Thứ Hai, 9 tháng 11, 2026

Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Uruguay, Argentina và Peru (6–17/11/2026) - Cử hành Giờ Kinh chiều với các Giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ nam nữ và chủng sinh tại Nhà thờ Chánh tòa Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và hai Thánh Tông đồ Philipphê và Giacôbê, ngày 06.11.2026

Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Uruguay, Argentina và Peru (6–17/11/2026) - Cử hành Giờ Kinh chiều với các Giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ nam nữ và chủng sinh tại Nhà thờ Chánh tòa Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và hai Thánh Tông đồ Philipphê và Giacôbê, ngày 06.11.2026

Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Uruguay, Argentina và Peru (6–17/11/2026)

Cử hành Giờ Kinh chiều với các giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ nam nữ và chủng sinh tại Nhà thờ Chánh tòa Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và hai Thánh Tông đồ Philipphê và Giacôbê, ngày 06.11.2026

*******

Vào lúc 19 giờ 30 (23 giờ 30 Roma), Đức Thánh Cha rời Tòa nhà José Artigas và đi bộ rồi sau đó di chuyển bằng xe golf đến Nhà thờ Chánh tòa Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và hai Thánh Tông đồ Philipphê và Giacôbê, đi qua Cổng Thành và Bảo tàng Lịch sử Cabildo de Montevideo.

Khi đến Bảo tàng Lịch sử, Đức Thánh Cha Lêô XIV dừng lại trong giây lát và được Thị trưởng thành phố Montevideo trao dâng chìa khóa thành phố Montevideo.

Đức Thánh Cha được đón chào tại lối vào Nhà thờ Chánh tòa bởi Đức Hồng y Daniel Fernando Sturla Berhouet, Tổng Giám mục Giáo phận Montevideo; Đức Giám mục Milton Luis Tróccoli Cebedio, Chủ tịch Hội đồng Giám mục Uruguay; và Linh mục Chánh xứ Nhà thờ Chánh tòa, Cha Juan González, người trao cho ngài Thánh Giá và nước thánh để ngài rảy.

Sau đó, ngài tiến vào Nhà nguyện Thánh Thể để cầu nguyện trong giây lát.

Tiếp đến, ngài dừng lại ít phút trước mộ Chân phước Jacinto Vera, vị Giám mục tiên khởi của Uruguay, rồi tiến vào phòng áo lễ. Sau đó, Đức Thánh Cha tiến lên bàn thờ theo lối đi giữa nhà thờ.

Sau lời chào mừng của Chủ tịch Hội đồng Giám mục Uruguay, trong cử hành Giờ Kinh chiều, Đức Thánh Cha đã giảng lễ.

Cuối lễ, sau khi ban phép lành và nghi thức tặng quà lưu niệm, Đức Thánh Cha Lêô XIV đi xuống dọc theo lối đi giữa về lại phòng áo, rồi rời nhà thờ qua cửa chính, lên xe và di chuyển về Tòa Khâm sứ Tòa Thánh.

Sau đây là bài giảng của Đức Thánh Cha trong buổi cử hành:


Bài giảng của Đức Thánh Cha


Anh chị em thân mến trong Đức Giêsu Kitô,

Thật là niềm vui lớn được cùng anh chị em cử hành giờ Kinh Chiều tại Nhà thờ Chánh tòa này, nơi lưu giữ biết bao ký ức về lịch sử của người dân. Trong đó có giếng rửa tội, nơi ngài José Gervasio Artigas chịu Phép rửa — một dấu chỉ cho thấy sự đóng góp phong phú của Giáo hội vào lợi ích của đất nước. Một đời sống mới đã bắt đầu đối với ngài từ lúc đó với tư cách là một người con của Thiên Chúa. Chúng ta cũng đã lãnh nhận cùng một ân sủng ấy trong đời mình. Qua Bí tích Rửa tội, Đức Kitô làm cho chúng ta được thông phần vào sự sống của Người và mời gọi chúng ta trở nên giống như Người, để chúng ta học cách nhìn, lắng nghe và yêu thương như Người.

Thánh vịnh mà chúng ta vừa hát chứa đựng một lời cảnh báo thật bất ngờ. Sau khi mô tả các ngẫu tượng bằng vàng và bạc là những sản phẩm do tay con người làm ra, Thánh vịnh nói: “Ước gì kẻ làm ra hoặc tin ở tượng thần, cũng giống như chúng vậy!” (Tv 135:18). Những người tạo nên các hình tượng đó cuối cùng lại trở nên giống như chúng. Tâm hồn con người cũng thế: từng bước một, nó sẽ mang hình dạng của điều mà nó yêu mến và đặt niềm tin tưởng vào. Đó là lý do tại sao Đức Giêsu nói với chúng ta: “Kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó” (Mt 6:21).

Chúng ta, những người đã phó thác đời mình cho Chúa, cần phải tự hỏi xem lòng chúng ta đang ở đâu. Đôi khi, nó có thể gắn bó với một công việc mà chúng ta xem là của riêng mình, với sự công nhận mà chúng ta nhận được, hoặc với sự an lòng đến từ việc kiểm soát được mọi sự. Một cách vô thức, chúng ta bắt đầu nhìn nhận người khác qua cái nhìn bắt nguồn từ những mối bận tâm ấy. Trung thành với ơn gọi đòi hỏi chúng ta phải luôn trở về với Chúa Giêsu Kitô; để Người trở thành kho tàng của chúng ta, là Đấng mà chúng ta khao khát được trở nên giống như Người.

Thánh vịnh nói tiếp rằng các ngẫu tượng “có mắt có miệng, không nhìn không nói, có hai tai mà chẳng thể nghe chi” (Tv 135:16–17). Chúng được làm bằng vàng và bạc, nhưng hoàn toàn thiếu vắng sự sống. Thiên Chúa mà chúng ta đặt trọn niềm tin tưởng thì vô cùng khác biệt! Ngài nhìn thấy nỗi đau khổ của dân Người và nghe tiếng họ kêu van. Đó là cách Người mặc khải chính mình cho ông Môsê nơi bụi gai bốc cháy: “Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta …, Ta đã nghe tiếng chúng kêu than” (Xh 3:7).

Khi Con Thiên Chúa làm người, lòng trắc ẩn thần linh ấy đã được biểu lộ qua một khuôn mặt nhân loại, với đôi mắt, đôi tai và đôi bàn tay giống như chúng ta. Đức Giêsu ngước nhìn ông Dakêu, đang ẩn mình trên những cành cây (x. Lc 19:5). Người lắng nghe Bartimê, ngay cả khi nhiều người muốn buộc anh phải im lặng (x. Mc 10:48–49). Người đưa tay chạm vào người mắc bệnh phong (x. Mc 1:41) và chúc phúc cho những trẻ thơ đến với Người (x. Mc 10:16). Ngài đã phán lời xua trừ quỷ dữ (x. Mc 1:25–26) và từ trên thập giá, Người lên tiếng xin tha thứ cho những kẻ hành hình Người (x. Lc 23:34). Đó chính là bản tính của Thiên Chúa chúng ta. Qua cuộc đời Đức Giêsu, chúng ta nhận biết Người nhìn chúng ta như thế nào và Người yêu thương chúng ta biết bao nhiêu (x. Ga 14:9).

Các anh em thân mến, qua anh em, Đức Kitô đã chạm đến nhiều người bằng tình yêu của Ngài. Đôi mắt anh em đã chứng kiến trọn vẹn các thế hệ lớn lên và nhận ra những giọt nước mắt rơi xuống không được ai nhìn thấy. Đôi tai anh em đã lắng nghe những lời xưng tội thật khó cất thành lời. Biết bao người đã bước vào tòa giải tội với tâm trạng sợ hãi và ra về trong niềm vui nhờ ơn tha thứ mà họ nhận được. Đôi bàn tay anh em cũng vậy: biết bao lần đã nâng cao Thân thể Chúa Kitô, chăm sóc người bệnh, chuẩn bị bữa ăn hoặc nâng đỡ những người không còn khả năng bước đi. Những bàn tay ấy đã mang sự dịu dàng của Thiên Chúa đến cho biết bao người qua đặc sủng của các hội dòng. Có những đôi tay mang dấu vết của tuổi tác và sự lao nhọc. Thật đẹp biết bao những bàn tay trở nên già nua vì làm việc thiện lành!

Có một sự biến đổi mà Chúa thực hiện nơi những người luôn gắn bó mật thiết với Người. Bài đọc ngắn đã nhắc nhở chúng ta rằng đức tin có trải qua thử thách mới sinh ra lòng kiên nhẫn (x. Gc 1:3). Việc trở nên giống như Đức Kitô cũng trưởng thành giữa những khó khăn, chẳng hạn khi công việc tưởng chừng không mang lại hoa trái, khi sức lực của chúng ta suy giảm, hay khi chúng ta phải bắt đầu lại từ đầu. Cuối cùng, lòng kiên nhẫn sẽ để lại dấu ấn của nó. Qua năm tháng, ánh mắt có thể trở nên giàu lòng thương xót hơn, đôi bàn tay sẵn sàng phục vụ nhiều hơn và lời nói có khả năng an ủi hơn nữa. Ước gì những thử thách luôn tìm thấy chúng ta đang kết hợp với Chúa Giêsu, để nhờ đó, chúng giúp chúng ta lớn lên trong tình yêu của Người.

Dưới những mái vòm của Nhà thờ Chánh tòa này là nơi an nghỉ của Chân phước Jacinto Vera. Trong ngôi mộ ấy, với niềm hy vọng vào sự phục sinh, là đôi chân từng rong ruổi trên khắp những nẻo đường Uruguay để đem Tin Mừng đến cho dân tộc mình; là đôi bàn tay chúc phúc, giúp đỡ người nghèo và cử hành các bí tích; là đôi tai đã lắng nghe biết bao lời xưng tội; và là đôi mắt đã nhận ra những người cần được giúp đỡ. Khi nhớ lại cách nói năng giản dị, thậm chí cả dáng đi của ngài, một nữ tu đã biết ngài trong nhiều năm để lại lời chứng này: “Chỉ cần nhìn ngài, dường như ngài lúc nào cũng đang cầu nguyện” (Positio, I, 154). Mối tương quan của ngài với Thiên Chúa đã định hình khuôn mặt, cử chỉ và cách ngài hiện diện giữa mọi người. Những ai đến gần ngài đều gặp gỡ được sự nhân hậu của Đức Kitô, ngay cả trước khi nghe ngài cất lời giảng dạy.

Anh chị em thân mến, một trong những bí quyết của công cuộc loan báo Tin Mừng là trở nên giống như Đấng mà chúng ta loan báo. Trên vùng đất này, nơi nhiều người đương thời hầu như không biết đến Đức Giêsu Kitô và rất nhiều người trẻ đã lớn lên xa rời đời sống Giáo hội, thì chứng tá ấy mang một sức mạnh đặc biệt. Ước mong cách chúng ta nhìn người khác, cách chúng ta lắng nghe hoặc cách chúng ta đưa tay nâng đỡ những người đau khổ thôi thúc họ tự hỏi đâu là nguồn cội của tình yêu ấy. Khi chúng ta nói với họ về Đức Giêsu, ước mong họ khám phá ra chính Chúa, Đấng mà lòng nhân hậu của Người được họ cảm nghiệm qua chúng ta, bất kể sự nghèo nàn của chính chúng ta.

Khao khát cho người khác nhận biết và bước theo Chúa Giêsu cũng được thể hiện qua lời cầu nguyện cho ơn gọi. Khi chủng viện liên giáo phận không có ứng sinh mới nào vào năm 2024, nhiều tín hữu đã bắt đầu quy tụ dành những ngày cầu nguyện và ăn chay, xin Chúa sai thợ ra đồng gặt lúa về (x. Mt 9:38). Kể từ đó, họ vẫn kiên trì cố gắng để những người khác cũng có thể nghe được tiếng Chúa gọi. Hôm nay, chúng ta dâng lời tạ ơn vì một số người trẻ đang hiện diện giữa chúng ta đã bắt đầu hành trình trong chủng viện và đời sống thánh hiến. Thật là niềm vui lớn khi biết rằng vẫn luôn có những sự đáp lời quảng đại trước tình yêu của Đức Kitô! Tôi chân thành cảm ơn những anh chị em đã ủng hộ sáng kiến này và khuyến khích anh chị em tiếp tục kiên trì. Hãy nhìn thấy nơi những hoa trái này bằng chứng rằng Thiên Chúa luôn lắng nghe lời cầu nguyện của dân Người.

Tôi hy vọng rằng kinh nghiệm này tại Uruguay sẽ vang vọng trong toàn thể Giáo hội. Từ Nhà thờ Chánh tòa Montevideo này, tôi mời gọi các anh em Giám mục trên khắp thế giới thúc đẩy những ngày cầu nguyện và ăn chay trong các giáo phận của mình để xin cho ơn gọi linh mục và đời sống thánh hiến được gia tăng. Ước mong các giáo xứ, các gia đình và cộng đoàn tu trì cùng hiệp nhất trong lời cầu nguyện này. Ước gì gương sáng của đất nước này khơi nguồn cảm hứng cho nhiều nơi khác cầu nguyện với cùng một niềm tín thác như vậy.

Các chủng sinh và tập sinh thân mến, hãy nhìn vào những người đã và đang bước đi trên con đường tự hiến. Hãy nhìn đôi bàn tay chai sần, tình yêu bền bỉ của họ và cách họ sống tương quan với Chúa Giêsu. Hãy học nơi họ sự mật thiết với Chúa. Với anh chị em đã trải qua nhiều năm trong thừa tác vụ hoặc đời sống thánh hiến, tôi xin anh chị em luôn trở về với những điều cốt lõi. Hãy trân trọng sự thinh lặng cầu nguyện, lắng nghe Lời Chúa và gặp gỡ Đức Kitô trong Bí tích Thánh Thể. Chính trong sự mật thiết ấy, tình yêu đã thúc đẩy anh chị em hiến dâng cuộc đời mình cho Người được đổi mới, và tâm hồn anh chị em ngày càng mang lấy những nét đặc trưng của trái tim Người.

Vẫn còn một hình ảnh trong Thánh vịnh mà tôi muốn nhắc lại. Thánh vịnh nói về các ngẫu tượng rằng “không có chút hơi thở nơi mồm miệng” (Tv 135:17). Trái lại, Chúa Phục Sinh đã thổi hơi trên các môn đệ và nói với họ: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20:22). Chính Thần Khí ấy ban sự sống cho thân phận bụi đất của chúng ta (x. St 2:7) và liên kết chúng ta trong một thân thể. Anh chị em hãy để Người hướng dẫn và làm mọi việc trong sự hiệp nhất của mối dây yêu thương, nhất là khi anh chị em thấy mình bị bao vây bởi muôn vàn thử thách (x. Gc 1:2). Ngay cả khi cách nhau rất xa, hãy nâng đỡ nhau và luôn trong sự hiệp thông với Đấng Kế vị Thánh Phêrô, người cũng rất cần đến sự nâng đỡ từ lời cầu nguyện của anh chị em.

Chỉ lát nữa, chúng ta sẽ hát bài ca Magnificat. Chính trong cung lòng Đức Trinh nữ Maria hình thành đôi mắt nhìn chúng ta với lòng thương xót, đôi tai lắng nghe lời khẩn cầu của chúng ta, và đôi bàn tay giang ra để cứu độ chúng ta. Xin Đức Mẹ Ba Mươi Ba giúp chúng ta luôn giữ tâm hồn gần gũi với Con của Mẹ, để đến khi nhắm mắt xuôi tay, chúng ta có thể nghe thấy tiếng Chúa gọi tên mình và vững tâm phó thác bản thân trong tay Người. Amen.


[Nguồn: vatican.va

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 07/11/2026]


Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV tại Uruguay, Argentina và Peru (6 – 17/11/2026) - Nghi thức đón tiếp tại Uruguay, cuộc gặp gỡ giới chức chính quyền, xã hội dân sự và ngoại giao đoàn, và chuyến thăm Tổng thống nước Cộng hòa Uruguay, 06.11.2026

Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV tại Uruguay, Argentina và Peru (6 – 17/11/2026) - Nghi thức đón tiếp tại Uruguay, cuộc gặp gỡ giới chức chính quyền, xã hội dân sự và ngoại giao đoàn, và chuyến thăm Tổng thống nước Cộng hòa Uruguay, 06.11.2026

Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV tại Uruguay, Argentina và Peru (6 – 17/11/2026)

Nghi thức đón tiếp tại Uruguay, cuộc gặp gỡ giới chức chính quyền, xã hội dân sự và ngoại giao đoàn, và chuyến thăm Tổng thống nước Cộng hòa Uruguay, 06.11.2026

*******

Vào lúc 18 giờ 10 (22 giờ 10 Roma), tại quảng trường gần lễ đài phía trước tòa nhà Edificio José Artigas, đã diễn ra cuộc gặp gỡ các giới chức chính quyền, xã hội dân sự và ngoại giao đoàn. Tham dự cuộc gặp có các nhà lãnh đạo chính trị và tôn giáo, giới doanh nhân, cùng đại diện các tổ chức xã hội dân sự và văn hóa.

Sau bài phát biểu của Ngài Yamandú Orsi, Tổng thống nước Cộng hòa Uruguay, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã đọc diễn văn của ngài.

Sau đó, Đức Thánh Cha và Tổng thống đi vào tòa nhà Edificio José Artigas qua Cầu thang chính, lên tầng hai để thực hiện chuyến thăm xã giao.

Sau khi chụp ảnh chính thức tại Salón Rojo và nghi thức tặng quà tại Salón de los Espejos, cuộc gặp riêng và phần giới thiệu gia đình đã diễn ra tại cùng hội trường này.

Kết thúc cuộc gặp riêng, Đức Thánh Cha và Tổng thống tiến sang phòng Salón Rojo để giới thiệu các phái đoàn của hai bên.

Tiếp đó, Đức Thánh Cha đi xuống cầu thang chính và tiến đến lễ đài, nơi ngài ngỏ lời chào ngắn gọn với những người đang hiện diện tại quảng trường. Sau đó, ngài đi bộ và di chuyển bằng bằng xe golf đến Nhà thờ Chánh tòa Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và các Thánh Philipphê và Giacôbê.

Sau đây là bài diễn văn của Đức Thánh Cha trước những người hiện diện trong cuộc gặp gỡ giới chức chính quyền, xã hội dân sự và ngoại giao đoàn:


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Kính thưa Ngài Tổng thống nước Cộng hòa,
Thưa quý giới chức chính quyền và các thành viên ngoại giao đoàn,
Thưa quý bà và quý ông,

Với niềm hân hoan, tôi đón nhận lời mời thân tình đến thăm đất nước Uruguay này. Tôi xin cảm ơn Ngài Tổng thống vì những lời chào mừng và sự hiếu khách mà ngài đã dành cho tôi. Tôi xin chào các vị đại diện của những cơ quan thuộc nước Cộng hòa đang hiện diện tại đây, cùng các đại diện của những quốc gia có quan hệ ngoại giao với đất nước này.

Trong cuộc gặp gỡ đầu tiên của chúng ta, tôi xin gửi lời chào thân ái đến toàn thể người dân Uruguay, dù họ đang ở bất cứ nơi nào. Trong những ngày tới, tôi sẽ có niềm vui được ghé thăm nhiều địa danh khác nhau của đất nước, được tiếp xúc với lịch sử và gặp gỡ những người nam người nữ đang góp phần vào đời sống dân tộc theo nhiều cách thức khác nhau. Trong số những địa danh ấy, Florida giữ một vị trí đặc biệt, bởi đó là nơi tôn kính Đức Mẹ Ba Mươi Ba, Bổn mạng của Uruguay. Khi bắt đầu chuyến tông du, tôi xin phó thác tất cả những người tôi sẽ gặp gỡ trên hành trình dưới sự che chở của Mẹ. Sự hiện diện của Mẹ đã đồng hành với một chương sử quyết định của dân tộc và tiếp tục liên kết các thế hệ rất khác nhau của người dân Uruguay.

Trang sử ấy còn bao hàm một biến cố khác mà tôi muốn nhắc đến tại đây. Tôi đang nghĩ về Cuộc xuất hành của người dân Miền Đông vào năm 1811, còn được biết đến với tên gọi La Redota. Chúng ta không cần phải đi đâu xa để nhớ lại biến cố này, vì đài tưởng niệm Artigas ở trung tâm quảng trường có một phù điêu bằng đồng trên bệ tượng, trong đó nghệ sĩ Angelo Zanelli đã khắc họa những cảnh tượng của biến cố ấy. Tôi muốn tập trung vào một vài chi tiết trong những hình tượng này, bởi chúng mang lại một điểm khởi đầu cụ thể để suy tư về Uruguay ngày nay.

Trên đỉnh đài tưởng niệm, người anh hùng Artigas xuất hiện một mình, trên lưng ngựa. Xuống thấp hơn, trên bức phù điêu phía trước, ông lại xuất hiện giữa những người thuộc quyền, được bao quanh bởi đám đông. Chi tiết này gợi nhớ đến những lời ông nói không lâu sau đó trước các đại diện của các Tỉnh miền Đông nhóm họp tại Đại hội tháng Tư năm 1813: “Thẩm quyền của tôi,” ông nói, “phát xuất từ quý vị, và chấm dứt trước sự hiện diện tối thượng của quý vị” (Diễn văn khai mạc, Văn khố Artigas, tập XI, tài liệu số 82). Chỉ trong một câu nói, ngài Artigas đã đề cập đến nguồn gốc của quyền bính và trách nhiệm của những người thực thi quyền bính ấy: quyền bính được trao từ một cộng đồng cụ thể và phải chịu trách nhiệm trước chính cộng đồng đó.

Năm 2025 đánh dấu bốn thập niên dân chủ liên tục tại Uruguay, trong đó các chính phủ khác nhau đã lần lượt kế nhiệm theo ý chí của người dân. Quyền bính công tìm thấy lý do tồn tại của mình trong việc phục vụ công ích và được mời gọi thực thi quyền bính ấy trong khuôn khổ pháp luật, đồng thời tôn trọng tự do và trách nhiệm của nhân dân (x. Gaudium et Spes, 74). Chính vì thế, những cơ cấu cho phép sự tham gia vào đời sống công cộng, xác định rõ quyền hạn của các cơ quan và các định chế, và việc tuyển chọn những người gánh vác trách nhiệm quản trị có một giá trị đặc biệt (x. sđd., 75).

Công ích còn bao hàm bổn phận chuyển giao cho các thế hệ tương lai những tài sản mà chính chúng ta đã đón nhận. Như vị tiền nhiệm của tôi là Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nhận định: “Khái niệm công ích cũng mở rộng đến các thế hệ tương lai” (Laudato Si’, 159). Trách nhiệm này được thể hiện qua những quyết định liên quan đến việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và năng lượng. Trong những thập niên gần đây, Uruguay đã chuyển đổi sâu rộng hệ thống lưới điện quốc gia, đến nay gần như hoàn toàn dựa vào các nguồn năng lượng tái sinh. Đây là một thành tựu đáng ghi nhận đòi hỏi những quyết định kiên trì qua nhiều năm và sự tham gia của nhiều thành phần khác nhau trong đất nước. Bước tiến này hiện cũng đặt ra những thách thức mới trong các lĩnh vực giao thông vận tải, sản xuất và việc sử dụng có trách nhiệm đối với đất đai, nguồn nước cũng như năng lượng. Hoạch định những chương trình dài hạn đòi hỏi khả năng quản lý các nguồn tài nguyên này mà không làm tổn hại đến những tiềm năng trong tương lai.

Mối quan tâm đến tương lai cũng bao hàm cả những con người cư ngụ trên mảnh đất này, những điều kiện trong đó họ được sinh ra và lớn lên, cũng như những cơ hội họ sẽ gặp được trong suốt cuộc đời. Những xu hướng nhân khẩu học của Uruguay khiến mối quan tâm đó trở nên đặc biệt cấp thiết. Một trong những bức phù điêu trên đài tưởng niệm phác họa hình ảnh một người phụ nữ đang ẵm một đứa trẻ trong vòng tay. Bà ôm đứa trẻ sát vào lòng trong khi đoàn người tiến bước xung quanh bà.

Cử chỉ che chở ấy mời gọi chúng ta suy tư về sự sống vừa được hình thành, cũng như sự sống đang phát triển trong cung lòng người mẹ. Những thai nhi đã thuộc về gia đình nhân loại và tương lai của dân tộc. Sự lệ thuộc hoàn toàn của chúng vào người mẹ không làm giảm bớt phẩm giá mà các bé có quyền được hưởng hoặc sự bảo vệ mà các bé đáng được nhận. Việc đón nhận một sự sống mới đòi hỏi người cha phải gánh vác trách nhiệm cùng với người mẹ, gia đình phải có sự nâng đỡ, và xã hội phải tạo ra những điều kiện để cho phép cả người cha lẫn người mẹ có thể nuôi dưỡng và chăm sóc con cái của họ. Việc bảo vệ thai nhi và hỗ trợ những người đón nhận các em là hai điều không thể tách rời. Gia đình vẫn là môi trường đầu tiên, nơi mỗi người được chào đón và học cách sống với người khác. Thánh Gioan Phaolô II, người cũng đã có được niềm vui đến thăm miền đất này, đã diễn tả điều đó bằng một câu nói vẫn giữ nguyên sức mạnh ban đầu: “Tương lai của nhân loại đi qua con đường gia đình” (Familiaris Consortio, 86).

Ở một phần khác của bức phù điêu, chúng ta thấy những trẻ em đang bước đi bên cạnh người lớn. Trẻ em là một phần của cộng đồng ngay cả trước khi chúng có thể chia sẻ các quyết định hoặc đóng góp cho cộng đồng bằng sức lao động của chúng. Những em nhỏ đang bước đi bên cạnh người lớn rồi sẽ đến một ngày được ủy thác trách nhiệm thúc đẩy đời sống cộng đồng tiến lên. Việc chăm sóc những thành viên nhỏ tuổi nhất trong xã hội nhất thiết phải bao gồm việc bảo đảm cho các em được hưởng một nền giáo dục phù hợp. Mái ấm gia đình nơi trẻ em lớn lên, nguồn dinh dưỡng các em nhận được và sự hiện diện của những người lớn đồng hành với các em sẽ định hình những năm tháng đầu đời; giáo dục tiếp nối công việc này, phát triển các năng lực của trẻ em, hình thành khả năng phán đoán và chuẩn bị cho các em tham gia một cách tự do và có trách nhiệm vào đời sống xã hội (x. Gravissimum Educationis, 1).

Giáo dục cũng phải mang lại những cơ hội cụ thể để bước vào thị trường lao động, vận dụng thành quả học tập vào thực tiễn và đạt được sự tự chủ cá nhân bằng chính nỗ lực của bản thân. Vì thế, lao động là một trong những cơ cấu giúp mỗi người phát triển năng lực của bản thân và đóng góp vào thiện ích của người khác. Thiết tưởng nên nhắc lại rằng “lao động là ‘vì con người’ chứ không phải con người ‘vì lao động’” (Thánh Gioan Phaolô II, Laborem Exercens, 6). Nguyên tắc này vẫn giữ nguyên tính thời sự trước những thay đổi nhanh chóng của công nghệ và trí tuệ nhân tạo. Việc phát triển các công nghệ này phải mở rộng năng lực của con người, tạo thuận lợi cho công việc và mở ra những khả năng mới, đồng thời bảo đảm người lao động không bị biến thành một răng bánh xe đơn thuần có thể thay thế trong tiến trình sản xuất.

Trong số những hình tượng trên đài tưởng niệm, chúng ta còn tìm thấy một phụ nữ lớn tuổi, lưng còng, chống gậy và bước đi khó khăn. Xung quanh một chiếc xe ngựa, nhiều người tụ tập và vươn tay về phía nhau; một số người dường như quan tâm đến việc giúp đỡ người khác hơn là chỉ lo công việc riêng của mình. Những người cần được giúp đỡ và nâng đỡ để có thể tiếp tục cũng là một phần của cộng đồng ấy. Vị trí của họ trong cộng đồng không phụ thuộc vào sức lực, sự tự lực hay khả năng đóng góp của họ. Ngày nay cũng vậy, giá trị của con người không thể được đo lường bằng những gì họ sản xuất, bằng lao động hay khả năng tự xoay xở của họ. “Vì thế, phẩm giá căn bản của mỗi người không đạt được hay kiếm được, cũng không cần phải được biện minh” (Magnifica Humanitas, 53).

Bức phù điêu bằng đồng khắc họa những khuôn mặt và cử chỉ, nhưng không nói cho chúng ta biết mỗi người mang theo những tâm tư gì trong lòng khi bước đi giữa những người khác. Ngày nay, chúng ta có thể sống cuộc đời mình giữa những người xung quanh, tại nơi làm việc, trên phố xá, hoặc ngay trong chính ngôi nhà của mình, nhưng vẫn không nhận ra những gánh nặng mà người khác đang phải mang vác. Sự cô đơn, ưu phiền và sự mất hy vọng có thể trở nên sâu sắc đến mức một người không còn nhìn thấy lý do để tiếp tục sống. Trước thực tế đau thương của nạn tự tử, rõ ràng là việc chăm sóc y tế đầy đủ, các mối dây liên kết gia đình, và sự gần gũi của cộng đồng là những điều không thể tách rời. Không một ai phải cảm thấy mình là người xa lạ giữa chính những người thân thuộc, hoặc nghĩ rằng sự vắng mặt của mình chẳng có ý nghĩa nhiều hơn sự hiện diện của mình.

Những hình thức đau khổ khác có thể được nhìn thấy qua bệnh tật hay điều kiện sống thiếu thốn. Bệnh tật, khuyết tật, đau đớn thể xác, mất khả năng tự chủ, nghèo khó, thất nghiệp hoặc bị gạt ra bên lề xã hội có thể khiến nhu cầu được người khác trợ giúp trở nên đặc biệt cần thiết. Gần đây, chính tôi đã trực tiếp trải nghiệm những giới hạn do bệnh tật gây ra và đã nhận được sự chăm sóc mà tôi vô cùng biết ơn. Trải nghiệm đó khiến tôi nghĩ đến biết bao người nam người nữ đang thiếu thốn những phương tiện để được chẩn đoán bệnh kịp thời hoặc nhận được các phương pháp điều trị cần thiết. Bảo đảm để mọi người đều có thể tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khỏe, bất kể khả năng tài chính của họ, là một nghĩa vụ đặt ra trước mọi xã hội. Những người đang đối mặt với bất kỳ hoàn cảnh nào kể trên vẫn luôn là những thành viên trọn vẹn của xã hội, và sự sống của họ cũng không vì thế mà mất đi bất cứ giá trị nào. Chính trong những hoàn cảnh như thế, sự yếu đuối của họ càng làm cho việc họ nhận được sự trợ giúp, nguồn lực, và sự hỗ trợ cần thiết trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Chăm sóc những người đau khổ là trách nhiệm thuộc về toàn thể gia đình nhân loại. Đối với Giáo hội, bổn phận này tìm thấy nền tảng đặc biệt trong lệnh truyền của Đức Kitô trong việc nhận biết và phục vụ Người nơi những người túng thiếu nhất (x. Mt 25:40). Như Đức Bênêđictô XVI đã lưu ý, “thước đo thực sự của nhân tính về bản chất được xác định trong mối tương quan với sự đau khổ và với người chịu đau khổ” (Thông điệp Spe Salvi, 38). Do đó, trách nhiệm của mọi người là bảo đảm sao cho mỗi cá nhân có thể sống xứng với phẩm giá, nhận được sự chăm sóc cần thiết, và được đồng hành cho đến khi kết thúc cuộc đời cách tự nhiên.

Thông qua các giáo phận và cộng đoàn, cũng như qua đông đảo những người tận tụy phục vụ tha nhân, Giáo hội mong muốn cộng tác với tất cả những người đang nỗ lực xoa dịu nỗi đau khổ bất cứ khi nào có thể, và nâng đỡ từng người trong những trường hợp không thể loại bỏ khổ đau. Đóng góp vào nỗ lực chung này, Giáo hội mang đến điều đặc thù của mình: niềm hy vọng không phai tàn ngay cả khi các nguồn lực của con người đã chạm đến giới hạn, và nhắc nhở những người đang trải qua thử thách rằng cuộc đời họ luôn giữ nguyên ý nghĩa và giá trị, rằng họ không đơn độc, và rằng ngay cả trong những thời khắc tăm tối, họ vẫn luôn được Thiên Chúa yêu thương.

Đoàn người bước đi bên cạnh ngài Artigas quy tụ những con người từ những nguồn gốc vô cùng đa dạng. Trên bức phù điêu, một người phụ nữ ăn mặc sang trọng đi phía sau một chiếc xe ngựa, trong khi những người khác dắt gia súc hoặc mang vác hành lý của họ. Những khác biệt ấy cũng là một phần trong lịch sử Uruguay, nơi các thế hệ nam nữ thuộc nhiều nguồn gốc và hoàn cảnh xã hội khác nhau đã cùng nhau xây dựng đất nước này thành một quê hương chung.

Những con người thuộc cùng một cộng đồng có thể đến từ những nguồn gốc rất khác nhau và có những nguồn lực không đồng đều. Xét cho cùng, cách tổ chức và điều hành nền kinh tế có tác động trực tiếp đến điều kiện sống của người dân cũng như khả năng định hình tương lai của họ. Việc tạo ra của cải, đầu tư và sáng kiến kinh tế — cả trong khu vực công lẫn tư nhân — đều cần thiết cho sự phát triển của một quốc gia; tuy nhiên, những lợi ích của chúng cũng phải được chuyển hóa thành của cải và cơ hội thực sự đến được với mọi người, bởi vì “chính các cá nhân mới là quan trọng, từng người cùng với gia đình của họ” (Thông điệp Magnifica Humanitas, 58).

Việc chung sống giữa những người có nguồn gốc và truyền thống khác nhau là một phần của lịch sử Uruguay. Tính đa nguyên đó được thể hiện qua các niềm tin và xác tín của các công dân ngày nay. Tính cách thế tục của Nhà nước bao hàm nghĩa vụ bảo đảm rằng có không gian cho người có tín ngưỡng và người không tín ngưỡng cùng chung sống trong tự do và tôn trọng lẫn nhau. Tính trung lập này không đòi hỏi chiều kích tôn giáo phải bị giới hạn trong phạm vi riêng tư. Như Công hội Vaticanô II dạy, không ai bị cưỡng bách hành động trái với lương tâm của mình hoặc bị ngăn cản hành động theo lương tâm, dù là trong đời sống riêng tư hay công khai, với tư cách cá nhân hay liên kết với người khác, trong những giới hạn chính đáng (x. Tuyên ngôn Dignitatis Humanae, 2–3). Trên nền tảng của quyền tự do này, các cá nhân và cộng đồng tôn giáo có thể đóng góp vào công ích trong khi vẫn tôn trọng tính tự trị của các định chế dân sự.

Sự tôn trọng và chung sống hòa hợp được vun đắp trong một quốc gia cũng phải hướng dẫn mối quan hệ của quốc gia đó với các dân tộc khác. Chính Hiến pháp Uruguay quy định rằng, trong các hiệp ước quốc tế, nước Cộng hòa phải tìm cách giải quyết những tranh chấp thông qua trọng tài hoặc các phương thức hòa bình khác, và sẽ thúc đẩy sự hội nhập xã hội và kinh tế giữa các quốc gia Mỹ Latinh (x. Điều 6). Việc thành phố Montevideo đồng thời là nơi đặt trụ sở Ban Thư ký Mercosur là sự thể hiện cụ thể cho cam kết thúc đẩy những cơ hội hiểu biết và hợp tác trong khu vực. Trong một thời đại mà những khác biệt có thể dễ dàng trở thành nguồn gốc của xung đột, việc kiên trì tôn thảo và kiên nhẫn tìm kiếm các thỏa thuận là một sự phục vụ mà Uruguay có thể tiếp tục cống hiến cho các nước láng giềng.

Trước khi kết luận, tôi xin trở lại với cuộc diễu hành được phác họa ở trung tâm quảng trường này. Biến cố Redota giữ một vị trí độc đáo trong ký ức của người dân Uruguay: biến cố này tưởng niệm một dân tộc trải qua thử thách, một dân tộc buộc phải bỏ lại đằng sau phần lớn những gì họ sở hữu và nỗ lực giữ vững sự đoàn kết giữa những bất định.

Các bức phù điêu trên đài tưởng niệm trải rộng trên cả bốn mặt của bệ tượng. Từ bất kỳ vị trí quan sát nào, chúng ta cũng chỉ có thể nhìn thoáng thấy một phần của đoàn người ấy. Để khám phá những phần còn lại, chúng ta phải tiến lại gần hơn, đi xung quanh nó và dừng ánh mắt trên từng hình tượng. Dân tộc Uruguay được tỏ lộ khi chiêm ngưỡng toàn bộ tác phẩm. Giữa đám đông những hình tượng ấy, chúng ta có thể nhận ra một yếu tố bền vững trong đời sống của Uruguay: trách nhiệm của mỗi người đối với người khác, điều đã cho phép những con người thuộc nhiều thế hệ và hoàn cảnh khác nhau kiên trì xây dựng một lịch sử chung.

Tôi đến với đất nước Uruguay trong tư cách là Người Kế vị Thánh Phêrô và là một mục tử, với ước muốn được gặp gỡ Giáo hội lữ hành trên mảnh đất này và được đến gần với tất cả người dân của đất nước bằng tình cảm trìu mến. Mối quan hệ giữa Tòa Thánh và Uruguay đã có từ những năm đầu tiên khi đất nước giành được độc lập. Trong bối cảnh đó, vị Tiền nhiệm của tôi, Đức Giáo hoàng Grêgôriô XVI, đã xác định quyền hạn của Linh mục Dámaso Antonio Larrañaga và bổ nhiệm ngài làm Đại diện Tông tòa của Nước Cộng hòa qua một Tông thư ngắn (Apostolic Brief) đề ngày 14 tháng 8 năm 1832. Hành động mang tính Giáo hội này cũng được diễn giải như một sự công nhận ngầm về nền độc lập của quốc gia miền Đông mới, vào thời điểm đất nước đang nỗ lực củng cố vị thế của mình giữa các quốc gia.

Với lịch sử đức tin và sự phục vụ trải dài qua nhiều thế kỷ, Giáo hội mong muốn tiếp tục cống hiến cho người dân Uruguay những gì chính Giáo hội đã lãnh nhận — Đức Giêsu Kitô và niềm hy vọng được loan báo bởi Tin Mừng của Người — đồng thời qua sứ mạng riêng của mình, cộng tác với tất cả những ai đang nỗ thúc đẩy công ích và phẩm giá của mỗi người.

Ước mong những ngày này cho phép chúng ta củng cố những gì liên kết chúng ta và khơi dậy niềm tin tưởng mà nhờ đó chúng ta có thể đối diện với những khó khăn và chuẩn bị cho những gì ở phía trước. Xin Thiên Chúa ban phúc lành cho Uruguay, và xin Đức Trinh nữ Maria Diễm phúc, Đấng mà dân tộc này đã phó dâng mình vào thời điểm khai sinh đất nước, tiếp tục đồng hành cùng dân tộc trong suốt dòng lịch sử.

Xin chân thành cảm ơn quý vị.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 07/11/2026]