Thứ Bảy, 25 tháng 12, 2021

Sứ điệp Ngày Thế giới Hòa bình lần thứ 55 của Đức Thánh Cha Phanxicô (1 tháng Một năm 2022), 21.12.2021

Sứ điệp Ngày Thế giới Hòa bình lần thứ 55 của Đức Thánh Cha Phanxicô(1 tháng Một năm 2022), 21.12.2021

Sứ điệp Ngày Thế giới Hòa bình lần thứ 55 của Đức Thánh Cha Phanxicô (1 tháng Một năm 2022), 21.12.2021

*****

Đối thoại giữa các thế hệ, giáo dục và việc làm:

những công cụ xây dựng hòa bình dài lâu


1. “Đẹp thay trên đồi núi bước chân người công bố bình an” (Is 52:7).

Những lời của tiên tri Isaia nói về sự an ủi; chúng cất lên tiếng thở dài nhẹ nhõm của một dân tộc lưu đày, mệt mỏi vì bạo lực và áp bức, đứng trước sự nhục nhã và cái chết. Tiên tri Barúc đã thắc mắc: “Vì đâu, Ít-ra-en hỡi, vì đâu ngươi phải nương thân trên đất thù địch, phải mòn hao nơi xứ lạ quê người? Vì đâu ngươi bị nhiễm uế giữa đám thây ma, phải nằm chung với những người ở trong âm phủ?” (3:10-11). Đối với dân tộc Israel, sự xuất hiện của người công bố bình an mang ý nghĩa của lời hứa về sự tái sinh từ đống đổ nát của lịch sử, khởi đầu cho một tương lai tươi sáng.

Ngày nay, con đường hòa bình, mà Thánh Phaolô VI gọi bằng cái tên mới là sự phát triển toàn diện, [1] thật đáng buồn vẫn còn xa cách với cuộc sống thực tế của nhiều người và do đó còn xa cách đối với gia đình nhân loại chúng ta hoàn toàn được liên kết với nhau ngày nay. Cho dù đã có nhiều nỗ lực hướng đến việc đối thoại xây dựng giữa các quốc gia, tiếng ồn ào điếc tai của chiến tranh và xung đột đang ngày càng gia tăng. Trong khi các căn bệnh theo tỷ lệ đại dịch đang lan rộng, tác động của biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường ngày càng trầm trọng, thảm cảnh đói khát ngày càng gia tăng, và mô hình kinh tế theo chủ nghĩa cá nhân tiếp tục thắng thế thay vì sự liên đới. Cũng như trong thời kỳ của các tiên tri xưa, trong thời đại của chúng ta, tiếng kêu của người nghèo và tiếng kêu của trái đất [2] liên tục vang lên, nài xin công lý và hòa bình.

Trong mọi thời đại, hòa bình vừa là món quà từ Thiên Chúa vừa là kết quả của sự cam kết chung. Thật vậy, chúng ta có thể nói về một “kiến trúc” của hòa bình, trong đó các cơ cấu khác nhau của xã hội đóng góp phần của mình, và một “nghệ thuật” hòa bình liên quan trực tiếp đến mỗi người trong chúng ta. [3] Tất cả có thể cùng nhau hợp tác để xây dựng một thế giới hòa bình hơn, bắt đầu từ tâm hồn của các cá nhân và những mối tương quan trong gia đình, sau đó là trong xã hội và với môi trường, và từ đó dẫn đến mối quan hệ giữa các dân tộc và quốc gia.

Ở đây, tôi muốn đề xuất ba con đường để xây dựng một nền hòa bình lâu dài. Thứ nhất, đối thoại giữa các thế hệ làm nền tảng cho việc hiện thực hóa những dự án chung. Thứ hai, giáo dục như một yếu tố của tự do, trách nhiệm và phát triển. Cuối cùng, lao động như một phương tiện để nhận thức đầy đủ phẩm giá của con người. Đây là ba yếu tố không thể thiếu để “có thể tạo ra một giao ước xã hội”, [4] mà nếu không có nó thì mọi dự án hòa bình đều trở nên vô ích.


2. Đối thoại giữa các thế hệ để xây dựng hòa bình

Trong một thế giới vẫn còn bị khống chế bởi đại dịch đã tạo ra những vấn đề không kể xiết, “một số người tìm cách trốn chạy khỏi thực tế, ẩn mình trong thế giới nhỏ bé của riêng họ; những người khác phản ứng với nó bằng bạo lực tàn phá. Tuy nhiên, giữa sự thờ ơ ích kỷ và sự phản kháng bằng bạo lực luôn có một lựa chọn khả thi khác: đó là đối thoại. Đối thoại giữa các thế hệ”.[5]

Tất cả các cuộc đối thoại trung thực, ngoài việc trao đổi những quan điểm đúng đắn và tích cực, còn đòi hỏi sự tin tưởng căn bản giữa những người tham gia. Chúng ta cần học cách lấy lại sự tin tưởng lẫn nhau này. Cuộc khủng hoảng sức khỏe hiện tại đã làm gia tăng cảm giác bị cô lập và khuynh hướng chỉ quan tâm đến bản thân. Sự cô đơn của người cao tuổi tương tự như cảm giác bơ vơ và thiếu tầm nhìn chung về tương lai nơi người trẻ. Cuộc khủng hoảng thực sự rất đau đớn, nhưng nó cũng giúp thể hiện những điều tốt đẹp nhất nơi con người. Thật vậy, trong đại dịch, chúng ta đã bắt gặp những tấm gương quảng đại của lòng nhân ái, chia sẻ và liên đới ở khắp nơi trên thế giới.

Đối thoại đòi hỏi sự lắng nghe lẫn nhau, chia sẻ quan điểm khác nhau, đi đến sự đồng thuận và cùng nhau bước đi. Thúc đẩy sự đối thoại như vậy giữa các thế hệ bao gồm việc phá bỏ mảnh đất cằn cỗi và chai cứng của xung khắc và thờ ơ để gieo những hạt giống của một nền hòa bình dài lâu và chia sẻ.

Mặc dù sự phát triển công nghệ và kinh tế có xu hướng tạo ra sự chia rẽ giữa các thế hệ, nhưng những khủng hoảng hiện tại cho chúng ta thấy nhu cầu cấp bách về sự cộng tác liên thế hệ. Người trẻ cần sự khôn ngoan và kinh nghiệm của người già, còn người già cần sự hỗ trợ, tình cảm, sự sáng tạo và năng động của người trẻ.

Những thách thức to lớn của xã hội và các tiến trình hòa bình đòi hỏi tất yếu việc đối thoại giữa những người lưu giữ ký ức – người già – và những người làm cho lịch sử chuyển động – người trẻ. Mỗi người phải sẵn sàng dành chỗ cho người khác và không khăng khăng giữ độc quyền toàn cảnh bằng cách theo đuổi lợi ích trước mắt của riêng mình, như thể không có quá khứ và tương lai. Cuộc khủng hoảng toàn cầu mà chúng ta đang trải qua cho thấy rõ rằng sự gặp gỡ và đối thoại giữa các thế hệ phải là động lực thúc đẩy một nền chính trị lành mạnh, nó không có nghĩa là bằng lòng với việc giải quyết hiện tại “bằng các giải pháp từng phần hoặc những sửa chữa nhanh chóng”, [6] mà xem đó như một hình thức nổi bật của tình yêu đối với người khác, [7] trong việc tìm kiếm các dự án chung và bền vững cho tương lai.

Giữa những khó khăn, nếu chúng ta có thể thực hiện cách đối thoại liên thế hệ này, “chúng ta có thể bám rễ vững chắc vào hiện tại, và từ đây, nhìn lại quá khứ và hướng về tương lai. Nhìn lại quá khứ để học từ lịch sử và chữa lành những vết thương cũ mà đôi lúc vẫn làm chúng ta phiền toái. Nhìn về tương lai để nuôi dưỡng lòng hăng hái của chúng ta, làm cho những giấc mơ trổi lên, đánh thức những lời tiên tri và khiến niềm hy vọng trổ hoa. Cùng nhau, chúng ta có thể học hỏi lẫn nhau”. [8] Vì không có gốc rễ, làm sao cây cối sinh trưởng và kết trái?

Chúng ta chỉ cần nghĩ đến việc chăm sóc cho ngôi nhà chung. Trên thực tế, môi trường “là một khoản vay cho từng thế hệ, sau đó phải chuyển giao nó cho thế hệ tiếp nối”. [9] Chúng ta phải trân trọng và động viên tất cả những người trẻ tuổi làm việc cho một thế giới công bằng hơn, một thế giới cẩn trọng bảo vệ tạo vật được giao phó cho chúng ta quản lý. Họ làm việc này với sự thao thức, nhiệt tình và trên hết là tinh thần trách nhiệm trước sự thay đổi phương hướng cấp bách [10] do sự đòi hỏi của những thách thức nảy sinh từ cuộc khủng hoảng đạo đức và môi trường xã hội hiện nay. [11]

Mặt khác, cơ hội để cùng nhau xây dựng những con đường hòa bình không thể bỏ qua giáo dục và lao động, vốn là những nền tảng và bối cảnh đặc thù cho sự đối thoại giữa các thế hệ. Giáo dục cung cấp quy tắc ngôn ngữ để đối thoại giữa các thế hệ, và trong kinh nghiệm lao động, con người thuộc các thế hệ khác nhau tìm thấy mình có khả năng hợp tác và chia sẻ chuyên môn, kinh nghiệm và kỹ năng vì lợi ích chung.


3. Giảng dạy và giáo dục như những động lực của hòa bình

Trong những năm gần đây, có sự giảm sút đáng kể nguồn tài trợ cho giáo dục và đào tạo trên toàn thế giới; chúng được coi là những khoản chi tiêu nhiều hơn là đầu tư. Tuy nhiên, chúng là phương tiện chính để thúc đẩy sự phát triển toàn diện của con người; chúng làm cho các cá nhân trở nên tự do hơn và có trách nhiệm hơn, và chúng rất cần thiết cho việc bảo vệ và thúc đẩy hòa bình. Nói tóm lại, giảng dạy và giáo dục là nền tảng của một xã hội dân sự gắn kết có khả năng tạo ra niềm hy vọng, sự thịnh vượng và tiến bộ.

Mặt khác, các khoản chi tiêu quân sự đã tăng vượt quá mức vào cuối thời kỳ Chiến tranh Lạnh và dường như chúng chắc chắn sẽ tăng lên cách thái quá. [12]

Do đó, đã đến lúc các chính phủ phát triển những chính sách kinh tế nhằm đảo ngược tỷ lệ ngân quỹ công dành cho giáo dục và trang bị vũ khí. Chỉ có cách theo đuổi một tiến trình giải trừ quân bị quốc tế thật sự mới có thể mang lại ích lợi cho sự phát triển của các dân tộc và quốc gia, giải phóng các nguồn tài chính để sử dụng tốt hơn cho việc chăm sóc sức khỏe, trường học, cơ sở hạ tầng, chăm sóc đất đai, v.v..

Tôi hy vọng rằng đầu tư vào giáo dục cũng sẽ đi kèm với những nỗ lực lớn hơn để thúc đẩy văn hóa chăm sóc [13], để có thể trở thành một ngôn ngữ chung phá bỏ những rào cản và xây dựng cầu nối trước những chia rẽ xã hội và các cơ quan hoạt động không hiệu quả. “Một quốc gia hưng thịnh khi việc đối thoại xây dựng diễn ra giữa nhiều thành phần văn hóa phong phú của nó: văn hóa đại chúng, văn hóa đại học, văn hóa thanh niên, văn hóa nghệ thuật, văn hóa công nghệ, văn hóa kinh tế, văn hóa gia đình và văn hóa truyền thông”. [14] Do đó, điều cần thiết là phải rèn giũa một mô hình văn hóa mới thông qua “một khế ước toàn cầu về giáo dục cho và với các thế hệ tương lai, một khế ước trong đó các gia đình, cộng đồng, trường học, đại học, các tổ chức, tôn giáo, chính phủ và toàn bộ gia đình nhân loại cam kết tham gia vào việc đào tạo những con người trưởng thành”. [15] Một khế ước có thể thúc đẩy giáo dục trong hệ sinh thái toàn diện, theo một mô hình văn hóa hòa bình, phát triển và bền vững tập trung vào tình huynh đệ và giao ước giữa con người và môi trường. [16]

Qua việc đầu tư vào giáo dục và đào tạo các thế hệ trẻ, chúng ta có thể giúp họ – thông qua một chương trình đào tạo trọng tâm – có được vị trí xứng đáng trên thị trường lao động. [17]


4. Tạo ra và bảo đảm việc làm giúp xây dựng hòa bình

Lao động là nhân tố không thể thiếu trong việc xây dựng và gìn giữ hòa bình. Đó là cách thể hiện bản thân và những tài năng của chúng ta, nhưng cũng là sự cam kết, tự đầu tư và hợp tác của chúng ta với người khác, vì chúng ta luôn làm việc với hoặc cho người nào đó. Nhìn ở góc độ xã hội rõ ràng này, nơi làm việc giúp chúng ta học biết cách đóng góp cho một thế giới tươi đẹp và đáng sống hơn.

Đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường lao động vốn đã phải đối mặt với nhiều thách thức. Hàng triệu hoạt động kinh tế và sản xuất đã thất bại; người lao động ngắn hạn ngày càng dễ bị tổn thương; nhiều người cung cấp các dịch vụ thiết yếu thậm chí ít được công chúng và giới chính trị coi trọng; và trong nhiều trường hợp, việc dạy học từ xa đã dẫn đến tình trạng học bị hụt hẫng và chậm hoàn thành các chương trình học. Ngoài ra, những người trẻ tham gia thị trường việc làm và những người trưởng thành thất nghiệp gần đây hiện đang đối mặt với triển vọng ảm đạm.

Đặc biệt, tác động của cuộc khủng hoảng đối với nền kinh tế phi chính thức, thường có liên quan đến những người lao động nhập cư, đã trở nên rất nghiêm trọng. Nhiều người trong số họ thậm chí không được pháp luật quốc gia công nhận; giống như họ không tồn tại. Họ và gia đình họ sống trong những điều kiện vô cùng bấp bênh, là con mồi của nhiều hình thức nô lệ khác nhau và không có hệ thống phúc lợi nào bảo vệ họ. Hiện tại, chỉ một phần ba dân số thế giới trong độ tuổi lao động được hưởng hệ thống bảo trợ xã hội, hoặc chỉ được hưởng lợi từ hệ thống này cách hạn chế. Bạo lực và tội phạm có tổ chức đang gia tăng ở nhiều quốc gia, ảnh hưởng đến tự do và phẩm giá của con người, đầu độc nền kinh tế và cản trở sự phát triển của ích chung. Câu trả lời duy nhất cho điều này là mở rộng các cơ hội việc làm đúng phẩm giá.

Thật vậy, lao động là nền tảng để xây dựng sự công bằng và tình liên đới trong mọi cộng đồng. Vì lý do này, mục tiêu của chúng ta không nên nhắm tới “tiến bộ công nghệ ngày càng thay thế công việc của con người, vì điều này sẽ gây thiệt hại cho nhân loại. Việc làm là nhu cầu thiết yếu, là một phần ý nghĩa của cuộc sống trên trái đất này, là con đường để phát triển, phát triển con người và hoàn thiện bản thân”. [18] Chúng ta cần kết hợp các ý tưởng và nỗ lực để tạo ra những giải pháp và điều kiện có thể cung cấp cho mọi người trong độ tuổi lao động cơ hội đóng góp cho cuộc sống của gia đình họ và của toàn xã hội bằng công việc của họ.

Điều cấp bách hơn bao giờ hết là thúc đẩy những điều kiện làm việc xứng đáng và có phẩm giá trên khắp thế giới, hướng đến ích chung và bảo vệ tạo vật. Quyền tự do của các sáng kiến doanh nghiệp cần được bảo đảm và hỗ trợ; đồng thời, phải nỗ lực khuyến khích ý thức trách nhiệm xã hội được đổi mới, để lợi nhuận không phải là tiêu chí chỉ đạo duy nhất.

Vì vậy, cần phải thúc đẩy, chào đón và hỗ trợ các sáng kiến ở tất cả các cấp, thúc giục các công ty tôn trọng nhân quyền căn bản của người lao động, nâng cao nhận thức không những của các tổ chức, mà còn của người tiêu dùng, xã hội dân sự và các thực thể doanh nhân. Khi những thực thể doanh nhân ngày càng ý thức hơn về vai trò của họ trong xã hội, họ sẽ càng trở thành nơi phẩm giá con người được tôn trọng. Bằng cách này, họ sẽ góp phần xây dựng hòa bình. Ở đây, chính trị được kêu gọi đóng một vai trò tích cực bằng cách thúc đẩy sự cân bằng công bằng giữa tự do kinh tế và công bằng xã hội. Tất cả những ai làm việc trong lĩnh vực này, bắt đầu từ các công nhân và doanh nhân Công giáo, đều có thể tìm thấy những hướng dẫn vững chắc trong học thuyết xã hội của Giáo hội.

Anh chị em thân mến, khi chúng ta tìm cách kết hợp những nỗ lực của mình để thoát khỏi đại dịch, tôi xin gửi lời cảm ơn tới tất cả những người tiếp tục làm việc với lòng quảng đại và tinh thần trách nhiệm trong các lĩnh vực giáo dục, an toàn và bảo vệ quyền, trong lĩnh vực cung cấp chăm sóc y tế, tạo điều kiện cho sự gặp gỡ giữa các thành viên trong gia đình và người bệnh, và hỗ trợ kinh tế cho những người khó khăn và người bị mất việc làm. Tôi tiếp tục nhớ đến các nạn nhân và gia đình của họ trong lời cầu nguyện của tôi.

Đối với các nhà lãnh đạo chính phủ và tất cả những người có trách nhiệm về chính trị và xã hội, các linh mục và người làm công tác mục vụ, cũng như đối với tất cả những người thiện chí, tôi đưa ra lời kêu gọi sau đây: chúng ta hãy cùng nhau bước đi với lòng can đảm và sự sáng tạo trên con đường đối thoại liên thế hệ, giáo dục và việc làm. Ước mong cho ngày càng có nhiều người phấn đấu mỗi ngày để trở thành những nghệ nhân của hòa bình với sự khiêm tốn âm thầm và lòng dũng cảm. Và cầu mong họ luôn được soi dẫn và đồng hành bởi những ơn lành của Thiên Chúa bình an!

Vatican, 8 tháng Mười Hai, 2021

PHANXICÔ

____________________

[1] Cf. Encyclical Letter Populorum Progressio (26 March 1967), 76ff.

[2] Cf. Encyclical Letter Laudato Si’ (24 May 2015), 49.

[3] Cf. Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 231.

[4] Ibid., 218.

[5] Ibid., 199.

[6] Ibid., 179.

[7] Cf. ibid., 180.

[8] Post-Synodal Apostolic Exhortation Christus Vivit (25 March 2019), 199.

[9] Encyclical Letter Laudato Si’, 159.

[10] Cf. ibid., 163; 202.

[11] Cf. ibid., 139.

[12] Cf. Message to the Participants in the 4th Paris Peace Forum, 11-13 November 2021.

[13] Cf. Encyclical Letter Laudato Si’ (24 May 2015), 231; Message for the 2021 World Day of Peace: A Culture of Care as a Path to Peace (8 December 2020).

[14] Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), 199.

[15] Cf. Video Message for the Global Compact on Education: Together to Look Beyond (15 October 2020).

[16] Cf. Video Message for the High Level Virtual Climate Ambition Summit (13 December 2020).

[17] Cf. JOHN PAUL II, Encyclical Letter Laborem Exercens (14 September 1981), 18.

[18] Encyclical Letter Laudato Si’ (24 May 2015), 128.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 22/12/2021]


Thứ Năm, 23 tháng 12, 2021

Tiếp kiến chung của Đức Thánh Cha Phanxicô, 22.12.2021

Tiếp kiến chung của Đức Thánh Cha Phanxicô, 22.12.2021

Tiếp kiến chung của Đức Thánh Cha Phanxicô, 22.12.2021


Buổi Tiếp kiến chung sáng nay diễn ra lúc 9:00 trong Khán phòng Phaolô VI, nơi Đức Thánh Cha Phanxicô gặp gỡ các nhóm người hành hương và tín hữu đến từ nước Ý và khắp nơi trên thế giới.

Trong huấn từ bằng tiếng Ý, Đức Thánh Cha tập trung vào sự ra đời của Chúa Giêsu (Bài đọc Kinh Thánh: Lc 2: 10-12).

Sau phần tóm lược bài giáo lý bằng một số ngôn ngữ, Đức Thánh Cha gửi lời chào đặc biệt đến các nhóm tín hữu tham dự. Sau đó ngài phát động lời kêu gọi tình liên đới hướng tới những người tị nạn và di dân.

Buổi Tiếp kiến chung kết thúc với Kinh Lạy Cha và Phép lành Tòa Thánh.

*****

Bài Giáo lý: Sự ra đời của Chúa Giêsu

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Hôm nay, chỉ còn cách Lễ Giáng sinh vài ngày, cha muốn cùng với anh chị em nhớ lại biến cố mà lịch sử không thể bỏ qua: sự ra đời của Chúa Giêsu.

Để thi hành sắc lệnh của hoàng đế Xêda Augustô truyền rằng mọi người phải về nơi sinh quán của họ để đăng ký, Thánh Giuse và Mẹ Maria đi từ Nadarét đến Bêlem. Ngay khi đến nơi, hai ngài lập tức phải tìm chỗ trọ vì đến thời điểm Mẹ Maria sắp sinh con. Thật đáng buồn họ không tìm được nơi nào. Vì thế Mẹ Maria buộc phải sinh con trong một chuồng chiên bò (x. Lc 2:1-7).

Chúng ta nghĩ xem: Đấng tạo dựng vũ trụ… Người không có được một nơi để sinh hạ! Có lẽ đây là một sự báo trước về điều thánh sử Gioan nói: “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (1:11); và điều Chúa Giêsu sẽ nói: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Lc 9:58).

Một Thiên thần loan báo sự ra đời của Chúa Giêsu, và Thiên thần loan tin cho các mục đồng hèn mọn. Và một ngôi sao đã chỉ đường cho các Đạo sĩ đến Bêlem (x. Mt 2:1,9-10). Thiên thần là sứ giả của Chúa. Ngôi sao nhắc lại rằng Thiên Chúa đã tạo ra ánh sáng (St 1:3) và Hài nhi đó sẽ là “ánh sáng của thế gian”, như chính Ngài sẽ xác định về bản thân Ngài (x. Ga 8:12.46) là “ánh sáng thật […] chiếu soi mọi người” (Ga 1:9), ánh sáng “chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (c. 5).

Các mục đồng là hiện thân của người nghèo của Israel, những con người hèn mọn sống thu mình với ý thức về sự thiếu thốn của bản thân, và chính vì lý do này mà họ tin cậy vào Thiên Chúa hơn những người khác. Họ là những người đầu tiên được nhìn thấy Con Thiên Chúa làm người, và sự gặp gỡ này đã thay đổi họ sâu sắc. Tin Mừng ghi lại khi trở về họ “tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe” (Lc 2:20).

Các Đạo sĩ cũng ở quanh Chúa Giêsu mới sinh (x. Mt 2:1-12). Các sách Tin mừng không cho chúng ta biết vị nào là vua, cũng không cho biết có bao nhiêu người, và không có tên của họ. Chúng ta chỉ biết một cách chắc chắn rằng họ từ một đất nước xa xôi ở phương Đông (có thể từ Babylon, Ả Rập hay Ba Tư thời bấy giờ), họ lên đường tìm kiếm Vua dân Do Thái, người mà trong tâm hồn họ chân nhận là Thiên Chúa, bởi vì họ nói rằng họ muốn tôn thờ Ngài. Các đạo sĩ đại diện cho những dân tộc ngoại giáo, đặc biệt là tất cả những người đã và đang tìm kiếm Thiên Chúa qua các thế hệ, và những người lên đường để tìm kiếm Người. Họ cũng đại diện cho những người giàu có và quyền lực, nhưng chỉ là những người không làm nô lệ cho của cải, những người không bị “sở hữu” bởi những thứ họ nghĩ rằng họ đang sở hữu.

Thông điệp của các Tin mừng rất rõ ràng: sự ra đời của Chúa Giêsu là một biến cố phổ quát ảnh hưởng đến tất cả mọi người.

Anh chị em thân mến, sự khiêm nhường là con đường duy nhất dẫn chúng ta đến với Thiên Chúa. Đồng thời chính vì nó dẫn chúng ta đến với Chúa, sự khiêm nhường cũng dẫn chúng ta đến những điều trọng yếu của cuộc sống, đến với ý nghĩa thật nhất của nó, đến với lý do chắc chắn nhất tại sao cuộc sống thật sự đáng sống.

Chỉ duy nhất sự khiêm nhường mở ra cho chúng ta kinh nghiệm về sự thật, về niềm vui đích thực, để biết được điều gì là quan trọng. Nếu không có sự khiêm nhường, chúng ta bị “cắt đứt”, chúng ta bị cắt đứt khỏi sự hiểu biết về Thiên Chúa và sự hiểu biết về chính mình. Khiêm tốn là cần thiết để hiểu về bản thân, và còn hơn nữa để hiểu biết về Thiên Chúa. Các đạo sĩ thậm chí có thể là những người vĩ đại theo luận lý của thế gian, nhưng họ tự hạ mình thấp hèn, khiêm tốn, và chính vì vậy mà họ đã thành công trong việc tìm thấy Chúa Giêsu và nhận ra Ngài. Họ chấp nhận sự khiêm nhường để tìm kiếm, để bắt đầu một cuộc hành trình, để dò hỏi, để chấp nhận rủi ro, phạm sai lầm.

Mỗi người trong sâu thẳm tâm hồn mình, được mời gọi tìm kiếm Thiên Chúa: tất cả chúng ta đều có sự thao thức đó. Bổn phận của chúng ta là không dập tắt sự thao thức đó, nhưng cho phép nó phát triển bởi vì chính sự thao thức tìm kiếm Thiên Chúa; cùng với ân sủng của Người mà chúng ta có thể tìm thấy Người. Chúng ta có thể lấy lời cầu nguyện này của Thánh Anselm (1033-1109) cho chính bản thân chúng ta: “Lạy Chúa, xin dạy con biết tìm kiếm Chúa, và tỏ lộ Người cho con khi con tìm kiếm, bởi vì con không thể tìm kiếm Chúa nếu Người không dạy con cách thức, và con cũng không tìm được Chúa nếu Chúa không tỏ lộ Người. Xin cho con tìm kiếm Chúa trong sự khao khát Người; xin cho con khao khát Chúa khi tìm kiếm Người; xin cho con tìm thấy Chúa trong sự yêu mến Người; xin cho con yêu mến Chúa khi tìm thấy Người.” (Proslogion, 1).

Anh chị em thân mến, cha muốn mời mọi tất cả mọi người hãy đến chuồng chiên lừa tại Bêlem để tôn thờ Con Thiên Chúa làm người. Xin cho mỗi người chúng ta đến gần với hang đá Giáng sinh trong nhà của chúng ta hoặc trong nhà thờ hoặc ở một nơi khác, và cố gắng thực hành việc tôn thờ, và thầm thĩ: “Con tin Người là Thiên Chúa, con tin rằng Hài nhi này là Chúa. Xin ban cho con ơn khiêm nhường để hiểu biết”.

Khi đến gần và cầu nguyện bên máng cỏ, cha muốn để những người nghèo ở hàng ghế đầu, những người – như Thánh Phaolô VI đã từng cổ vũ – “chúng ta phải yêu thương vì theo cách nào đó, họ là bí tích của Đức Kitô; trong họ – người đói, người khát, người lưu đày, trần truồng, bệnh tật, tù nhân – Ngài muốn được đồng nhất với họ cách huyền nhiệm. Chúng ta phải giúp đỡ họ, cùng đau khổ với họ, và cũng noi theo họ vì nghèo khó là con đường an toàn nhất để chiếm hữu Nước Thiên Chúa cách trọn vẹn” (Bài giảng, ngày 1 tháng 5 năm 1969). Vì lý do này, chúng ta phải xin ơn khiêm nhường: “Lạy Chúa, xin đừng để con kiêu căng, xin đừng để con tự mãn, đừng để con tin rằng con là trung tâm của vũ trụ. Xin cho con biết khiêm nhường. Xin ban ơn khiêm nhường cho con. Và với sự khiêm nhường này, xin cho con được tìm thấy Người”. Đó là cách duy nhất; không có sự khiêm nhường chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy Chúa: chúng ta sẽ chỉ tìm thấy chính mình. Lý do vì người không khiêm tốn không có chân trời phía trước họ. Họ chỉ có một chiếc gương soi để ngắm nhìn bản thân. Chúng ta hãy xin Chúa làm vỡ tấm gương này để chúng ta có thể nhìn xa hơn tới chân trời, nơi Người đang ở. Nhưng Người cần phải làm điều này: ban cho chúng ta ân sủng và niềm vui của sự khiêm tốn để đi trên con đường đó.

Và rồi, thưa anh chị em, cũng giống như ngôi sao đã chỉ đường cho các đạo sĩ, tôi muốn đồng hành đến Bêlem với tất cả những ai không có sự thao thức lòng đạo, những người không đặt câu hỏi về Thiên Chúa, hoặc thậm chí những người có thể chống lại tôn giáo, tất cả những người xác định là người vô thần. Tôi muốn nhắc lại với họ thông điệp của Công đồng Vatican II: “Giáo hội cho rằng việc nhìn nhận Thiên Chúa không bao giờ thù địch với phẩm giá của con người, vì phẩm giá này được bắt nguồn và được hoàn thiện trong Chúa. […] Trên hết, Giáo hội biết rằng sứ điệp của mình hòa hợp với những khao khát thầm kín nhất của tâm hồn con người” (Hiến chế Gaudium et spes, 21).

Chúng ta trở về nhà với bài ca của thiên sứ: “Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương!” Chúng ta hãy luôn nhớ rằng: “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta [...] Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước” (1 Ga 4:10,19), Người đã tìm kiếm chúng ta. Chúng ta đừng quên điều này.

Đây là lý do để chúng ta vui mừng: chúng ta được yêu thương, chúng ta được tìm kiếm, Chúa tìm kiếm chúng ta để tìm thấy chúng ta, để yêu thương chúng ta nhiều hơn. Đây là lý do của niềm vui: khi biết rằng chúng ta được yêu thương mà không cần bất cứ công trạng gì, chúng ta luôn được Thiên Chúa yêu thương trước, với một tình yêu cụ thể đến nỗi Người đã mặc lấy xác phàm và đến sống giữa chúng ta, trong Hài nhi mà chúng ta nhìn thấy trong máng cỏ. Tình yêu này có một tên gọi và một khuôn mặt: tên gọi đó là Chúa Giêsu và khuôn mặt của tình yêu – đây là nền tảng niềm vui của chúng ta.

Thưa anh chị em, cha chúc anh chị em một mùa Giáng sinh an lành, hạnh phúc và thánh thiện. Và cha mong muốn rằng – vâng, có những lời chúc an lành, những cuộc đoàn tụ gia đình, điều này luôn luôn rất đẹp – nhưng xin cũng có ý thức rằng Chúa đến “vì tôi”. Mọi người chúng ta hãy nói lên điều này: Chúa đến vì tôi. Ý thức rằng để tìm kiếm Chúa, để tìm được Chúa, để tin nhận Chúa, thì cần phải có lòng khiêm nhường: tìm kiếm với lòng khiêm nhường ân sủng để phá vỡ chiếc gương phù phiếm, kiêu căng, ngắm nhìn bản thân. Hãy ngắm nhìn Chúa Giêsu, nhìn về phía chân trời, chiêm ngắm Thiên Chúa, Đấng đến với chúng ta và chạm đến tâm hồn chúng ta với sự thao thức đem đến cho chúng ta niềm hy vọng. Chúc anh chị em Giáng sinh vui và thánh thiện!

Tiếp kiến chung của Đức Thánh Cha Phanxicô, 22.12.2021

Lời kêu gọi của Đức Thánh Cha

Trong chuyến đi của tôi đến Đảo Síp và Hy Lạp, một lần nữa tôi đã có thể chạm đến nhân loại bị thương tổn của những người tị nạn và di cư. Tôi cũng lưu ý rằng chỉ có một số quốc gia Châu Âu đang gánh lấy phần lớn hậu quả của hiện tượng di cư ở vùng Địa Trung Hải, trong khi trên thực tế, nó đòi hỏi trách nhiệm của tất cả mọi quốc gia, không quốc gia nào có thể miễn trừ cho mình, vì đó là vấn đề của nhân loại.

Đặc biệt, nhờ sự quảng đại rộng mở của các nhà chức trách Ý, tôi đã có thể đưa đến Roma một nhóm người mà tôi đã gặp trong chuyến đi: hôm nay một số người họ đang ở đây giữa chúng ta. Xin chào mừng! Chúng ta sẽ chăm sóc trong những tháng tới, trong vai trò là một Giáo hội. Đây là một tín hiệu nhỏ, mà tôi hy vọng sẽ đóng vai trò như một sự kích thích đối với các quốc gia Châu Âu khác, để họ cho phép các giáo hội địa phương có trách nhiệm đối với những anh chị em khác đang cấp bách cần được định cư, đồng hành, thăng tiến và hội nhập.

Trên thực tế, có nhiều Giáo hội địa phương, các dòng tu và các tổ chức Công giáo sẵn sàng chào đón họ và đồng hành với họ để hướng tới sự hội nhập có hiệu quả. Bạn chỉ cần mở một cánh cửa, cánh cửa của tâm hồn! Đừng quên làm điều đó trong Giáng sinh này!


*****

Tôi xin gửi lời chào thân ái đến anh chị em hành hương nói tiếng Ý, đặc biệt là Phái đoàn của Thành phố Bolsena và của Giải Thể thao Fair Play. Tôi thân ái chào các ngư dân vùng Mazara del Vallo, đồng hành cùng với Đức Giám mục và chính quyền dân sự. Một năm sau kinh nghiệm bi thương của vụ bắt cóc và cầm tù, một lần nữa tôi xin thể hiện tình liên đới, sự động viên và những lời cầu nguyện của tôi đối với anh chị em và gia đình.

Cuối cùng, như thường lệ, suy nghĩ của tôi hướng đến người già, bệnh nhân, thanh thiếu niên và các cặp vợ chồng mới cưới.

Chúng ta đang chuẩn bị cho đại Lễ Giáng sinh sắp tới, khẩn xin sự xuất hiện của “Vua các dân ngoại” đang được đợi mong. Xin cho anh chị em chuẩn bị đức tin để đón nhận Hài Nhi Bêlem là Chúa của toàn bộ cuộc sống của mình, khi chiêm ngắm Con Thiên Chúa trong sự đơn sơ của máng cỏ, Người mang đến ân sủng và ơn cứu độ.

Chúc tất cả anh chị em Giáng sinh hạnh phúc và thánh thiện. Cha ban phép lành cho anh chị em.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 23/12/2021]