Cầu nguyện cho sự trở lại của nước Anh
Giới thiệu ấn bản mới gồm những lời cầu nguyện của Đức Hồng y Nicholas Wiseman và một bài diễn văn của Đức Hồng y Herbert Vaughan, Đức ông John Armitage suy tư về quá khứ Công giáo của nước Anh và những dấu chỉ về một “mùa xuân thứ ba” của sự trở lại với đức tin có thể đang diễn ra.

Chi tiết trang bìa quyển sách “Sự trở lại của nước Anh nhờ sức mạnh của lời cầu nguyện” (Ảnh: Catholic Truth Society)
2 tháng 11, 2026
CANTERBURY, Anh Quốc — Giữa lúc nước Anh đang chứng kiến những dấu hiệu hồi sinh của Công giáo, đặc biệt nơi giới trẻ, một quyển sách nhỏ mang tính thời sự vừa được xuất bản, với tựa đề Sự trở lại của nước Anh nhờ sức mạnh của lời cầu nguyện (The Conversion of England by the Power of Prayer).
Cuốn sách giới thiệu một bài diễn văn mang tính cột mốc về chủ đề này của Đức Hồng y Herbert Vaughan, Tổng Giám mục Westminster từ năm 1892 đến năm 1903. Sách cũng gồm những lời cầu nguyện cho sự trở lại của nước Anh được soạn bởi vị tiền nhiệm của ngài là Đức Hồng y Nicholas Wiseman, Tổng Giám mục Westminster từ năm 1850 đến năm 1865.
Những lời nguyện này từng được các chủng sinh tại Chủng viện Anh Quốc (Venerable English College) tại Rôma đọc mỗi ngày cho đến năm 1965, khi chúng được thay thế bằng các lời nguyện ngắn hơn cầu cho sự hiệp nhất Kitô giáo nhân dịp trước chuyến thăm lịch sử tới Roma của Đức Michael Ramsey, Tổng Giám mục Canterbury của Anh giáo. Quyển sách nhỏ này, do Hội Chân lý Công giáo (Catholic Truth Society) xuất bản, đóng vai trò như một lời hiệu triệu gửi đến các tín hữu nước Anh hãy loan báo Tin Mừng trên quê hương, là đất nước nổi tiếng được dâng hiến cho Đức Mẹ Our Lady’s Dowry (Phần Gia nghiệp của Mẹ).
Lời tựa cho hai văn bản được tái bản này được viết bởi Đức ông John Armitage, Bề trên Hội Đức Mẹ Chuộc tội (Guild of Our Lady of Ransom), một tổ chức Công giáo thúc đẩy công cuộc loan báo Tin Mừng và chào đón những người Công giáo tại Anh và xứ Wales đã xa rời Giáo hội trở về.
Trong cuộc phỏng vấn gần đây với Register, Đức ông Armitage, cha sở một giáo xứ ở Đông London và nguyên Giám đốc Đền thánh Đức Mẹ Walsingham, đã điểm lại lịch sử Công giáo phong phú của nước Anh để cho thấy đất nước này luôn mang căn tính Công giáo; đồng thời giải thích ý nghĩa và tầm quan trọng của tước hiệu Our Lady’s Dowry (Phần Gia nghiệp của Đức Mẹ), cũng như chia sẻ suy tư về lý do và cách thức một “mùa xuân thứ ba” của sự trở lại với đức tin có thể đang diễn ra.
Thưa Đức ông Armitage, ngài từng nói rằng nước Anh luôn là một quốc gia Công giáo, ngay cả trong và sau cuộc Cải cách. Đức ông có thể giải thích rõ hơn ý ngài muốn nói qua nhận định đó?
Dấu chỉ công khai đầu tiên của Kitô giáo tại đất nước này là cuộc tử đạo của Thánh Alban, vào khoảng năm 304. Alban là một người lính La Mã, và ngài đã gặp một linh mục Kitô giáo; điều đó trước hết cho chúng ta biết rằng vào thời điểm ấy đã có các linh mục Kitô giáo hiện diện tại Anh, và chúng ta biết rằng đức tin đã đến nước Anh trước hết thông qua sự chiếm đóng của người La Mã. Năm 314, Công đồng Arles [cuộc hội nghị đại biểu đầu tiên của các giám mục Kitô giáo ở Đế quốc Tây La Mã] đã diễn ra và có sự hiện diện của ba giám mục người Anh ở đó — ngài Eborius của York, ngài Restitutus của London, và ngài Adolphus của Colchester — điều này chứng minh cho sự hiện diện của Kitô giáo tại nước Anh thời La Mã.
Vậy tại sao Thánh Augustinô lại được sai đến để truyền giáo cho người Anh vào năm 597?
Đức Giáo hoàng Grêgôriô Cả đã sai các nhà truyền giáo đến nước Anh, bởi vì ở phía nam đất nước này khi đó chưa có những nhà truyền giáo vĩ đại như ở miền bắc. Lúc đó chưa có một nước Anh như chúng ta hiểu ngày nay; đó là Britannia, hay Britain, và chưa có một bản sắc chung nào, ngoại trừ việc gọi chung là Britain. Khi Thánh Augustinô đến miền nam xứ Britain, bao gồm cả Canterbury, dân chúng thờ nhiều thần khác nhau, và thần chính của người Anglo-Saxon thời bấy giờ là Woden.
Vậy đây chính là “mùa xuân thứ nhất” của sự trở lại của nước Anh, theo cách dùng từ của Thánh John Henry Newman?
Đúng vậy, mùa xuân thứ nhất của Giáo hội tại đất nước này bắt đầu với cuộc tử đạo của Thánh Alban; tiếp đến là sứ vụ truyền giáo vĩ đại của Thánh Augustinô và quá trình hình thành bản sắc của nước Anh. Và xin nhớ rằng những nơi đầu tiên góp phần lan tỏa đức tin chính là các đan viện. Đó là lý do tại sao chúng ta có các đan viện trên khắp đất nước này. Chính điều đó đã tạo nên mùa xuân thứ nhất của Kitô giáo tại đây, đưa chúng ta đến với mùa xuân thứ hai.
Tháng 3 năm 2020, ngay trước khi đại dịch COVID-19 bùng phát, nước Anh đã được tái dâng hiến cho Đức Mẹ Our Lady’s Dowry. Chính xác thì tước hiệu Our Lady’s Dowry có nghĩa là gì, và tại sao nó lại quan trọng?
Tước hiệu này có hai ý nghĩa. Một nghĩa là theo cách hiểu của lục địa châu Âu, trong đó của hồi môn (dowry) là món tài sản mà người phụ nữ mang đến cho chồng khi kết hôn. Nhưng đó không phải là trường hợp ở nước Anh. Tại Anh, dowry là tiền hoặc đất đai được dành riêng cho người phụ nữ trong trường hợp người chồng qua đời. Điều này hoàn toàn khác biệt. Nguồn gốc của nó có từ thời các cuộc Thập tự chinh, khi những người đàn ông ra đi và không bao giờ trở về, nhưng người ta không biết điều gì đã xảy ra với họ. Vì thế, dowry trở thành phần tài sản được dành riêng cho người mẹ. Đó là lý do tại sao ở nhiều nơi trên đất nước này, nếu đi về các làng quê, anh sẽ thấy những ngôi nhà được gọi là “dower house” (nhà hồi môn) thuộc về nữ chủ trang viên sau khi chồng bà qua đời. Bà sẽ rời ngôi nhà chính khi người thừa kế chuyển đến, rồi đến sống tại dower house của mình; và bà được gọi là “dowager” (quả phụ được thừa hưởng gia sản). Vì thế, tại Anh, tước hiệu Our Lady’s Dowry có nghĩa là đất nước này được dành riêng cho Mẹ Maria.
Đức ông có thể cho biết về “mùa xuân thứ hai”, tức công cuộc giải phóng Công giáo tại nước Anh?
Anh và tôi đều là sản phẩm của “mùa xuân thứ hai”. Các nhà thờ, trường học, đan viện và nữ tu viện của chúng ta đều là thành quả của mùa xuân thứ hai. Giới cầm quyền Anh từng cố gắng tiêu diệt mùa xuân thứ nhất, hoặc chuyển nó vào Giáo hội Anh giáo, nhưng mùa xuân thứ hai đã bắt đầu với Thượng Hội đồng Tỉnh Westminster đầu tiên vào năm 1852, và đó chính là thời điểm ngài Newman có bài giảng lừng danh về “mùa xuân thứ hai" từ tòa giảng ở Oscott, trong đó ngài nói: “Điều duy nhất tôi biết, đó là nhu cầu của chúng ta tới đâu, sức mạnh của chúng ta cũng sẽ tương xứng đến đó.”
Có thể nói rằng nhu cầu của chúng ta hiện nay lớn hơn bao giờ hết?
Đúng vậy, hoàn toàn chính xác. Điều đó đưa chúng ta đến với thế hệ hiện tại. Nhìn vào lịch sử đất nước này, chúng ta có thể thấy rằng không có gì đứng yên; lịch sử không đứng yên. Bài thánh ca Abide With Me có câu: “Con thấy sự đổi thay và suy tàn ở khắp xung quanh; lạy Chúa, Đấng không hề đổi thay, xin ở lại với con.” Đó chính là nền tảng cốt lõi của Công giáo. Cách duy nhất để bạn hiểu về Công giáo là không có gì thay đổi trong bản thể; mọi sự xung quanh mới thay đổi: lịch sử, văn hóa, chiến tranh, nạn đói, và bất cứ điều gì anh có thể kể ra — tất cả đều thay đổi. Tôi không làm một điều gì mới mẻ mỗi ngày; tôi làm một điều đã có từ ngàn xưa, đó là cử hành Bí tích Thánh Thể. Đây chính là chìa khóa để hiểu điều ấy: “Con thấy sự đổi thay và suy tàn ở khắp xung quanh.” Đó cũng chính là kinh nghiệm của những người trẻ ngày nay, nhưng rồi họ tìm thấy một điều không thay đổi, và khám phá ra rằng điều ấy đã không thay đổi suốt hàng ngàn năm, và thế là họ tự nhủ: “Có lẽ có điều gì đó ở đây.”
Đức ông từng nói, khi trích dẫn Thánh Augustinô, rằng đức tin “vừa cổ xưa, lại vừa luôn mới mẻ.”
Đúng vậy, đó chính là điều làm cho Kitô giáo ở bất kỳ thời đại nào cũng luôn đầy sức sống. Nếu chỉ mang tính cổ xưa, Kitô giáo sẽ đơn thuần trở thành lỗi thời. Nếu Kitô giáo lỗi thời, thì nó sẽ không tồn tại lâu dài. Còn nếu hoàn toàn mới mẻ, à, người ta sẽ không thể tin tưởng nó, vì không ai biết nó sẽ đi về đâu. Chính sự kết hợp giữa cái cổ xưa và cái mới mẻ đã đem lại cho chúng ta đạo Công giáo đầy sức sống.
Vậy Đức ông có cho rằng “mùa xuân thứ ba” hiện đang diễn ra, và có những dấu hiệu cho thấy một sự tái trở lại của nước Anh có thể đang bắt đầu?
Tôi nghĩ không có gì phải nghi ngờ về điều đó, nhưng điều này không chỉ dựa trên các số liệu thống kê, mà dựa trên những gì chúng ta có thể tận mắt chứng kiến và các bằng chứng thực tế. Nếu cách đây ba năm, anh nói với tôi rằng những gì chúng ta hiện đang chứng kiến sẽ xảy ra, tôi đã không tin. Ngay tại giáo xứ này, hiện tại có 22 người vừa ghi danh tham gia RCIA (Nghi thức Khai tâm Kitô giáo cho người trưởng thành), và chỉ có hai người trong số họ được rửa tội; mà hai người này cũng không phải là những người trở lại. Điều này chưa diễn ra trên khắp mọi nơi, nhưng có một cảm nhận chung rằng đang có điều gì đó xảy ra. Hai tuần trước, chúng tôi cũng đã tổ chức cuộc rước kiệu Adoremus [kiệu Thánh Thể qua một khu vực của London], và khi chúng tôi xếp hàng bên ngoài Nhà thờ Chánh tòa Westminster, các chủng sinh hiện diện ở khắp nơi — khắp mọi nơi. Cha Giám đốc Chủng viện Allen Hall [một chủng viện ở London được thành lập năm 1524] nói với tôi rằng nơi đó “hoàn toàn kín chỗ”.
Theo Đức ông, đâu là nét đặc thù của sự phục hồi này?
Trước hết, chúng ta phải nhìn nhận câu nói nổi tiếng của Thánh Augustinô: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, và tâm hồn chúng con khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa.” Nếu phải diễn giải lý do khiến những người trẻ đang tìm về với Giáo hội, tôi cho là chính vì điều này. Luôn có sự khắc khoải này, vì không có điều gì khác mang đến sự thỏa mãn.
Liên quan đến tập sách nhỏ của CTS mà Đức ông viết lời tựa, với tiêu đề The Conversion of England by the Power of Prayer (Sự trở lại của nước Anh nhờ sức mạnh của lời cầu nguyện), Đức ông có thể giải thích những chỉ dẫn nào trong cuốn sách có thể giúp đưa người dân Anh trở về với đức tin?
Phần thứ nhất là những lời cầu nguyện của Đức Hồng y Nicholas Wiseman [Tổng Giám mục Westminster đầu tiên], từ những năm 1850, ngài đã viết những lời này khi mùa xuân thứ hai đang ở trước thềm, và phần thứ hai là một bài diễn văn của Đức Hồng y Herbert Vaughan [Tổng Giám mục thứ ba của Westminster], vào cuối thế kỷ XIX. Vì thế, đây không phải là những nội dung cập nhật mang tính thời sự, nhưng chính là điều vừa cổ xưa, vừa luôn mới mẻ.
Giữa bối cảnh chủ nghĩa thế tục và sự lan rộng của Hồi giáo tại Anh, mức độ lạc quan và hy vọng của Đức ông như thế nào đối với việc cuối cùng đức tin Công giáo sẽ chiếm ưu thế và đất nước này sẽ trở về với đức tin?
Tôi rất bi quan, nhưng tràn đầy hy vọng. […] Tôi là một Kitô hữu, vì thế tôi tràn ngập hy vọng. Niềm hy vọng đưa chúng ta vượt lên trên sự bi quan trước những biến cố xảy ra.
[Nguồn: ncregister]
[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 06/11/2026]
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét