bị. Nhật Bản là một quốc gia hưởng ứng việc bảo vệ nguyên tử của Hoa Kỳ, và cũng là nhà sản xuất năng lượng nguyên tử, tạo ra rủi ro rất lớn, như đã xảy ra tại Fukushima. Nhật Bản có thể đóng góp cho hòa bình thế giới bằng thế nào? Có nên đóng cửa các nhà máy điện hạt nhân?

“Quay trở lại việc sở hữu các nhà máy điện hạt nhân: tai nạn luôn có thể xảy ra. Các bạn đã trải qua ba thảm họa. [1] Năng lượng hạt nhân có giới hạn (chúng ta hãy từ bỏ vũ khí nguyên tử vì chúng là loại vũ khí hủy diệt). Việc sử dụng năng lượng hạt nhân có giới hạn bởi vì chúng ta chưa đạt được sự an toàn tuyệt đối. Các bạn có thể nói với tôi rằng ngay cả điện cũng có thể gây ra thảm họa vì thiếu an toàn, nhưng nó sẽ là một thảm họa rất nhỏ. Một thảm họa nhà máy điện hạt nhân sẽ là thảm họa rất lớn. Những hệ thống an toàn vẫn chưa có hiệu quả. Đó là ý kiến cá nhân của tôi, nhưng tôi sẽ không sử dụng năng lượng hạt nhân cho đến khi việc sử dụng nó an toàn tuyệt đối. Một số người nói rằng nó là một rủi ro đối với việc chăm sóc tạo vật và việc sử dụng năng lượng hạt nhân phải được dừng lại. Tôi xin dừng lại ở tính an toàn. Chẳng có gì đảm bảo rằng một thảm họa không xảy ra. Đúng, cứ mười năm lại có một lần trên thế giới. Rồi đối với tạo vật. Thảm họa của sức mạnh hạt nhân gây ra cho tạo vật, cho con người. Đã có thảm họa ở Ukraine. [2] Chúng ta phải tiến hành nghiên cứu về tính an toàn, vừa để tránh những thảm họa và vì những hậu quả đối với môi trường. Tôi tin rằng chúng ta đã vượt quá giới hạn đối với môi trường – với những loại thuốc trừ sâu trong nông nghiệp, với việc chăn nuôi gà mà giới bác sĩ khuyên các bà mẹ không nên cho con họ ăn vì chúng được cho ăn các loại kích thích tố có hại cho sức khỏe. Hoặc là việc chăm sóc môi trường phải bắt đầu ngay hôm nay, hoặc sẽ chẳng bao giờ. Nhưng quay trở lại với năng lượng hạt nhân: công trình xây dựng, tính an toàn và việc chăm sóc tạo vật.”

Elisabetta Zunica, Kyoto News

Akamada Iwao là một người Nhật bị kết án tử hình và đang chờ xét lại bản án. Ông ta có mặt trong Thánh lễ tại Sân vận động Tokyo Dome, nhưng không có cơ hội nói chuyện với cha. Có phải đã có kế hoạch về một cuộc gặp gỡ ngắn với cha? Ở Nhật Bản, vấn đề về án tử hình đang được thảo luận rất nhiều. Mười ba bản án tử hình đã được thi hành ngay trước khi có sửa đổi trong sách Giáo lý về vấn đề này. Không có sự đề cập đến vấn đề đó trong các bài diễn từ của cha. Có phải cha đã có cơ hội thảo luận về vấn đề này với Thủ tướng Shinto Abe?

“Tôi đã nghe về trường hợp liên quan đến án tử hình về sau này. Tôi không biết về người đó. Tôi đã nói về nhiều vấn đề với Thủ tướng: những bản án, những tuyên án không bao giờ kết thúc, liên quan hoặc không liên quan đến án tử. Tôi đã nói về những vấn đề chung chung cũng tồn tại ở các quốc gia khác: nhà tù quá chật chội, mọi người cứ chờ đợi với việc tạm giam mà không có sự suy đoán vô tội. Mười lăm ngày trước, tôi có một bài phát biểu tại Hội nghị Quốc tế về Luật Hình sự và tôi đã nói nghiêm túc về chủ đề này. Không thể thi hành án tử hình, nó là trái với đạo đức. Đây là vấn đề liên quan đến việc phát triển ý thức. Ví dụ, một số quốc gia không thể bãi bỏ nó do các vấn đề chính trị, nhưng họ treo nó, đó là một cách kết án tù chung thân một người nhưng không tuyên bố như vậy. Nhưng bất kỳ sự kết án nào cũng phải cho phép sự tái hòa nhập, một bản án không có tia hy vọng là vô nhân đạo. Ngay cả khi bị kết án tù chung thân, người ta cũng phải nghĩ làm thế nào để người thụ án có thể được tái hòa nhập, trong tù hoặc bên ngoài. Anh sẽ nói với tôi: nhưng có những người bị kết án vì những vấn đề của tình trạng bị điên, bị bệnh tật, [...] Trong trường hợp đó, phải tìm được một cách để làm cho họ cảm thấy là con người. Ở nhiều nơi trên thế giới nhà tù quá đông; chúng là các nhà kho chứa con người. Thay vì trở nên tốt hơn thì nhiều trường hợp họ bị tha hóa. Chúng ta phải từng bước đấu tranh với án tử hình. Có những trường hợp khiến tôi hạnh phúc khi một số quốc gia nói: chúng tôi sẽ dừng lại. Năm ngoái, trước khi rời nhiệm sở, một Thống đốc Nhà nước đã treo án gần như dứt khoát. Đây là các bước được thực hiện bởi lương tâm con người. Nhưng một số quốc gia chưa thành công trong việc đi theo cách suy nghĩ nhân văn này.”

Jean-Marie Guénois, Le Figaro

Chúc Đức Thánh Cha một ngày tốt lành. Cha nói rằng hòa bình thực sự có thể tồn tại, nếu đó là một nền hòa bình “được giải trừ quân bị.” Nhưng vấn đề phòng vệ hợp pháp thì sao, khi một quốc gia bị tấn công bởi một quốc gia khác? Trong trường hợp đó, khả năng của một “cuộc chiến tranh công bằng” có tồn tại không? Cho con hỏi nhỏ … đã có tin nói về một tông huấn về phi bạo lực. Cha vẫn có kế hoạch về một tông huấn về phi bạo lực như vậy? Hai câu hỏi … Xin cảm ơn, Đức Thánh Cha.

“Đúng, có kế hoạch, nhưng Giáo hoàng sau sẽ thực hiện nó … Có các dự án khác đang còn chờ. Một trong số đó là về hòa bình. Nó đang hoàn thiện. Tôi cảm nhận rằng tôi sẽ làm điều đó khi thời gian đến. Chẳng hạn, vấn đề bắt nạt học đường là vấn đề bạo lực. Đặc biệt tôi nói về nó với giới trẻ Nhật Bản. Đó là một vấn đề chúng tôi đang cố gắng giải quyết với nhiều chương trình giáo dục. Đó là một vấn đề bạo lực. Tôi cảm thấy chưa sẵn sàng viết một tông huấn về phi bạo lực, tôi phải cầu nguyện rất nhiều và tìm cách thức. Có câu nói của người Roma, “Si vis pacem para bellum” (Nếu bạn muốn hòa bình hãy chuẩn bị cho chiến tranh). Chúng ta chưa đạt được sự tiến bộ ở đó: các tổ chức quốc tế không thành công, Liên Hợp quốc không thành công. Họ hòa giải thường xuyên và rất tốt: các quốc gia như Na-uy luôn sẵn sàng hòa giải. Tôi thích điều đó, nhưng như vậy vẫn không đủ, chúng ta cần phải làm nhiều hơn nữa. Chẳng hạn như Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc: nếu có vấn đề với vũ khí và mọi người đồng ý giải quyết vấn đề này để tránh xung đột, mọi người đều bỏ phiếu “thuận”. Một quốc gia có quyền phủ quyết bỏ phiếu “chống”, và mọi thứ đều dừng lại. Tôi không thể phán xét rằng đó là một ý tưởng tốt hay không tốt, nhưng tôi đã nghe nói rằng có lẽ Liên Hợp Quốc nên tiến một bước và loại bỏ quyền phủ quyết của các quốc gia trong Hội đồng Bảo an. Tôi nghe nói đây là một khả năng. Có những vấn đề liên quan đến trạng thái cân bằng quốc tế mà tôi không thể đánh giá ngay bây giờ. Nhưng phải luôn làm tất cả những điều có thể thực hiện được để ngăn chặn việc sản xuất vũ khí, ngăn chặn chiến tranh, khuyến khích đàm phán, với sự giúp đỡ của những nhà trung gian, và sẽ dẫn đến kết quả. Ví dụ, trường hợp của Ukraine và Nga không phải là vấn đề vũ khí, nhưng về việc đàm phán trao đổi tù nhân, và điều này là tích cực. Ở Donbass, họ đang nghĩ đến việc lên kế hoạch cho một thể chế chính quyền khác. Các cuộc thảo luận đang được tiến hành. Đây là một bước tích cực.

“Sự giả hình xấu xa của việc ‘buôn bán vũ khí’. Các quốc gia Ki-tô giáo, các nước châu Âu nói về hòa bình nhưng lại sống nhờ vũ khí. Đây là thói giả hình, một từ ngữ trong các Tin mừng: Chúa Giê-su đã nói nó trong Tin mừng Mát-thêu, Chương 23. Chúng ta phải ngăn chặn sự giả hình này. Cần phải có can đảm để nói: “Tôi không thể nói về hòa bình, vì nền kinh tế của tôi kiếm được quá nhiều tiền nhờ bán vũ khí’.” Đây là tất cả những gì chúng ta cần nói, không xúc phạm và phỉ báng bất kỳ quốc gia nào, nhưng nói như những anh chị em, vì lợi ích của tình huynh đệ con người: chúng ta phải dừng lại vì đây là một điều khủng khiếp. Một tàu cập cảng đến từ một quốc gia, nó được cho là sẽ giao vũ khí cho một tàu khác sẽ đến Yemen, và các công nhân cảng nói “không”. Họ đã làm một điều tốt và con tàu trở về nhà. Đó là một trường hợp, nhưng nó cho chúng ta thấy chúng ta cần đi theo hướng nào. Ngày nay, hòa bình là rất mong manh nhưng chúng ta không được nản chí. Ý tưởng phòng vệ chính đáng luôn có giá trị; ngay cả thần học luân lý cũng cho phép, nhưng như một phương sách cuối cùng. Việc sử dụng vũ khí là biện pháp cuối cùng. Phòng vệ hợp pháp phải thông qua ngoại giao, hòa giải. Phòng vệ hợp pháp bằng vũ khí là giải pháp cuối cùng. Tôi nhấn mạnh: một phương sách cuối cùng! Chúng ta đang có những tiến bộ về đạo đức mà tôi chấp thuận, đặt tất cả những điều này vào câu hỏi. Điều rất đẹp ở đây là nó khẳng định loài người hướng tới cái thiện, chứ không chỉ hướng tới cái ác.”

Xin quý vị đọc PHẦN 2 trong bài đăng ngày mai.

[Nguồn:zenit]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 28/11/2019]


Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2019

Đức Thánh Cha Phanxico viết Tông thư ‘Admirabile Signum’ về ý nghĩa và tầm quan trọng của cảnh hang đá Giáng sinh

Đức Thánh Cha Phanxico viết Tông thư ‘Admirabile Signum’ về ý nghĩa và tầm quan trọng của cảnh hang đá Giáng sinh
Copyright: Vatican Media

Đức Thánh Cha Phanxico viết Tông thư ‘Admirabile Signum’ về ý nghĩa và tầm quan trọng của hang đá Giáng sinh

Tại Đền thánh Phanxico ở Greccio, nhắc nhở rằng Hang đá Giáng sinh dạy chúng ta biết chiêm ngắm Chúa Giê-su & trải nghiệm tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta

01 tháng Mười Hai, 2019 17:00

“Anh chị em thân mến, hang đá Giáng sinh là một phần của tiến trình quý báu nhưng là một đòi hỏi cho việc thông truyền đức tin.”

Đức Thánh Cha Phanxico đưa ra lời nhắc nhở này trong Tông Thư ngài viết, có tiêu đề ‘Admirabile Signum,’ về ý nghĩa và tầm quan trọng của hang đá giáng sinh. Ngài đã ký thư chiều nay, ngày 1 tháng Mười Hai năm 2019, Chúa nhật Thứ Nhất Mùa Vọng, trong Đền thờ Thánh Phanxico ở Greccio, nơi Thánh Phanxico Assisi đã tạo Cảnh Chúa giáng sinh đầu tiên.

Đức Thánh Cha Phanxico viết Tông thư ‘Admirabile Signum’ về ý nghĩa và tầm quan trọng của cảnh hang đá Giáng sinh

Đức Thánh Cha nhắc lại, “Bắt đầu từ thời thơ ấu, và ở mỗi giai đoạn của cuộc đời, nó dạy chúng ta biết chiêm ngưỡng Chúa Giê-su, để trải nghiệm tình yêu của Chúa đối với chúng ta, để cảm nhận và tin rằng Chúa ở cùng chúng ta …”

Ngài tiếp tục, hơn nữa nó dạy chúng ta rằng “chúng ta ở cùng với Ngài, tất cả là con cái của Ngài, là anh chị em với nhau, nhờ Hài nhi là Con Thiên Chúa và là Con của Đức Trinh Nữ Maria.”

Đức Thánh Cha Phanxico nói, để nhận ra rằng, trong trải nghiệm đó chúng ta tìm thấy hạnh phúc đích thực.

Dưới đây là toàn bộ văn bản tiếng Anh do Vatican cung cấp:

***

1. Hình ảnh đẹp diệu kỳ của hang đá Giáng sinh, rất thân thương đối với người Ki-tô giáo, mãi luôn khơi dậy sự kinh ngạc và ngạc nhiên. Chính cảnh mô tả về sự giáng sinh của Chúa Giê-su là một lời công bố đơn sơ và hoan hỉ về mầu nhiệm Nhập thể của Con Thiên Chúa. Hang đá Chúa giáng sinh giống như một Tin mừng sống động hiện lên từ các trang của Kinh thánh. Khi chúng ta suy ngẫm về câu chuyện Giáng sinh, chúng ta được mời gọi tham gia vào một hành trình thiêng liêng, được vẽ lên bởi sự khiêm hạ của Thiên Chúa Đấng trở thành người phàm để gặp gỡ mọi người nam và nữ. Chúng ta nhận ra rằng tình yêu của Người dành cho chúng ta quá đỗi lớn lao khi Người trở thành một người ở giữa chúng ta, để ngược lại chúng ta có thể trở nên một với Người.

Với Thư này, cha muốn khuyến khích truyền thống gia đình tốt đẹp chuẩn bị hang đá vào những ngày trước Lễ Giáng sinh, kể cả thói quen dựng hang đá ở nơi làm việc, trong các trường học, nhà thương, nhà tù và những quảng trường thành phố. Trí tưởng tượng tuyệt vời và sự sáng tạo luôn được thể hiện trong cách sử dụng các vật liệu đa dạng để tạo ra những kiệt tác mỹ thuật nhỏ. Khi còn bé, chúng ta học từ cha mẹ và ông bà của mình để tiếp tục truyền thống vui mừng này, nơi chứa đựng cả một gia tài của lòng đạo đức bình dân. Cha hy vọng rằng thói quen này sẽ không bao giờ bị mất, và bất cứ nơi nào bị mất đi truyền thống này, thì nó có thể được tái khám phá và hồi sinh.

2. Trước hết, nguồn gốc của lễ Giáng sinh được tìm thấy trong những chi tiết chắc chắn về sự ra đời của Chúa Giê-su tại Bê-lem, như được tường thuật trong các Tin mừng. Thánh sử Lu-ca nói ngắn gọn rằng Maria “sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ” (2:7). Vì Chúa Giê-su được đặt trong một máng cỏ, nên cảnh Chúa giáng sinh được tiếng Ý gọi là presepe, gốc tiếng La-tinh là praesepium, có nghĩa là “máng cỏ.”

Hạ sinh nơi trần gian, Con Thiên Chúa được đặt ở nơi mà động vật được cho ăn. Cỏ khô trở thành chiếc nệm đầu tiên của Đấng sẽ mạc khải mình là “Bánh từ trời xuống” (Ga 6:41). Thánh Augustine, cùng các Giáo phụ khác, vô cùng kinh ngạc bởi dấu chỉ này: “Được đặt trong một máng cỏ, Người trở thành lương thực cho chúng ta” (Bài giảng 189, 4). Thật vậy, cảnh Chúa giáng sinh gợi lên nhiều mầu nhiệm trong cuộc đời của Chúa Giê-su và đưa chúng đến gần với cuộc sống hàng ngày của chúng ta.

Nhưng chúng ta hãy quay trở lại nguồn gốc của hang đá Giáng sinh rất thân thương với chúng ta. Chúng ta hãy tưởng tượng mình đang ở thị trấn nhỏ Greccio của Ý, gần Rieti. Thánh Phanxico dừng chân ở đó, rất có thể trên đường ngài trở về từ Roma, vào ngày 29 tháng Mười Một năm 1223, sau khi nhận được sự phê chuẩn Luật Dòng của Đức Giáo hoàng Honorius III. Trước đó, Thánh Phanxico đã viếng thăm Đất Thánh, và các hang đá ở Greccio nhắc ngài nhớ về vùng quê Bê-lem. Cũng rất có thể rằng “Người Nghèo Khó của thành Assisi”, đã quá xúc động trước những bức tranh khảm trong Vương cung Thánh đường Thánh Mary Major của Roma, mô tả cảnh giáng sinh của Chúa Giê-su, gần với nơi lưu giữ những tấm gỗ của máng cỏ theo truyền thống cổ xưa.

Văn khố Phanxico mô tả chi tiết những gì diễn ra sau đó ở Greccio. Mười lăm ngày trước Giáng sinh, Thánh Phanxico nhờ một người đàn ông địa phương tên Gioan giúp ngài thực hiện mong muốn của mình “để làm cho ký ức về Hài nhi sinh tại Bê-lem trở nên sống động, để nhìn thấy theo khả năng con mắt xác phàm của tôi về sự thiếu thốn đối với những nhu cầu trẻ thơ của Người, cách Người được đặt trong máng cỏ như thế nào, và với một con bò và một con lừa đứng bên cạnh, Người đã được đặt nằm trên một chiếc nệm cỏ khô ra sao”. [1] Và người bạn trung thành của ngài ngay lập tức chuẩn bị tất cả những gì Thánh nhân yêu cầu. Ngày 25 tháng Mười Hai, các tu sĩ từ nhiều nơi khác nhau tập trung đến Greccio, cùng với những người từ các trang trại trong khu vực, họ mang đến các loại hoa và đuốc để thắp sáng cho đêm thánh đó. Khi Thánh Phanxico đến, ngài thấy một máng cỏ đầy cỏ khô, một con bò và một con lừa. Tất cả những người có mặt đã trải nghiệm được một niềm vui mới khôn tả trước cảnh hang đá Giáng sinh. Sau đó, vị linh mục đã long trọng cử hành Thánh Lễ phía trên máng cỏ, cho thấy mối liên kết giữa sự Nhập thể của Con Thiên Chúa và Bí tích Thánh Thể. Tại Greccio không có các bức tượng; hang đá giáng sinh được diễn cảnh và trải nghiệm bởi tất cả những người có mặt.[2]

Đây là sự khởi đầu cho truyền thống của chúng ta: với tất cả mọi người tụ tập xung quanh hang đá trong niềm vui, không có khoảng cách giữa biến cố ban đầu và những người chia sẻ trong mầu nhiệm của biến cố đó.

Thomas thành Celano, người viết tiểu sử đầu tiên của Thánh Phanxico, nhấn mạnh rằng cảnh hang đá đơn sơ và đầy cảm động này được tặng ban một món quà thị kiến diệu kỳ: một trong những người có mặt đã nhìn thấy Hài nhi Giê-su nằm trong máng cỏ. Từ cảnh hang đá Chúa sinh của mùa Giáng sinh năm 1223 đó, “mọi người trở về nhà trong niềm vui.”.[3]

3. Với tính đơn sơ của dấu chỉ đó, Thánh Phanxico đã thực hiện một công cuộc truyền giáo vĩ đại. Lời dạy của ngài chạm đến tâm hồn của các Ki-tô hữu và ngày nay vẫn tiếp tục đưa ra cách thức đơn sơ nhưng chân thực để mô tả vẻ đẹp đức tin của chúng ta. Thật vậy, nơi hang đá Chúa giáng sinh đầu tiên được tạo dựng đã diễn tả và gợi nên những tình cảm này. Greccio đã trở thành nơi nương náu cho linh hồn, một thành lũy bằng núi non được bao trùm trong thinh lặng.

Tại sao máng cỏ Giáng sinh lại khơi dậy sự kinh ngạc và khiến chúng ta cảm xúc quá mạnh đến vậy? Trước hết, vì nó biểu lộ tình yêu dịu dàng của Thiên Chúa: Đấng tạo dựng nên vũ trụ đã hạ mình để mang lấy thân phận nhỏ bé của chúng ta. Món quà sự sống, là mầu nhiệm cho tất cả chúng ta, trở nên diệu kỳ hơn biết bao khi chúng ta nhận ra rằng Con của Đức Maria là nguồn mạch và là lương thực nuôi dưỡng mọi sự sống. Trong Chúa Giêsu, Chúa Cha đã ban cho chúng ta một người anh, Ngài đến để tìm kiếm chúng ta bất cứ khi nào chúng ta hoang mang hoặc lạc lối, một người bạn trung thành luôn ở bên chúng ta. Ngài đã ban cho chúng ta Con của Ngài là Đấng tha thứ cho chúng ta và giải thoát chúng ta khỏi mọi tội lỗi.

Dựng cảnh hang đá Giáng sinh trong nhà giúp chúng ta làm sống lại lịch sử của những gì đã xảy ra ở Bê-lem. Đương nhiên, các Tin mừng vẫn là nguồn cội để chúng ta hiểu và suy ngẫm về biến cố đó. Đồng thời, sự miêu tả trong hang đá giúp chúng ta hình dung ra quang cảnh. Nó chạm đến tâm hồn chúng ta và đưa chúng ta đi vào lịch sử cứu độ như những người sống trong một sự kiện đang diễn ra và hoàn toàn có thật trong một bối cảnh rộng lớn của lịch sử và văn hóa.

Từ thuở ban đầu của Thánh Phanxico, hang đá giáng sinh mời gọi chúng ta “cảm nhận” và “đụng chạm”, theo một cách đặc biệt, đến sự nghèo khó mà Con Thiên Chúa mang lấy cho mình khi Nhập thể. Nó kêu gọi chúng ta hãy dứt khoát bước theo Ngài trên con đường khiêm nhường, nghèo khó và trút bỏ mình khởi đầu từ máng cỏ Bê-lem đến thập tự giá. Nó kêu gọi chúng ta gặp Ngài và phục vụ Ngài bằng cách tỏ lòng thương xót với những anh chị em của chúng ta cần sự giúp đỡ nhất (x. Mt 25:31-46).

4. Bây giờ cha phân tích về những chi tiết khác nhau của cảnh hang đá Giáng sinh để biết trân quý ý nghĩa sâu sắc của chúng. Đầu tiên, hậu cảnh của một bầu trời đầy sao bao trùm trong bóng tối và thinh không của màn đêm. Chúng ta chọn hậu cảnh này không chỉ là trung thành với các trình thuật Tin Mừng, nhưng còn vì giá trị biểu tượng của nó. Chúng ta hãy liên tưởng đến tất cả những khoảnh khắc trong cuộc sống khi chúng ta trải qua bóng tối của đêm đen. Nhưng chính trong những lúc như vậy, Thiên Chúa không bỏ rơi chúng ta, nhưng ở đó để trả lời những câu hỏi trọng yếu của chúng ta về ý nghĩa của sự sống. Tôi là ai? Tôi đến từ đâu? Tại sao tôi được sinh ra vào thời điểm này trong lịch sử? Tại sao tôi yêu? Tại sao tôi đau khổ? Tại sao tôi sẽ chết? Chính để trả lời cho những câu hỏi này mà Thiên Chúa đã trở thành người phàm. Sự gần gũi của Người là ánh sáng soi vào nơi tối tăm và chỉ ra con đường cho những người sống trong bóng tối của khổ đau (x. Lc 1:79). Phong cảnh là một phần trong cảnh hang đá cũng đáng được nhắc đến. Thường thì chúng là những phế tích của các ngôi nhà cổ hoặc các tòa nhà, trong một số trường hợp chúng thay thế cho hang đá Bê-lem và trở thành ngôi nhà cho Thánh gia. Những phế tích này dường như được lấy cảm hứng từ Golden Legend (Truyền thuyết vàng) thế kỷ thứ mười ba của Tổng Giám mục Jacobus de Varagine Dòng Đa-minh, kể về niềm tin của người ngoại giáo rằng Đền thờ Hòa bình ở Roma sẽ sụp đổ khi một Trinh nữ sinh con. Trên hết, những tàn tích đó là dấu hiệu hữu hình của loài người sa ngã, của tất cả mọi thứ sẽ rơi vào cảnh hoang tàn, mục nát và chán chường. Cảnh bài trí này kể cho chúng ta biết rằng Chúa Giê-su là sự mới mẻ giữa một thế giới già nua, rằng Ngài đến để chữa lành và tái xây dựng, để khôi phục thế giới và cuộc sống của chúng ta trở lại sự huy hoàng ban đầu. 

5. Chúng ta thật cảm xúc biết bao khi sắp xếp những ngọn núi, các dòng suối, những con cừu và mục đồng vào trong cảnh hang đá Chúa sinh! Khi chúng ta làm như vậy, chúng ta được nhắc nhở rằng, như các tiên tri đã loan báo trước, tất cả mọi tạo vật đều nhảy mừng trước sự xuất hiện của Đấng Mê-xi-a. Các thiên thần và ngôi sao dẫn đường là dấu chỉ cho biết rằng chúng ta cũng được kêu gọi lên đường để tiến về hang đá và thờ phượng Thiên Chúa.

“Nào chúng ta sang Bê-lem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết” (Lc 2:15). Vì vậy, các mục đồng truyền tin với nhau sau khi các thiên thần loan báo tin vui. Một bài học đẹp vô cùng hiện lên qua những từ ngữ đơn giản này. Không giống như nhiều người khác, bận rộn về quá nhiều thứ, các mục đồng trở thành những người đầu tiên nhìn thấy điều quan trọng nhất: ơn cứu độ. Chính những người khiêm tốn và người nghèo chào đón biến cố Nhập thể. Các mục đồng đáp lại lời Thiên Chúa là Đấng đến gặp gỡ chúng ta trong Hài nhi Giê-su bằng cách lên đường gặp gỡ Người trong tình yêu, lòng biết ơn và sự kính sợ. Nhờ Chúa Giê-su, cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con cái của Người đã khai sinh ra tôn giáo của chúng ta và làm sáng tỏ cho vẻ đẹp độc đáo của nó, rất rõ ràng trong cảnh máng cỏ Chúa giáng sinh.

6. Theo thông lệ có nhiều nhân vật tượng trưng được thêm vào trong hang đá của chúng ta. Trước hết là những người hành khất và những người chỉ biết đến sự giàu có của tâm hồn. Họ có đủ thẩm quyền để đến gần Chúa Hài Đồng Giê-su; không ai có thể đuổi họ hoặc gạt họ ra khỏi cái nôi tạm bợ mà người nghèo thấy vô cùng thân thương. Thật vậy, người nghèo được hưởng ân phúc của mầu nhiệm này; họ thường là những người đầu tiên nhận ra sự hiện diện của Chúa giữa chúng ta.

Sự hiện diện của người nghèo và người hèn mọn trong cảnh Chúa giáng sinh nhắc nhở chúng ta rằng Thiên Chúa trở thành người phàm vì những người cảm thấy thiếu thốn tình yêu của Người nhất, và là những người khẩn xin Ngài đến gần với họ. Chúa Giê-su, “hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11:29), sinh ra trong sự khó nghèo và sống một cuộc sống đơn sơ để dạy chúng ta nhận biết điều gì là trọng yếu và biết hành động phù hợp theo nó. Cảnh Chúa giáng sinh cho chúng ta bài học sáng tỏ rằng chúng ta không thể để bản thân bị lừa gạt bởi của cải vật chất và những lời hứa của hạnh phúc phù du. Chúng ta nhìn thấy cung điện của Hê-rô-đê ở hậu cảnh, đóng kín và trở nên điếc trước tin vui. Hạ sinh trong máng cỏ, chính Thiên Chúa đã khởi động một cuộc cách mạng đích thực mang lại hy vọng và phẩm giá cho những người bị khinh miệt và bị ruồng bỏ: đó là cuộc cách mạng của tình yêu, cuộc cách mạng của lòng nhân hậu. Từ máng cỏ, Chúa Giê-su công bố theo một cách nhu mì nhưng đầy mạnh mẽ về sự cần thiết của việc chia sẻ với người nghèo vì đó là con đường dẫn đến một thế giới nhân văn và huynh đệ hơn, trong đó không ai bị loại trừ hoặc bị gạt ra bên lề.

Trẻ em – nhưng ngay cả người lớn cũng vậy! – thường thích thêm vào hang đá các nhân vật khác không có mối liên hệ rõ ràng với các trình thuật Tin mừng. Tuy nhiên, mỗi người làm theo cách riêng của họ, những sự thêm thắt đầy màu sắc này cho thấy rằng trong thế giới mới được Chúa Giê-su khai sinh, có đủ không gian cho bất cứ điều gì thuộc con người thật và có chỗ cho mọi loài thụ tạo của Thiên Chúa. Từ mục đồng đến người thợ rèn, từ thợ làm bánh đến các nhạc sĩ, từ những người phụ nữ mang bình nước đến cho các trẻ chơi đùa: tất cả những điều này nói lên sự nên thánh mỗi ngày, niềm vui khi làm những việc bình thường nhưng theo cách phi thường, được sinh ra mỗi khi Chúa Giê-su chia sẻ sự sống nước trời của Người với chúng ta.

7. Rồi chúng ta bước đến hang đá, nơi chúng ta tìm thấy Mẹ Maria và Thánh Giu-se. Maria là người mẹ chiêm ngưỡng con của mình và giới thiệu Hài nhi cho mọi người khách viếng thăm. Hình ảnh của Maria khiến chúng ta suy ngẫm về mầu nhiệm vĩ đại bao phủ người nữ trẻ này khi Thiên Chúa gõ cửa trái tim vô nhiễm của Mẹ. Maria đáp lời, hoàn toàn vâng phục trước tin báo của thiên thần, ngài yêu cầu Mẹ trở thành Mẹ Thiên Chúa. Và những lời của Mẹ, “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1:38), chỉ cho tất cả chúng ta thấy cách từ bỏ chính mình trong niềm tin theo thánh ý Chúa. Bằng tiếng “fiat” (xin vâng) của mình, Maria trở thành Mẹ của Con Thiên Chúa, không mất đi, nhưng chính nhờ Người, thánh hiến sự trinh khiết của Mẹ. Nơi Mẹ, chúng ta nhìn thấy Mẹ Thiên Chúa không chỉ giữ Chúa Con cho riêng mình, nhưng mời gọi mọi người hãy vâng nghe lời Người và thực hành theo lời Người (x. Ga 2:5).

Thánh Giu-se đứng bên Mẹ Maria, thể hiện sự bảo vệ Hài nhi và Mẹ Người. Ngài thường được mô tả với một cây gậy trong tay, hoặc cầm một chiếc đèn. Thánh Giu-se đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đời của Chúa Giê-su và Mẹ Maria. Ngài là người bảo vệ vững chắc cho gia đình mình. Khi Chúa cho ngài cảnh báo về mối đe dọa của Hê-rô-đê, ngài không chần chừ và ngay lập tức lên đường và trốn sang Ai Cập (x. Mt 2:13-15). Và khi nguy hiểm đã qua, ngài đưa gia đình trở về Na-da-rét, nơi ngài sẽ trở thành người thầy đầu tiên của Chúa Giê-su khi còn là một cậu bé và sau đó là một chàng thanh niên. Giu-se chiêm niệm trong lòng mầu nhiệm vĩ đại của Chúa Giê-su và Maria là hiền thê của ngài; là một người công chính, ngài luôn phó thác theo thánh ý của Chúa, và thi hành theo thánh ý đó.

8. Vào dịp Giáng sinh, khi chúng ta đặt tượng Hài Nhi Giê-su nằm trong máng cỏ, cảnh Chúa giáng sinh đột nhiên trở nên sống động. Thiên Chúa hiện ra như một trẻ thơ, để chúng ta ẵm Ngài trong vòng tay. Dưới sự yếu đuối và mong manh, Người ẩn giấu quyền phép của Người đã tạo dựng và biến đổi mọi điều. Điều đó dường như không thể, nhưng nó là sự thật: trong Chúa Giê-su, Thiên Chúa là một trẻ thơ, và bằng cách này, Người muốn mạc khải sự vĩ đại của tình yêu của Người: bằng nụ cười và giang rộng vòng tay ra cho tất cả mọi người.

Sự ra đời của một trẻ thơ làm bừng dậy niềm vui và sự kinh ngạc; nó đặt ra trước mắt chúng ta mầu nhiệm vĩ đại của sự sống. Ngắm nhìn những ánh mắt sáng ngời của đôi vợ chồng trẻ chăm chú ngắm nhìn đứa con sơ sinh của mình, chúng ta có thể hiểu được cảm xúc của Mẹ Maria và Thánh Giu-se, khi họ ngắm nhìn Hài nhi Giê-su, cảm nhận sự hiện diện của Chúa trong cuộc sống của họ.

“Sự sống đã được tỏ bày” (1 Ga 1:2). Bằng những lời này, Thánh Tông đồ Gioan tóm tắt mầu nhiệm Nhập thể. Máng cỏ cho phép chúng ta ngắm nhìn và đụng chạm vào biến cố duy nhất này đã thay đổi tiến trình lịch sử, để rồi sau đó thời gian sẽ được tính ngược về trước hoặc sau Chúa giáng sinh.

Cách thức của Thiên Chúa thật đáng kinh ngạc, vì không thể tin rằng Người đã từ bỏ vinh quang của mình để trở thành một người phàm như chúng ta. Quá đỗi kinh ngạc, chúng ta nhìn thấy Thiên Chúa trở nên như chúng ta: Người ngủ, Người đón nhận nguồn sữa từ mẹ Người, khóc và chơi đùa như mọi đứa trẻ khác! Vẫn theo cách của Người, Chúa làm chúng ta bối rối. Không thể đoán trước được Người, Người liên tục làm những điều chúng ta ít ngờ nhất. Hang đá giáng sinh mô tả Thiên Chúa khi Người đi vào thế giới của chúng ta, nhưng nó cũng khiến chúng ta phải suy ngẫm để làm sao cuộc sống của chúng ta trở thành một phần trong sự sống của Thiên Chúa. Nó mời gọi chúng ta trở thành môn đệ của Ngài nếu chúng ta muốn đạt được ý nghĩa tối hậu trong cuộc sống.

9. Khi lễ Hiển Linh đến gần, chúng ta đặt các tượng Ba Vua trong Hang đá Giáng sinh. Quan sát vì sao, các nhà thông thái từ phương Đông đã khởi hành đi Bê-lem, để tìm Chúa Giê-su và dâng cho Người những món quà của họ là vàng, nhũ hương và mộc dược. Những món quà đắt giá này mang ý nghĩa tượng trưng: vàng tôn vinh vương quyền của Chúa Giê-su, hương chỉ thiên tính của Người, mộc dược ngụ ý nhân tính thánh thiêng của Ngài sẽ trải qua cái chết và được mai táng.

Khi chúng ta chiêm niệm khía cạnh này của cảnh Chúa giáng sinh, chúng ta được mời gọi suy ngẫm về trách nhiệm của mỗi Ki-tô hữu trong việc loan truyền Tin mừng. Mỗi chúng ta được kêu gọi để mang tin vui đến cho tất cả mọi người, làm chứng cụ thể bằng những mối phúc thương xót với niềm vui được biết Chúa Giê-su và tình yêu của Người.

Các nhà Đạo sĩ dạy chúng ta rằng con người có thể đến với Đức Ki-tô qua một con đường rất dài. Những con người giàu có, những hiền nhân từ xa xôi, khao khát sự vô biên, họ lên đường bắt đầu hành trình dài và đầy hiểm nguy đưa họ đến Bê-lem (x. Mt 2:1-12). Niềm vui lớn đến với họ khi đứng trước Vị Vua mới sinh. Họ không vấp phạm bởi cảnh nghèo nàn xung quanh, nhưng ngay lập tức quỳ gối để tôn thờ Người. Quỳ gối trước Người, họ hiểu rằng Thiên Chúa với sự khôn ngoan đã mở lối hành trình của các vì sao, đồng thời cũng dẫn dắt tiến trình của lịch sử, hạ bệ những kẻ cường quyền và nâng lên những người khiêm hạ. Khi trở về quê hương, chắc chắn họ sẽ kể lại cho những người khác về cuộc gặp gỡ tuyệt vời này với Đấng Mê-xi-a, đó là sự khởi đầu của việc loan báo Tin mừng cho các dân tộc.

10. Đứng trước Hang đá Giáng sinh, chúng ta được nhắc nhớ lại khi chúng ta còn bé, háo hức chờ đợi để làm hang đá. Những ký ức này làm tất cả chúng ta ý thức hơn về món quà quý giá đón nhận từ những người truyền lại niềm tin cho chúng ta. Đồng thời, chúng nhắc nhở chúng ta về nghĩa vụ phải chia sẻ kinh nghiệm đó cho con cháu chúng ta. Sắp xếp bài trí cảnh Chúa giáng sinh như thế nào không quan trọng: có thể là luôn giống nhau hoặc có thể mỗi năm mỗi thay đổi. Vấn đề quan trọng là hang đá đó nói lên cuộc sống của chúng ta. Dù hang đá ở nơi đâu và dù nó mang hình thức nào, thì cảnh hang đá Giáng sinh nói với chúng ta về tình yêu của Thiên Chúa, Thiên Chúa đã trở thành một trẻ thơ để cho chúng ta biết Người gần gũi như thế nào với mọi người nam, nữ và trẻ em, bất kể tình trạng của họ.

Anh chị em thân mến, hang đá Giáng sinh là một phần của tiến trình quý giá và đòi hỏi của việc thông truyền đức tin. Bắt đầu từ tuổi thơ, và ở mỗi giai đoạn của cuộc đời, nó dạy chúng ta biết chiêm ngưỡng Chúa Giê-su, để trải nghiệm tình yêu của Chúa dành cho chúng ta, để cảm nhận và tin rằng Chúa ở cùng chúng ta và chúng ta ở cùng Người, là con cái của Người, tất cả là anh chị em, nhờ Trẻ thơ đó là Con Thiên Chúa và là Con của Đức Trinh Nữ Maria. Và để nhận ra rằng chúng ta tìm thấy hạnh phúc thật sự trong đó. Như Thánh Phanxico, ước mong rằng chúng ta mở rộng tâm hồn đón nhận ơn thánh đơn sơ này, để từ sự kinh ngạc của chúng ta, sẽ bật lên một lời cầu nguyện khiêm cung: một lời cầu nguyện tạ ơn Thiên Chúa, Đấng muốn chia sẻ mọi sự với chúng ta, và không bao giờ để chúng ta cô đơn.

Greccio, tại Đền Thánh Hang đá Giáng sinh, ngày 1 tháng Mười Hai năm 2019, năm thứ bảy triều đại Giáo hoàng của cha.

PHANXICO

___________________


[1] Cf. Thomas of Celano, First Life, 84; Franciscan Sources, 469.

[2] Ibid., 85; Franciscan Sources, 469.

[3] Ibid., 86: Franciscan Sources, 470.

[Văn bản chính: tiếng Ý] [Bản dịch tiếng Anh của Vatican]



[Nguồn: zenit]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 2/12/2019]