Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2025

Toàn văn bài giảng Thứ Tư Lễ tro của Đức Thánh Cha: Chúng ta phải tính đến cái chết

Toàn văn bài giảng Thứ Tư Lễ tro của Đức Thánh Cha: Chúng ta phải tính đến cái chết

Toàn văn bài giảng Thứ Tư Lễ tro của Đức Thánh Cha: Chúng ta phải tính đến cái chết

Đức Hồng y Angelo De Donatis (C) người Ý đến dự đoàn rước tại Nhà thờ Thánh Sabina ở Rome trong cử hành Thứ Tư Lễ Tro vào ngày 5 tháng 3 năm 2025.


Kathleen N. Hattrup

05/03/25



“Tro bụi nhắc nhở chúng ta về bản chất thực sự của mình. Điều này tốt cho chúng ta. … kéo chúng ta trở lại với thực tế, và khiến chúng ta biết khiêm nhường và mở lòng với nhau nhiều hơn: không ai trong chúng ta là Chúa; tất cả chúng ta đều đang trên một hành trình.”

Theo truyền thống, Thánh lễ Thứ Tư Lễ Tro tại Rome do Đức Thánh Cha chủ trì đã được Đức Hồng y Angelo De Donatis, Chánh án Tòa án Tối cao chủ trì vào ngày 5 tháng 3. Đức Thánh Cha hiện đang ở ngày thứ 20 trong bệnh viện.

Đức Thánh Cha đã chuẩn bị bài giảng và văn bản bài giảng được Đức Hồng y De Donatis đọc.

Sau đây là bài giảng của Đức Thánh Cha.

____________________________________


Tối nay, chúng ta được xức tro thánh. Điều này nhắc chúng ta nhớ về thân phận của mình, nhưng đồng thời cũng là niềm hy vọng về những gì chúng ta sẽ trở thành. Tro nhắc nhớ rằng chúng ta chỉ là bụi đất, nhưng đồng thời cũng đưa chúng ta bước vào hành trình hy vọng mà Thiên Chúa mời gọi. Bởi chính Chúa Giêsu đã hạ mình xuống bụi đất, và qua sự Phục sinh của Ngài, đã kéo chúng ta vào trong trái tim của Chúa Cha cùng với Ngài.

Vì thế, hành trình Mùa Chay hướng về Đại Lễ Phục sinh diễn ra trong sự nhớ về thân phận mỏng giòn của chúng ta và niềm hy vọng rằng Chúa Phục sinh đang chờ đợi chúng ta ở cuối con đường.

Trước hết, chúng ta cần nhớ lại. Chúng ta cúi đầu đón nhận tro như thể để nhìn vào chính bản thân, nhìn sâu vào tâm hồn mình. Thật vậy, tro giúp chúng ta nhận ra rằng đời sống con người thật mong manh và phù du: chúng ta là bụi đất, từ bụi đất mà chúng ta được tạo dựng nên, và rồi chúng ta cũng sẽ trở về bụi đất. Hơn nữa, biết bao lần khi nhìn vào chính mình hoặc nhìn vào thực tại xung quanh, chúng ta nhận ra rằng: “Đứng ở đời, thật con người chỉ như hơi thở, […]. Công vất vả ngược xuôi: làn gió thoảng, ky cóp mà chẳng hay ai sẽ hưởng dùng” (Tv 39:5-6).

Chúng ta học được điều này trước hết qua chính kinh nghiệm về sự mong manh của mình: sự mệt mỏi, những giới hạn mà ta phải đối diện, những nỗi sợ hãi đè nặng trong lòng, những thất bại làm hao mòn chúng ta, tính phù du của những giấc mơ, và nhận ra rằng những gì chúng ta nắm giữ cũng chỉ là tạm bợ. Được tạo nên từ tro bụi và đất, chúng ta cảm nghiệm sự mong manh qua bệnh tật, nghèo đói và những khó khăn có thể bất ngờ ập đến với chúng ta và gia đình. Chúng ta cũng cảm nhận điều đó khi đối diện với thực tế xã hội và chính trị của thời đại, nơi chúng ta bị phơi bày trước lớp “bụi mịn” làm ô nhiễm thế giới của chúng ta: sự đối lập về ý thức hệ, sự lạm quyền, sự trỗi dậy của những ý thức hệ xưa cũ dựa trên bản sắc ủng hộ việc loại trừ, bóc lột tài nguyên trái đất, bạo lực dưới mọi hình thức và chiến tranh giữa các dân tộc. Lớp “bụi độc hại” này che phủ bầu khí quyển hành tinh của chúng ta, ngăn cản sự chung sống hòa bình, trong khi nỗi bất an và sợ hãi về tương lai ngày càng gia tăng.

Hơn nữa, thân phận mỏng giòn cũng nhắc chúng ta nhớ về bi kịch của cái chết. Bằng nhiều cách, chúng ta cố gắng loại bỏ cái chết khỏi xã hội và thậm chí khỏi cả ngôn ngữ của chúng ta, và quá cậy dựa vào vẻ bề ngoài,. Thế nhưng, cái chết vẫn hiện diện như một thực tại mà chúng ta phải tính đến, một dấu chỉ cho thấy sự mong manh và ngắn ngủi của kiếp người.

Dù chúng ta có đeo bao nhiêu lớp mặt nạ hay những mánh khóe khéo léo nhằm đánh lạc hướng chúng ta, tro bụi vẫn nhắc nhở chúng ta về bản chất thực sự của mình. Điều này tốt cho chúng ta. Nó giúp chúng ta được biến đổi, làm giảm đi tính ái kỷ quá mức, kéo chúng ta trở lại với thực tế, và kéo chúng ta trở lại với thực tế, và khiến chúng ta biết khiêm nhường và mở lòng với nhau nhiều hơn: không ai trong chúng ta là Chúa; tất cả chúng ta đều đang trên một hành trình.

Tuy nhiên, Mùa Chay cũng là lời mời gọi thắp sáng lại niềm hy vọng. Dù chúng ta cúi đầu đón nhận tro để nhớ mình là ai, nhưng hành trình Mùa Chay không kết thúc ở đó. Ngược lại, chúng ta được mời gọi ngước nhìn lên Đấng đã trỗi dậy từ vực thẳm của sự chết và đưa chúng ta từ bụi tro của tội lỗi và sự chết đến vinh quang của sự sống đời đời.

Tro nhắc nhở chúng ta về niềm hy vọng được mời gọi trong Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, Đấng đã mang lấy bụi đất và nâng nó lên tận trời cao. Người đã đi xuống vực thẳm của bụi đất, đã chịu chết vì chúng ta và giao hòa chúng ta với Chúa Cha, như lời Thánh Phaolô nói: “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta” (2 Cr 5:21).

Anh chị em thân mến, chính niềm hy vọng này làm sống lại “tro bụi” của cuộc đời chúng ta. Nếu không có niềm hy vọng ấy, chúng ta chỉ thụ động cam chịu sự mong manh của thân phận con người. Đặc biệt, khi đối diện với cái chết, nếu không có niềm hy vọng có thể đưa con người rơi vào nỗi buồn sầu và tuyệt vọng, và cuối cùng sẽ lý luận như người khờ dại rằng: “Đời ta thật buồn sầu, vắn vỏi: không thuốc nào chữa cho con người khỏi chết,[...] thân xác sẽ trở thành tro bụi, sinh khí biến tan như làn gió thoảng” (Kn 2:1-3). Tuy nhiên, niềm hy vọng của Lễ Phục Sinh mà chúng ta đang hướng về bảo đảm với chúng ta về sự tha thứ của Thiên Chúa. Dù có chìm sâu trong tro bụi của tội lỗi, niềm hy vọng vẫn mở ra nhận thức vui mừng về sự sống: “Tôi biết rằng Đấng bênh vực tôi vẫn sống, và sau cùng, Người sẽ đứng lên trên cõi đất” (G 19:25). Hãy nhớ rằng: “Con người là bụi đất và sẽ trở về bụi đất, nhưng bụi đất ấy lại quý giá trong mắt Thiên Chúa, vì Người đã dựng nên con người để hưởng sự sống trường sinh” (ĐTC Bênêđictô XVI, Tiếp kiến chung, 17/02/2010).

Anh chị em thân mến, sau khi đã nhận tro, chúng ta tiến bước hướng về niềm hy vọng Phục Sinh. Chúng ta hãy trở về cùng Thiên Chúa. Chúng ta hãy hết lòng trở về với Người (x. Ge 2:12). Hãy đặt Người vào trung tâm đời sống của chúng ta, để ký ức về thân phận con người chúng ta – mong manh và hữu hạn như tro bụi bị gió cuốn đi – cuối cùng có thể được lấp đầy bằng niềm hy vọng nơi Chúa Phục sinh. Chúng ta hãy hướng cuộc đời chúng ta về phía Ngài, trở thành dấu chỉ hy vọng cho thế giới. Chúng ta hãy học từ việc bố thí để biết vượt ra khỏi bản thân, chia sẻ những nhu cầu của tha nhân, và vun đắp niềm hy vọng về một thế giới công bằng hơn. Hãy học từ việc cầu nguyện để nhận ra chúng ta luôn cần đến Thiên Chúa, như triết gia Jacques Maritain đã nói, chúng ta là “những kẻ ăn mày Thiên đàng”, và do đó nuôi dưỡng niềm hy vọng vượt ra ngoài những yếu đuối của mình, có một Cha đang chờ đón chúng ta với vòng tay rộng mở ở cuối cuộc hành trình dương thế. Cuối cùng, chúng ta hãy học từ việc chay tịnh để biết rằng chúng ta không sống chỉ để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, nhưng còn đói khát tình yêu và sự thật mà chỉ có tình yêu của Thiên Chúa và lòng yêu thương nhau mới có thể thực sự làm chúng ta thỏa lòng và đem đến cho chúng ta niềm hy vọng về một tương lai tốt đẹp hơn.

Chúng ta hãy kiên vững trong niềm xác tín rằng từ khi Chúa mang lấy tro bụi của nhân loại, “lịch sử trần gian cũng trở thành lịch sử của Thiên đàng. Thiên Chúa và con người gắn kết trong một vận mệnh chung” (C. Carretto, Il deserto nella città, Roma 1986, 55), và Ngài sẽ mãi mãi quét sạch tro bụi của sự chết và làm cho chúng ta tỏa sáng với sự sống mới.

Với niềm hy vọng như vậy trong lòng, chúng ta hãy bắt đầu cuộc hành trình của mình. Hãy để mình được hòa giải với Thiên Chúa.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 7/3/2025]


Thứ Năm, 6 tháng 3, 2025

Họp báo giới thiệu Đại hội đồng Hàn lâm viện Giáo hoàng về Sự sống, với chủ đề “Ngày tận thế? Khủng hoảng, Trách nhiệm, Hy vọng”, ngày 03.03.2025

Họp báo giới thiệu Đại hội đồng Hàn lâm viện Giáo hoàng về Sự sống, với chủ đề “Tận thế? Khủng hoảng, Trách nhiệm, Hy vọng”, ngày 03.03.2025

Họp báo giới thiệu Đại hội đồng Hàn lâm viện Giáo hoàng về Sự sống, với chủ đề “Ngày tận thế? Khủng hoảng, Trách nhiệm, Hy vọng”, ngày 03.03.2025

*******

Lúc 11 giờ 30 hôm nay (ND: 03/03/2025), một buổi họp báo đã được tổ chức tại Phòng Báo Chí Tòa Thánh, số 54 Via della Conciliazione, để giới thiệu Đại Hội đồng của Hàn Lâm viện Giáo hoàng về Sự sống với chủ đề “Tận thế? Khủng hoảng, Trách nhiệm, Hy vọng”, diễn ra từ ngày 3 đến ngày 5 tháng 3 tại Trung tâm Hội nghị Augustinianum.

Các diễn giả bao gồm: Đức Tổng Giám mục Vincenzo Paglia, Chủ tịch viện Hàn lâm Giáo hoàng về Sự sống; Giáo sư Katalin Karikó, người đoạt giải Nobel Y học năm 2023; Giáo sư Guido Tonelli, Đại học Pisa, Ý; Giáo sư Henk ten Have, Đại học Anáhuac, Thành phố Mexico, Mexico; và Nữ tu Giustina Holha Holubets, SSMI, thuộc Tổ chức Phi Chính phủ Perinatal Hospice, Lviv, Ukraine.

Dưới đây là các bài phát biểu của các diễn giả:

________________________________________


Bài phát biểu của Đức Tổng Giám Mục Vincenzo Paglia

Chủ đề của đại hội lần này xuất phát từ sự hội tụ của nhiều khía cạnh trong thời điểm đặc biệt mà chúng ta đang trải qua. Một mặt, có sự nhận thức ngày càng rõ ràng rằng cuộc khủng hoảng mà chúng ta đang trải qua cùng lúc tác động đến nhiều khía cạnh trong đời sống cá nhân và xã hội. Đức Thánh Cha cũng đã lưu ý đến nhận thức này khi sử dụng một thuật ngữ do triết gia Edgar Morin đặt ra: polycrisis (ND tạm dịch: đa khủng hoảng). Mặt khác, điều quan trọng là phải lắng nghe sâu sắc hơn những yếu tố nào đã đưa chúng ta vào tình trạng bế tắc này. Tuy nhiên, mối quan tâm của chúng ta không chỉ đơn thuần là phân tích, mà còn nhằm xác định các dòng chảy của sự chuyển đổi và thay đổi đòi hỏi trách nhiệm của chúng ta nhưng đồng thời cũng có thể mở ra những cánh cửa hy vọng cho tương lai của các xã hội.

Khi suy ngẫm về chủ đề này, một hình ảnh biểu tượng trong Kinh Thánh hiện lên trong tâm trí tôi, dường như rất phù hợp với hoàn cảnh hiện tại và có thể giúp chúng ta diễn giải thời điểm hiện tại: đó là trận Đại Hồng thủy (St 6-9). Trước hết, chúng ta lưu ý rằng trong sách Sáng thế, tình huống dẫn đến cuộc khủng hoảng nhấn chìm Trái đất là tình trạng gia tăng quá nhiều sự dữ trên thế gian. Có vẻ như một ngưỡng giới hạn đã bị vượt qua, khi sự tràn lan của cái ác tiến đến mức không thể kiểm soát được trong thế giới này nữa.

Có một sự tràn lan quá mức lan rộng và bao trùm mọi thứ. Hãy nghĩ đến ngưỡng giới hạn mới của khả năng tự hủy diệt mà nhân loại hiện đang nắm trong tay.

Vì vậy, chúng ta phải xây dựng một con tàu chung cho tất cả mọi người: một cốt lõi được sắp đặt theo lời của Thiên Chúa, điều mà ông Nô-ê đã chăm chú lắng nghe cẩn thận để đóng con tàu, nhằm gìn giữ trật tự sáng tạo của Thiên Chúa, giúp nó tiếp tục hành trình và nổi trên mặt biển đang nhấn chìm mọi thứ khác. Theo cách này, con tàu trở thành biểu tượng của một không gian nơi công trình sáng tạo của Thiên Chúa vượt qua sự chết chóc và hủy diệt (bạo lực) để tiến đến một khởi đầu mới.

Tất nhiên, sự chung sống không thể được xem là điều tất nhiên, và nỗ lực hài hòa những khác biệt là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Tiếp tục với hình ảnh của chúng ta: cuộc sống trên con tàu không dễ dàng. Ngay cả sự khởi đầu mới, được đánh dấu bằng việc lần thứ hai nổi trên mặt đất khô ráo – điều mà đoạn Kinh Thánh mô tả như một sự sáng tạo mới – cũng kéo dài hơn nhiều so với trình thuật trong chương đầu tiên của sách Sáng thế. Bốn mươi ngày cùng với nhiều tuần thám hiểm cho thấy ông Nô-ê là một con người kiên nhẫn và hy vọng.

Niềm hy vọng không đồng nghĩa với sự cam chịu hay từ bỏ, mà là sự chờ đợi đầy kiên trì và khám phá, tận dụng mọi phương tiện sẵn có (quạ và bồ câu, vì thời đó chưa có thiết bị bay không người lái), kiên trì chịu đựng, tin tưởng vào lời hứa của một lời phán đáng tin cậy, và đòi hỏi một sự quyết định để đạt được điều đã được hứa ban.

Chính trong tinh thần này mà chúng ta hy vọng thực hiện cuộc hành trình của mình.


Phát biểu của giáo sư Katalin Karikó

Như quý vị đã biết, tôi tham gia sự kiện này với vai trò là một Viện sĩ Thường trực của Viện Hàn lâm Giáo hoàng về Sự Sống. Chiều mai, trong buổi đối thoại về chủ đề “Điều gì/Ai sẽ cứu thế giới?”, tôi sẽ chia sẻ đôi điều về vai trò của khoa học

Khoa học là kiến thức về thế giới xung quanh chúng ta. Kiến thức này được thu thập thông qua quan sát, đo lường và thử nghiệm. Khoa học rất thú vị, và làm một nhà khoa học là một công việc thú vị. Điều rất lý thú đó có một sự phức tạp, và chính bạn có thể giải quyết nó bằng cách đọc các bài nghiên cứu hoặc tiến hành thí nghiệm và kết hợp những điều có thể chưa ai từng làm trước đó. Rồi bạn nhận biết điều gì đang diễn ra. Niềm vui khi bạn là người đầu tiên biết rằng sự việc xảy ra theo cách đó. Đó là điều thú vị. Nó rất giống với việc làm một thám tử hay điều tra viên trong một vụ án, nhưng ở phút cuối, bạn không tìm ra thủ phạm mà tìm ra một giải pháp, và có thể giải pháp đó sẽ giúp ích cho ai đó. Đó là nét đẹp về nó, có thể một người nào đó bị bệnh và rồi khám phá của bạn có thể góp phần chữa lành cho họ.

Mọi người có quan điểm và cách suy nghĩ khác nhau, như một người là bác sĩ, còn người khác là nhà khoa học căn bản, và họ có cách suy nghĩ khác nhau. Nếu họ hợp tác và tôn trọng lẫn nhau, thì một phát minh mới có thể ra đời. Đó là điều tôi cho là quan trọng. Vì vậy, tôi cố gắng nhấn mạnh rằng phụ nữ rất quan trọng đối với khoa học, và khoa học cần nhiều phụ nữ hơn, vì lúc đầu, có nhiều phụ nữ tốt nghiệp các trường đại học và họ có ước mơ của mình, nhưng khó khăn có thể xuất hiện khi họ đến tuổi sinh nở và muốn lập gia đình. Tôi thấy ở nhiều quốc gia, nếu không có đủ sự hỗ trợ tài chính, thì phụ nữ phải từ bỏ công việc của mình vì đứa con thơ đang khóc và họ phải chăm sóc nó. Ước mơ của họ chỉ còn là một tiềm tàng, và từ bỏ dường như là giải pháp để chăm sóc con cái. Nhưng nếu chính phủ lắng nghe, thì chúng ta cần lên tiếng kêu gọi họ hỗ trợ dịch vụ chăm sóc trẻ em chất lượng cao với giá cả phải chăng. Điều này sẽ rất quan trọng vì sẽ thêm nhiều phụ nữ có cơ hội tạo ra nhiều khám phá hơn.

Tôi dựa vào công trình của nhiều người khác. Tôi đã nghiên cứu trong 20, 30 năm. Tôi học từ việc đọc các bài viết của những người đã khuất, và tôi học được từ đó. Tôi có đồng nghiệp và rất nhiều người đã đóng góp. Tôi cảm nhận rằng chúng tôi đã làm được. Các nhà khoa học chúng tôi, cùng với tất cả những đồng nghiệp của tôi tại Pfizer, BioNTech, cũng như Đại học Pennsylvania, và những nhà khoa học đã làm việc trong lĩnh vực này. Đó là cảm nhận của tôi, và tôi phải nói rằng, tôi đã may mắn. Tôi chưa bao giờ khao khát sự công nhận. Đối với tôi, chỉ cần biết những gì tôi đã làm và điều gì là quan trọng, chứ không phải việc người khác biết đến nó, thế là đủ.

Với tôi, tôi cảm thấy rằng rất nhiều nhà khoa học, hàng trăm, hàng nghìn nhà khoa học, đã đóng góp vào kho tàng kiến ​​thức này, vì RNA đã được phát hiện cách đây 64 năm, và trong những năm đó, rất nhiều điều đã xảy ra. Tôi sẽ cho quý vị biết có bao nhiêu điều đã được các nhà khoa học khám phá và đóng góp. Là một nhà khoa học, tôi không ngờ rằng những gì tôi đang làm lại quan trọng đến vậy. Tôi sẽ nói với quý vị về những phát hiện đã được thực hiện và đóng góp bởi các nhà khoa học. Là một nhà khoa học, tôi không mong đợi rằng những gì mình đang làm sẽ trở nên quan trọng đến vậy. Tôi biết rằng điều đó quan trọng. Tôi biết rằng một ngày nào đó có thể các nhà khoa học khác sẽ tiếp tục và đạt đến một mức độ mà người nào đó sẽ được giúp đỡ. Cảm ơn quý vị.


Phát biểu của Giáo sư Guido Tonelli

Theo một cách nào đó, khoa học vẫn là nền tảng cho thế giới quan của chúng ta. Chúng ta vẫn cần nó, và không chỉ để sản xuất ra các công nghệ và công cụ cần thiết cho sự tồn tại của loài người.

Sự thay đổi sâu sắc khi một sự chuyển đổi mô hình tạo ra ở cấp độ khoa học sẽ dẫn đến một thay đổi thậm chí còn triệt để hơn ở cấp độ văn hóa. Con người tổ chức theo một cách khác, nhân loại xây dựng các mối quan hệ khác với những mối quan hệ họ đã có trước đây. Đây là một điểm nền tảng vì ngay cả ngày nay khoa học vẫn tiếp tục tạo ra những thay đổi. Cơ chế mà khoa học thay đổi thế giới quan của chúng ta là một hiện tượng vẫn đang diễn ra, và cần phải nhận thức được những thay đổi này, vì tương lai sẽ định hình từ chúng.

Trong hàng ngàn năm, nhân loại tự thấy mình là yếu tố mong manh nhất của một môi trường tự nhiên không thay đổi. Chúng ta tự coi mình là những phàm nhân mong manh sống cuộc sống bất ổn trong một môi trường tự nhiên vĩnh cửu và bất tử. Không phải ngẫu nhiên mà Mặt trời, Trái đất, Mặt trăng, các vì sao và các hành tinh đã từng được tôn là thần. Từ cảm giác mong manh này, những điều đẹp nhất mà con người tạo ra đã ra đời: nghệ thuật và triết học, khoa học và tôn giáo. Từ đó nảy sinh động lực để tạo ra những tác phẩm bất hủ: những chiến công của Achilles, người thích được các thi sĩ ca tụng trong hàng thiên niên kỷ hơn là sống một cuộc sống khiêm nhường; hoặc những kim tự tháp vĩ đại, những lăng mộ của các pha-ra-ông sánh ngang với những ngọn núi. V.v..

Ngày nay chúng ta khám phá ra rằng sự mong manh này, điều mà chúng ta đã rất xấu hổ, trở thành sự khổ não thường trực đối với chúng ta, là một đặc điểm chung của toàn bộ thế giới vật chất. Khoa học hiện đại cho chúng ta biết rằng tất cả các dạng vật chất có hình thể đều phải chịu sự mong manh nội tại này; không có gì có thể thoát khỏi quy luật này, ngay cả những cấu trúc vĩ đại nhất, một dạng ‘tội tổ tông’ nào đó.

Hệ quả của thế giới quan mới này sẽ là gì? Liệu nó sẽ mang đến những tác động đáng lo ngại hay an ủi? Con người sẽ xây dựng các mối liên kết đoàn kết và nhận thức chặt chẽ hơn giữa họ, hay các yếu tố gây hấn và ích kỷ sẽ ngày càng chiếm ưu thế? Đây là những câu hỏi then chốt mà những người trong Giáo hội được mời gọi suy ngẫm.


Phát biểu của Giáo sư Henk ten Have

Tận thế? Quan điểm giáo dục

Đối mặt với sự biến đổi khí hậu, phân cực chính trị, những thất bại của nền dân chủ, các chính sách bất lực, suy thoái kinh tế, chiến tranh và bạo lực, những quan điểm tận thế có xu hướng xóa mờ tầm nhìn về tương lai của nhân loại. Điều này sẽ ảnh hưởng trước hết đến các thế hệ trẻ, qua đó nhấn mạnh vai trò của giáo dục. Tuy nhiên, những quan điểm bi quan và định mệnh về tận thế có thể xảy ra không thể được khắc phục bằng giáo dục theo cách đó. Điều quan trọng là những gì sẽ được dạy và cách thức giảng dạy diễn ra. Trước hết, giáo dục không chỉ tập trung vào tương lai mà còn phải phản ánh về quá khứ (cho thấy rằng trong lịch sử của tất cả các nền văn minh, những ý tưởng về sự suy tàn và sụp đổ đã từng xuất hiện), và phân tích hiện tại (cho thấy rằng những ý tưởng về ngày tận thế không đồng nhất, mà phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế xã hội, văn hóa và tôn giáo).

Thứ hai, khi tập trung vào tương lai, giáo dục nên phác thảo ít nhất ba thái độ đối với quan điểm về tận thế: cam chịu (từ bỏ ý nghĩ rằng sự sụp đổ và suy tàn có thể được ngăn chặn), kháng cự (cố gắng gạt bỏ sự suy thoái và tạo ra sự đổi mới thông qua khoa học hoặc kỹ thuật xã hội và di truyền), và tái đánh giá (đánh giá lại các giá trị nền tảng và điều chỉnh theo hướng nâng cao lên thay vì hạ thấp chúng). Thái độ cuối cùng này nhằm mục đích chuyển biến liên tục và từng phần, lấy cảm hứng từ niềm hy vọng rằng sự thay đổi theo hướng tốt hơn là có thể. Trên thực tế, đó là động lực cơ bản để khởi xướng ngành đạo đức sinh học mới vào những năm 1970. Để tránh nguy cơ tuyệt chủng có thể xảy ra của loài người, tất cả các loại trí tuệ cần được tập hợp để chống lại những mối đe dọa toàn cầu và bảo đảm sự tồn tại. Nhưng để trở thành nguồn cảm hứng, diễn ngôn về đạo đức sinh học cần mang tính phản biện và tiên tri hơn. Nó cần khơi dậy hy vọng rằng mọi thứ có thể được cải thiện và chúng ta có thể làm tốt hơn.


Phát biểu của Nữ tu Giustina Holha Holubets, SSMI

‘Tôi không thể kéo dài thêm 1 ngày cho sự sống của bạn, nhưng tôi có thể kéo dài sức sống cho những ngày của bạn.’

Nữ tu Giustina Olha Holubets, Nhà tâm lý học lâm sàng tại Trung tâm di truyền y khoa Lviv thuộc Viện bệnh lý di truyền của Viện Hàn lâm khoa học y khoa quốc gia Ukraine, Chủ tịch Tổ chức phi chính phủ “Perinatal Hospice ‒ Imprint of Life”

“Sự sống con người đặc biệt mong manh và yếu đuối khi đến với thế giới này và khi rời bỏ cõi phàm trần để bước vào cõi vĩnh hằng”. EV, 44.

Giữa các bác sĩ có một xu hướng chẩn đoán trước sinh kết hợp với việc ngăn ngừa các dị tật bẩm sinh và di truyền và thường dẫn đến quyết định phá thai. Tuy nhiên, vẫn có những cặp vợ chồng quyết định không phá thai ngay cả khi phát hiện con mình mắc dị tật bẩm sinh hoặc bệnh di truyền nghiêm trọng, họ tiếp tục thai kỳ để chăm sóc con cho đến giây phút cuối cùng của cuộc đời. Rất thường xuyên, những cặp vợ chồng này không nhận được sự hỗ trợ và thấu hiểu từ xã hội, thậm chí từ chính gia đình và đội ngũ y tế.

Trong thập kỷ qua, từ kinh nghiệm của nhiều quốc gia, có thể thấy một lựa chọn thay thế là perinatal hospice (ND: trung tâm chăm sóc giảm nhẹ chu sinh: trung tâm chăm sóc các bà mẹ mang thai dị tật, hoặc thai nhi mắc bệnh di truyền nghiêm trọng) - một nơi của sự yêu thương đích thực, trong đó một nhóm chuyên gia hỗ trợ, giúp đỡ để chuẩn bị cho cha mẹ, người thân khi đứa trẻ chào đời với dị tật bẩm sinh nghiêm trọng và có thể tử vong trước, trong hoặc sau sinh. Theo đó, ở mỗi giai đoạn khác nhau, có sự hỗ trợ thích hợp ở các cấp độ khác nhau: y tế, tâm lý, xã hội và tinh thần.

Tổ chức phi lợi nhuận “Hospice Chu sinh - Imprint of Life” là sáng kiến đầu tiên về chăm sóc chu sinh tại Ukraine. Tổ chức bắt đầu hoạt động từ năm 2013 và từ năm 2017 đã hoạt động tại Lviv, đồng thời mở rộng hoạt động ra các thành phố khác của Ukraine, giúp đỡ các bậc cha mẹ và những đứa con mắc bệnh nan y của họ với sự chăm sóc đa chuyên khoa và có trình độ cao.

Mục tiêu chính của “Perinatal hospice - Imprint of Life” bao gồm:
  • Nâng cao nhận thức về tử vong sơ sinh
  • Nâng cao nhận thức về quyền con người được nhận chăm sóc giảm nhẹ chất lượng cao, đặc biệt là chăm sóc giảm nhẹ chu sinh cũng như chăm sóc cho cha mẹ và gia đình họ
  • Cung cấp sự hỗ trợ cho các bà mẹ và những đôi vợ chồng, những người phát hiện con mình mắc dị tật bẩm sinh nghiêm trọng trong thai kỳ
  • Cung cấp hỗ trợ cho các thai nhi mắc bệnh hiểm nghèo
  • Cung cấp tư vấn và hỗ trợ tâm lý cho những cha mẹ bị mất đứa con của họ trong thai kỳ hoặc sau khi sinh, ngay cả khi đứa trẻ mới chỉ được vài tuần tuổi trong bụng mẹ
Trong những năm gần đây, Tổ chức đã hỗ trợ nhiều gia đình, giúp nhiều trẻ em là nạn nhân của chẩn đoán tử vong, đến với thế giới này, một số bé chào đời khỏe mạnh và được nằm trong vòng tay của mẹ, nhưng một số khác không thể sinh ra. Đối với những bậc cha mẹ đã ôm con vào lòng, dù chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi như một vệt sao băng, cuộc đời nhỏ bé ấy đã để lại dấu ấn sâu sắc, mang đến sức mạnh giúp họ vượt qua đau thương mất mát và sau đó, trong khoảng thời gian ngắn, tìm thấy hy vọng để bắt đầu một cuộc sống mới. Chăm sóc giảm nhẹ chu sinh không dừng lại ở cái chết của một đứa trẻ. Tổ chức cung cấp hỗ trợ trong đám tang cho các bé, cung cấp sự hỗ trợ cần thiết cho cha mẹ của bé, và các cuộc gặp mặt cho các gia đình đã mất con.

Tổ chức hướng đến mục tiêu giúp các bậc cha mẹ trân trọng khoảng thời gian ngắn ngủi nhưng vô giá bên con mình trong tình yêu thương, hỗ trợ họ trong khoảnh khắc chia ly với đứa con vừa chào đời.

Ngay cả khi “không thể làm được gì”, vẫn luôn có điều gì đó có thể làm được: Đó là sự yêu thương. Cho đến phút cuối cùng.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 6/3/2025]