Thứ Ba, 29 tháng 9, 2026

Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Pháp và chuyến viếng thăm Trụ sở UNESCO (25–28 tháng 9 năm 2026) – Thăm xã giao Tổng thống Cộng hòa và Gặp gỡ Chính quyền, Xã hội Dân sự và Ngoại giao đoàn, 25.09.2026

Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Pháp và chuyến viếng thăm Trụ sở UNESCO (25–28 tháng 9 năm 2026) – Thăm xã giao Tổng thống Cộng hòa và Gặp gỡ Chính quyền, Xã hội Dân sự và Ngoại giao đoàn, 25.09.2026

Tông du của Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Pháp và chuyến viếng thăm Trụ sở UNESCO (25–28 tháng 9 năm 2026) – Thăm xã giao Tổng thống Cộng hòa và Gặp gỡ Chính quyền, Xã hội Dân sự và Ngoại giao đoàn, 25.09.2026

*******

Chuyến thăm xã giao Tổng thống Cộng hòa

Vào lúc 11 giờ, Đức Thánh Cha Lêô XIV đến Điện Élysée bằng xe hơi để thực hiện chuyến thăm xã giao Tổng thống Cộng hòa.

Khi đến nơi, Đức Thánh Cha được Tổng thống Cộng hòa Pháp Emmanuel Macron đón tiếp và dành nghi thức trọng thể với quân đội, tiếp đó là chụp ảnh lưu niệm chính thức, tặng quà tại Salon des portraits, cuộc gặp riêng và giới thiệu các thành viên gia đình.

Sau đó, Đức Giáo hoàng Lêô XIV tiến đến phòng Salle des fêtes để tham dự cuộc gặp gỡ tiếp theo.


Gặp gỡ Chính quyền, Xã hội Dân sự và Ngoại giao đoàn

Vào lúc 12 giờ 20 tại Salle des fêtes diễn ra cuộc gặp gỡ với các nhà lãnh đạo chính trị và tôn giáo, giới doanh nhân, các đại diện của xã hội dân sự và văn hóa, cùng Ngoại giao đoàn; trong dịp này, ngài Tổng thống Cộng hòa đã đọc diễn văn.

Sau đó, Đức Thánh Cha đọc diễn văn của ngài.

Kết thúc cuộc gặp gỡ, Đức Thánh Cha chào thăm một số người hiện diện.

Sau đó, Đức Thánh Cha Lêô XIV trở về Tòa Khâm sứ Tòa Thánh bằng xe hơi, nơi ngài dùng bữa riêng.

Sau đây là bài diễn văn Đức Thánh Cha trong cuộc gặp gỡ:


Diễn văn của Đức Thánh Cha


Thưa ngài Tổng thống,
Thưa quý vị Lãnh đạo Chính quyền và Thành viên Ngoại giao đoàn,
Thưa quý bà và quý ông,

Tôi vui mừng được có mặt cùng quý vị hôm nay. Tôi đặc biệt cảm ơn ngài Tổng thống vì lời mời đầy ân cần dành cho tôi đến thăm đất nước Pháp, và xin cảm ơn ngài về những lời chào mừng. Qua ngài, tôi xin gửi lời chào đến toàn thể người dân đang sinh sống tại đất nước này, với kho tàng văn hóa và tôn giáo vô cùng phong phú. Cùng nhau, họ làm nên một dân tộc mà những nguồn gốc đa dạng đã làm sinh động và làm phong phú cho quốc gia cũng như nền dân chủ của đất nước. Thưa ngài Tổng thống, thưa quý bà và quý ông, tôi khẳng định với quý vị rằng nước Pháp thường xuyên hiện diện trong lời cầu nguyện của giáo hoàng, bởi ngài không quên nguồn cội của gia đình mình tại vùng Normandy và Béarn.

Chuyến viếng thăm Pháp của tôi bắt đầu tại Paris, thủ đô của đất nước, thường được gọi là Kinh đô Ánh sáng. Qua nhiều thế kỷ, nước Pháp đã là ngọn hải đăng về văn hóa, nghệ thuật và tinh thần, không chỉ đối với châu Âu mà còn đối với toàn thế giới. Với các trường học thuộc nhà thờ, các viện đại học và học viện chuyên tâm phục vụ sự thật, nước Pháp đã góp phần định hình cách nhìn của nhiều dân tộc vượt ra ngoài biên giới của mình. Nhiều học giả lỗi lạc người Pháp đồng thời cũng là những tín hữu Công giáo trung kiên đã minh chứng rõ ràng rằng khoa học và nghệ thuật, văn chương và triết học có thể góp phần vào thiện ích của nhân loại khi chúng được hướng đến việc tìm kiếm cái đẹp, điều thiện và chân lý, để thế giới được sống.

Khả năng chuyên môn của người Pháp đồng nghĩa với sự xuất sắc trong nhiều lãnh vực. Điều này đặc biệt được thể hiện qua dự án quy mô lớn trùng tu Nhà thờ Đức Bà Paris, trong đó ngay từ đầu đã có sự tham gia của nhiều tổ chức công và tư, và chính ngài Tổng thống cũng đặc biệt dành trọn tâm huyết. Tôi xin cảm ơn ngài về điều này. Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với đông đảo các nghệ sĩ, các nhà xây dựng, kỹ thuật viên và những công nhân lành nghề đã tham gia vào công cuộc trùng tu. Việc nhà thờ chánh tòa được mở cửa trở lại để cử hành phụng vụ thờ phượng Thiên Chúa, cũng như đón tiếp khách hành hương từ khắp nơi trên thế giới, không chỉ là một thành tựu kỹ thuật đầy ấn tượng mà còn là biểu tượng của niềm hy vọng được đổi mới. Điều đó cho thấy một điều tưởng chừng đã bị hủy hoại không thể cứu vãn vẫn có thể hồi sinh nhờ sự hợp với nhau, đồng thời là một minh chứng hùng hồn về sự hiệp nhất xuất phát từ việc dấn thân vì một sự nghiệp chung. Ước mong thành tựu đáng ghi nhận này khích lệ tất cả những người chịu trách nhiệm về đời sống chính trị, xã hội và tôn giáo của đất nước không ngừng nỗ lực và cùng nhau như một, được thúc đẩy bởi một niềm hy vọng vững chắc và sống động.

Pháp là một đất nước với những cội rễ Kitô giáo sâu xa. Từ thời Thánh Irenaeus và phép rửa của vua Clovis, linh hồn của dân tộc này đã kín múc từ Kitô giáo một sức sống tinh thần, văn hóa, trí thức, nghệ thuật và truyền giáo phong phú, và vẫn tiếp tục được lan tỏa trong thế giới ngày nay. Chính trong bối cảnh đó mà chủ nghĩa nhân văn đã nở rộ tại nước Pháp vào thế kỷ XVI, như một phương thế kết hợp giữa di sản của Hy Lạp và Rôma cổ đại với đức tin Kitô giáo. Với những nhà tư tưởng lớn của thời Phục hưng, rồi sau đó là thời kỳ Grand Siècle, tiếp đến là các nhà tư tưởng thời Khai sáng, nước Pháp đã góp phần tạo nên những tiến bộ quan trọng cho thế giới, trong đó có việc nhìn nhận các quyền con người được đặt nền tảng trên căn tính của con người, đặc biệt là quyền tự do tôn giáo. Sự quan tâm liên tục đến phẩm giá vốn có nơi mỗi con người này được âm vang trong tiêu ngữ quốc gia của quý vị. Tự do, bình đẳng và tình huynh đệ không chỉ là những từ ngữ được ghi khắc để trang trí trên mặt tiền các tòa nhà công cộng; chúng nói đến những mệnh lệnh luân lý phổ quát, đồng thời tìm thấy nơi sứ điệp Tin Mừng một nguồn cảm hứng và sự viên mãn bất tận.

Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, được công bố tại Paris này — trong quá trình soạn thảo, nhà luật học người Pháp và là chủ nhân Giải Nobel Hòa bình René Cassin đã giữ một vai trò chủ đạo — nỗ lực thúc đẩy một nhận thức rộng lớn hơn về phẩm giá bất khả xâm phạm của nhân vị. Thánh Gioan Phaolô II, người xem Tuyên ngôn này là “một dấu mốc thực sự trên con đường tiến bộ luân lý của nhân loại”, đã ý thức sâu sắc rằng “bất kỳ mối đe dọa nào đối với các quyền con người, dù trong lĩnh vực thực tại vật chất hay thực tại tinh thần, đều nguy hiểm như nhau đối với hòa bình, bởi trong mọi trường hợp, nó liên quan đến toàn bộ con người”. [1]

Vấn đề tôn trọng phẩm giá con người cùng các quyền căn bản và tự do phát xuất từ bản chất con người là vấn đề đặt ra trong mọi thời đại, và tất yếu phải song hành với những chuyển biến của xã hội cũng như tiến bộ công nghệ. Quả thật, “qua nhiều thế kỷ, sự phát triển công nghệ đã cải thiện đáng kể điều kiện sống của nhân loại. Đồng thời, mỗi giai đoạn tiến bộ cũng bộc lộ rõ tính mơ hồ của những công cụ có thể gây hại khi không được hướng về điều thiện” (Thông điệp Magnifica Humanitas, số 4). Sinh thời, nhà văn Georges Bernanos đã nhận thấy mối đe dọa rằng sự phục tùng mù quáng và thái độ vô trách nhiệm có thể dẫn đến một “thiên đường của máy móc”, và ông chỉ ra rằng nền văn minh Pháp từ nhiều thế kỷ qua đã tìm cách đào tạo nên những con người tự do, hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành động của mình. [2]

Vì lý do đó, tôi nhận thấy điều thiết yếu là phải đề cập đến chủ đề trí tuệ nhân tạo trong Thông điệp đầu tiên của tôi, với mục đích đưa con người trở lại vị trí trung tâm của mọi suy tư. Nếu chúng ta không muốn đánh mất nhân tính giữa một “thiên đường của máy móc” đang chiếm lĩnh và chi phối đời sống hằng ngày, thì việc giáo dục khả năng phân định luân lý và năng lực nhận biết sự thiện luân lý là nhu cầu cấp thiết. Điều này là tối cần thiết nếu chúng ta muốn nhận biết điều thiện đích thực, giúp con người được triển nở theo đúng với ơn gọi ban đầu của mình, trong sự tôn trọng vô điều kiện đối với tự do nội tâm và phẩm giá thánh thiêng của họ. Ở đây, tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa rằng “một xã hội tự do thật sự không áp đặt sự đồng nhất, nhưng bảo vệ sự đa dạng của lương tâm, ngăn ngừa những khuynh hướng độc đoán và thúc đẩy một cuộc đối thoại luân lý làm phong phú cơ cấu xã hội” (Diễn văn trước các thành viên ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh, ngày 9 tháng 1 năm 2026, số 9). Cuộc đối thoại này càng trở nên cấp bách hơn trong bối cảnh nước Pháp ngày nay, nơi những con người thuộc các nền văn hóa và tôn giáo khác nhau được mời gọi cùng chung sống và góp phần vào sự tiến bộ của xã hội.

Chính nhờ cơ cấu xã hội phong phú và đa dạng ấy mà nước Pháp qua nhiều thế kỷ đã nổi bật về tính nhạy bén trước sự đa dạng và cam kết mạnh mẽ đối với tình liên đới. Qua nỗ lực đáng khâm phục của những người nam và người nữ trung thành với nhân tính của mình và với các giá trị Tin Mừng, Giáo hội Công giáo Pháp đã không ngừng quan tâm đến phúc lợi của người nghèo và những người yếu thế, đồng thời tìm cách trở thành khuôn mặt sống động của lòng thương xót và trắc ẩn của chính Thiên Chúa. Chúng ta có thể nghĩ đến những công cuộc tông đồ của Thánh Vinh Sơn Phaolô, sự chấn hưng hoạt động bác ái vào thế kỷ XVII, và trong thời đại chúng ta, biết bao cơ sở Công giáo, nơi những người chăm sóc đồng hành với các anh chị em chúng ta trong nỗi đau khổ của họ. Những tấm gương chăm sóc và quan tâm này là một bài học thực tế về nhân tính; chúng cho thấy sự cao cả của lòng trắc ẩn và là một lời nhắc nhở mạnh mẽ về giá trị độc nhất và không thể thay thế của mỗi con người. Đồng thời, đó cũng là lời hiệu triệu ý thức mới về tình huynh đệ, dạy chúng ta đón nhận sự sống cách vô điều kiện, nâng đỡ sự yếu đuối bằng việc chăm sóc yêu thương, đồng hành với mọi giai đoạn của cuộc đời trong sự tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau, đồng thời với lòng can đảm và trắc ẩn, bảo vệ những người không thể làm cho tiếng nói của họ được nghe thấy và những người cảm thấy bị bỏ rơi hoặc lãng quên. Chính vì lẽ đó, tôi "khẳng định lại cách mạnh mẽ rằng việc bảo vệ quyền được sống là nền tảng không thể thiếu của mọi quyền con người khác" (sđd.).

Ngày nay, có một cám dỗ muốn trông đợi khoa học loại bỏ hoặc giảm nhẹ mọi hình thức đau khổ. Điều này thường mang đến nguy cơ tự huyễn hoặc bản thân. Bởi lẽ khi khoa học và công nghệ không được định hướng bởi sự khôn ngoan sâu sắc hơn, chúng có thể cung cấp những giải pháp tức thời tưởng chừng như đáp ứng được mong muốn và nỗi đau của con người, nhưng lại có thể làm chệch hướng cách nghiêm trọng sự tốt lành lớn lao hơn mà con người khao khát. Đôi khi tôi lo ngại về những xu hướng trong xã hội có nguy cơ biến khoa học và công nghệ thành những thương vụ chạy theo lợi nhuận, cổ xúy kỹ thuật di truyền (genetic manipulation), mang thai hộ, buôn bán các cơ quan nội tạng con người hoặc khả năng tự sắp đặt cái chết của mình. Chúng ta đừng quên rằng sự tôn trọng lẫn nhau và việc bảo vệ mọi sự sống con người là bổn phận thuộc về từng người trong chúng ta. Đó là một bổn phận bắt đầu từ sự hoán cải tâm trí và con tim, đồng thời đòi hỏi sự dấn thân chân thành và vô vị lợi vì ích lợi của các anh chị em mình.

Làm sao chúng ta có thể không nhìn nhận sự dấn thân như thế là một biểu hiện của tính “thế tục” đích thực (laïcité) nơi thành đô trần thế? Một Kitô hữu dấn thân phục vụ công và được ánh sáng lương tâm hướng dẫn, một lương tâm được soi sáng bởi đức tin, không thể bị xem là người vận động cải đạo hay là mối đe dọa đối với sự thống nhất của quốc gia. Thật vậy, tính thế tục đích thực không loại trừ tôn giáo, nhưng có khả năng nhìn nhận tôn giáo như một nguồn lực giáo dục (x. Diễn văn trước các tham dự viên Hội nghị Toàn quốc các Nhà giáo Tôn giáo Công giáo, ngày 25 tháng 4 năm 2026).

Chính vì thế, các trường Công giáo có một vị trí chính đáng trong bức tranh giáo dục của một đất nước như nước Pháp. Đây là một phần của một vấn đề rộng lớn hơn, có tính thiết yếu đối với mọi cuộc đối thoại, trong trường học cũng như trong toàn xã hội: học cách biết và yêu thương chính mình, để có thể gặp gỡ người khác trong sự tôn trọng và rộng mở (x. sđd.).

Như vậy, tính thế tục đích thực không hệ tại ở việc loại trừ tôn giáo khỏi đời sống công cộng hay giáo dục, nhưng ở nỗ lực bảo đảm rằng nhà nước và các tổ chức tôn giáo duy trì đối thoại và cùng hợp lực để phục vụ ích chung, để thế giới được sống. Về phương diện này, tôi bày tỏ sự trân trọng đối với công việc đang được thực hiện trong khuôn khổ Diễn đàn Đối thoại giữa Tòa Thánh, Giáo hội Công giáo Pháp và Chính phủ Pháp. Đóng góp của Giáo hội Công giáo, thông qua mạng lưới các hoạt động và tổ chức, chắc chắn là điều đáng khen ngợi và mang lại lợi ích cho toàn xã hội. Những hình thức hợp tác như thế là một minh họa tốt đẹp cho sự bổ túc lành mạnh được Công đồng Vaticanô II mô tả, theo đó cộng đồng chính trị và Giáo hội “dù dưới những danh nghĩa khác nhau, đều phục vụ ơn gọi cá nhân và xã hội của cùng một con người. Sự phục vụ của cả hai bên sẽ hiệu quả và mang lại lợi ích hơn cho tất cả mọi người nếu cả hai tổ chức phát triển sự hợp tác tốt đẹp hơn" (CÔNG ĐỒNG VẠTICANÔ II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes, 76).

Tôi cũng vui mừng nhận thấy rằng chính ước muốn hỗ trợ mọi người, bất kể nguồn gốc của họ, đã truyền cảm hứng cho sự hợp tác giữa nước Pháp và Giáo hội Công giáo từ nhiều thế kỷ qua trong việc trợ giúp các Kitô hữu tại Trung Đông. Công cuộc giáo dục, xã hội, văn hóa và nhân đạo được thực hiện tại những quốc gia đó, với sự cộng tác của nhiều tổ chức khác nhau như Aid to the Church in Need (Trợ giúp các Giáo hội Thiếu thốn) và L’Œuvre d’Orient, là một đóng góp quý giá cho cuộc đối thoại giữa các dân tộc và việc cổ võ các quyền của mỗi con người.

Qua đó, chúng ta thấy một chứng tá hùng hồn về cách thức văn hóa và đức tin đóng vai trò là những trụ cột nâng đỡ các nỗ lực xây dựng sự hòa hợp giữa các dân tộc và tôn giáo khác nhau, nhằm phục vụ hòa bình và làm trung gian giữa những cá nhân và cộng đồng. Giáo dục giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong vấn đề này và là một trong những lãnh vực hợp tác trọng tâm, được thể hiện một cách cụ thể và hiệu quả, đặc biệt thông qua Quỹ Fonds pour les écoles d’Orient (Quỹ dành cho các Trường học Đông phương). Tại đây, tôi muốn bày tỏ lòng tri ân đối với tất cả những người tham gia vào dự án này, dự án từ khi được thành lập vào năm 2021 đã giúp hỗ trợ hơn hai trăm sáu mươi cơ sở giáo dục tại Trung Đông, trong đó có bảy trường đại học ở Liban và Đại học Bêlem.

Làm sao chúng ta có thể nói về phần đất này của thế giới — nơi Hoàng tử Hòa bình đã được sinh ra cách đây hai ngàn năm — mà không đồng thời nghĩ đến tất cả những người nam, người nữ và trẻ em đang phải gánh chịu những hậu quả của xung đột và tai họa của chiến tranh? Chúng ta không thể thờ ơ trước nỗi đau của họ, một nỗi đau xúc phạm phẩm giá con người và kêu thấu tới Thiên Chúa để đòi công lý. Tính nghiêm trọng của những hoàn cảnh này phải thách thức chúng ta và phải thúc đẩy mỗi người, bất kể ở vị trí nào, thực sự hoán cải tâm hồn và thay đổi thái độ. Khi khiêm tốn nhìn nhận rằng chúng ta cần đến nhau, chúng ta sẽ có thể cùng nhau làm việc hiệu quả hơn để xây dựng một nền văn minh tình thương giữa lòng thế giới chúng ta, một thế giới đã trở nên phức tạp và phụ thuộc lẫn nhau hơn rất nhiều (x. Thông điệp Magnifica Humanitas, số 182). Đồng thời, như vị tiền nhiệm của tôi, Thánh Gioan XXIII đã chỉ ra vào thời của ngài: “Công lý, lý trí ngay thẳng và việc nhìn nhận phẩm giá con người khẩn thiết đòi hỏi phải chấm dứt cuộc chạy đua vũ trang. Những kho vũ khí được tích trữ tại các quốc gia khác nhau phải được tất cả các bên liên quan đồng bộ cắt giảm và cùng lúc. Vũ khí hạt nhân phải bị cấm. Phải đạt được một thỏa thuận chung về một chương trình giải trừ quân bị thích hợp, cùng với một hệ thống kiểm soát lẫn nhau hiệu quả” (Thông điệp Pacem in Terris, 112). Thật vậy, niềm tin sai lầm rằng sở hữu vũ khí hạt nhân là một bảo đảm cho an ninh đang lan rộng và làm bùng lên một cuộc chạy đua vũ trang mới rất khó kiểm soát (x. Magnifica Humanitas, 194). Hòa bình không phải là sự cân bằng sức mạnh; trái lại, nó được xây dựng từng ngày thông qua đối thoại và công lý.

Vì thế, tôi thúc giục quý vị đừng bao giờ cam chịu trước viễn cảnh chiến tranh hoặc coi chiến tranh là điều “không thể tránh khỏi”, nhưng hãy kiên trì cổ võ đối thoại và ngoại giao, nhằm gìn giữ những xã hội hòa bình biết tôn trọng phẩm giá và các quyền của cá nhân cũng như của các dân tộc. Trước những tin đồn về chiến tranh và những cuộc khủng hoảng đa dạng đang gây xáo trộn thế giới chúng ta, nước Pháp được mời gọi tiếp tục là một người bảo vệ không mệt mỏi cho hòa bình và chủ nghĩa đa phương, đặc biệt trong lòng châu Âu thân yêu của chúng ta. Mong sao nước Pháp, luôn trung thành với những giá trị truyền thống của mình, nỗ lực cho một nền hòa bình phi vũ trang và không dựa trên vũ lực, đồng thời có trách nhiệm đưa ra sự đóng góp độc đáo của mình cho mục tiêu đó. Ước mong tự do của quý vị ngày càng lớn lên trong sự quan tâm không ngừng đến ích chung. Ước mong tình huynh đệ của quý vị ôm trọn toàn thể gia đình nhân loại. Và mong rằng sự bình đẳng mà quý vị khao khát luôn được xây dựng trên nền tảng công lý và bác ái — không phải bằng cách xóa bỏ những khác biệt giữa con người, nhưng bằng cách giúp những khác biệt đó được phát triển cách hài hòa vì lợi ích của toàn xã hội.

Thưa ngài Tổng thống, thưa quý bà và quý ông, một lần nữa, tôi xin cảm ơn quý vị về cuộc gặp gỡ này. Thật vậy, khi nhắc lại những lời mà ngài đã nói với các Giám mục Pháp vào năm 2018, cuộc gặp gỡ này cho thấy rằng “một Giáo hội tuyên bố không quan tâm đến những vấn đề trần thế sẽ không chu toàn ơn gọi của mình; và một Tổng thống Cộng hòa tuyên bố không quan tâm đến Giáo hội và người Công giáo sẽ không chu toàn trách nhiệm của mình”. [3] Xin quý vị hãy vững tin vào những lời cầu nguyện tha thiết của tôi cho quốc gia vĩ đại của quý vị.

Xin Thiên Chúa ban cho nước Pháp nền hòa bình, hiệp nhất và thịnh vượng, để thế giới được sống. Tôi phó thác những niềm hy vọng này cho sự chuyển cầu từ mẫu của Đức Trinh Nữ Maria, Quan thầy của nước Pháp.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho nước Pháp và toàn thể người dân Pháp!

_____________________________________________________


[2] Cf. La France contre les robots, Rio de Janeiro 1946, 114.

[3] E. MACRON, Address by the President of the Republic to the Bishops of France, Collège des Bernardins, 9 April 2018.


[Nguồn: vatican.va]

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN 26/09/2026]


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét