Thứ Năm, 27 tháng 8, 2020

Linh mục Công giáo ở Mali là con trai của một imam Hồi giáo

 

Linh mục Công giáo ở Mali là con trai của một imam Hồi giáo

Cha Amadou Kizito Togo, một chuyên gia môn Lịch sử Giáo hội, kể lại hành trình đức tin của mình

Lucie Sarr

Mali

20 tháng Tám, 2020


Linh mục Công giáo ở Mali là con trai của một imam Hồi giáo

Cha Amadou Kizito Togo


Phát hành ngày 7 tháng Hai năm 2020.

Cha là một linh mục và là con trai của một imam Hồi giáo. Cha đã bị cuốn hút bởi Kitô giáo, nhờ một quyển sách nhỏ của một thừa tác viên Tin lành tặng cho cha.

Gặp gỡ Cha Amadou Kizito Togo 53 tuổi. Cha là một biểu tượng sống của đối thoại liên tôn.

Và đó là một điều rất tốt. Vì Nhà thờ Chính tòa Mopti nằm ở trung tâm Mali, nơi cha là linh mục quản nhiệm xứ, là khu vực các chiến binh Hồi giáo thường xuyên khuấy lên những căng thẳng tôn giáo và liên cộng đoàn.

Những căng thẳng lại tái diễn trong vùng quê Dogon từ năm 2010 - được biết đến như là vùng cao nguyên trung tâm của Mali. Xung đột xảy ra giữa người Dogon là những nông dân và thợ săn bắn truyền thống, và người Fulani là những người chăn gia súc bán du mục của vùng Sahel.

Xung đột leo thang lên cực điểm vào năm 2019 với hai vụ tấn công đẫm máu.

Ngày 23 tháng Ba, những tay súng vô danh chạy xe môtô và mặc trang phục săn truyền thống của người Dogon tấn công một ngôi làng có đa số là người Hồi giáo, giết chết 160 người.

Sau đó vào đêm ngày 9 tháng Sáu, những cá nhân vũ trang không xác định đã tấn công một ngôi làng với đa số dân là người Công giáo trong cùng khu vực. Họ đã giết chết 35 người, 24 trong số đó là trẻ em.


Tôn giáo bị khai thác

Cha Togo xuất thân từ gia đình người Dogon nói, “Tôn giáo đã bị khai thác rất nhiều trong những năm gần đây. Khi tôi còn nhỏ, người Dogon và người Fulani sống những mối tương quan rất tốt, họ bổ sung cho nhau,” cha nói thêm.

Vị linh mục nói tiếp, “Trong những cánh đồng của cha tôi có một người Fulani. Cha tôi mang nước đến cho gia súc của ông và họ mang phân bón đến cho vụ mùa của ông.”

Nhưng cha thừa nhận rằng tình hình hiện tại rất căng thẳng.

Cha nói, “Thứ Bảy trước [25 tháng Một], một giáo lý viên của tôi gọi điện báo cho tôi biết rằng những chiến binh Hồi giáo đã đốt rào chắn cạnh nhà thờ và đe dọa sẽ quay lại và đốt nhà thờ. Tôi nói anh ta để lại những giả thiết.”


Quyển sách tôn giáo của Manasseh Gana

Amadou Kizitio Togo sinh ngày 1 tháng Một năm 1967.

Cha giải thích, “Khi tôi chào đời, cha tôi đặt cho tôi tên Amadou và khi rửa tội 13 năm sau, tôi chọn tên Kizito."

Tên thân phụ của cha là Abdourahmane Togo và tên thân mẫu cha là Aminata. Gia đình Togo sống ở Satèm, cách Mopti 150 cây số. Nhưng cậu Amadou rời gia đình từ sớm để đi học.

Cậu được gửi đến vùng Pel, cách Satèm vài chục cây số, để sống với người cô. Bà là người Công giáo, và chồng bà cũng vậy, và là một người dạy giáo lý.

Cha nói, “Tôi không nghĩ rằng khía cạnh này đã ảnh hưởng đến sự trở lại Kitô giáo của tôi.”

Cậu cũng học trong một trường nội trú có các học sinh vừa là Hồi giáo vừa là Kitô giáo.

Vị linh mục nhớ lại, “Ở trường các bạn Hồi giáo không được dạy giáo lý, nhưng tôi muốn tham dự vì tôi quan tâm. Thời điểm quyết định cho sự trở lại của tôi là lúc một người bạn cùng lớp tặng cho tôi một quyển sách Tin mừng nhỏ theo Thánh Luca. Tên cậu ấy là Manasseh Gana và cậu ấy là con trai của một mục sư Tin lành. Quyển sách nói rằng Thiên Chúa thì tốt lành và đầy quyền năng, và điều đó đã thu hút tôi.”


Con trai của Imam Abdourahmane Togo

Vài năm sau, vào năm 1980, Amadou Togo được rửa tội với tên Kizito.

Cha của cậu không tham dự.

Vị linh mục kể lại, “Tôi được rửa tội ngày 25 tháng Năm, tôi chẳng biết phải nói sao với ông về việc đó. Nhưng tôi biết là ông biết chuyện.”

Abdourahmane Togo, là imam, đã rất tinh tế và nhạy cảm trong cách ông giúp con trai mình thể hiện sự trở lại.

“Một ngày kia ông nói với tôi: ‘Thường thường người Kitô hữu cầu nguyện và làm dấu Thánh giá trước khi ăn, nhưng một số Kitô hữu chẳng làm gì, họ không cầu nguyện.’ Tôi xem đó là một sự chỉ trích ngầm,” Cha Togo nhớ lại.

“Vì thế bữa ăn sau tôi làm dấu thánh giá và tôi cầu nguyện. Ông chẳng bao giờ thêm điều gì.”

Quả thật, những tình cảm giữa cha và con được thể hiện ở mức độ vừa phải.

Khi ông Abdourahmane Togo khám phá biết con trai của mình muốn trở thành một linh mục, ông không phản đối. Ông chỉ cho cậu một sự cảnh báo mang tính ngụ ý: “Đừng làm cho cha xấu hổ vì con.”

Thông điệp của imam cho con trai là nếu cậu đã vào chủng viện, cậu phải đi đến cuối con đường. Vì tại thời điểm đó, xuất chủng viện trước khi trở thành một linh mục được xem là một điều đáng hổ thẹn.


Tiếng gọi trở thành linh mục

Cậu thanh niên Dogon cảm nhận được tiếng gọi đến với chức tư tế ngay lúc được rửa tội. Sau đó cậu gia nhập tiểu chủng viện San.

Cha được thụ phong linh mục ngày 11 tháng Chín năm 1993, và được bài sai thi hành sứ vụ ở nhiều nơi trong Giáo phận Mopti.

Sau đó cha được gửi đến Roma từ năm 2001 đến 2004 để theo học cử nhân Lịch sử Giáo hội.

Cha Togo trở về Mali và giảng dạy trong bốn năm. Sau đó cha trở lại Roma từ năm 2008 và năm 2011 viết luận án tiến sĩ về việc rao giảng phúc âm ở vùng Dogon.

Cha phục vụ làm giám sở và giảng dạy tại Đại chủng viện Thánh Augustine ở Bamako từ năm 2011 đến 2017. Và hiện nay cha đang phục vụ làm linh mục xứ của Nhà thờ Chính tòa Mopti.


[Nguồn: la-croix]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 24/8/2020]


Thứ Ba, 25 tháng 8, 2020

Những vị thánh đã phải đối mặt với sự hắt hủi của người thân yêu để theo Chúa

Những vị thánh đã phải đối mặt với sự hắt hủi của người thân yêu để bước theo Chúa

Những vị thánh đã phải đối mặt với sự hắt hủi của người thân yêu để theo Chúa

Montecappio/CC BY 3.0 | NORBERTO DUARTE/AFP | Public Domain

 

Meg Hunter-Kilmer

Aug 22, 2020


Ngay cả những người không theo đuổi đời sống thánh hiến cũng thường thấy mình mâu thuẫn với bạn bè và gia đình.

Những người khước từ hôn nhân vì lợi ích nước trời chủ tâm ôm lấy một đời sống hy sinh. Đối với nhiều người, sự hy sinh này cũng bao gồm cả sự phản đối của bạn bè và gia đình của họ, sự phản đối có thể là cố tình làm lung lay ý chí, khinh bỉ, đến lạm dụng tình cảm và đe dọa làm tổn hại về thể xác.

Ngay cả những người không theo đuổi đời sống thánh hiến cũng thường thấy mình mâu thuẫn với bạn bè và gia đình về đức tin Công giáo của họ, hoặc con đường đặc biệt mà họ đã chọn để sống cuộc đời theo gương Đức Kitô. Cho dù sự đau khổ vì bị những người thân yêu hiểu lầm và từ chối là gánh nặng khó mang nổi, nhưng những ai từng trải qua sự phản đối này có thể tìm thấy tình bạn nơi nhiều vị thánh, những người từng gặp khó khăn tương tự.

Thánh Eugenia của Roma (183-258) là một nữ quý tộc Ai Cập đã trốn chạy một cuộc hôn nhân sắp đặt sau khi trở lại đạo. Không thể sống như một phụ nữ độc lập, thánh nữ cải trang thành đàn ông và bắt đầu sống như một tu sĩ; sự khôn ngoan và thánh thiện của thánh nữ đã khiến ngài được chọn làm tu viện trưởng (trước đó vị trí như vậy được dành cho các linh mục). Bị buộc tội là cha một đứa trẻ, Eugenia từ chối biện hộ cho mình. Khi bị đưa ra tòa để trả lời về tội danh bị cáo buộc của mình, thẩm phán là cha của thánh nữ. Ông nhận ra con gái mình và niềm vui đoàn tụ đã khiến ông và thân mẫu của thánh nữ trở lại đạo. Eugenia cuối cùng đã tử vì đạo.

Chân phước Godfrey Cappenberg (1097-1127) là một nhà quý tộc bình thường đã kết hôn trước khi con tim hối cải thuyết phục chân phước rằng ngài cần phải biến lâu đài của Đức của mình thành Tu viện Norbertine và sống trong đó (bất chấp vợ của ngài là Jutta). Cả vợ và anh trai của ngài đều cố gắng can gián, và cha vợ của ngài là Frederick đã tổ chức một lực lượng tấn công lâu đài nhằm chiếm đoạt nó bằng vũ lực. Bao vây lâu đài, Frederick đe dọa sẽ treo cổ Godfrey trên các bức tường; cuối cùng, ông ta đã phải từ bỏ nỗ lực của mình và Godfrey trở thành một tu sĩ, trong khi Jutta trở thành một nữ tu.

Thánh Magdalene Yi Yong-hui (1809-1839) xuất thân từ một gia đình các vị thánh: mẹ, chị gái và cháu gái của thánh nữ đều được phong thánh. Nhưng thân phụ thánh nữ là một người Hàn Quốc truyền thống ghét đạo Công giáo, vì vậy vợ và con gái của ông đã bí mật thực hành đức tin của họ. Sự bí mật này trở nên rắc rối khi đến thời điểm các cô gái phải kết hôn. Em gái của Magdalene là Thánh Barbara Yi Chong-hui đã giả vờ bị ốm và không chịu ra khỏi giường trong suốt ba năm cho đến khi không ai trong số những người đàn ông không theo Kitô giáo lấy được thánh nhân. Mặt khác, Magdalene đã giả chết thay vì kết hôn khi biết mình có ơn gọi gọi sống độc thân. Bỏ lại bộ quần áo bị xé rách dính các vết máu của chính thánh nữ, Magdalene trốn đến nhà của một người dì Công giáo. (Vài tháng sau) Khi biết rằng con gái mình vẫn còn sống, cha của Magdalene rất vui mừng và cho thánh nữ sống cuộc đời của một phụ nữ thánh hiến không bị làm phiền; sau đó thánh nữ đã tử vì đạo.

Thánh Maria Chiara Nanetti (1872-1900) là một cô gái hấp tấp, có tinh thần mạnh mẽ và dường như không phù hợp với đời sống tu trì. Khi thánh nữ tìm cách đi tu thì cha mẹ thánh nữ phân tích về điểm này, thánh nữ đã rất tức giận. Khi họ từ chối không cho phép ngài trở thành một nữ tu, thánh nhân đã đấu tranh chống lại sự cay đắng, tuyệt vọng và căm ghét. Ơn gọi của thánh nhân vẫn duy trì trong thời gian đầy cám dỗ này, và khi giành phần thắng trước cha mẹ mình, thánh nữ đã trở thành một nữ tu dòng Phanxicô, một nhà truyền giáo đến Trung Quốc, và là một vị tử vì đạo trong cuộc Cách mạng Boxer (Phong trào Nghĩa Hòa Đoàn).

Chân phước María Guggiari Echeverría (1925-1959) thực hiện lời khấn cá nhân sống nghèo khó khi 18 tuổi trước sự thất vọng của cha mẹ. Tuy nhiên, thánh nữ vẫn năng nổ và vui tươi, phục vụ trẻ em, người già và người bệnh, vì vậy gia đình đành chấp nhận ơn gọi của thánh nhân. Tuy nhiên, khi thánh nữ quyết định trở thành một nữ tu Dòng Cát Minh, họ khó có thể chấp nhận được. Maria rất hoạt bát; thánh nữ ghét sự im lặng và yêu công việc phục vụ. Gia đình cô không thể hiểu được lý do tại sao ơn gọi đan tu có thể khiến thánh nữ hạnh phúc. Các linh mục Paraguay tán thành, và nhấn mạnh rằng một người tài năng và làm việc đầy hiệu quả như Maria không có việc gì phải khóa mình trong một đan viện. Maria biết họ yêu mình, nhưng thánh nữ phải đi theo Đấng yêu thương mình hơn nữa. Thánh nữ qua đời chỉ vài năm sau đó, là một nàng dâu rạng rỡ vui tươi của Đức Kitô ở Carmel.

Tôi tớ Chúa Maurice Michael Otunga (1923-2003) là con trai của một tù trưởng bộ lạc ở Kenya. Cha của ngài có hàng chục người vợ, nhưng đã chọn Otunga là người kế vị làm tù trưởng. Khi Otunga muốn được rửa tội năm 12 tuổi, cha của cậu đã từ chối suốt một thời gian, nhưng cuối cùng vẫn bằng lòng. Khi cậu bé muốn vào chủng viện, cha cậu đã im lặng trong suốt 24 giờ, sau đó nói một cách khinh thường rằng cậu có thể đi nhưng chắc chắn sẽ bỏ học. Mặc dù tộc trưởng đã dành nhiều năm tiếp theo để thuyết phục Otunga từ bỏ ơn gọi của mình và trở về nhà cai trị bộ tộc, Otunga đã được thụ phong linh mục, sau đó làm giám mục chỉ ở tuổi 33. Gần 30 năm sau khi Otunga trở lại đạo, cha mẹ của ngài cũng đã được rửa tội, và cuối cùng rất tự hào về ơn gọi của con trai họ. Otunga là một nhà hoạt động vì công bằng xã hội và bảo vệ sự sống và hoạt động với các nhà lãnh đạo Hồi giáo địa phương để phản đối việc sử dụng các biện pháp tránh thai. Ngài trở thành hồng y người Kenya đầu tiên.


[Nguồn: aleteia]

[Chuyển Việt ngữ: TRI KHOAN 24/8/2020]